1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sởtỉnh viêng chăn, nước cộng hòa dân chủnhân dân Lào hiện nay

74 231 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 379,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thêm nữa, nhận thức của ngườidân về dân chủ, về quyền dân chủ còn hạn chế do thói quen, tập quán phép, do tâm lý tiểu nông và sự ràng buộc bởi lệ làng-bản… Những yếu kém trên đây đã dẫn

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử xã hội loài người cho thấy, từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, cóĐảng cầm quyền, bất cứ Đảng nào cầm quyền cũng đều phải xây dựng hệ thống chínhtrị để thực hiện quyền lực chính trị của mình

Hệ thống chính trị Xã hội chủ nghĩa là một hệ thống các tổ chức chính trị - xã hộitrụ cột của nền chính trị xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Thông qua hệthống chính trị, nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình trong xã hội Nền dânchủ xã hội chủ nghĩa là một nền dân chủ thực sự cho quần chúng lao động rộng rãi, thựchiện quyền bầu cử phổ thông, trực tiếp, bình đẳng Tất cả mọi công dân không phân biệtgiới tính, giai cấp, dân tộc, tôn giáo đều được quyền tham gia bình đẳng vào đời sốngchính trị, vào quản lý nhà nước Cơ sở kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sởhữu xã hội về tư liệu sản xuất

Hệ thống chính trị Tư bản chủ nghĩa khác so với hệ thống chính trị Xã hội chủnghĩa ở chỗ, trong xã hội tư bản, quyền lực chỉ thuộc về một nhóm người, nền dân chủthực chất là một hình thức thống trị giai cấp Giai cấp tư sản quan tâm đến dân chủ nhưmột thủ đoạn thống trị chính trị của mình, đề ra hiến pháp, lập ra nghị viện và những cơquan đại diện khác thực hành quyền bầu cử phổ thông và những nguyên tắc tự do chínhtrị một cách hình thức dưới áp lực của quần chúng nhân dân Thực chất, đó là một nềndân chủ cắt xén, làm tê liệt quyền làm chủ của nhân dân lao động và làm cho quầnchúng nhân dân không thể tham gia vào đời sống chính trị Cơ sở kinh tế của nền dânchủ tư bản chủ nghĩa là sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, bóc lột lao động làm thuê vàchiếm đoạt giá trị thặng dư

Hiện nay, trên bình diện thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn tồn tạisau chính biến và sự thay đổi thể chế chính trị ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu Sự thất bạicủa Chủ nghĩa xã hội ở Liên xô và các nước Đông Âu cho thấy những khiếm khuyết,yếu kém tồn tại trong lòng các nước ấy, chứ không có nghĩa là lý thuyết về chủ nghĩa xãhội của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin hoàn toàn phá sản Sự tồn tại một cách đầy tự

Trang 3

tin và vững mạnh của một số nước Xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam, Lào,Triều Tiên, Cu Ba trong bối cảnh thế giới đầy thách thức hiện nay là một minh chứngcho sức sống của lý thuyết vĩ đại đó.

Tuy nhiên, các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay như Trung Quốc, Việt Nam, Làođang phải nỗ lực vượt qua những hạn chế, khiếm khuyết, thậm chí cả những sai lầm đãtừng mắc phải để chứng minh cho tính hợp lý, tính tất yếu của sự lựa chọn chủ nghĩa xãhội trong logic lịch sử - tự nhiên của tiến trình phát triển loài người, đúng như dự báocủa V.Lênin, sớm muộn, trước sau thì các dân tộc đều sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội

Trong bối cảnh chính trị - xã hội phức tạp trên thế giới hiện nay, các nước xã hộichủ nghĩa cũng cần tiến hành đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị Thực chất củaviệc đổi mới hệ thống chính trị là thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa để cho nhân dânthấy mình thực sự làm chủ Việc cải cách hệ thống chính trị luôn là một đòi hỏi cấp thiết

để đảm bảo cho những cải cách kinh tế thành công Tuy nhiên, cải cách chính trị là mộtlĩnh vực phức tạp, nhạy cảm nên cần phải có những bước đi thận trọng và phù hợp vớicải cách kinh tế, nếu để xảy ra sai lầm thì hậu quả sẽ khôn lường

Riêng nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, hệ thống chính trị nói chung và hệthống chính trị cấp cơ sở tỉnh Viêng Chăn nói riêng đang ngày một được củng cố, hoànthiện từng bước để thực thi nền dân chủ nhân dân, đảm bảo quyền lực thuộc về nhândân, nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủnghĩa

Sau hơn 34 năm xây dựng Chủ nghĩa xã hội, hệ thống chính trị nước Cộng hoàdân chủ nhân dân Lào, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng và Nhà nướcLào đã có khả năng dẫn dắt dân tộc Lào vượt qua những thách thức, khó khăn dànhđược nhiều thành tựu to lớn

Đi đôi với những thành quả thu được, hệ thống chính trị của nước Cộng hoà dânchủ nhân dân Lào vẫn còn nhiều khiếm khuyết So với yêu cầu thực tiễn, năng lực vàhiệu quả lãnh đạo của đảng, hiệu quả quản lý và điều hành của nhà nước, hiệu quả hoạtđộng của các đoàn thể chính trị-xã hội như Mặt trận xây dựng Tổ quốc, Đoàn thanhniên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và các tổ chức chính trị - xã hội cấp cơ sở chưa

Trang 4

tiến kịp với đòi hỏi của tình hình thực tiễn Đội ngũ cán bộ thiếu tri thức vẫn chưa khắcphục được tình trạng "công chức hoá" Nghiêm trọng hơn, một bộ phận cán bộ trong hệthống chính trị cấp cơ sở thoái hoá về phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống, mất

niềm tin vào chế độ, vào con đường xã hội chủ nghĩa Thêm nữa, nhận thức của ngườidân về dân chủ, về quyền dân chủ còn hạn chế do thói quen, tập quán phép, do tâm lý

tiểu nông và sự ràng buộc bởi lệ làng-bản…

Những yếu kém trên đây đã dẫn đến tình trạng vi phạm quyền làm chủ thực sựcủa nhân dân, làm mất lòng tin của nhân dân vào chính quyền, vào đảng, nhà nước

Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh ViêngChăn, chỉ ra những khiếm khuyết, đề xuất những giải pháp khắc phục để từng bước đổimới, kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở (tỉnh) là một vấn đề hết sức quan trọng, thiếtthực, đáp ứng yêu cầu cấp bách cả về lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng

chủ nghĩa xã hội ở Lào hiện nay

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài " Kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Viêng Chăn, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay " làm đề tài luận văn thạc sĩ

triết học - chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học - của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng

chủ nghĩa xã hội được trình bày tập trung trong các tác phẩm: Những nguyên lý của chủ nghĩa Cộng sản, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (C.Mác và Ph.Ăngghen), Tư bản, Phê phán cương lĩnh Gôta (C.Mác), Chống Đuy-Rinh (Ph, Ăngghen), Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học, Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức, Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của Nhà nước (Ph Ăngghen), Nhà nước và Cách

mạng, Nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết, Làm gì? Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo, Hai sách lược của Đảng xã hội - dân chủ trong cuộc cách mạng dân chủ, Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết, Kinh tế và chính trị trong thời kỳ chuyên chính vô sản (V.I.Lênin) Trong các tập chuyên khảo này, các ông đã trình bày khái

niệm về cái gọi là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản, những đặc trưng của các xã hội ấy

và chứng minh tính tất yếu của xu thế phát triển xã hội loài người là sự thay thế xã hội

Trang 5

tư bản chủ nghĩa bằng xã hội xã hội chủ nghĩa Chúng ta cũng có thể tìm thấy nhữngcương lĩnh cải tạo đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, bài học về sự lãnh đạo củaĐảng - nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bài học

về đại đoàn kết dân tộc, quốc tế, bài học về thái độ đối với nông dân, bài học về dân chủhoá đời sống xã hội trong các tác phẩm ấy

Tuy nhiên, các tác giả kinh điển không hề đề ra một con đường cụ thể, bất di bấtdịch để xây dựng chủ nghĩa xã hội mà mọi người, mọi dân tộc phải nhất nhất tuân theo

ở mọi nơi, mọi lúc Do vậy, lý thuyết xây dựng chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác Lênin đã được các nhà lãnh đạo cách mạng như Hồ Chí Minh (Việt Nam), Đặng TiểuBình, Mao Trạch Đông (Trung Quốc), Kay Son Phom Vi Han (Lào) vận dụng một cáchlinh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của dân tộc mình Trong các tác phẩm củamình, các ông đã bổ sung những cơ sở lịch sử cho lý thuyết của Mác - Lênin bằng kinhnghiệm học Đông phương

-Một số các luận văn, luận án cũng đã đi vào tìm hiểu về vai trò và vị trí của hệ

thống chính trị cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền dân chủ như: Nghiên cứu về vai trò của giai cấp công nhân trong chế độ dân chủ nhân dân tiến tới mục tiêu xây dựng XHCN ở Lào (Vẻn Thong Luông Vi Lay – luận án tiến sĩ, Hà Nội 2005); Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo hệ thống chính trị trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ( Vi

Súc Phôn Phi Thắc - luận án Tiến sĩ triết học, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh);

Đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị các xã các tỉnh khu vực Nam bộ (Lê Hanh Thông – luận án tiến sĩ, Hà Nội 2003); Vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở Việt Nam hiện nay (Trần Thị Băng Thanh – luận án tiến sĩ, Hà Nội 2002); Hệ thống chính trị vùng dân tộc thiểu số người Chăm (Nguyễn Đức Ngọc – Luận văn thạc sĩ, Hà nội năm 2003); Kiện toàn hệ thống chính trị ở xã nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay (Nguyễn Dương Hùng – luận án tiến sĩ, Hà Nội 2008) Tuy

nhiên, trong các luận án, luận văn này, các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu về vai trò của

hệ thống chính trị cấp cơ sở trong việc phát huy tinh thần dân chủ của nhân dân, về

Trang 6

những yếu kém của hệ thống chính trị cấp cơ sở, từ đó đề ra một số những kiến nghị,giải pháp cho việc củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở Lào hiện nay.

Để tham khảo những kinh nghiệm của Việt Nam trong cách giải quyết các vấn đề

về cải cách hệ thống chính trị, luận văn đã từng tham khảo và tìm đọc các công trình

khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài trên của các nhà khoa học Việt Nam như: Hệ thống chính trị cơ sở nông thôn ở nước ta hiện nay (Hoàng Chí Bảo, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2004); Hệ thống chính trị cơ sở Thực trạng và một số giải pháp đổi mới (Bộ Nội vụ nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội 2004); Góp bàn về hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc Khơ-me đồng bằng sông Cửu Long (Trịnh Quốc Tuấn - Tạp chí lịch sử Đảng số 8/2003); Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng của chúng ta; Đổi mới hệ thống chính trị vùng miền núi phái Bắc

(Nguyễn Quốc Phẩm, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2004), Chủ nghĩa Lênin về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng (Nguyễn Văn Oánh - tạp chí lịch sử Đảng 2007); Về dân chủ Tư sản và dân chủ XHCN; Tư tưởng của Lênin về phát triển từ dân chủ tư sản đến dân chủ xã hội chủ nghĩa (Đỗ Thị Thạch – Thông tin Chủ nghĩa xã hội lý luận và thực tiễn số 6/2005, tạp chí lý luận chính trị số 4/2007); Một

Mác-số vấn đề chính trị, xã hội từ quá trình phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực

(Nguyễn An Ninh - thông tin Chủ nghĩa xã hội lý luận và thực tiễn Hà Nội 2006)

Nhiều bài báo, bài viết trong các tập chuyên khảo về vấn đề con đường đi lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam, tính tất yếu và cần thiết của sự cải cách hệ thống chính trị

cũng được tác giả luận văn tham khảo như Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn, những bài học kinh nghiệm (Lê Hữu Tầng, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2003), Chủ nghĩa Mác-Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam (Đặng Hữu Toàn, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2002), Văn kiện Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn (Phạm Văn Đức và Đặng Hữu Toàn đồng chủ biên, nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội 2008), Những vấn đề lý luận đặt ra từ các văn kiện Đại hội IX của Đảng (Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2002), Toàn cầu hoá trong bối cảnh châu A - Thái bình dương, một số vấn đề triết học (Phạm văn Đức chủ biên, nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội 2007)

Trang 7

Song, những vấn đề mà các nhà khoa học Việt Nam đề cập đến trong các tácphẩm trên chủ yếu là kinh nghiệm cho riêng Việt Nam, chưa có công trình nào đi sâutìm hiểu về thực trạng của hệ thống chính trị ở Lào và hệ thống chính trị cấp cơ sở ởtỉnh Viêng Chăn Chúng tôi chỉ có thể tham khảo những công trình trên và tìm ra nhữngnét tương đồng, so sánh với nước Cộng hoà dân chủ nhân Lào mà thôi.

Nói chung, vấn đề xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cấp cơ sở ở NướcCộng Hoà dân chủ nhân dân Lào nói chung và tỉnh Viêng Chăn nói riêng chưa đượcnghiên cứu một cách hệ thống, khoa học, nghiêm túc Trong luận văn này, chúng tôi hyvọng sẽ đóng góp những ý kiến nhỏ bé của mình trong việc tìm ra những giải pháp choviệc củng cố và phát huy hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước Cộng hoà dân chủ nhândân Lào hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích của luận văn: trên cơ sở làm rõ thực trạng hệ thống chính trị cấp cơ sởtỉnh Viêng Chăn, luận văn góp phần tìm giải pháp kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sởtỉnh Viêng Chăn

Để thực hiện mục đích trên, luận văn cần phải giải quyết các nhiệm vụ sau:Làm rõ khái niệm và vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Viêng Chăn

- Phân tích tình hình, đặc điểm, thực trạng tổ chức và hoạt động hệ thống chínhtrị cấp cơ sở tỉnh Viêng Chăn

- Đề xuất một số giải pháp nhằm kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnhViêng Chăn, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Viêng Chănnước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào trong trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và Đảng Nhân dân cách mạng Lào về hệ thống chính trị

Trang 8

Luận văn thực hiện và sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương phápthống kê - so sánh, kết hợp nghiên cứu thực tế lịch sử với nghiên cứu văn bản.

6 ý nghĩa của luận văn

Góp phần phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thốngchính trị cấp cơ sở tỉnh Viêng Chăn

Góp phần nâng cao nhận thức về vai trò và chức năng của cấp cơ sở tỉnh ViêngChăn

Đề xuất một số giải pháp kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Viêng ChănKết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho côngtác nghiên cứu và giảng dạy chính trị học, tài liệu tham khảo cho hoạt động thực tiễncủa các cơ quan, những người đang tham gia công tác trong hệ thống chính trị cấp cơ sởtỉnh Viêng Chăn nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấugồm 3 chương, 8 tiết

Trang 9

Chương 1

Hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Viêng Chăn nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào

1.1 Một số nhận thức chung về Hệ thống chính trị

1.1.1.Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về hệ thống chính trị

Trong quá trình hoạt động chính trị của mình các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác - Lênin không dùng thuật ngữ "Hệ thống chính trị" theo cách hiểu hiện nay củachúng ta, C.Mác và Ph.Ăngghen thường dùng các thuật ngữ: hình thức chính trị, thiếtchế chính trị, thể chế xã hội và chính trị, cơ cấu chính trị, cơ cấu chính quyền, thể chếnhà nước, V.I Lênin dùng khái niệm "hệ thống chuyên chính vô sản", khái niệm nàycủa V.I Lênin là khái niệm có khá nhiều nội dung liên quan đến khái niệm Hệ thốngchính trị của chúng ta hiện nay

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về hệ thống chính trị mang ý nghĩa làphương pháp luận nghiên cứu về hệ thống chính trị, với những luận điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Nhà nước là nhân tố chủ yếu của hệ thống chính trị.

Theo C.Mác: chế độ chính trị là nhà nước, nhà nước là nhân tố quan trọng nhấtcủa hệ thống chính trị Và C.Mác, Ph.Ăngghen đã nêu ra ba nhân tố quyết định sự ra đờicủa nhà nước:

Một: do sự thay đổi trong phân công lao động cùng với sự phát triển kinh tế - xã

hội đến một trình độ nào đó cần phải có một tầng lớp người tách khỏi lao động trực tiếpsản xuất vật chất để chăm lo công việc chung của xã hội Tầng lớp người này, sau trởthành độc lập tương đối đối với xã hội và có lợi ích riêng khác với các thành viên kháccủa xã hội Nhà nước xuất hiện như là quyền lực công cộng chịu trách nhiệm giữ gìntrật tự xã hội theo những quy tắc, luật lệ nhất định mà mọi thành viên của xã hội đềuphải tuân theo

Hai: Sự xuất hiện của giai cấp và mâu thuẫn giai cấp đòi hỏi cần phải có một cơ

quan dường như đứng trên các giai cấp, kìm giữ cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, khiến

Trang 10

cho các giai cấp không đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội Nhànước xuất hiện như là một "lực lượng thứ ba" với tư cách là trọng tài của xã hội.

Ba: Là sự thống trị về chính trị Giai cấp thống trị về kinh tế tất yếu trở thành

giai cấp thống trị cả về chính trị, với ưu thế về kinh tế và để giữ vững ưu thế đó, giai cấpthống trị có thể và cần phải nắm lấy bộ máy nhà nước làm công cụ thống trị xã hội,trước hết là để duy trì giai cấp bóc lột dưới quyền thống trị của mình Lúc này, nhà nướcxuất hiện như là một công cụ áp bức giai cấp

Ba nhân tố cơ bản trên là điều kiện cần và đủ để nhà nước ra đời Về bản chất, sự

ra đời của nhà nước là kết quả tất yếu của sự phân chia xã hội thành giai cấp, nhà nướcnhư là cơ quan thống trị của giai cấp bóc lột Nhà nước là kết quả của một cuộc cáchmạng chính trị lật đổ chế độ cũ đã lỗi thời để lập nên chế độ mới tiến bộ hơn

Ra đời từ xã hội dân sự, đến lượt nó, nhà nước lại dùng pháp luật để điều chỉnhmọi quan hệ xã hội công dân và do đó làm cho chính trị thâm nhập vào trong tất cả mọilĩnh vực của đời sống xã hội, nhà nước tác động tích cực trở lại cơ sở kinh tế bằngnhững chế độ, chính sách, pháp luật và toàn bộ hoạt động quản lý, điều hành của nó

Vấn đề bản chất, vai trò và chức năng của nhà nước, theo C.Mác: "giai cấp vôsản không thể tự động bị áp bức và bị bóc lột dưới chế độ tư bản chủ nghĩa nếu không

"thay thế xã hội tư sản cũ bằng một tổ chức liên hiệp, tổ chức này sẽ loại bỏ các giai cấp

và sự đối kháng giai cấp" [32, tr.257]

C.Mác và Ph.Ăngghen coi chức năng bạo lực là chức năng thuộc về bản chấtcủa nhà nước, theo nhu cầu của giai cấp thống trị Ngoài ra, nhà nước còn có chứcnăng quyền lực công cộng, quản lý kinh tế - xã hội, tổ chức đời sống chính trị, kinh

tế, văn hoá, và chức năng điều chỉnh các quan hệ lợi ích

Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác, chế độ chính trị tư sản được xây dựngtrên cơ sở chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa và nhằm bảo vệ chế độ đó Các quyền tự do

cá nhân cũng dựa trên nguyên tắc này và được coi là quyền con người và quyền côngdân

Nguyên tắc trên bảo đảm sự thống trị của giai cấp tư sản, nguyên tắc dân chủ tưsản, về thực chất, là nền chuyên chính tư sản Chế độ chính trị tư sản được biểu hiện

Trang 11

dưới những hình thức đặc thù khác nhau trong mỗi thời kỳ khác nhau, ở mỗi nước khácnhau, đó là các hình thức chế độ quân chủ lập hiến, chế độ Tổng thống, chế độ đại

nghị… Trong đó, chế độ cộng hoà đại nghị được C.Mác và Ph.Ăngghen gọi là hình thứcthích hợp nhất của chế độ chính trị tư sản

C.Mác và Ph.Ăngghen dự đoán về sự phát triển, lịch sử xã hội loài người, theo đó,

"Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cáchmạng từ xã hội nọ sang xã hội kia, thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị,

và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạngcủa giai cấp vô sản" [36, tr.47]

Đối với mô hình hệ thống chính trị vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa có điềukiện đi sâu nghiên cứu, các ông chỉ căn cứ vào khuynh hướng phát triển và quy luật vậnđộng của xã hội tư sản, từ đó hướng tới dự đoán một số nét như sau:

- Chủ nghĩa tư bản nhất định diệt vong, chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thay thếchủ nghĩa tư bản

- Giai cấp vô sản do địa vị kinh tế - xã hội của nó là giai cấp có sự mệnh lịch sửlàm cách mạng lật đổ chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội

- Cách mạng thành công, giai cấp vô sản phải thiết lập nền chuyên chính vô sản

và sử dụng quyền lực chính trị ấy để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới

- Hệ thống chính trị vô sản phải bảo đảm quyền thống trị của giai cấp vô sản, màđại diện tiêu biểu là đảng của nó

- Hệ thống chính trị đó phải lấy nhà nước chuyên chính vô sản làm nòng cốt, bảođảm quyền làm chủ thực sự của nhân dân Đó là nhà nước kiểu mới khác về bản chấtvới nhà nước kiểu cũ, là nhà nước của tuyệt đại đa số nhân dân chống lại thiểu số bóclột, là nhà nước thật sự dân chủ Là hình thức quản lý của nhân dân, do nhân dân

- Hệ thống chính trị được xây dựng trên cơ sở khối liên minh rộng rãi của giaicấp công nhân với đông đảo quần chúng nhân dân với một nhà nước đại biểu cho lợi íchcủa đa số tầng lớp trong xã hội

- Hệ thống chính trị phải tạo điều kiện cho sự giải phóng giai cấp công nhân vànhân dân lao động về mặt kinh tế, theo C Mác tư tưởng nhất quán và xuyên suốt toàn

Trang 12

bộ học thuyết chính trị của ông là chuyên chính vô sản, hệ thống chính trị vô sản, vềthực chất là hệ thống chuyên chính vô sản được thể hiện bằng nhà nước chuyên chính

vô sản, C Mác chỉ ra rằng

- "Bất cứ một chế độ chính trị nào xét về thực chất cũng là nền chuyên chính củamột giai cấp" Chuyên chính vô sản chủ yếu không phải bạo lực không đồng nhất vớibạo lực, mà là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với nhà nước và toàn xã hội, đó làviệc giai cấp công nhân giành lấy dân chủ, và đưa nhân dân lao động lên nắm chínhquyền, làm cho nhân dân lao động thực sự làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội

- Nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản là cải tạo và xây dựng xã hội về mọimặt, trước hết là xây dựng về kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất cho sự giải phóng hoàntoàn xã hội thoát khỏi chế độ áp bức bóc lột

- Chuyên chính vô sản là sự liên minh rộng rãi của giai cấp công nhân vớitoàn thể các tầng lớp và giai cấp lao động trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chế độmới Để xây dựng xã hội mới giai cấp vô sản sử dụng công cụ của mình là nhà nướcchuyên chính vô sản, nhà nước chuyên chính vô sản là trung tâm của hệ thống chínhtrị vô sản, là nhà nước có thể có nhiều hình thức phù hợp với điều kiện dân tộc, điềukiện cụ thể hoàn cảnh đối nội, đối ngoại và trình độ phát triển của từng dân tộc và cảnhững truyền thống lịch sử của dân tộc

Lênin đã tổng kết, khái quát và phát triển sáng tạo lý luận mácxít về cách mạng

xã hội chủ nghĩa và nhà nước chuyên chính vô sản, để hướng phong trào cộng sản quốc

tế đi đúng mục tiêu cao cả của nó, có ý nghĩa chính trị thực tiễn, làm cho quần chúngthấy rõ những việc họ sẽ phải làm trong một tương lai gần đây để "tự giải phóng khỏiách tư bản" [23, tr.5]

Theo Lênin, định nghĩa khoa học về chuyên chính là chính quyền không bị bất

cứ pháp luật nào, quy tắc nào hạn chế cả Nhà nước chuyên chính vô sản là nhà nướccủa giai cấp vô sản, đại diện cho quyền lợi của một giai cấp thống nhất với quyền lợicủa toàn thể những người lao động, nên quyền lực của nhà nước được mở rộng baonhiêu thì xã hội càng tiến bộ bấy nhiêu Chuyên chính vô sản là sự lãnh đạo của giai cấp

Trang 13

vô sản đối với toàn thể những người lao động nhằm xây dựng một xã hội mới, một xãhội mà quyền lợi của mọi người lao động đều không có sự mâu thuẫn với nhau.

Lênin viết: “Chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột,

và cũng không phải chủ yếu là bạo lực, cơ sở kinh tế của bạo lực cách mạng đó, cái bảođảm sức sống và thắng lợi của nó chính là việc giai cấp vô sản đưa ra được và thực hiệnđược kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản

Đây là thực chất của vấn đề, đây là nguồn sức mạnh, là điều bảo đảm cho thắnglợi hoàn toàn và tất nhiên của chủ nghĩa cộng sản" [26, tr.16]

Thứ hai, về Đảng vô sản và sự lãnh đạo của Đảng

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, đảng Cộng sản là "bộ phận kiên quyết nhất", là bộphận cổ vũ tất cả những bộ phận khác của giai cấp vô sản, là bộ phận tiên tiến ưu túnhất, là đôi tiên phong của giai cấp công nhân Chỉ có đảng cộng sản là đảng duy nhất

có tinh thần cách mạng triệt để, luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh lao động vào cuộc đấutranh gian khổ chống lại giai cấp tư sản

Đảng phải là một tổ chức chính trị có trình độ lý luận cao, có khả năng vạch racương lĩnh, chiến lược, sách lược đúng đắn để dẫn dắt giai cấp, không chủ quan duy ýchí, tả khuynh, hữu khuynh, cơ hội hoặc xét lại trong hoạt động, tức là phải "hiểu rõnhững điều kiện tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản"[32, tr.615]

Đảng hoạt động và đấu tranh không phải để giành những đặc quyền và độcquyền giai cấp, những đặc lợi cho bản thân, mà là để bảo vệ lợi ích của quần chúng laođộng "để giành lấy những quyền lợi và nghĩa vụ bình đẳng và để xoá bỏ mọi sự thốngtrị giai cấp" [35, tr.24]

Trong nội bộ Đảng, phải lấy "chân lý, chính nghĩa và đạo đức là cơ sở cho nhữngquan hệ của họ đối với nhau và đối với tất cả mọi người, không phân biệt màu da, tínngưỡng hoặc dân tộc"[35, tr.25]

C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định sự cần thiết phải có đảng và sự lãnh đạo củaĐảng vô sản trong hệ thống chính trị vô sản, hai ông chăm lo xây dựng nên một cộngđồng vô sản chân chính, thống nhất, có lý luận khoa học đúng đắn, có tổ chức chặt chẽ,tôi luyện trong phong trào của quần chúng và được quần chúng tin cậy, để đảng có thể

Trang 14

xác lập được quyền thống trị của mình, quyền thống trị của giai cấp công nhân, tức là

"sự thống trị giai cấp"

Trong điều kiện cầm quyền, đảng phải có đội ngũ cán bộ, đảng viên có tri thứckhoa học Đảng có thể kết nạp đảng viên trong cá tầng lớp khác, với điều kiện ngườinày từ bỏ lập trường quan điểm và lợi ích của giai cấp cũ của mình, đứng hẳn trên lậptrường quan điểm vô sản

Theo Lênin, trong điều kiện cầm quyền thì đảng cộng sản lãnh đạo, bằng cươnglĩnh chính trị, đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn của mình Lênin viết: "Nhiệm

vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng trách đối với thời đại là thuyết phụccho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình" [24,tr.208]

Thứ ba, các tổ chức đoàn thể nhân dân

Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin luôn quan tâm đến vấn đề xây dựngcác đoàn thể nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong các đoàn thể công nhân cótầm quan trọng nhất với tính cách là "những trung tâm tổ chức đối với giai cấp côngnhân", với tư cách là một lực lượng có tổ chức để tiêu diệt chế độ lao động làm thuê vàchính quyền của tư bản

Tổ chức liên minh giữa giai cấp vô sản với các giai cấp, tầng lớp khác cũng đượcC.Mác và Ph.Ăngghen hết sức chú ý C.Mác cho rằng: liên minh công nông, nông dân

và các tầng lớp lao động khác là tuyệt đối cần thiết

Đến Lênin, trong hệ thống chuyên chính vô sản, vai trò và nhiệm vụ của côngđoàn được Lênin coi trọng, theo Lênin, trong điều kiện giai cấp công nhân đã trở

thành giai cấp cầm quyền thì công đoàn có vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộquá trình thực hiện chuyên chính vô sản Công đoàn tập hợp trong hàng ngũ tổ chứccủa mình toàn thể công nhân công nghiệp Công đoàn chính là một tổ chức của giaicấp đang cầm quyền, đang thống trị Tuy nhiên, công đoàn không phải là một tổ chứccưỡng bức, mà với tư cách là tổ chức tham gia chính quyền nhà nước nhằm giáo dục,thu hút, huấn luyện, mối quan hệ giữa công đoàn và đảng Cộng sản, nhà nước, theoLênin, công đoàn phải là người công tác gần nhất, cần thiết nhất của chính quyền nhà

Trang 15

nước, tức là Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn bộ sự hoạt động chính trị và kinh tế của nó[28, tr.423].

Lênin còn đề cập cụ thể về vai trò của các tổ chức quần chúng nh ư thanh

niên, phụ nữ theo Lênin: "Không thể thu hút được quần chúng tham gia sinh

hoạt chính trị nếu không lôi cuốn phụ nữ tham gia chính trị" [27, tr.38-39]

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Hệ thống chính trị

Hồ Chí Minh là nhà hoạt động cách mạng thực tiễn, song tư tưởng của

Người về hệ thống chính trị và việc xây dựng hệ thống chính trị là một trong những

tư tưởng toàn diện và sâu sắc Và Hồ Chí Minh coi việc xây dựng hệ thống chính

trị sẽ quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Tư tưởng của Hồ Chí Minh về

hệ thống chính trị được thể hiện trên những vấn đề sau:

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo Hồ Chí Minh: "Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trungthành của nhân dân"

Sao bao nhiêu năm làm cách mạng, Đảng ta mới giành được chính quyền, mớitrở thành Đảng cầm quyền, Đảng cầm quyền làm cho chính quyền và mọi quyền lựcthật sự thuộc về nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng

Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định "Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi íchđều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, công việc đổi mới, xây dựng là tráchnhiệm của dân, sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân, chính quyền từ

xã đến chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổchức nên Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [40, tr.698] Một xã hộilành mạnh, một xã hội thật sự dân chủ là xã hội mà mọi quyền lực phải thuộc về nhândân,

Về phương thức lãnh đạo của Đảng, đối với Hồ Chí Minh, lãnh đạo đúng là "phảiquyết định mọi vấn đề một cách đúng Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinhnghiệm của dân chúng, vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sựlãnh đạo" [42, tr.572]

Trang 16

Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủnghĩa xã hội cũng là từ lực lượng của nhân dân Vì lợi ích, sự sung sướng và hạnh phúccủa nhân dân Sự nghiệp của Đảng và nhân dân là thống nhất, Đảng cũng không có lợiích nào khác là lợi ích của giai cấp dân tộc và nhân dân Vì vậy, xử lý đúng đắn nhấtmối quan hệ giữa Đảng và dân vừa là sự bảo đảm nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnhđạo của Đảng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.

Theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng một nhà nước độc lập, tự chủ, dân chủ, cộnghoà, một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân như:

Sau cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa rađời, Việt Nam thành một nước tự do, độc lập, Hồ Chí Minh khẳng định: "Nước ViệtNam là một nước dân chủ cộng hoà, tất cả quyền bình đẳng trong nước là của toàn thểnhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu, nghèo, giai cấp, tôn giáo"[52, tr.8]

Dưới sự lãnh đạo của Người, nhà nước Việt Nam thời bấy giờ, ngày càng đượccủng cố và hoàn thiện về các mặt: lập pháp, hành pháp và tư pháp, thật sự là công cụquyền lực của nhân dân, đại diện cho ý chí, lợi ích và nguyện vọng của toàn dân tộc,trên nguyên tắc, đảm bảo quyền lực nhà nước là thống nhất, nhằm thực hiện mục tiêudân tộc độc lập dân quyền tự do dân sinh hạnh phúc

Khi nói đến nhà nước phải nói đến quyền lực nhà nước thuộc về ai? Và quyềnlực bắt nguồn từ đâu Nói đến nhà nước của dân, có nghĩa là, nhà nước mà quyền lựcbắt nguồn từ dân, là bộ máy thừa hành ý chí của dân và điều quan trọng là nhân viênnhà nước không còn là "cha mẹ" dân như trong nhà nước quân chủ, mà là công bộc, đầy

tớ của nhân dân, thừa hành ý chí của dân và chịu trách nhiệm trước dân về mọi hành vi,

xử sự của mình và do dân cử ra Hồ Chí Minh viết: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị caonhất là dân, vì dân là chủ" [41, tr.515]; "chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làngười chủ [39, tr.499]; "chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của chính phủ từ toànquốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để giành việc chung cho dân,

Trang 17

chứ không phải để dè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật"[39, tr.56] Và Hồ Chí Minh nhấn mạnh "Bao nhiêu quyền hạn đều của dân" [40,

tr.698]

Nhà nước của dân là nhà nước được lập nên bằng con đường bầu cử, nhân viênnhà nước thực thi thừa hành quyền hạn thông qua sự uỷ thác của nhân dân Theo HồChí Minh, quyền của nhân dân không chỉ thể hiện ở quyền bầu cử Quốc hội, Hội đồngnhân dân các cấp, giám sát hoạt động của các đại biểu mà cơ chế dân chủ này còn nhằmlàm cho Quốc hội được trong sạch, giữ được phẩm chất, năng lực hoạt động

Người dân thông qua cơ chế dân chủ thực thi quyền làm chủ nhà nước nhưngđồng thời nhân dân phải có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ nhà nước, làm cho nhà nướcngày càng hoàn thiện, trong sạch, vững mạnh

Xây dựng một nhà nước do dân, vì dân, đối với Hồ Chí Minh, mang ý nghĩa tolớn ở chỗ: có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được,

không có dân thì làm việc gì cũng không xong

Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng việc phải xây dựng một nhà nước pháp quyền,tôn trọng Hiến pháp, tuân thủ pháp luật là nghĩa vụ thiêng liêng, vô cùng cao quý củamọi công dân và trên hết là của cán bộ, đảng viên Hồ Chí Minh đòi hỏi đảng viên, cán

bộ, những người giữ trách nhiệm cao phải nêu gương, Người nghiêm khắc phê phánnhững đảng viên

Cậy thế mình là người của Đảng, phớt lờ cả kỷ luật và cả cấp trên trongcác đoàn thể nhân dân hoặc cơ quan chính phủ Những đồng chí mắc bệnh ấykhông hiểu rằng mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật,chẳng những kỷ luật của Đảng mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân vàcủa cơ quan chính quyền cách mạng [39, tr.176]

Nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện pháp luật, Hồ Chí Minh cho rằng

"Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn" [39, tr.163],

“nếu không thưởng thì không có khuyến khích, nếu không phạt thì không giữ vững kỷ luật.Thưởng phạt nghiêm minh là cần thiết” [42, tr.466], " phải thưởng phạt cho công minhchớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt" [40, tr.480]

Trang 18

Tư tưởng của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực xây dựng nhà nước và pháp luật có ýnghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Mặt trận và khối đại đoàn kết toàn dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Mặt trận nhằm đoàn kết giai cấpcông nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ tri thức, đoàn kết những người và gia đình cócông với nước, đoàn kết các tôn giáo, các dân tộc, cộng đồng người Việt Nam ở

nước ngoài, các tầng lớp khác trong xã hội Bằng nhiều hình thức và biện pháp khácnhau, tuỳ từng giai đoạn lịch sử cụ thể, Mặt trận có những biện pháp thích hợp tậphợp các tầng lớp nhân dân xung quanh Đảng để vượt qua những khó khăn thử tháchhoàn thành các mục tiêu cách mạng đề ra Hồ Chí Minh đã sáng tạo trong việc lập racác tổ chức thích hợp của mặt trận để đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, các nhân sĩ,trí thức, những người có đạo thuộc các tôn giáo khác nhau, những người thuộc cácdân tộc khác nhau đều chung lòng yêu nước, yêu đồng bào vì sự nghiệp chung màđoàn kết

Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân phải thuphục được đại bộ phận giai cấp mình, để giai cấp ấy lãnh đạo được quần chúng, Đảngphải tổ chức, lãnh đạo các đoàn thể nhân dân Đảng phải vận động quần chúng nhân dâncùng với mình giải phóng nhân dân thoát khỏi ách áp bức bóc lột, thoát khỏi nghèo đói.Muốn làm được điều đó Đảng phải làm cho dân chúng giác ngộ, tự thấy khả năng to lớncủa mình, biết đoàn kết một lòng tạo nên sức mạnh đấu tranh chiến thắng mọi kẻ thù,Đảng phải đoàn kết không bè phái, phải nâng cao trình độ lực lượng, khả năng hoạtđộng thực tiễn, phải thật trong sạch, vững mạnh, chỉ như vậy dân mới tin, đi theo Đảng,đoàn kết xung quanh Đảng Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Nếu không có dân thì chính phủkhông đủ lực lượng Nếu không có chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường Chonên Chính phủ và nhân dân phải đồng tâm nhất trí, ra sức tổ chức công tác mở mangkinh tế Thực hành đời sống mới Và để thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng, Nhà nướcphải phát huy quyền dân chủ của nhân dân, bảo đảm quyền dân sinh của toàn dân đểphát huy tính tích cực sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người đều tham gia quản lý

Trang 19

nhà nước Phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân xây dựng Nhà nước củadân do dân, vì dân Mọi cơ quan Nhà nước phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhândân Lắng nghe ý kiến của dân, hướng về phục vụ nhân dân.

Đoàn kết dân tộc là cơ sở cho đoàn kết quốc tế, đoàn kết quốc tế là sâu sắc, rộngrãi thêm đoàn kết dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là tư tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩa, mangbản chất giai cấp công nhân, thể hiện sự vận dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo lý luậnmácxít về dân chủ

Hồ Chí Minh khẳng định: Xây dựng chế độ dân chủ không chỉ là xây dựng cơ sởkinh tế, chính trị pháp luật của chế độ đó mà còn là xây dựng đạo đức, môi trường vănhoá, đạo đức trong sạch, lành mạnh Đó là cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân làmột căn bệnh nguy hiểm, một thứ giặc nội xâm, nó đẻ ra mọi thứ bệnh tật khác, làmthoái hoá tổ chức và làm hư hỏng cán bộ, làm tổn hại đến lợi ích nhân dân và xã hội,làm suy giảm nhiệt tình, lòng tin của dân đối với Đảng và Nhà nước

1.2 Hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Viêng Chăn nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

1.2.1 Cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn

Hệ thống chính trị nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào là chế độ dân chủ nhândân theo hướng đi lên chủ nghĩa xã hội Cơ cấu hệ thống chính trị nước Cộng hoà dânchủ nhân dân Lào bao gồm: Đảng nhân dân cách mạng Lào, Nhà nước cộng hoà dânchủ nhân dân Lào, các tổ chức chính trị – xã hội (Mặt trận và các đoàn thể nhân dân),hoạt động theo một cơ chế nhất định nhằm từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủnghĩa, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân và thực hiện mục tiêu nước mạnh, dângiàu, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Việc phân chia địa giới hành chính vàchia cấp quản lý nhà nước như sau: Về địa giới hành chính, được phân chia thành bốncấp: Trung ương, Tỉnh, Huyện, Làng Việc quản lý của Nhà nước được phân chia thànhhai cấp: Cấp Trung ương (quản lý chung), cấp Cơ sở (Quản lý địa giới hành chínhtương đương Tỉnh, Huyện, Làng)

Trang 20

Đảng nhân dân cách mạng Lào:

Đảng nhân dân cách mạng Lào, là bộ phận tham mưu về đường lối chính trị, làđội tiên phong có tổ chức của giai cấp công nhân Lào, đại diện các lợi ích của tổ chức

và nhân dân lao động yêu nước và tiên tiến, là hạt nhân trong hệ thống chính trị của chế

độ dân chủ nhân dân

Đảng nhân dân cách mạng Lào luôn kiên trì lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin vàphát huy bản chất giai cấp công nhân, tính tiên phong và tính cách mạng, phát huy vaitrò lãnh đạo của Đảng, chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảngđối lập, tư tưởng cơ hội, kiểu cách quan liêu và các tiêu cực khác

Đảng nhân dân cách mạng Lào là những người ưu tú trong tầng lớp giai cấp côngnhân, nông dân, trí thức cách mạng và được thử thách qua phong trào thực tiễn cáchmạng, tự nguyện, tự giác, kiên cường, chịu hy sinh vì đất nước vì nhân dân Đảng

nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo nhân dân các bộ tộc Lào tiến hành thành công sựnghiệp cách mạng giải phóng đất nước, xoá bỏ chế độ phong kiến và chế độ thực

dân, thành lập Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Và xây dựng đất nướctheo con đường xã hội chủ nghĩa Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đời sống nhân dân

càng ngày càng được củng cố, quyền làm chủ của nhân dân các bộ tộc đã được mởrộng, sự đoàn kết, thống nhất toàn dân đã được củng cố, vị thế đất nước được nângcao trên trường quốc tế Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành sự nghiệp đổi mới, tiếptục xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân nhằm xây dựng đất nước Lào

hoà bình, độc lập, dân chủ, thống nhất thịnh vượng theo lý tưởng Cộng sản

Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Theo hiến pháp của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Nhà nước Cộng hoàDân chủ Nhân dân Lào là nhà nước dân chủ, tất cả quyền lực là của dân, do dân và vìlợi ích của nhân dân các bộ tộc, lấy liên minh công - nông -trí thức làm nòng cốt Quyềnlàm chủ đất nước của nhân dân các bộ tộc được thực hiện và đảm bảo bằng hoạt độngcủa chế độ chính trị do có Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo

Nhà nước trong hệ thống chính trị là cơ quan quyền lực, thể hiện và thi hànhquyền lực của nhân dân để bảo vệ nhân dân Nhân dân phải là người xây dựng cơ quan

Trang 21

đại diện quyền lực và lợi ích của mình - cơ quan đó là Quốc Hội Nhân dân sử dụngquyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp.

Các tổ chức chính trị – xã hội:

Các tổ chức chính trị – xã hội như Mặt trận, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hộiphụ nữ, Hội Cựu chiến binh và các tổ chức xã hội khác Các tổ chức xã hội là nơi tậptrung sự đoàn kết và huy động các tầng lớp của các bộ tộc vào tham gia trong sự nghiệpgiữ gìn, bảo vệ xây dựng đất nước, phát huy quyền làm chủ nhà nước, bảo vệ quyền vàlợi ích của các thành viên trong cơ quan tổ chức của mình

Các tổ chức chính trị – xã hội tập hợp, thu hút quần chúng vào việc sản xuất,giáo dục, văn hoá, đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cho Đảng và Nhà nước, đấutranh chống tham nhũng trong Đảng… các tổ chức này tạo nên cơ sở chính trị – xã hộicủa Nhà nước và góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạngLào

Các tổ chức chính trị – xã hội của quần chúng hoạt động theo nguyên tắc tựnguyện, tự quản, tuỳ theo những đặc điểm khác nhau về giới, lứa tuổi, nghề nghiệp

Cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị cấp cơ sở từ Tỉnh, Huyện, Làng của nướcCộng hoà dân chủ nhân dân Lào là một mô hình thu nhỏ của toàn hệ thống chính trịtrung ương Do vậy, hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Viêng Chăn cũng bao gồm: Bộmáy chính quyền Nhà nước; Đảng; Các tổ chức đoàn thể nhân dân (Hội phụ nữ, Thanhniên, Hội Cựu chiến binh, Hội nông dân, Mặt trận xây dựng tổ quốc…)

1.2.2 Vai trò, chức năng của hệ thống chính trị cấp cơ sở tỉnh Viêng Chăn

Trong sự liên kết và cấu thành chính thể thống nhất với hệ thống chính trị nóichung, hệ thống chính trị cấp cơ sở Tỉnh Viêng Chăn giữ một vị trò rất quan trọng,

nó là cơ quan quyền lực cao nhất của cấp cơ sở, có chức năng thay thế hệ thống

chính trị cấp trung ương lãnh đạo và quản lý xã hội bằng pháp luật Do đó, hệ

thống chính trị cấp trung ương muốn vững mạnh thì những hệ thống cấp cơ sở - với

tư cách là những trụ cột - cũng phải vững mạnh

Trang 22

Hệ thống chính trị cấp cơ sở - với yêu cầu - phải là các tổ chức với tính cách là độingũ tiên phong của nhân dân, là những người con ưu tú của nhân dân các bộ tộc Lào, cótri thức và tinh thần cách mạng, khí phách lãnh đạo.

Hệ thống chính trị cấp cơ sở – với vai trò và nhiệm vụ - đảm đương trách nhiệm làngười cầm lái, chèo chống con thuyền kinh tế của tỉnh, hướng dẫn, chỉ đạo bà con sảnxuất, kinh doanh, xây dựng đời sống văn hoá, giữ vững trật tự và an ninh chính trị…

Hệ thống chính trị cấp cơ sở là bước trung gian, khâu quan trọng đưa đường lối,chủ trương của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn đời sống xã hội

Hệ thống chính trị cấp cơ sở cũng là nơi để người dân thực thi và thể hiện quyềndân chủ của mình trong việc tham gia quản lý và điều hành nhà nước…

Nói chung, hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn nước Cộng hoà Dân chủ Nhândân Lào phải đảm đương những vai trò cụ thể như sau:

Một là, đảm bảo thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực chính trị.

Nhân dân được tự do phát biểu ý kiến của mình góp phần xây dựng đất nước, đóng góp

ý kiến vào các văn kiện quan trọng của Đảng, Nhà nước Có quyền yêu cầu bãi miễncán bộ có sai phạm, được chất vấn các đại biểu do mình bầu ra, được khiếu nại, tố cáovới các cơ quan có thẩm quyền về những vấn đề vi phạm đến quyền lợi, nghĩa vụ côngdân, quyền làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực chính trị Người dân thực hiện quyềndân chủ của mình trên lĩnh vực chính trị bằng việc có quyền ứng cử, cử đại diện củamình vào bộ máy chính quyền và tham gia quản lý nhà nước

Hai là, đảm bảo thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực kinh tế.

Người dân có quyền được biết, được thông tin đầy đủ về đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng, của nhà nước, của chính quyền địa phương đối với vấn đề kinh tế, đặcbiệt là các vấn đề trực tiếp liên quan đến lợi ích kinh tế của họ như các chủ trươngđường lối phát triển kinh tế của tỉnh, quy hoạch sử dụng đất đai, các khoản thuế,

phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề, định hướng sản xuất kinhdoanh

Thứ ba, đảm bảo thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực văn hoá

-xã hội Đảm bảo quyền công dân, quyền con người, khắc phục những sự khác biệt giữa

Trang 23

các tầng lớp trong xã hội, giữa các vùng dân cư, giải phóng con người khỏi những quan

hệ xã hội bất bình đẳng, xây dựng đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, củng cố tìnhđoàn kết các bộ tộc Lào, giáo dục truyền thống văn hoá, đạo đức Nâng cao ý thức chonhân dân trong việc ngăn chặn sự xuống cấp về đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội.Xây dựng các cơ sở y tế, giáo dục, nhà văn hoá, nhà tình nghĩa, nghĩa trang liệt sĩ…

Bốn là, thúc đẩy quá trình dân chủ hoá để đảm bảo thực hành dân chủ cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động

Theo Lênin: chế độ dân chủ có nghĩa là chính thức thừa nhận quyền bình đẳnggiữa những người công dân, thừa nhận mọi người được quyền ngang nhau trong việcquản lý nhà nước [25, tr.123] Để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, giai cấpcông nhân và nhân dân lao động phải bắt đầu bằng việc giành lấy quyền lực chínhtrị, phải trở thành chủ thể của quyền lực và sử dụng quyền lực đó vì mục đích củabản thân giai cấp mình Đó cũng chính là tiền đề chính trị cần thiết để nền dân chủ xãhội chủ nghĩa có thể ra đời

Hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn là chế độ dân chủ nhân dân, trong hệ thống

đó, người lao động thực hành quyền làm chủ của mình trên tất cả mọi lĩnh vực của đờisống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, nhân dân là chủ thể sở hữu, làm chủ tư liệu sảnxuất và chủ thể tiêu dùng những sản phẩm do chính mình làm ra

Năm là, đảm bảo thực hiện chuyên chính với các thế lực chống lại hệ thống chính trị (nền dân chủ xã hội chủ nghĩa) của tỉnh Viêng Chăn

Hệ thống chính trị của tỉnh Viêng Chăn là bộ phận cốt lõi của nó là hệ thốngchuyên chính vố sản, đó là cơ chế thực hiện đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân,trong hệ thống đó là kết quả hoạt động tự giác của quần chúng nhân dân thông qua độitiên phong của giai cấp công nhân, với tư cách là điều kiện duy nhất đảm bảo vai tròlãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào tỉnh Viêng Chăn

Đảng uỷ các cấp của tỉnh Viêng Chăn đã mang lại cho phong trào quần chúngtỉnh tự giác trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thông qua công táctuyên truyền, giáo dục của mình Hệ thống chính trị của tỉnh Viêng Chăn chuyên chính

vố sản là một tất yếu khách quan trong tiến trình xác lập và củng cố dân chủ xã hội chủ

Trang 24

nghĩa và con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội trong khi mở rộng dân chủ vớimọi tầng lớp nhân dân phải đảm bảo các bọn giai cấp bóc lột vẫn còn, chúng chống lại

sự nghiệp xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, mưu toàn phục hội dân chủ tư sản,

vi phạm những giá trị dân chủ chân chính của nhân dân, gây nguy hại cho tiến trình pháttriển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Chính sự chống đối đó của bọn bóc lột kiến giai cấp cống nhân và nhân dân laođộng phải tiến hành cưỡng bức đối với chúng, trấn áp chúng bằng bạo lực Theo Lênin

"dấu hiệu tất yếu, điều kiện bắt buộc của chuyên chính là trấn áp bằng bạo lực những kẻbóc lột với tính cách là một giai cấp" [25, tr.323] liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ

đó, chuyên chính của tỉnh Viêng Chăn đóng vai trò thiết chế bảo đảm sự lãnh đạo củaĐảng đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đảm bảo việc tổ chức các hìnhthức hoạt động theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, được định hướng vào việc hìnhthành một nền dân chủ càng cao, hoàn thiện đẩy đủ hơn

1.2.3 Đặc điểm hoạt động của hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn

Thứ nhất, hệ thống chính trị của tỉnh Viêng Chăn, là hệ thống chính trị dân chủ

của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động, theo hướng đi lên chủ nghĩa xãhội, mang mầu sắc dân tộc Lào, phù hợp với tình hình trong nước, khu vực và xu thếcủa thời đại Trong hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn, bản chất giai cấp công nhân,tính dân tộc, tính nhân dân là thống nhất hữu cơ, được quán triệt, cụ thể hoá, thể chế hoá

và thực hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, được tổ chức và hoạt động theođường lối của Đảng nhân dân cách mạng Lào

Thứ hai, trong hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn, Đảng nhân dân cách mạng

Lào là hạt nhân lãnh đạo toàn diện thông qua các đảng viên là cán bộ lãnh đạo trong các

cơ quan nhà nước và các đoàn thể các cấp Tỉnh, Huyện, Làng Đảng định ra cương lĩnh,chiến lược, đường lối chung (đối nội và đối ngoại), trên cơ sở đó Nhà nước thể chế hoá,

cụ thể hoá thành chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện Đảng quản lý công tác tổchức, cán bộ chủ chốt trong bộ máy nhà nước và đoàn thể trên tinh thần bàn bạc dânchủ Đảng lập ra các tổ chức Đảng trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị vũ

trang v.v

Trang 25

Nhà nước và các đoàn thể có chức năng xã hội riêng, có hệ thống bộ máy và cáccông cụ để tổ chức và quản lý xã hội, nhà nước hoạt động dưới hình thức bộ máy quyềnlực thuộc về nhân dân, vì dân, do dân, Nhà nước và các đoàn thể của tỉnh Viêng Chănphải có các hình thức tổ chức và phương thức thích hợp, thuận tiện nhất để thu thập ýkiến, sáng kiến, nguyện vọng của nhân dân, để nhân dân tham gia trực tiếp vào các côngviệc quản lý đất nước và cộng đồng, giám sát hoạt động của các cơ quan và nhân viênnhà nước, góp ý xây dựng Đảng và các đoàn thể Định kỳ, các cơ quan nhà nước vàđoàn thể phải báo cáo công khai trước nhân dân về kết quả công việc, thuận lợi và khókhăn, thành tựu và khuyết điểm Nhân dân có quyền theo dõi các phiên họp của Quốchội, Hội đồng nhân dân, chất vấn các đại biểu và các đại biểu phải trả lời nghiêm túc, cóquyền kiểm tra và bãi miễn những đại biểu không còn xứng đáng là người đại diện chohọ.

Thứ ba, trong hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn, quyền lực Nhà nước là thống

nhất, không phân chia, cắt khúc hay đối chọi nhau mà có sự phân công và phối hợp giữacác cơ quan nhà nước theo quy định của hiến pháp và pháp luật trong việc thực hiệnquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.Tỉnh Viêng Chăn được phép ra các văn bản, thực hiện các nghị quyết, nghị lệnh củachính phủ, các cơ quan nhà nước của tỉnh quản lý và sử dụng hợp lý các nguồn lực vàchăm lo đời sống của nhân dân trên địa bàn hành chính lãnh thổ

Trang 26

Chương 2 Thực trạng hệ thống chính trị cấp cơ sở

tỉnh Viêng Chăn hiện nay

2.1 điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh viêng chăn

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân số

Tỉnh Vientiane thuộc nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào có vị trí địa lý quantrọng và nhiều lợi thế so với các tỉnh khác, phía Bắc giáp với tỉnh Luangprabang (LuôngPha Băng), phía Nam giáp với thủ đô Vientiane (Viêng Chăn) và tỉnh Borikhamxay (Bo

ri khăm xay), phía Đông giáp với tỉnh Xiengkhuang (Xiêng Khoảng), phía Tây giáp vớitỉnh Xayabury (Xây a by ry) và có đường biên giáp Thái Lan dài tới 97 km

Tỉnh Viêng Chăn có diện tích 22,554 Km2 Trong đó hơn một nửa diện tích đượcbao trùm bằng rừng, địa hình phần lớn là núi và cao nguyên, diện tích đồng bằng chỉchiếm 1/5 Với đặc điểm là rừng tự nhiên, địa hình hiểm trở, núi dốc đèo cao, sự giaolưu, thông thương và tiếp xúc với bên ngoài là khó khăn, nhưng bù lại, tỉnh Vientiane làvùng tiếp cận với rừng rậm nhiệt đới có lịch sử lâu đời nên quần thể động, thực vật rấtphong phú Trong khuôn khổ của một nền kinh tế tự túc, tự cấp thì thiên nhiên đã thực

sự ưu đãi cho người dân Vientiane đầy đủ về lương thực (lúa, hoa mầu), thực phẩm(thực vật và động vật) Do đó, đời sống sinh hoạt của dân cư nơi đây gắn liền với rừng,nông nghiệp cũng là phát rẫy làm nương

Tỉnh Vientiane có 13 huyện, 648 làng, 79.971 hộ gia đình sinh sống, dân số439.391 người, mật độ dân cư trung bình là 18,5 người/km2, bao gồm các tộc ngườithiểu số như Lào Lùm, Lào Sung, Lào Thâng Dân số hàng năm tăng lên khoảng 2,4%

Đời sống kinh tế của người dân Vientian chủ yếu là nông nghiệp - phát rẫy làmnương và nghề lâm nghiệp

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Về kinh tế:

Tỉnh Viêng Chăn là một trong những tỉnh có cơ hội, tiềm năng, thế mạnh trong

sự phát triển kinh tế - xã hội so sánh với tỉnh khác, bởi hơn một nửa diện tích được bao

Trang 27

trùm bằng, có khả năng phát triển loại hình kinh tế công nghiệp và chế biến như chếbiến sản phẩm nông nghiệp, chế biến gỗ và lâm sản, chế biến khoáng sản, sản xuất vậtliệu xây dựng và sản xuất vật dụng tiêu dùng.

Tỉnh Viêng Chăn cũng là một trong những tỉnh phần lớn là núi và cao nguyên,nên cũng là cơ hội cho sự phát triển ngành nghề du lịch sinh thái, văn hoá, lịch sử Và

do có đường biên giới tiếp giáp với Thái Lan hơn 97km nên việc thông thương buônbán cũng dễ dàng phát triển

Cũng chính vì, địa hình phần lớn là núi và cao nguyên nên tỉnh Viêng Chăn cũng

có nhiều lợi thế trong phát triển thuỷ điện ở các vùng Nam Ngừm, Nam Lực, NamMăng với tổng sản lượng điện lên tới 250 MW

Với những lợi thế trên, nên trong 5 năm trở lại đây, trung bình tốc độ tăng trưởngGDP của tỉnh Viêng Chăn đạt 8,72%, thu nhập bình quân đầu người đang từ mức 431USD/người/năm lên thành 501USD/người/năm Tổng thu ngân sách trung bình năm

2008 là 150,57 tỷ kíp (tăng 53%), tổng chi ngân sách là 190, 60 tỉ kíp (bằng 1,3 lần thu).Nhìn chung, cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp

và dịch vụ

Trong năm 2007-2008, tỉnh Viêng Chăn được phê duyệt nhận ngân sách của Nhànước là 58,82 tỷ kíp, vốn tự có của tỉnh là 20,30 tỷ kíp, vốn đầu tư của nước ngoài 38,52

tỷ kíp, tỉnh đã tổ chức thực hiện giải ngân 100% theo kế hoạch phê chuẩn

Tổ chức Đảng và Nhà nước của tỉnh Viêng Chăn đã quan tâm tăng cường sự hợptác với các tỉnh của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tỉnh Hải Dương), vớiTrung Quốc (tỉnh Yu Nan)…

Trong năm 2007-2008 kế hoạch sản xuất gạo đạt 61,508 héc ta bằng 89,49% của

kế hoạch, sản lượng 238.752 tấn, so với năm trước tăng lên 14% Tỉnh đang đề ra kếhoạch phấn đấu đạt 50.000 tấn gạo/héc ta

Tỉnh đã thực hiện chương trình giao đất đai, giao rừng cho nhân dân quản lý và

sử dụng, khuyến khích nông dân trồng rừng dự phòng kết hợp với trồng cây lương thực

và hoa mầu Đồng thời, các cơ quan nhà nước của tỉnh thường xuyên quan tâm theo dõi,kiểm tra việc phá rừng của nhân dân…

Trang 28

Ngành chăn nuôi gia súc ngày một phát triển, đặc biệt, việc chăn nuôi bò, trâu,lợn (tăng lên 6% so với năm 2007), diện tích ao cá là 1.437 héc ta (tăng 3%) Việc chănnuôi gia súc, gia cầm đã đi vào quy mô, có sự kiếm tra, giám sát của thú y, tiêm thuốccho vật nuôi thường xuyên, kỹ thuật chăn nuôi đáp ứng được chất lượng sản phẩm…

Đảng và Nhà nước tỉnh Viêng Chăn thường xuyên đi xuống các địa bàn kiểmtra, sửa chữa các công trình thuỷ nông hư hỏng để đảm bảo cung ứng nước tưới tiêucho người dân trên diện tích sản xuất thường xuyên 4.173 héc ta Hiện nay, tỉnh xâydựng mạng lưới điện vào các làng, các huyện trọng tâm, tính đến nay, toàn tỉnh đã cóđiện sử dụng, 451 làng được sử dụng điện (chiếm 82%)

Trong năm 2007-2008 tổng sản lượng ngành công nghiệp khai thác khoángsản doanh thu đạt được 140,67 tỷ kíp (tăng 27,14%) Đặc biệt, Công ty Mai Ninh cókhả năng khai thác được vàng, giá trị tương đương 102,37 tỷ kíp

Trong 6 tháng đầu năm 2009, Tỉnh Viêng Chăn đã xây dựng mới nhiều tuyếnđường bằng nguồn kinh phí của Tỉnh và Nhà nước cấp Sửa chữa, nâng cấp, xây mớinhiều cầu cốt thép (bằng 81% của kế hoạch năm) Tỉnh có 3 trạm bưu điện

Trong năm 2007-2008, tỉnh Viêng Chăn đã tập trung thúc đẩy, khuyến khích, tạođiều kiện thuận lợi cho các đơn vị sản xuất công nghiệp - thủ công nghiệp hoạt động sảnxuất Hiện nay, toàn tỉnh có 2.922 nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp - thủ côngnghiệp (tăng lên 5%), tổng sản lượng công nghiệp - thủ công nghiệp đạt được trị giá519,66 tỷ kíp

Các ngành nghề dịch vụ, du lịch trong toàn tỉnh có xu hướng tăng, chất lượngphục vụ được nâng cao, tính chuyên nghiệp ngày một thể hiện rõ, tạo nguồn thu trên

283 tỷ kíp (tăng 2 lần so với kế hoạch năm)

Ngành ngân hàng đã có những bước tiến triển tốt, quan tâm huy động tiền gửicủa người dân để dùng vào phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt chú trọng đầu tư vàongành nghề nông - lâm nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ

Tỉnh Viêng Chăn cũng chú trọng rà soát, quy hoạch diện tích đất đai cho sảnxuất nông nghiệp và giao rừng cho nhân dân sử dụng, quản lý, quy hoạch, tổ chức định

cư cho người dân sống tập trung không phân tán nhỏ lẻ Hiện nay, tỉnh Viêng Chăn có

Trang 29

527 làng (chia thành 70 nhóm và 8 làng trung tâm) Về cơ bản, Đảng uỷ tỉnh ViêngChăn đã quan tâm đến việc phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng đếntừng làng bản, làm cho đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, thực hiện chủtrương xoá đói giảm nghèo trong toàn tỉnh bằng cách trợ cấp vốn tín dụng cho bà condùng để chăn nuôi dê, bò, heo và khai hoang đất trồng trọt… Trước đây, toàn tỉnhViêng Chăn có tới 162 làng thuộc diện nghèo, 8.455 hộ gia đình thuộc diện nghèo, đếnnay, chỉ còn 115 làng nghèo, 7.713 hộ gia đình nghèo (giảm 47 làng, 742 hộ gia đình).

Về lĩnh vực văn hoá - xã hội

Hiện nay toàn tỉnh có 664 trường học, giảm xuống 58 trường do có sự kết hợpnhiều trường vào làm một để không thiếu giáo viên đứng lớp Chất lượng đội ngũ giáoviên cấp Tiểu học cũng đã được chú trọng quy chuẩn, bồi dưỡng, tập huấn giáo viên từ

5 + 4 thành 8 + 3 Cử 80 thầy cô giáo ở các huyện đi đào tạo cử nhân Tỉ lệ học sinh,sinh viên tăng 1,2% so với năm 2008 Xoá mù chữ đạt 78% của kế hoạch năm

Tỉnh chủ trương xã hội hoá giáo dục, huy động nguồn vốn từ nhân dân góp phầnxây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo (trường, lớp, phòng học, bàn ghế…) giá trị tới 2,85 tỷkíp Đặc biệt, Tỉnh Viêng Chăn nhận được sự giúp đỡ của Tổ chức Quốc tế (Bắc Triềutiên) đối với giáo dục (xây dựng 4 trường tiểu học, trị giá 16.000 đô la, cấp 93.993 sách,

vở, 1.675 bảng…)

Hiện nay, toàn tỉnh, tỷ lệ thất nghiệp là 3,27% Tỉnh tổ chức thực hiện chính sáchđối với người có công với nước (chính sách 194/ TTG) trị giá 71,50 triệu kíp, trợ cấpcho người có công với cách mạng (363 người), cùng với đó là quan tâm tổ chức thựchiện chính sách xã hội thường xuyên liên tục với cán bộ nhân viên, cán bộ nghỉ hưu,người tàn tật

Đặc biệt, tỉnh Viêng Chăn kết hợp với tỉnh Nghệ An (Việt Nam) thực hiện chiếndịch tìm kiếm hài cốt quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam ở Lòng Chanh (huyệnXay Som Boun), kết quả đã tìm thấy 45 bộ hài cốt…

Đối với công tác truyền thông – văn hoá - thông tin được quan tâm củng cố, sốlượng báo cung cấp cho toàn tỉnh hằng tuần là 15.000 tờ, hơn 14 loại tạp chí được phổbiến, truyền thông trên toàn tỉnh

Trang 30

Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Tỉnh Viêng Chăn, phong trào thể dục thểthao trong toàn tỉnh đạt được nhiều thành tích (tham gia SEA GAME 24 ở Lat Xạ Si Ma

- Thái Lan; Đại hội thể cụ thể thao Quốc gia lần thứ VI ở tỉnh Hua Phăn, giành được 2huy chương vàng, 1 huy chương bạc, đứng thứ 2 cả nước) Phong trào thể dục thể thao

đã góp phần củng cố tình đoàn kết các bộ tộc Lào trong tỉnh Viêng Chăn

Về y tế:

Tỉnh rất quan tâm đến vấn đề y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, mở rộngphong trào tiêm chủng và uống thuốc vitamin cho trẻ từ 9 tháng đến 15 tuổi đạt tỉ lệ99% (vượt hơn kế hoạch đề ra 4,2%) Quan tâm theo dõi các dịch bệnh theo mùa nhưsốt rét, sốt xuất huyết, ỉa chảy Có chính sách hỗ trợ cho 5.222 lượt người và các hộ giađình nghèo, đau ốm phải đi bệnh viện trị giá 296,45 triệu kíp Thành lập được 67 làngkiểu mẫu về vệ sinh môi trường sống, ăn, ở 100% làng có nước sạch sử dụng, nhưngchỉ 76% trong số đó được sử dụng nước sách thực sự do nguồn cung cấp nước sạch bị

hư hỏng nhiều nơi, hướng dẫn người dân sử dụng nhà vệ sinh khép kín… Hình thành

185 tủ thuốc làng, vùng sâu, vùng xa, vùng núi chiếm

Lãnh đạo tỉnh đã quan tâm, tập trung tổ chức thực hiện, chỉ đạo, lãnh đạo cáchuyện, huy động nhân dân các huyện (Hôm, Xay Sôm Boun, Ka Si) bỏ trồng cây

thuốc phiện, theo dõi sự hoạt động của bọn buôn bán thuốc gây nghiện, thu thập dữliệu người nghiện ở tỉnh để tập trung cai nghiện, cả có 53840 người, nữ 543 ngườilàm cho thoát mối hiểm nguy được 269 người Thúc đẩy chính quyền địa phương

thành lập làng trong sạch không có người nghiện

2.2 thực trạng tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn hiện nay

Như trên chúng tôi đã trình bày, việc phân chia địa giới hành chính và cấp quản

lý nhà nước ở Lào được xác định như sau: Địa giới hành chính được chia thành 4

cấp: trung ương, tỉnh, huyện, làng Quản lý nhà nước được chia làm 4 cấp: Một cấptrung ương và 3 cấp cơ sở tương đương với Tỉnh, Huyện, Làng

Cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị cấp cơ sở từ Tỉnh, Huyện, Làng là một môhình thu nhỏ của toàn hệ thống chính trị trung ương Do vậy, hệ thống chính trị cấp cơ

Trang 31

sở tỉnh Vientiane bao gồm: Bộ máy chính quyền Nhà nước (Hội đồng nhân dân, Tỉnh trưởng, các sở - ban ngành); Đảng bộ (Tỉnh uỷ – ban thường vụ, Ban kiểm tra đảng, Ban tuyên huấn); Các tổ chức đoàn thể nhân dân (Hội phụ nữ, Thanh niên, Hội Cựu

chiến binh, Hội nông dân, Mặt trận xây dựng tổ quốc…)

Có nhiều cách tiếp cận trong nghiên cứu Hệ thống chính trị nói chung và Hệ thốngchính trị cấp cơ sở nói riêng, trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu Hệ thống chínhtrị cấp cơ sở tỉnh Viêng Chăn từ góc độ hệ thống tổ chức, chức năng và cơ chế hoạtđộng

2.2.1 Thực trạng tổ chức hoạt động Đảng ở tỉnh Viêng Chăn

Theo Điều lệ của Đảng Nhân dân cách mạng Lào lần thứ VIII (2006), hệ thống

tổ chức Đảng Nhân dân cách mạng Lào chia thành 3 cấp: Trung ương, tỉnh và huyện

Tỉnh uỷ tỉnh Viêng Chăn là cơ quan lãnh đạo của Đảng cao nhất ở cấp địaphương liên hệ trực tiếp với Đảng uỷ cấp trên về việc tổ chức thực hiện các nghị quyết,nghị lệnh, đường lối, chính sách, điều lệ của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng thờilãnh đạo các tổ chức địa phương hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình

Tỉnh uỷ tỉnh Viêng Chăn có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục tập huấn chính trị

-tư -tưởng cho cán bộ Xây dựng tổ chức đảng uỷ cơ sở, đảng bộ cơ sở cho phù hợp vớinhiệm vụ chính trị của từng cấp Sắp xếp đảng viên, quản lý., sử dụng cán bộ và thựchiện chính sách với cán bộ - đảng viên thuộc quyền quản lý của mình Hoạt động kiểmtra, theo dõi, thúc đẩy việc kết nạp quần chúng tiến bộ vào Đảng, xử lý nghiêm nhữngngười không chấp hành kỷ luật của Đảng

Tỉnh uỷ là khâu trung gian đưa đường lối, chủ trương của đảng, chính sách phápluật của nhà nước vào thực tiễn đời sống xã hội Lãnh đạo các cơ quan nhà nước, mặttrận xây dựng Tổ quốc, các cơ quan đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội hoạt độngđúng vai trò, nhiệm vụ của mình Kiểm tra các cơ quan hành chính địa phương trongviệc tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống nhân dân,việc an ninh quốc phòng, huy động quần chúng góp phần xây dựng cơ quan địa phươngđảm bảo thực thi quyền làm chủ của nhân dân

Trang 32

Bộ máy tổ chức của Tỉnh uỷ tỉnh Viêng Chăn bao gồm: Ban thường vụ (bí thư tỉnh uỷ, phó bí thư tỉnh uỷ, uỷ viên); Uỷ ban Kiểm tra đảng (Trưởng ban và Phó trưởng ban kiểm tra, uỷ viên); Ban Tuyên huấn.

Về tổ chức hoạt động của Ban thường vụ

Số lượng đảng viên trong Ban thường vụ không được vượt quá 1/3 số lượng đảngviên trong Tỉnh uỷ Bí thư Tỉnh uỷ và phó bí thư Tỉnh uỷ là người chỉ đạo và giải quyếtcông việc hàng ngày, chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết, nghị lệnh của cấp trên, hoạtđộng kiểm tra các tổ chức đảng cấp dưới trong việc tổ chức thực hiện nghị quyết, nghịlệnh, điều lệ của Đảng, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Uỷ ban thường vụ,hội nghị thường kỳ tháng một lần, trong trường hợp đặc biệt có khả năng hội nghị bấtthường, Bí thư Tỉnh uỷ giữ chức vụ không quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp Tỉnh uỷ có quyềnbầu cử đại diện của mình tham gia Đại hội Đảng cấp trên

Uỷ ban Thường vụ có vai trò chỉ đạo, lãnh đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiệnNghị quyết Đại hội, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và của Tỉnh uỷ.Lãnh đạo công việc trật tự an ninh, bảo vệ quốc phòng: tập huấn cho cán bộ và nhân dân

có ý thức chống lại âm mưu của kẻ thù, củng cố lực lượng quân sự, cảnh sát,khuyếnkhích nhân dân góp phần tham gia việc trật tự an ninh, bảo vệ quốc phòng

Thực hiện theo hướng đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng uỷ cấp trên, trong năm

2009 vừa qua, Tỉnh uỷ Viêng Chăn đã tiếp tục củng cố Đảng uỷ cấp cơ sở, gây dựngcác chi bộ làng Hiện nay, tỉnh Viêng Chăn có tất cả 896 tổ đảng với 10.190 đảng viên(trong đó, nữ đảng viên có 1.903 đồng chí, chiếm tỉ lệ 10%),

Theo nghị lệnh số 09 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương về việc thànhlập làng và nhóm làng gắn liền với sự hình thành cơ sở đảng, hiện nay toàn tỉnh tổ chứcđược 61 nhóm làng với 61 tổ chức Đảng uỷ cơ sở làng, chuyển Bí thư huyện xuống làm

bí thư Đảng uỷ làng…

Thực hiện theo Nghị lệnh số 08 của Bộ Chính trị, tỉnh Viêng Chăn hoàn thànhquy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong toàn tỉnh Lựa chọn và tuyển chọncán bộ có năng lực cho đi đào tạo ngắn và dài hạn, đào tạo bổ túc trong nước và nướcngoài Trình độ chuyên môn của cán bộ trong toàn tỉnh còn thấp (trình độ Tiến sĩ: 1

Trang 33

người – nam; Thạc sĩ: 66 người - 4 nữ; Cử nhân: 830 người – 242 nữ Cao cấp: 1.401người- 437 nữ; Trung cấp: 4.348 người - 1.628 nữ Sơ cấp: 1.694 người – 655 nữ.Không bằng cấp: 155 người – 27 nữ.

Đảng uỷ tỉnh Viêng Chăn quan tâm việc củng cố và nâng cao số lượng, chấtlượng mức độ các trường học, trường dạy nghề, trung tâm giáo huấn của Nhà nước vàcủa tư nhân

Tổ chức hoạt động của Ban kiểm tra Đảng

Ban Kiểm tra đảng có chức năng kiểm tra mọi hoạt động, thực hiện đường lối,nghị lệnh, quyết định và điều lệ của Đảng một cách thường xuyên Kiểm tra việc tổchức thực hiện Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ở các tổ chức Đảng uỷ các cấp.Kiểm tra về lập trường tư tưởng của đảng viên Kiểm tra việc tổ chức, thực hiện 14 điềucấm làm của đảng viên Ngoài ra, ban kiểm tra có quyền tham mưu cho Tỉnh uỷ trongviệc tổ chức thực hiện sinh hoạt đảng ở cơ sở, cơ quan và một số huyện theo nghị quyếtcủa thường vụ tỉnh uỷ

Theo dõi các cơ quan chính quyền nhà nước trong việc tổ chức thực hiện cácchương trình, kế hoạch của nhà nước đối với tỉnh Viêng Chăn Chẳng hạn, kiểm tra tiến

độ thực hiện các dự án, chương trình trong toàn tỉnh

Kiểm tra các cơ quan khai thác gỗ không đúng chủ trương như là: khai thác gỗkhông trong danh mục cho phép, buôn bán lậu, trốn thuế…, điều tra, xử phạt những saiphạm kinh tế…

Cùng với công việc kiểm tra Đảng, Nhà nước, Ban kiểm có trách nhiệm tham giakiểm tra các đơn thư khiếu kiện, khiếu nại của cán bộ, đảng viên, nhân dân các bộ tộcLào, từ đó, định hướng cho các cơ quan pháp luật giải quyết ổn thoả, đảm bảo côngbằng xã hội

Về hoạt động của Ban Tuyên huấn

Trong cương vị tham mưu về mặt chính trị, tư tưởng cho Thường vụ Tỉnh uỷ,Ban Tuyên huấn tiếp nhận đường lối, nghị lệnh, nghị quyết của Đảng, và pháp luật củaNhà nước, tuyên truyền và giáo huấn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, bộ đội, cảnh sát vànhân dân các địa phương kịp thời nắm bắt

Trang 34

Ban tuyên huấn có trách nhiệm tập huấn công tác cho bí thư đảng, tỉnh trưởng,trưởng làng Trong năm qua, đã tập huấn cho 12 huyện (Văng Viêng, Thu La Khom,Phôn Hông Xay Som Bun…).Nội dung giáo huấn chủ yếu là tuyên truyền, tạo dựng tìnhđoàn kết giữa các bộ tộc lào, vấn đề tôn giáo, âm mưu của các thế lực thù địch trongchiến lược “diễn biến hoà bình” nhằm chia rẽ các bộ tộc Lào và lật đổ đảng cách mạngnhân dân Lào, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Lào…

Cán bộ làm công tác tuyên huấn trong toàn tỉnh hàng năm cũng phải đi tập huấnnâng cao ý thức chính trị và trình độ nghiệp vụ do Ban tuyên huấn Trung ương Đảng tổchức

Ban tuyên huấn tỉnh kết hợp với Sở công nghiệp - thương mại, tài chính tập huấncho các cán bộ làm công tác kinh doanh thuộc cấp tỉnh, huyện…

Hàng năm, Ban tuyên huấn có trách nhiệm ra soát lại việc tổ chức thực hiện Nghịquyết Đại hội Đảng của Tỉnh uỷ

Kết hợp với Ban tổ chức và Ban kiểm tra Đảng - Nhà nước xuống theo dõi, thúcđẩy sinh hoạt đảng và củng cố bộ máy tổ chức cấp cơ sở toàn tỉnh

Tổ chức tuyên truyền và chào mừng các ngày lễ quan trọng của Đảng, của quốcgia, của lãnh tụ và các ngành nghề trong nước và quốc tế

2.2.2 Thực trạng tổ chức hoạt động của bộ máy chính quyền Nhà nước tỉnh Viêng Chăn

Trong Hệ thống chính trị cấp cơ sở, bộ máy chính quyền cấp tỉnh giữ vai trò hếtsức quan trọng vì đó là cơ quan quyền lực cao nhất ở địa phương, có chức năng thaymặt Nhà nước trung ương quản lý xã hội bằng pháp luật trên địa bàn mình quản lý Nó

có nhiệm vụ quản lý hành chính và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết củaTỉnh uỷ, thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của toàn tỉnh và trung ương

Những năm trước đây, bộ máy chính quyền cấp tỉnh Viêng Chăn được tổ chứccồng kềnh, nhiều tầng, nhiều nấc, nhiều sở, ban, ngành nhưng chức năng và nhiệm vụkhông được phân định rõ ràng dẫn đến chống chéo lên nhau, làm cho việc quản lý vàtrách nhiệm trong việc điều hành và tổ chức thực hiện không hiệu quả, vô trách nhiệm,

Trang 35

quan liêu, bất chấp quy luật, từ đó, gây phiền hà, khó khăn cho nhân dân và quan trọnghơn là kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Viêng Chăn.

Gần đây, theo Hiến pháp nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, Pháp lệnhcủa chính phủ, Pháp lệnh về vấn đề tổ chức hành chính tại các địa phương (2003) doCục Hành chính và Quản lý công chức ấn hành, theo đó, các cơ quan, hành chính địa

phương là một tổ chức hành chính nhà nước cấp địa phương, trong đó Tỉnh trưởng

là người đứng đầu quản lý toàn bộ bộ máy chính quyền cấp tỉnh, có vai trò thay mặt

và chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chính phủ trong việc quản lý hành chính, thựchiện các mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, xây dựng và sử dụng nguồn lực

con người ở địa phương Dưới quyền tỉnh trưởng là một hệ thống bộ máy giúp việc

và văn phòng tỉnh uỷ, cùng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (Quốc hội cấp tỉnh).

Nhiệm vụ cụ thể của bộ máy chính quyền tỉnh Viêng Chăn như sau:

- Quản lý và sử dụng và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, môi trường

- Bảo vệ tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự xã hội trong địa phương

- Ngoại giao theo sự chỉ đạo của Chính phủ

- Thủ trưởng cơ quan hành chính phải là tỉnh trưởng, trong đó tỉnh trưởng cóquyền và nhiệm vụ như:

+ Đảm bảo thực hiện Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước

+ Triệu tập và chủ trì hội nghị của cơ quan hành chính tỉnh

+ Bàn bạc, xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và gây dựngngân sách của địa phương mình

+ Tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

+ Bảo vệ an ninh, quốc phòng của tỉnh

+ Chống và ngăn chặn tình trạng chán nản, thoái hoá biến chất của cán bộ+ Theo dõi, kiểm tra chương trình của Trung ương ở địa phương mình

+ Tạo điều kiện thuận lợi và phối hợp với các cơ quan liên quan, bảo đảm thunhập của địa phương

Trang 36

+ Thúc đẩy, khuyến khích và tạo điều kiện cho Mặt trận xây dựng tổ quốc, cácđoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, mọi bộ phận kinh tế và nhân dân các bộ tộc tham

dự, phát triển kinh tế - xã hội trong địa phương mình

+ Tổ chức thực hiện công tác quản lý dân số của địa phương

+ Có quyền ra lệnh bãi bỏ hành vi vi phạm pháp luật của các ban, ngành, sở + Đề nghị thành lập hay giải thể huyện thị chính và bộ máy của cơ quan hànhchính tỉnh

+ Thành lập, giải thể, chia, tách làng

+ Đề nghị bổ nhiệm, thay đổi vị trí hoặc cách chức huyện trưởng, trưởng làng.+ Đề nghị bổ nhiệm hoặc nhân sự hoặc cách chức trưởng phòng, phó trưởngphòng của các sở, ban ngành theo chiều dọc cấp huyện

+ Bổ nhiệm, thay đổi vị trí hoặc cách chức chánh văn phòng, phó chánh vănphòng tỉnh uỷ, phó huyện trưởng, phó thủ trưởng thị chính tỉnh, chánh văn phòng, phóchánh văn phòng huyện uỷ theo chiều dọc cấp huyện

+ Quản lý tổ chức cán bộ - công chức theo quyền quản lý của mình Theo dõi,kiểm tra và báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ - công chức của các ban ngànhtheo ngành dọc,

+ Giải quyết những yêu cầu, đề nghị của các cơ quan tổ chức, hoặc cá nhân vềviệc làm sai trái, không đúng của cán bộ, công chức và cơ quan hành chính nhà nướctrong địa phương của mình theo pháp luật

+ Báo cáo thực trạng mọi mặt của tỉnh cho Chính phủ thường xuyên, liên tục.+ Ngoài ra, hợp tác với nước ngoài, tổ chức quốc tế theo sự uỷ quyền của Chínhphủ

Trong đó, phó tỉnh trưởng là người giúp việc tỉnh trưởng, chịu trách nhiệm trựctiếp một số công việc theo sự giao quyền của tỉnh trưởng Trong trường hợp, tỉnh trưởngkhông có khả năng, điều kiện thực hiện nhiệm vụ, phó tỉnh trưởng được giao quyền làmthay

Nhìn chung, bộ máy chính quyền cấp tỉnh Viêng Chăn được củng cố và kiện toàntheo hướng nâng cao chất lượng chính trị, nâng cao năng lực quản lý điều hành, phát

Trang 37

huy dân chủ của nhân dân trong việc tham gia, bàn bạc, quyết định những công việc củađịa phương Tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân với chính quyền, chăm lo đời sốngcho nhân dân

Văn phòng tỉnh uỷ Tỉnh Viêng Chăn

Theo điều 9 của pháp luật về việc tổ chức hành chính địa phương của nước Cộnghoà Dân chủ nhân dân Lào, Văn phòng Tỉnh uỷ có quyền và nhiệm vụ như sau:

+ Văn phòng tỉnh uỷ thuộc cơ cấu bộ máy chính quyền tỉnh, có vai trò làm thammưu cho tỉnh trưởng trong mọi công việc của tỉnh, xây dựng kế hoạch - chương trìnhhoạt động, bàn bạc, tổng hợp, phác thảo và kiểm tra tài liệu, phối hợp công tác với các

bộ phận, ban ngành liên quan, đáp ứng thông tin, theo dõi và kiểm tra việc tổ chức thựchiện pháp luật của nhà nước ở cấp tỉnh Tạo điều kiện thuận lợi thực hiện nhiệm vụcông việc của cơ quan hành chính tỉnh

Văn phòng tỉnh uỷ còn đảm đương một số công việc thuộc quản lý nhà nướ nhưsau:

+ Công bố, thành lập huyện mới

+ Quản lý dân số: theo dõi sự dịch chuyển dân số, số dân cư di chuyển vào sinhsống ở tỉnh Viêng Chăn hợp pháp hay bất hợp pháp

+ Nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại của dân, giao cho các bộ phận liên quan+ Đăng ký kết hôn cho đối tượng nước ngoài với người thuộc tỉnh

Cơ cấu tổ chức và bộ máy giúp việc của văn phòng tỉnh uỷ

Theo thoả thuận của tỉnh trưởng tỉnh Viêng Chăn, cơ cấu tổ chức của văn phòngTỉnh uỷ gồm có 5 ban ngành và 9 văn phòng trực thuộc, như sau:

+ Ban ngành tổng hợp việc Đảng

+ Ban ngành tổng hợp việc Chính quyền

+ Ban ngành hành chính

+ Ban quản lý tài chính

+ Ban lưu trữ tài liệu

+ Phòng giữ gìn trật tự - an ninh

+ Phòng ngoại giao

Ngày đăng: 12/01/2016, 17:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Phạm Văn Đức và Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên) (2008), Văn kiện Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Xcủa Đảng cộng sản Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Văn Đức và Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoahọc Xã hội
Năm: 2008
15. Vũ Minh Giang (chủ nhiệm đề tài) (1995), Hệ thống chính trị Việt Nam quá trình xây dựng và đánh giá thực trạng, Báo cáo tómtắt kết quả nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị Việt Nam quá trìnhxây dựng và đánh giá thực trạng
Tác giả: Vũ Minh Giang (chủ nhiệm đề tài)
Năm: 1995
16. Nguyễn Đức Hạt (chủ biên) (2007), Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ trong hệ thống chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ tronghệ thống chính trị
Tác giả: Nguyễn Đức Hạt (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
17. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006), Triết học phần 3 các chuyên đề triết học Mác - Lênin, (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phần 3 các chuyên đềtriết học Mác - Lênin
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
18. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2008), Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học (Hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chủnghĩa xã hội khoa học
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2008
19. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (2008), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2008
20. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2008), 160 năm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848-2008), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 160 năm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2008
21. Nguyễn Dương Hùng (2008), Kiện toàn hệ thống chính trị ở xã nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân vùng đồng bằng sông hồng hiện nay, Luận án Tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiện toàn hệ thống chính trị ở xã nhằm thực hiệnquyền làm chủ của nhân dân vùng đồng bằng sông hồng hiện nay
Tác giả: Nguyễn Dương Hùng
Năm: 2008
22. GS.TS Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2007), Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ
Tác giả: GS.TS Nguyễn Văn Huyên (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
23. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
24. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
25. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
26. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
27. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 41, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
28. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 44, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
29. V.I.Lênin ( ), Nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết, Toàn
Nhà XB: Nxb Tiếnbộ
30. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chínhtrị quốc gia
Năm: 1995
31. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Những nguyên lý của chủ nghĩa Cộng sản, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý của chủ nghĩa Cộng sản, Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
32. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
33. C.Mác (1995), Tư bản, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản, Toàn tập
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w