1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm soát lạm phát ở việt nam thực trạng giái pháp 2

35 261 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất, là lạm phát làm thu nhập thực tế của một bộ phận dân cư giảm xuống, đờisống khó khăn hơn.Như khái niệm thì lạm phát là một thuật ngữ mô tả hiện tượng mức giá cả chung trong nền

Trang 1

Mỹ, Nhật, mà với mọi quốc gia trên thế giới,_lạm phát như là bóng ma cứ luôn ám ảnh làm

chao đảo cho nền kinh tế và nỗi kinh hoàng cho mọi người, ở Việt Nam cũng vậy, người

dân vừa hứng chịu những hậu quả nặng nề của các đợt lạm phát vừa qua, tuy

Nam đang phải thật cố gắng để tìm lời giải cho nó?

Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy sôi nổi và cạnh tranh gay gắt thì để thu được lợi

nhuận cao và đứng vững trên “thương trường”, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp

phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề kinh tế mới Và một trong những vấn đề

nổi cộm ấỵ là lạm phát Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan, là vấn đề

Thứ nhất, tìm hiểu một số lý luận chung về lạm phát như khái niệm, nguyên nhân, phân loại,

các tác động và các mối quan hệ của lạm phát

Thứ hai, khái quát lại thực trạng của lạm phát của Việt Nam năm 2011

phát ở Việt Nam giai đoạn 01/01/2011-31/05/2011

4. Phương pháp nghiên cứu

đoạn tổng hợp lại những thông tin cần thiết để tiến hành phân tích

Phương pháp phân tích: từ những số liệu đã tổng hợp được bắt đầu phân tích những số liệu

đó xem ý nghĩa của những số liệu đó như thế nào

Phương pháp so sánh: sử dụng biểu đò để so sánh các số liệu thu thập đượcPhương pháp đánh giá: sau khi phân tích và so sánh, tiến hành đánh giá xem mức độ lạm

phát ở mỗi giai đoạn có tác động như thế nào đến nền kinh tế

5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.

Từ việc nghiên cứu các giai đoạn lạm phát trong lịch sử đến hiện nay để có cái nhìn tổng

quát hơn về lạm phát ở Việt Nam và qua đó đánh giá hiệu quả của các chính

2

Trang 2

Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành trong dân chúng tăng lên

do nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết (chiến tranh, nội chiến,

thâm thủng ngân sách ) Trong khi đó, số lượng hàng hoá không tăng khiến dân chúng

cầm trong tay nhiều tiền quá sẽ tranh mua khiến giá cả tăng vọt có khi đưa đến

Tỷ lệ lạm phát (năm t) =

Mức giá t - Mức giá t-1 Mức giá t - 1 X 100

1.1.2. Đo lường lạm phát bằng cách nào ?

Mức giá chung của nền kinh tế được nhìn nhận theo 2 cách Chúng ta coi mức giá là giá của

một giỏ hàng hóa và dịch vụ Khi mức giá tăng mọi người phải trả nhiều tiền hơn cho những

hàng hóa dịch vụ mà họ mua Chúng ta có thể coi mức giá cũng như là giá trị của tiền Sự

gia tăng mức giá có nghĩa là giá trị của tiền giảm bởi vì mỗi đồng tiền bỏ ra lúc này mua

được ít hàng hóa hơn trước

Mức giá chung được tính bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hoặc chỉ số điều chỉnh

số giá bao gồm một số loại như sau:

Chỉ số giá bán lẻ - CPI - Consumer Price

khác nhau sẽ có những tỷ lệ thay đổi khác nhau

Giảm lạm phát, mô tả hay nói lên tình hình lạm phát được thay đổi theo chiều hướng giảm

xuống Giảm lạm phát chẳng phải là một thuật ngữ hay một khái niệm gì cả, mà

3

Trang 3

Thông thường người ta phân loại lạm phát trên cơ sở định lượng và định tính.

2.1. về mặt định lượng:

Lạm phát thể hiện những mức đô nghiêm trong khác nhau và dựa trên tỷ lệ phần trăm lạm

phát được tính trong năm, phân theo cách này thì lạm phát có các loại sau:

a. Lạm phát vừa phải - Mild intlation :

Được đặc trưng bằng giá cả tăng chậm và có thể dự đoán được Là loại lạm phát ở mức

một con số - dưới 10%/năm Khi giá tương đói ổn định, mọi người tin tưởng vào đồng tiền,

họ sẵn sàng giữ tiền vì nó hầu như giữ nguyên giá trị trong vòng một tháng hay một năm

Mọi người sẵn sàng làm những hợp đòng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền vì

b. Lạm phát phi mã - Galloping intlation :

Là loại lạm phát ở mức hai đến ba con số (tỷ lệ tăng giá trên 10% đến <100%),

hậu quả cực kỳ khó khăn cho đời sống kinh tế, xã hội, chính trị trong nước

c. Siêu lạm phát - Hyper inílation :

Là loại lạm phát 4 con số, tỳ lệ tăng giá từ 1000 %/năm trở lên Đồng tiền gần như mất giá

hoàn toàn Các giao dịch diễn ra trên cơ sở hàng đổi hàng tiền không còn làm được chức

năng trao đổi Đây thực sự là một giai đoạn cực kỳ hỗn loạn, bất ổn định kinh

Trang 4

hoặc tổng cung cũng tăng nhưng tăng không bằng tổng cầu Để khắc phục, chính phủ phải

Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát do cầu kéo được giải thích bằng mô hình sau:

LAS SAS

Hình 1: Lạm phát do cầu kéoChúng ta bắt đầu với trạng thái cân bằng ban đầu trong dài hạn, tại đó

đường LAS cắt

đường SAS và ADo ở mức giá p0 Sự gia tăng tổng cầu từ ADũđến ADi làm mức giá tăng từ

Po lên Pi và GDP thực tăng từ Yp đến Yi

b. Lạm phát do chi phí đẩy - Cost push intlation:

Lạm phát loại này xuất hiện khi chi phí đầu vào cho sản xuất tăng hoặc năng lực sản xuất

của nền kinh tế giảm sút

Chi phí đầu vào tảng có thể do giá các nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất tăng giá

Điều kiện khai thác khó khăn hơn đòi hỏi nhiều chi phí hơn; thiên tai, mất mùa, lụt bão, động

đất làm giảm năng lực sản xuất; khủng hoảng ngành dầu mỏ do các liên minh dầu mỏ

tăng giá hoặc chiến tranh vùng vịnh làm tăng giá, giá dầu tăng làm tăng chi phí trong ngành

năng lượng, từ đó làm tăng chi phí đầu vào trong các ngành khác Các chi phí sản xuất tăng

làm tăng giá thành sản phẩm và buộc doanh nghiệp tăng giá bán để bù đắp chi phí Giá bán

tăng - tạo lạm phát Nhưng mặt khác giá bán tăng, theo quy luật cung cầu sẽ làm tổng cầu

giảm xuống, các doanh nghiệp sẽ cắt giảm sản xuất hoặc sa thải nhân công Hậu quả dẫn

đến cho nền kinh tế lúc này là vừa có lạm phát lại vừa bị suỵ thoái, tỉ lệ thất

5

Trang 5

Nền kinh tế

Lãi suất thực tế sau thuế (Lãi suất danh nghĩa

thành sản phẩm Lạm phát này nảy sinh từ đó

d. Lạm phát do cầu thay đổi:

Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại

tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía

dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm

giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng

nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên

f. Lạm phát tiền tệ: Cung tiền tăng do:

NHTƯ mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ

NHTƯ mua công trái theo yêu cầu của nhà nước

Quản lý tiền mặt kém hiệu quảChi tiêu ngân sách ngày càng lớn

hóa bằng cách so sánh chất lượng và giá cả của hàng hóa đó và dịch vụ khác

Khi lạm phát bằng 0, mức thuế suất 25% đánh vào thu nhập từ lãi suất

suất thực tế từ 4 xuống 3% Khi lạm phát bằng 8, mức thuế như vậy làm

b.Lạm phát làm tăng sự nhầm lẫn và bất tiện:

Các nhà kế toán phản ánh sai các khoản thu nhập của doanh nghiệp khi

7

Trang 6

Thứ nhất, là lạm phát làm thu nhập thực tế của một bộ phận dân cư giảm xuống, đời

sống khó khăn hơn.Như khái niệm thì lạm phát là một thuật ngữ mô tả hiện tượng mức giá

cả chung trong nền kinh tế tăng lên Ai cũng hiểu khi giá cả trong nền kinh tế tăng lên điều

đó có nghĩa là thu nhập thực tế của những người có thu nhập cố định hay ít thay đổi như

quân nhân, cán bộ hưu trí, lương của cán bộ công nhân viên trong cơ quan hành chính nhà

nước giảm xuống Xét về mặt số lượng thì hàng tháng họ vẫ nhận được 500 đó thôi, nhưng

500 tháng trước họ mua được ít hàng hơn tháng này do giá cả của tháng này tăng cao hơn

tháng trước, như vậy là thu nhập thực tế của họ đã giảm xuống

Thứ hai, là làm môi trường kinh tế rối ren Lạm phát quá cao tức là ở mức trên

20%/năm, là nơi tiềm ẩn và chứa đựng các mầm mống có khả năng đe dọa đến tiến trình

phát triển bền vững của nền kinh tế Trong một nền kinh tế mà giá cả tăng lên liên tục và

tăng ở mức cao thì thật là một môi trường kinh tế đầy bát nháo

Thứ ba, là các chính sách về kinh tế xã hội tài chính tiền tệ tín dụng rất khó định

hướng thực hiện, và cũng có thể dẫn đến sự khủng hoảng trong lĩnh vực tài chính tiền tệ tín

dụng thông qua các vấn đề lãi suất thực, lãi suất danh nghĩa, cung tiền, vay

nợ Ngoài

ra,lạm phát xảy ra còn là môi trường tốt để những hiện tượng tiêu cực trong đời

4.2 Tác động tích cực.

Bên cạnh những mặc tiêu cực, lạm phát cũng có một số mặc tích cực như sau:

Thứ nhất, nếu lạm phát ở mức độ nhẹ và trong tầm kiểm soát của

nhiên nêu quá đà sẽ có nguy cơ gây ra lạm phát nặng hoặc siêu lạm phát và làm cho các

hoạt động kinh tế sẽ bị tê liệt

Thứ hai, lạm phát mà tỷ lệ tăng giá dương vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh tế (theo

nhà kinh tế đoạt giải Nobel James Tobin) ông dùng từ "dầu bôi trơn" để miêu tả tác động

tích cực của lạm phát Mức lạm phát vừa phải làm cho chi phí thực tế mà nhà sản xuất phải

chịu để mua đầu vào lao động giảm đi Điều này khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng

sản xuất Việc làm được tạo them và tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm

Vì vậy, nền kinh tế lạm phát hay không lạm phát thì cũng đều không tốt vấn

xác định mức độ lạm phát trong nền kinh tế bao nhiêu là tốt nhất, và với mức

Trang 7

- Người về hưu: Lương hưu là một trong những “hàng hoá” ổn định nhất

nợ vì nay khoản nợ họ phải trả có vẻ nhẹ gánh hơn

6. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp.

Hai chỉ báo về tình hình kinh tế được theo dõi chặt chẽ là lạm phát và thất nghiệp Hai

đại lượng phản ánh tình hình kinh tế này gắn bó vói nhau như thế nào? Bởi lẽ, như chúng ta

đã thấy tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên phụ thuộc vào thuộc tính của thị trường lao động chẳng

hạn như luật tiền lương tối thiểu, sức mạnh thị trường của công đoàn, vai trò cuả tiền lương

và hiệu quả của việc tìm việc làm Ngược lại,tỷ lệ lạm phát phụ thuôc trước hết vào sự gia

tăng cung tiền,do NHTVV kiểm soát Do đó, trong dài hạn, lạm phát và thất nghiệp không có

mối quan hệ nhiều với nhau Nhưng trong ngắn hạn thì ngược lại,các nhà kinh

Trang 8

7. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ phi tuyến tính, ở

mức lạm phát thấp (thường là 1 con số) thì lạm phát không tác động tiêu cực lên tăng

trưởng, thậm chí ở mức lạm phát thấp gia tăng lạm phát thường gắn gắn liền với tăng

trưởng cao hơn; khi lạm phát đến một ngưỡng cao nhất định thì lạm phát bắt đầu tác động

tiêu cực lên tăng trưởng, ngưỡng này đối với các nước đang phát triển và các nền kinh tế

chuyển đổi là dao động từ 11% - 14%/năm

chính sách lớn trong phát triển kinh tế của các nước

Ổn định tiền tệ nói chung và kiềm chế lạm phát nói riêng là việc Nhà nước áp dụng các biện

pháp về kinh tế là tổ chức và kỹ thuật để ổn định sức mua của đồng tiền tạo điều kiện để

thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Như vậy việc áp dụng các biện pháp các biện pháp đó có tính chất chiến lược

pháp cấp bách trước mắt như sau:

8.1. Những biện pháp cơ bản chiến lược

Đây là biện pháp nhằm tác động toàn bộ lên mọi mặt hoạt động của nềnkinh tế,với ý

tưởng tạo ra sức mạnh về tiềm lực kinh tế của đất nước , một quốc gia có nền kinh tế phát

triển tốt và ổn định thì ở đó đồng tiền ổn định khá vững chắc.Lạm phát ít có cơ hội để phát

triển bộc phát.Những biện pháp cơ bản chiến lược chưa thể phát huy tác dụng ngay , nhưng

nếu không áp dụng những biện pháp đó thì tình trạng lạm phát, tình trạng rối loạn của lưu

thông tiền tệ sẽ xảy ra triền mien không lối thoát Những biện pháp cơ bản chiến lược có

thể gồm những biện pháp lớn như sau:

Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội đúng đắn

Điều chỉnh cơ cấu kinh tế,phát triển nghành mũi nhọn xuất khẩu

Nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý Nhà nước

8.2. Những biện pháp cấp bách trước mắt.

10

Trang 9

Ngăn chặn sự leo thang của giá cả như thực hiện mậu dịch tự do, nới lỏng hang rào

thuế quan để đẩy mạnh xuất khẩu hang hóa

8.3.Những phương thức chống lạm phát ở các nước phát triển

Việc lựa chọn phương thức chống lạm phát ở các nước khác nhau

không hoàn toàn

giống nhau, ngay cả ở cùng một nước, trong những thời kỳ khác nhau người ta cũng áp

dụng những phương thức khác nhau, nhưng nhìn chung,có 2 phương thức cơ bản sau:

Thứ nhất ,“Hạn chế tiền tệ” hay kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng.Thứ hai, “Nới lỏng tiền tệ” hay lấy lạm phát trị lạm phát

Chương 3 : THỰC TRẠNG KIỀM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 2011

I. Tình hình kinh tế và nguyên nhân gây ra lạm phát

1.1. Nguyên nhân gây ra lạm phát

-Tăng trưởng cung tiền vượt xa tăng trưởng GDP thực:

Tín dụng năm 2010 tăng gần 30%, vượt khá xa mục tiêu 25% hòi đầu

do cung tiền vẫn đang còn rất lớn

-Giá cả hảng hỏa thế giới đòng loạt leo thang:

Với một nền kinh tế có độ mở rất lớn như Việt Nam, giá cả hảng hỏa thế giới ảnh

hưởng mạnh đến giá hảng hỏa trong nước Sự gia tăng mạnh mẽ của giá lương thực, thực

phẩm như ngô, đường, gạo, đậu tương trong thời gian qua đã ảnh hưởng mạnh đến giá

thực phẩm trong nước Ngoài ra, các nguyên nhiên liệu cũng đã tăng lên rất mạnh do kinh tế

thế giới phục hồi và các đồng tiền mất giá

Năm 2011, giá lương thực tiếp tục leo thang do thay đổi thời tiết gây ra mất mùa trên toàn

thế giới Ngoài ra, chính sách hạn chế xuất khẩu của một số quốc gia cũng làm cho sự khan

hiếm lương thực càng trở nên trầm trọng

-Lãi suất cao tạo ra vòng luẩn quẩn lạm phát:

Chính sách thắt chặt tiền tệ làm tăng lãi suất để ngăn ngừa lạm phát

Trang 10

thức tăng trưởng Tăng trưởng không dựa trên năng suất lao động, tăng

Từ năm 2007 đến năm 2010, bình quân mỗi năm để tăng GDP 1 đòng thì dư

nợ tín dụngđến gần 5 đòng, cá biệt năm 2009 cần đến 7 đòng; trong khi đó bình quân của giai đoạn

2001 - 2005 chỉ cần khoảng hơn 3 đồng Những con số trên lý giải tại sao dư

nợ tín dụngvẫn tăng cao đạt đến mức 1,2 lần GDP (thông thường các nước trong khu vực chỉ bằng 0,5

- 0,6 GDP) nhưng nền kinh tế vẫn thiếu vốn có 3 nhận xét về nguyên nhân của tình hình

trên sau đây:

(1) bong bóng của thị trường chứng khoán (TTCK) và thị trường bất động sản từ cuối năm

2006 đến cuối năm 2007 đã tạo đột biến thị trường tín dụng, nó đã hình thành lượng tài sản

ảo so với nền kinh tế thực (sự chênh lệch giữa tài sản tài chính với tài sản thực) mà lạm

phát trong 2 năm 2007 - 2008 đã san bằng một phần khoản chênh lệch

đó bằng một mặtbằng giá mới Sự tăng tín dụng các năm đó không tạo ra sự tăng tài sản thực đáng kể của

nền kinh tế mà chỉ biểu hiện ở GDP danh nghĩa;

(2) trong 3 năm qua 2008 - 2010, TTCK chủ yếu hoạt động ở thị trường thứ cấp, mọi nguồn

vốn hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp đều dựa vào hệ thống ngân hàng thương mại

Chính trong giai đoạn này là thời kỳ mất cân đối cung - cầu “dịch vụ tín dụng ngân hàng”,

nên cũng là giai đoạn tạo ra “mảnh đất màu mỡ “cho các ngân hàng thương mại cổ phần

nhỏ ra đời hoạt động, đua tranh làm bùng nổ tín dụng và nghiêm trọng hơn là chạy đua lãi

suất, gây nhiễu thị trường tín dụng; làm cho chính sách tiền tệ mất phương hướng, phải liên

tục đối phó ngắn hạn, nguy cơ bất ổn tăng cao;

Kim ngạch NK ước đạt trên 41,3 tỷ USD, tăng 29,7% so cùng kỳ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 tăng 2,21%, ước tháng 6 tăng khoảng dưới 1%

dịp Tết cao hơn các thành phố lớn do người lao động ở thành phố trở về quê.CPI tháng 1 năm nay cũng tăng cao hơn nhiều so với cùng kỳ những năm trước đó Cụ thể,

Tốc độ tăng CPI tháng từ năm 1996 đến nay

13

Trang 11

mức của khoảng hơn 30 tháng liền trước.

So với tháng 12/2010, chỉ số giá tiêu dùng tháng này đã tăng 3,87%; so với cùng kỳ tăng

12,31% CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2011 so với cùng kỳ đã tăng 12,24%.Luôn là nguyên nhân tiêu dùng tăng tháng Tết dẫn đến chỉ số giá tăng cao Các mức “định

lượng” được công bố gần đây về tổng cầu, mức độ mua sắm của khu vực dân cư cũng

cho thấy điều này.132 nghìn tỷ đòng hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại;

tổng tiền gửi giảm trong khi tín dụng tăng trên dưới 3% hai tháng liên tiếp trước Tết Nguyên

đán; kiều hối về nhiều; thưởng Tết cao hơn năm ngoái rõ ràng đã tạo ra tổng cầu lớn trong

Trang 12

nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống khi nhóm này tăng tới 3,65% Trong con số này, CPI

lương thực tăng 1,51%; thực phẩm tăng mạnh 4,53%; ăn uống ngoài gia đình tăng

3,31%.Cũng do nhu cầu tiều dùng lớn trong dịp Tết, CPI nhóm đò uống thuốc

nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 3,67%

Sự tăng giá mạnh mẽ này vẫn nằm trong tầm dự đoán của các nhà lãnh đạo và chuyên gia

kinh tế Từ đầu năm đến nay, có quá nhiều cú hích đẩy mặt bằng giá cả lên cao, như tỷ giá

tăng 9,3%, giá điện tăng 15,28% và giá xăng dầu tăng trên dưới 3000

Trang 13

ngày 18/3/2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính đến ngày 10/3/2011, tổng dư nợ

tín dụng tăng 3,68% so với 31/12/2010, cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước; tổng

phương tiện thanh toán cùng thời kỳ tăng 1,7%.Dòng tiền chưa thắt chặt khiến cầu hàng

hóa, dịch vụ tiêu dùng tiếp tục tạo áp lực lên bên cung Tuy nhiên, chi phí đầu vào sản xuất

tăng rất mạnh dẫn tới kịch bản co hẹp của sản xuất để hỗ trợ giá tăng Trong quý 1/2011

GDP của nước ta ước chỉ tăng 5,5%, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2010.Cung cầu

không gặp nhau và lẽ thường giá phải tăng Nhưng một lưu ý khác là mức tăng rất mạnh

của giá nhiều loại hàng hóa có độ nhạy cao với nền kinh tế đã tạo cơ hội cho tăng giá tâm

lý.Giá xăng dầu tăng 2.110-3.550 đồng/lít (kg) tùy loại từ ngày 24/2; điện tăng giá từ ngày

1/3 tuy chưa ảnh hưởng trực tiếp đến kỳ giá tiêu dùng này nhưng chủ trương buộc doanh

nghiệp đăng ký giảm sản lượng điện tiêu thụ cũng ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất; tỷ giá

điều chỉnh mạnh 9,3% kéo theo giá cả nhiều loại hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu tăng

cao; giá vàng leo thang, ở một số thời điểm tạo tâm lý không ổn định trên thị trường Tất cả

các nguyên nhân trên đều tác động mạnh đến tâm lý thị trường và đây có lẽ là điểm khó dự

đoán nhất của chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 Trong khi đó, tăng giá tâm lý tại tháng này có

sức áp đặt không hề nhỏ, ước tính đóng góp vào mức tăng chung khoảng

CPI các tháng 1-3 năm 2009, 2010 và 2011 Nguồn: GSO

Theo TS Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường

chính), đây là lần thứ 4 trong vòng 15 năm trở lại đây, chỉ số CPI tăng so với

16

Trang 14

nhiều yếu tố không đoán được nên khả năng kiềm chế lạm phát là khó dự đoán trước

được.Nguyên nhân chính khiến cho CPI tháng 3 tăng cao trái với quy luật bình thường là do

biến động của nhiều ỵếu tố ngoài quy luật Nếu bình thường, CPI của tháng 3 thông thường

sẽ giảm hoặc tăng thấp hơn so với tháng 1 và tháng 2 do đây là 2 tháng tăng cao theo mùa

vụ Tuy nhiên, chỉ số CPI là kết quả của những chính sách điều hành về giá Do

đó, tháng 3

này, giá của nhiều nguyên vật liệu cơ bản đồng loạt tăng lên như: xăng tăng

Thực tế, việc chiếm một nửa hay không cũng không quan trọng vì có những năm

tháng 1, tháng 2 tăng rất cao, chiếm hẳn một nửa so với cả năm nhưng cũng không có vấn

đề gì Chẳng hạn có những năm CPI tăng cao như năm 2008 do mặt giá trên thế giới cao

Hay như tăng tín dụng của năm 2007 cũng khiến cho CPI tăng cao.Còn năm

2004 do tích

lũy lạm phát trong một thời gian dài, suốt từ năm 2002 khi nước ta đẩy mạnh Cái chính là lạm phát năm nay của nước ta chịu tác động nhiều của các yếu tố bên

ngoài nên không lường trước được Cho đến bây giờ cũng không ai khẳng định được kinh tế

thế giới sẽ vận động theo chiều hướng nào Lạm phát kinh tế có hay không, hay khủng

hoảng đã vượt qua chưa Bây giờ thực tế đang diễn ra cuộc khủng hoảng kép Năm ngoái là

khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ Mỹ, năm nay khủng hoảng nợ của châu Âu Tức là có rất

nhiều vấn đề không dự báo được.Những tác động của yếu tố bên trong cũng không ai lường

được để có những động tác điều chỉnh chính sách theo kiểu tăng giá như thế Chưa kể đến

ngày 1/5 sẽ tăng lương Tức là các đợt diễn biến dồn dập như thế sẽ đẩy giá

cả đi ra ngoài

quy luật Và đã ra ngoài quy luật thì không ai dự đoán được Những ai dự đoán

So với tháng 4 - 2010, tức cùng kỳ năm trước, thi CPI đến hết tháng

4-2011 là

17

Trang 15

gian trên chỉ khoảng 1,18%/tháng, như vậy lãi suất thực âm so với lạm phát

rủi ro thanh khoản là rất đáng báo động!

Lạm phát với nội hàm cố hữu của nó luôn gây những cú sốc tấn công vào mọi mặt

của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia, buộc Chính phủ phải ra tay đối phó

Thông thường phải dùng đến các “bài thuốc” đắt giá như phản ứng mạnh bằng chính sách

tiền tệ và chính sách tài khoá Đương nhiên các vấn đề nổi cộm sẽ xuất hiện qua các hiện

tượng mang tính qui luật như: thanh khoản trong các ngân hàng bị thắt chặt, lãi suất phải

dâng cao, các kỳ vọng về tăng trưởng xấu đi, giá cả vốn đã cao lại bị khuyếch đại bởi các

yếu tố tâm lý, tiền trong lưu thông luôn có xu hướng tìm nơi trú ẩn vào các vật mang giá trị

có tính truyền thống là vàng, bạc, ngoại tệ, bất động sản, nguyên, nhiên vật liệu quí làm

cho khắp các nẻo hàng hoá, dịch vụ đều tăng giá Nghĩa là chỉ có sức mua của đồng nội tệ

bị xuống giá

Nguyên nhân cơ bản :

Thứ nhất, nền kinh tế đã có độ mở lớn, nhưng lại nhập siêu cũng lớn (4 tháng đầu

năm 2011 nhập siêu tới 4,9 tỉ USD, chiếm 18,5% kim ngạch xuất khẩu) Cùng với sự giảm

giá trị đối ngoại của đồng nội tệ (phá giá nội tệ và/hoặc để tỷ giá tăng) thì nguy

siêu, trong khi tỷ giá hầu như không đi xuống mà chỉ có xu hướng trườn ngang

và đi lên theo

chiều giảm giá trị của đồng nội tệ để theo đuổi chiến lược hướng về xuất khẩu, nhưng lại

hóa ra chủ yếu làm đắt hóa hàng nhập vào trong nước vì hơn 70% giá trị hàng xuất khẩu

của nước ta là hàng gia công, lắp ráp có “ruột” và công nghệ nhập vào từ nước ngoài Do

đó, nhập siêu ở nước ta đồng nghĩa với nhập khẩu lạm phát và làm tăng nợ nước ngoài qui

đổi Những ngày qua do tăng cường kiểm soát tình trạng quản lý ngoại hối bị buông lỏng

trong thời gian dài, đã có tác dụng kéo tỷ giá thị trường tự phát về sát thị

Trang 16

phản ánh của sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu Tuy nhiên cơ cấu cung và cơ cấu

cầu trong môi trường thị hiếu biến đổi nhanh và qui luật khan hiếm tài nguyên thiên nhiên

Nếu những dự báo này trở thành sự thực, đây sẽ là mức tăng CPI theo tháng cao

nhất 15-16 tháng trở lại đây Biến động của chỉ số này kể từ năm 1996 trở lại đây cũng cho

thấy chưa có tháng 4 nào CPI lại tăng cao đến vậy Ngay cả với năm lạm phát đỉnh cao

2008, chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 của cả nước cũng chỉ tăng 2,2% (khi đó, CPI

Trang 17

Có thể thấy, mức tăng CPI tháng này đã phá vỡ xu hướng tăng tốc trước

Ngày đăng: 12/01/2016, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w