Phân phối thu nhập nối liền sản xuất với sản xuất , sản xuất với tiêu dùng,nối liền các thị trường hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ với thị trường yếu tố sản xuất,làm cho sự vận động của kinh
Trang 1MỤC LỤC
A GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 2
B NỘI DƯNG 3
I cơ SỞ LÍ LUẬN 3
1 Vị trí của phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường 3
2 Nguyên tắc thực hiện phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường 4
3 Tác động kinh tế - xã hội của phân phối thu nhập trong kinh tế thị trường 5
4 Các hình thức phân phối thu nhập trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội 5
II THƯC TRẠNG PHÂN PHOI THƯ NHÂP TRONG NEN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 8
1 Thực trang và giải pháp tiền lương ở nước ta 8
2 Thực trạng và các giải pháp về lợi nhuận trong nền kinh tế Việt Nam 19
3 Thực trạng và giải pháp về địa tô 22
III N HŨNG KIẾN NGHỊ CHUNG VỀ PHÂN PHỐI THƯ NHẬP Ở VIỆT NAM 23
c KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 2A GIỚI THIỆU ĐỂ TÀI
Trong nền kinh tế thị trường phân phối thu nhập đóng một vai trò rất quantrọng Phân phối thu nhập nối liền sản xuất với sản xuất , sản xuất với tiêu dùng,nối liền các thị trường hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ với thị trường yếu tố sản xuất,làm cho sự vận động của kinh tế thị trường diễn ra thông suốt
Phân phối là một mặt của quan hệ sản xuất Mỗi phương thức sản xuất cóqyu luật phân phối của cải thích ứng với nó ở mỗi xã hội có quan hệ phân phốiriêng phù họp với tính chất của quan hệ sản xuất của xã hội ấy Lí luận về phânphối có vị trí quan trọng trong kinh tế chính trị Nó là vấn đề rộng lớn, liên quanđến các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của nhà nước và nhân dân lao động.Phân phối thu nhập trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một vấn đề vô cùngquan trọng để tạo ra động lực mạnh mẽ góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất pháttriển, ổn định tình hình kinh tế-xã hội,thự hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh
Giải quyết tốt vấn đề phân phối thu nhập có y nghĩa to lớn đối với sự ổn địnhtăng trưởng và phát triển kinh tế Thực tiễn Việt nam đã chỉ rõ trong quá trình đi tới
ổn định và tăng trưởng nền kinh tế, trước hết chung ta phải cải cách lưu thông vàphân phối Nhờ tháo gỡ những ách tắc trong lĩnh vực này mà nền kinh tế nước tađang dần dần thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, lạm phát và từng bước có sự tăngtrưởng, phát triển
Tuy nhiên, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hàng loạt vấn đề thuộclĩnh vực phân phối thu nhập như tiền lương, lợi nhận,lợi tức, địa tô phù hợp vớinguyên lí kinh tế thị trường cũng như tác động của chúng đối với sự phát triển kinh
tế xã hội ở nước ta đòi hỏi có sự nghiên cứu nghiêm túc công phu Phân phối có thếđược coi là một công cụ để xây dựng chế độ mới để phát triển kinh tế theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy nghiên cứu lí luận phân phối thu nhập trong nềnkinh tế thị dtrường và vận dụng vào Việt Nam là hết sức cấp bách, có ý nghĩa cả vềmặt lí luận và thực tiễn
Vì những lí do nêu trên, em đã chọn đề tài: "Phân phối thu nhập trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp ".
Trang 3Cơ chế thị trường là cơ chế mà trong đó tổng thể các nhân tố , các quan hệ cơ bản
tự do vận động dưới sự chi phối của các qui luật thị trường, trong môi trườns cạnhtranh nhằm mục tiêu lợi nhuận, thị trương là một quá trình mà người mua và ngườibán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và sản lượng, thị trường bao gồmhai loại: thị trường các yếu tố sản xuất va thị trường hàng hóa tiêu dùng Hàng hóatrên thị trường có giá cả và giá cả mang lại thu nhập cho những chủ của nó Các hộdoanh nghiệp bán hàng có được thu nhập sọi là doanh thu của các doanh nghiệp
Hộ gia đình bán hàng có được thu nhập
Theo nghĩa rộng, thu nhập trong nền kinh tế thị trường bao gồm doanh thucủa các chủ doanh nghiệpvà thu nhập của chủ các yếu tố sản xuất Còn theo nghĩahẹp, thu nhập là phần trả công cho chủ các yếu tố sản xuất như tiền lương, lợinhuận, lợi tức, địa tô
Vậy phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường là phân phối về tiềnlương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô cho chủ các yếu tố sản xuất từ đó hình thành nênthu nhập Đó là tổng số tiền mà chủ các yếu tố sản xuất kiếm được nhoặc thu góptrong một thời gian nhất định
b) Vị trí của phân phôi thu nhập trong kinh tế thị trường
Phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường đóng vai trò quan trọng trongquá trình phát triển kinh tế Vai trò của nó thể hiện dưới hai phương diện Thứnhất, phân phối thu nhập có ảnh hưởna to lớn đối với sản xuất Mác đã từng nói tớivai trò của phân phối đối với sản xuất trên phươns diện phân phối trực tiếp cácyếu tố cho quá trình sản xuất, nó nối liền sản xuất với sản xuất, điều này có nghĩa
là nó đảm bảo các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệpđảm bảo các nguồn lực phục vụcho sản xuất kinh doanh để cung cấp hàng hóa trên thị trường sản phẩm Sự phân
Trang 4phối các nguồn lực diễn ra thông suốt diễn ra thông suốt sẽ đảm bảo quá trình táisản xuất được tiến hành một cách liên tục Thứ hai, phân phối thu nhập quyết định
sự tiêu dùng của các chủ yếu tố sản xuất Thông qua phân phối thu nhập các chủthể yếu tố sản xuất có được thu nhập để mua hàng tiêu dùng và dịch vụ trên thitrường sản phẩm, dịch vụ về cơ bản,qui mo phân phối quyết định qui mô tiêudùng Các chủ thể nhận dược thu nhập nhiều thì mức tăng tiêu dùng ngày cang caohơn về mặt giá trị tuyệt đối
2 Nguyên tắc thực hiện phân phối thu nhập trong nền kinh tê thị trường
Trong nền kinh tế thị trường có nhiều chủ thể tham gia đó là những người laođộng, các chủ vốn, chủ đất đai và chủ kinh doanh Mỗi người có quyền sở hữu vềcác yêu tố sản xuất của mình Người lao động có quyền sở hữu về sức lao động,chủ vốn có quyền sở hữu về vốn , chủ đất đai có quyền sở hữu về đất đai, nhà kinhdoanh có quyền sỏ hữu về năng lực kinh doanh Quyền sở hữu các yếu tố sản xuấtnày mang lai thu nhập cho những chủ của nó
Rõ ràng thu nhập là quyền sở hữu được thực hiện về mặt kinh tế, nói quyền
sở hữu mà không nói đến quyền thu nhập thì chỉ là quyền sỏ' hữu suông Mác đãtừng nói: "địa tô là quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế" Người
ta có thể nói như vậy với các yếu tố sản xuất khác chẳng hạn tiền lương là quyền
sở hữu lao động được thực hiện về mặt kinh tế, lợi tức là quyền sở hữu vốn đượcthực hiện về mặt kinh tế , lơij nhận là quyền sở hữu kinh doanh được thực hiện vềmặt kinh tế
Năng suất giới hạn là năng suất của yếu tố sản xuất cuối cùng được sử dungtrong quá trình sản xuất chẳng hạn, năng suất của người công nhân cuối cùng, củađơn vị tư bản cuối cùng, của đơn vị tư bản sử dung cuối cùng, của đơn vị dất đai sửdụng cuối cùng Năng suất đó là nhỏ nhất và nó quyết định năng suất của các đơn
vị khác của yếu tố sản xuất
Sở dĩ phải phân phối theo năng suất của yếu tố sản xuấtđược sử dụng cuốicung vì khi người ta tăng thêm đều đặn các đơn vị của yếu tố sản xuất nào đó vàoquá trình tạo ra sản phẩm còn các yếu tố khác không thay đổi thì năng suất của cácđơn vị sản xuất tăng thêm có xu hướng giảm sút Vì vậy đơn vị yếu tố sản xuất cuốicùng được coi là yếu tố sản xuất giới hạn năng suất của nó gọi là năng suất giới
(ìliỊuiịễn ^7hi (yấtn 77ú 4 OKlêm toán 4Ọ r ẨỈ
Trang 5hạn năng suất này trở thành năng suất chung quyết định năng suất của các đơn vịkhác của yếu tó sản xuất
c) Công cụ thực hiện phân phối thu nhập trong kinh tê thị trường là cầu
và giá cả hàng hóa trên các thị trường
Ta đã biết là trên thị trường yếu tố sản xuất, các hàng hóa mua bán có giá
cả là tiền lương, lợi tức, địa tô
Giá cả các yếu tố sản xuất là sự cân bằng giữa cung và cầu các yếu tốsản xuất Sức cầu của nhà sản xuất là nhu cầu của các nhà kinh doanh về số lượnglao động, đất đai,vốn với mỗi giá cả nhất định Sức cung của các yếu tố sản xuất là
số lượng lao động, vốn , đất đai có thể Cung ứng trên thị trường với một giá cảnhất định Lao động, vốn đất đai vốn là những yếu tố sản xuât khan hiếm Trongđiều kiện nhất định nguồn lao động vốn , đát đai là một lượng nhất định mà chúng
ta không thê tăng các yếu tố sản xuất này lên được
3 Tác động kinh tê - xã hội của phân phôi thu nhập trong kinh tê thị trường
a) Tác động tích cực
• Phân phối thu nhập đảm bảo thục hiện quyến sở hữu về kinh tế của cácchủ thể yếu tố sản xuất góp phần vào việc bảo vệ, tăng cường quyền sở hữu của cácchủ thể tham gia kinh tế thị trường
• Phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trưòng đánh giá đúng đắn các yếu
tố sản xuát đến trả công
• Phân phối thu nhập đảm bảo được quyền tự do của các chủ thể kinh tế,đồng thời nó đảm bảo tính năng động , thích ứng nhanh chóng để tạo ra sự cânbằng tổng quát trên các thị trường
b) Tác động tiêu cực
Phân phối thu nhập cung có nhiều khuyết tật như bản thân nền kinh tế thịtrường đó là sự phân hóa giàu nghèo bất bình đẳng dẫn đến những xung đột, nhữngcuộc cách mạng làm khung hoảng chế độ xã hội, đe dọa sự tồn tại, tăng trưởng vàphát triển của các nền kinh tế
4 Các hình thức phân phôi thu nhập trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
thu nhập trong thòi kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 6Xuất phát từ yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan và từ đặcđiểm kinh tế xã hội nước ta, trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước tatồn tại nhiều hình thúc phân phối thu nhập, đó là vì:
Thứ nhất, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần, có nhiều
Hơn nữa, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, các chủ thể sảnxuất,kinh doanh tham gia vào nền kinh tế đêùu có sự khác nhau về sỏ’ hữu của cải , tiềnvốn trình độ chuyên môn, tay nghề, năng lực sở trường Do đó, khác nhau về phânphối thu nhập, vì vậy khong thể có một hình thúc phân phối thu nhập thống nhất,trái lại có nhiều hình thức khác nhau
Trong mục tiêu và phương hướng phát triển đất nước năm năm 2006- 2010,đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X nêu rõ:" thực hiện chế độ phân phối chủ yếutheo kết quả lao động , hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùngcác nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội"
Một là, phân phối theo lao động: Phân phối theo lao động là phân phối trong
các đơn vị kinh tế trên cơ sở sở hữu công công về tư liệu sản xuất hoặc các hợp tác
xã cổ phần mà phần góp vốn của các thành viên băng nhau Các thanh phần kinh tếnay đêùu dựa trênchế độ cong hữu về tư liệu sản xuát ở trình độ khác nhau Ngườilao động làm chủ những tư liệu sản xuất, nên tất yếu cũng phải làm chủ phân phốithu nhập vì vậy phân phối phải vì lợi ích của người lao động
Trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và ngay cả trong giai đoạnthấp của chủ nghĩa cộng sản , tức là chủ nghĩa xã hội cũng chưa thể thực hiện phânphối theo nhu cầu và cung không thể thực hiện phân phối theo bình quân mà chỉ cóthể phân phối theo lao động
(ìliỊuiịễn '7/í/ (ỉ?utn Tĩú 6 OKlỀm toán 4Ọ r ẨỈ
Trang 7Tất yếu phải thực hiện phân phối theo lao động trong các đơn vị kinh téthuộc thành phần kinh tế dựa trên công hữu về tư liệu sản xuất vì:
• Lực lượng sản xuất phát triển chưa cao, chưa đến mức có đủ sản phẩm
để phân phối theo nhu cầu Vì phân phối do sản xuất quyết định nên Mác đã viết: "quyền khong bao giờ được ở một mức cao hơn chế đọ kinh tế và sự phát triểnkinh tế và sự phát triển văn hóa xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định"
• Sự khác biệt về tính chất và trình độ lao động dẫn tới việc mỗi người có
sự cống hiến khác nhau , do đó phải căn cứ vao sự cống hiến của mỗi người đểphân phối
• Lao động chưa trở thành một nhu cầu của cuộc sống, nó còn là phươngtiện để kiếm sống, là nghĩa vụ quyền lợi Hơn nữa, còn những tàn dư ý thúc, tưtưởng của xã hội cũ để lại, như: coi khinh lao động, ngại lao động chân tay, so bìcống hiến và hưởng thụ
Trong những điều kiện đó, phải phân phối theo lao động để khuyến khíchngười chăm, người giỏi ,giáo dục kẻ lười, người xấu, gắn sự hưởng thụ của mỗingười với sự cống hiến của họ
Phân phối theo lao động là hình thúc phân phối thu nhập căn cứ vao số lượng
và chất lượng lao động của từng người đóng góp cho xã hội theo quy luật này,người làm nhièu hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, lao đong kĩ thuật cao Lao độngtrong điều kiện độc hại, khó khăn phải được hương phần thu nhập xứng đáng
Căn cứ cụ thể để phân phối theo lao động là:
• Số lượng lao động được do bằng thời gian lao động hoặc số lượng sảnphẩm làm ra;
• Trình độ thành thao và chất lượng sản phẩm làm ra;
• điều kiện và môi trường lao động;
• tính chất của lao động;
• các ngành nghề được khuyến khích
Phân phối theo lao động được thưc hiệ thông qua những hình thức cụ thể như:
• tiền công trong các đơn vị sản xuất kinh doanh;
• tiền thưởng;
• tiền phụ cấp;
• tiền lương trong các cơ quan hành chính sự nghiệp;
phân phối lao động có tác dụng:
Trang 8• thúc đây moi người nâng cao năng suất lao động, xây dựng tinh thầntrách nhiệm, thúc dây nâng cao năng suất lao động,xây dựng tinh thần trách nhiệm
Hai là, phân phối theo vốn và các nguồn lực khác ở nước ta đang tồn tại
nhiều thành phần kinh tế với sự đa dạng các hình thúc sở hữu và các hình thức tổchức, kinh doanh Do đó, ngoài hĩnh thúc phân phối theo lao động, trong thời kìquá độ còn tòn tại các hình thức thu nhập khác, dó là:
• Trong các đơn vị kinh tế tập thể bậc thấp có sự kết hợp phân phối theovốn và theo lao động
• Trong thành phần kinh tế tiểu chủ thì thu nhập phụ thuộc vào sở hữu tưliệu sản xuất ,vốn đầu tư sản xuất và khả năng sản xuất kinh doanh của chinhnhũng người lao động
• Trong kinh tế tư bản tư nhân và tư bản nhà nước ,việc phân phối dựa trên
cơ sở sở hữu vốn cổ phần , sỏ’ hữu sức lao động ,sở hữu tư bản
Ba là,phân phối thông qua phúc lợi tập thể, phúc lợi xã hội.
Để nâng cao mức sống vật chất của nhân dân, sự phân phối thu nhập cònđược thông qua quỹ phúc lợi tập thể và xã hội Sự phân phối này có ý nghĩa hết sứcqua trọng vì nó góp phần:
• phát huy tính tích cực lao động cộng đồng của moi thành viên trong xãhội;
• nâng cao mức sống toàn dân, đặc biệt đối vơi những người thu nhập thấp
• giáo dục ý thúc cộng đồng , xây dựng chế độ xã hội mới
II THƯC TRẠNG PHÂN PHỐI THU NHÂP TRONG NEN KINH TÊ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
1 Thực trang và giải pháp tiền lương ở nước ta
a) Thực trạng chính sách tiên lưong ỏ nuớc ta
Trang 9• Tiền lương là hình thức thu nhập tương ứng với nguyên tắc phân phối theolao động
Nhận định chung về chính sách tiền lương của công nhân viên chức trướctháng 9/1985
Chế độ tiền lương đến trước tháng 9/1985 là chế độ tiền lương ban hành năm
1960 và được bổ sung năm 1963 băng chế độ cung cấp một số mặt hàng thiết yếuđịnh lượng theo tem phiếu Nói cách khac lương mang tinh chất hiện vật đồng thờinhà nước duy trì chế độ bán cung cấp về nhà ở, điện, nước sinh hoat Nhìn chung,chế độ lương trong thời kì này, vừa bằng tiền vừa bằng hiện vật với giá quá thấp,vừa chăp vá và bình quân kéo dài quá lâu, nên đã gây nhiều tiêu cực, trong tỏ chức,quản li lao động, trong lĩnh vực phân phối lưu thông không thê phát huy hết tiemlực sáng tạo của những người lao động cũng như các tập thể sản xuất
• Diễn biến quá trình điều chỉnh tiền lương sau khi ban hành Nghị định235/HĐBT
Sau khi có nghị định 235/HĐBT, nhà nước tếp tục có những biện pháp về tiềnlương cụ thế như sau:
- Năm 1986: 2 lần điều chỉnh tiền lương danh nghĩa bằng chế độ phụ cấp đắt
đỏ 15% và 40% Ngoài ra, áp dụng trở lại bán 6 mặt hàng định lượng (gạo, thịt,nước mắm, nước mắm, đường, chất đốt và xà phòng) theo giá thấp và theo 3 nhómmức lương
- Năm 1987: trợ cấp thêm bằng 100% trên mức lương cấp bậc(chức vụ) từtháng 5 đến tháng 9/1987 từ tháng 10/1987 điều chỉnh lại mức lương theo giá một
số mặt hàng tính lương, đối với các đơn vị sản xuất kinh doanhhệ số điều chỉnhbằng 13-15 lần, hành chính sự nghiệp băng 10-68 lần , các lực lượng vũ trang băng11-51 lần
- Năm 1988; sau khi điều chỉnh thống nhất hệ số tiền lương của công nhânviên chức hành chính sự nghiệp và lực lượng vũ trang lên 13-15 lần , nhà nước cònthực hiện 3 lần phụ cấp với mức 30%, 60%, 90%trên tiền lương dã tính lại theo hệ
số 13-15 lần đồng thời duy trì 6 mặt hang nhưng khong bán theo giá thấp mà chỉ
để tính bù giá vào lương theo sát giá thị trường
- Năm 1989, tiền lương, trợ cấp,sinh hoạt phí của người hưởng lương và đốitượng chính sách xã hội được tính lại trên cơ sở mức lương tối thiểu là22.500đ/tháng theo quyết định số 202/HĐBT và 203/HĐBT ngày 28/12/1989 đốivới các đơn vị sản xuất kinh doanhthì tiền lương tính lại chỉ làm thông số tính don
Trang 10giá tiền lương theo sản phẩm hoặc dịch vụ và tính nộp bảo hiểm xã hội ; còn quĩlương đơn vị , mức thu nhập thực tế của mỗi cán bộ công nhân viên cũng như phânphối và hạch toán giá thành vẫn thực hiện theo đúng các quyết định 217HĐBT vànghị định 50/HĐBT của hội đồng bộ trưởng Mặc dù chỉ số tăng giá lương vàokhoảng 204.5 lần nhưng chỉ số giá tinh cho 44 mặt hàng trong cơ cấu lương tốithiểu đã tăng xấp xỉ 700 lần.
- Năm 1990 bù giá những mặt hàng nhà nước điều chỉnh giá( điện, dàu thắpsáng ), bổ sung sửa đổi một số chế đọ bất hợp lí qui định tại nghị định235/HĐBT;
bổ sung một số chế độ đối với một số đối tượng chính sách xã hội
- Tháng 5.1993,Đảng,Nhà nước tiến hành cải cách tiền lương, ban hành hệthống lương mới theo hướng , thiết lập hệ thống tiền lương theo hệ số với mứclương tối thiểu la 120000 đồng/tháng, tương đương vói 60 kg gạo đảm bảo cho mỗingười 2100 calo/ngày nhưng mức lương tối thiểu này không thể duy trì được nănglực lao động cho banr thân người lao động chưa nói gì tới việc nuôi con cái và họchành Do đó đầu năm 2000, Nhà nước đã nâng mức lương tối thiểu lên 180000đồng/tháng, đến năm 2001, mức lương này được nâng lên 210000 đồng/tháng, năm
2003 nâng lên 290000 đồng/ tháng, năm 2006 là 360000 đồng/tháng, năm 2007 là
450000 đồng/ tháng, năm 2008 là 540000 đồng/tháng Sở dĩ phải nâng mức lươngtối thiểu lên một cách liên tục là để bù vào sự trượt giá vào lương nhằm đảm bảolương thực tế cho người lao động
Ngoài việc tiền lương thực tế bị hạ quá thấp, hệ thống tiền lương còn bộc lộ
sự chênh lệch bất hợp lí giữa lương của các loại lao động, của các ngành nghề cácđơn vị khác nhau, thí dụ có trương hợp thu nhập của lao động giản đơn cao hơn thunhập của lao động phức tạp; thu nhập của doanh nghiệp trung ương cao hơn thunhập của doanh nghiệp đĩa phương Điều này được phản ánh qua số liệu diều tra
về tiền lương của 637 doanh nghiệp do sở lao động thương binh xã hội thành phố
Hồ Chí Minh tiến ành năm 1999: doanh nghiệp Nhà nước trung ương 1,5-1,9 triệuđồng/ người/ tháng, con số đó đối với các doanh nghiệp thành phố là 1-1,5; doanhnghiệp Nhà nước quận, huyện là 0,6-0,8, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài la0,975, đơn vị hành chính sự nghiệp là 0,6-0,8
Tính chung từ năm 2003-2007 đã qua 4 lần điều chỉnh mức lương tối thiểubình quân tăng 38,2%, trong khi giá tiêu dùng tăng 6,8%/năm, GDP bình quân tăng7,96%/năm, giá tiền công bình quân tăng 10%/năm
Về thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp, qua điều tra 1000donh nghiệp, 10000 lao động thuộc 12 tinh thành phố trực thuộc trung ương cộng
Trang 11với SỐ liệu của các tổng công ty hạng đặc biệt, các tập đoàn kinh tế đạt gần 4 triệuđồng/tháng, trong doanh nghiệp doanh dân đạt 1,85 triệu đồng/tháng, các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2,5 triệu đồng/tháng Có một thực tế là tiền lươngthấp nhất bình quân thực trả cho các doanh nghiệp năm 2007 đều cao hơn so vớiqui định của Nhà nước khoảng 1 triệu đồng/tháng.
Theo Vụ Tiền lương, tiền công( Bộ LĐTB&XH), mức lương tối thiểu nóichung còn thấp, chưa đạt mục tiêu đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người laođộng Mức lương tối thiểu áp dụng đối với khu vực doanh nghiệp chưa được điềuchỉnh theo nguyên tắc thị trường , cơ bản vẫn phụ thuộc ngân sách nhà nướ, ngoài
ra đó là sự phân biệt theo loại hình doanh nghiệp tạo ra sự chênh lệch, không bìnhđẳng Hệ thống bảng lương của công ty nhà nước chưa trở thành thước đo giá trị đểtrả lương cho người lao động mà chí là cơ sở dể hưởng đống bảo hiểm xã hội
Đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước, mới chỉ có khoảng 305 đăng kí bảnglương theo qui định, nhiều doanh nghiệp chỉ đăng kí để đối phó, xây dựng bảnglương không theo qui định, kéo dài số bậc lương, có trường hợp tới hơn 40 bậclương, khoảng cách bậc lương quá thấp chỉ khoảng 2-3%, gây thiệt thòi cho ngườilao động Cơ chế phân phối tiền lương của doanh nghiệp nhà nước chưa thực sựtheo nguyên tắc thị trường , quan hệ phân phối giữa người có tiền lương cao nhất vàthấp nhất chỉ khoảng 5-6 lần, trong khi đó trên thị trường chênh lệch hàng chục lần,thâm chí có những ngành dịch vụ khoảng cách này là 50-60 lần
Vụ Tiền lương, tiền công cho rằng tình trạng thiếu cơ chế phù hợp để điềutiết các yêú tố lợi thế ngành nghề khi xác định tiền lương dẫn đến nhiều công tynhà nước lương cao không phải do năng suất lao dộng và hiệu quả kinh doanh Tạinhiều doanh nghiệp nhà nước, vẫn ép mức tiền công của người lao động, nhất lànhững ngành sử duụng lao động trình độ chuyên môn không cao như da giày, dệtmay, chế biến Một số doanh nghiệp có lợi dụng chia thu nhập của người lao độngthành phụ cấp, trợ cấp, tiền thưởng để trốn đóng bảo hiểm xã hội , không đảm bảoquyền lợi của người lao động
Về cơ chế chính sách tiền lương, nhà nước trực tiếp định mức lao động địnhmức tiền lương, duyệt quĩ lương , qui định thang lương , bảng lương bậc, bậc lương
cụ thể cho các đơn vị sản xuất kinh doanh phải thúc hiện chuyển sang một cơ chếmới, trong đó tiền lương đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh chỉ còn là thông só
để tính toán, nhà nước chỉ không chế lương tối thiểu, không khống chế thu nhậo tốiđa
Trang 12Trong khu vực hành chính sự nghiẹp, tiền lương vẫn thực hiện theo nghi định235/HĐBT đồng thời nhà nước cho phép các cơ quan thuộc lĩnh vực này được hoạtđộng dịch vụ đời sống để tăng thêm thu nhập
Các cơ quan nghiên cứu khoa học ngoài phần ngân sách nhà nước cấp , đượctrục tiếp kí hợp đồng với các cơ quan đơn vị có nhu cầu để tăng thêm thu nhập
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô củanhà nước , cố lĩnh vực chuyển nhanh như xác định tự chủ sản xuất kinh doanh củacác đơn vị cơ sở kinh tế, có lĩnh vực chưa chuyên lập như cơ chế kiểm soát và diềutiết tiền lương, thu nhập của nhà nước khi các đơn vị kinh tế chuyên sang kinhdoanh,
Trong các đơn vị sản xuát kinh doanh vẫn đồng thới tồn tại song song haikiểu hạch toán : tổng doanh thu trừ tổng chi phí và đơn giá tiền lương trên đơn sảnphẩm Kiểu hạch toán này dẫn đến lãi thì xí nghiệp hưởng , lỗ thì Nhà nước chịu
Chính sách tiền lương theo nghị định 235/HĐBT chỉ giữ được thời gian ngắn,sau đó tiền lương thực tế bắt đầu giảm manh và giảm liên tục Trên thực tế diễn ratình trang tốc đọ tăng lương danh nghĩa chậm hơn tốc độ tăng giá
Từ năm 1993 đến nay, mức tăng giá đã tăng 1,79 lần, mức tăng GDP là 2,21lần, mức tăng dân số là 1,15 lần.nếu tính ra mức tăng lương phải đạt 3,42 lần mới
có thể tương đương với mức tăng giá và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người,nhưng nếu tính cả mức tăng lương vao 1/10 sắp tới thì chỉ đạt 2,42 lần thấp hơn con
số 3,42 nêu trên là 17% Như vây tính trên mặt bằng kinh tế chung thì người làmcông ăn lương đã nói chung bị thiệt Vấn đề đặt ra ở đây là cứ khi nao tăng lươngthì giá cả lại tăng trước, tinh từ năm 1993 nước ta đã thực hiện 5 lần tăng lương,trung bình mỗi lần khoảng 20%, mức tăng này thấp hơn mức tăng trưởng kinh tế vàlạm phát tĩnh từ lần tăng trước nhưng lại cao hơn gáp 2 lần mức tăng trưởng cộngvới lạm phát năm trước đó
Trước tình hình biến động của giá làm cho tièn lương thực tế, đời sống dân
cư ngày càng sa sút đã gây ra phản ứng của các đối tượng trong xã hội cu thể nhưsau:
- Ở bộ máy nhà nước các cấp:mặc dù nhà nước trung ương đã có biện phápche chắn, kiểm soát liên tục, nhưng các nhà nước địa phương đã có nơi tự ý định lạimức lương tối thiểu ví dụ Long An nâng lên 2 lần , Vũng Tau nâng lên 1,5 lần không theo chính sách chung
Trang 13- Ớ các đơn vị sản xuất - kinh doanh; dựa vào quyền tự chủ sản xuất kinh
doanh và những sơ hởcủa cơ chế quản lí đang trong bước giao thời, đều tìm mọicách tăng thu nhập cho mình Nhiều xí nghiệp làm ăn thua lỗ nhưng thu nhập của
họ vẫn cao
Trong các đơn vị sản xuất kinh doanh,có thể phâ ra 3 loại xí nghiệp:
+ Loại xí nghiệp làm ăn thực sự có lãi, có điều kiện phát triển chưa nhiều
+ Loại này lương và thu nhập thực sự gắn với kết quả sản xuất kinh doanh,điều đáng quan tam là khi thu nhập của họ quá cao cũng không bị điều tiết
+ Loại xí nghiệp ở trang thái bấp bênh, nay lãi, mai lỗ ,sản xuất không ổnđịnh Loại này thường tìm mọi cách để tăng thu nhập, thậm chí xí nghiệp đang lỗ
mà thu nhập của người lao động vẫn cao, nguồn thu nhập này được tạo ra một cáchkhông chính đáng
+ Loại xí nghiệp lam ăn thua lỗ liên tục, thiếu việc làm, có nguy cơ giải thể ,thu nhập của người lao động thực chát là ăn dần vào vốn cho đến khi toàn bộ tàisản bị khánh kiệt, nhưng không chịu phá sản như các xí nghiệp tư doanh
+ Ó các đơn vị hành chính sự nghiệp: phải thực hiện theo Nghị định235/HĐBT nhưng lại được nhà nước cho phép mở ra các hoạt động dịch vụ đờisống đủ loại để tăng thu nhập
Toàn bộ những thực tế này đã tạo nên sự chênh lệch về thu nhập rất lớn
+ Ngoài cán bộ công nhân viên chức nhà nước trong khi mức lương tối thiểu
do nhà nước qui định là 22.500đ/tháng , thì ngoài xã hội tiền công lao động trả cholao động bình thường từ 3000-5000đ, lương kĩ thuật 15000-20000đ/công trong khiNhà nước qui định tiền lương tối đa bằng 3,5 lần tiền lương tối thiếu, thì ngoài xãhội đang thực hiện băng 7-8 lần Đặc biệt ở khu vực này tiền công đã được tiền tệhóa hoàn toàn và đã tính đến quan hệ cung cầu về lao động
Ngoài những phản ứng trên, nhà nước còn thực hiện sự phân phối gián tiếpqua ngân sách cho công nhân viên chức, ví dụ vấn dề phân phối nhà ở tuy đã cóquyết định 150/ CP, nhưng khi thực hiện lại rất tùy tiện;chế độ trang cấp đồ dùnggia đình, chế độ chi cho phương tiện, thì tùy từng địa phương , từng đơn vị cũngthực hiện khác nhau không thông nhất
Từ sự phân tích khái quát cho phép chúng ta rút ra một số kết luận sau:
Trang 14+ Việc giải quyết vấn đề tiền lương ở ta trong thời gian qua chưa phù hợp với
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đang hoạt động trong một thị trương thốngnhất
+ Tiền lương đó chưa thực sự là thước đo giá trị-sức lao động , chưa đảm bảotái sản xuất giản đơn và mở rộng sức lao động không ngừng , chưa trở thành nguồnthu nhập chủ yếu của người lao động làm công ăn lương, điều đó dẫn đến một hiệntượng là trong một thời gian dài (vài thập niên vừa qua ) hàng chục triệu người laođộng làm việc với một động lực mờ nhạt, không tha thiết với công việc Nói cáchkhác tiền lương chưa thực sự trở thành đòn bẩy kích thích người lao động làm việcvới sự nhiệt tình và sức sáng tạo cao
+ Tiền lương vừa mang tính chất bình quân, vừa mang tính bao cấp Mặc dù
từ giữa cuối năm 1993 chúng ta triển khai thí điểm chính sách tiền lương mớinhưng trong nó vẫn đang chứa đựng nhiều điều bất hợp lí đòi hỏi phải tiếp tục giảiquyết
+ Trong nhiều năm chính sách tiền lương và các chính sách kinh tế xã hộinhư nhà ở, phân phối điện, nước sinh hoạt có liên quan mật thiết với nhau Songtrong quá trình giải quyết vấn đề tiền lương chưa tính toán cân đối với từng chínhsách một cách cụ thể, do đó phát sinh nhiều hiện tượng mâu thuẫn khó giải quyếtgây ra sự bất bình dẳng lớn trong xã hội
+ Nhà nước chưa thực sự hoàn toàn làm chủ trong việc kiểm soát và quản lítiền lương và thu nhập nói chung của người lao động
b)Nguyên nhân của tình hình trên:
Lương tối thiểu được tính toán chỉ dựa theo yêu cầu đảm bảo tái sản xuấtsức lao động, dựa trên cân đối kế hoạch của các yếu tố đảm bảo, chưa tínhđến biến động của chúng trong quá trình thực hiện , không xác định được mức sốngtối thiểu đang tồn tại trong xã hội ở thời điểm đó
Bội số tiền lương không phải là thước đo chung cho toàn xã hội cho toàn
xã hội, quan hệ tiền lương không phản ánh quan hệ thu nhập chung trong toàn xãhội Toàn bộ chính sách tiền lương chỉ áp dụng cho công nhân viên chức nhà nước
và một số đối tượngđặc biệt, không có tác động đối với lao động xã hội, với ngườinước ngoài thuê lao động ở Việt Nam, với những người có chức vụ cao hơn bộtrưởng Một bộ phận khá lớn chi tư ngân sách Nhà nước cho CNVC được để ngoàilương như nhà ở, bảo hiểm
(ìliỊuiịễn ^7hi tyấtn 77ú 14 OKiêm toán 4Ọ r ẨỈ