1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn

58 360 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 158,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn, giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng×chuyên đề giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn×đề tài giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn, Chuyên đề tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn, giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng×chuyên đề giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn×đề tài giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn, Chuyên đề tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn, giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng×chuyên đề giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn×đề tài giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn, Chuyên đề tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn, giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng×chuyên đề giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn×đề tài giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra cho đến năm 2020 là phải hoàn thành nhiệm vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp trở thành một nước công nghiệp tiên tiến

Vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Chúng ta cần khẳng định rằng không thể thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội nói chung của Nhà nước, cũng như các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng nếu như không có vốn Đối với NHTM với tư cách là một doanh nghiệp, một chế tài trung gian hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ thì vốn lại có một vai trò hết sức quan trọng NHTM là đơn vị chủ yếu cung cấp vốn thu lãi Nhưng để cung cấp đủ vốn đáp ứng nhu cầu thị trường, ngân hàng sẽ phải huy dộng vốn từ bên ngoài Vì vậy, các NHTM rất chú trọng đến vấn đề huy động vốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu kinh doanh của mình Có thể nói hoạt động huy động vốn từ các nguồn khác nhau trong xã hội là nhiệm vụ quan trọng nhất của các NHTM

Tại Việt Nam việc huy động vốn (khai thác tiền tạm thời nhàn rỗi trong công chúng, hộ gia đình, các TCKT hay các TCTD khác) của NHTM còn nhiều bất hợp

lý Điều này dẫn tới chi phí vốn cao, quy mô không ổn định, việc tài trợ cho các danh mục tài sản không còn phù hợp với quy mô, kết cấu từ đó làm hạn chế khả năng sinh lời, buộc ngân hàng phải đối mặt với các hạn chế rủi ro… Do đó việc tăng cường huy động vốn từ bên ngoài với chi phí hợp lý và sự ổn định cao là yêu cầu ngày càng cấp thiết và quan trọng

Để tăng cường huy động vốn ta cần nghiên cứu các hình thức huy động, các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn như quy mô, cơ cấu nguồn huy động đủ lớn để tài trợ cho các danh mục tài sản và không ngừng tăng trưởng ổn định, nguồn vốn có chi phí hợp lý, huy động vốn phù hợp với sử dụng vốn về mặt

kỳ hạn, quản lý tốt các loại rủi ro liên quan đến hoạt động huy động vốn Cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới công tác huy động vốn Trong những năm gần đây, NH đã thực hiện đổi mới sâu sắc cả hệ thống tổ chức và hoạt động Sự đổi mới này đã tạo nên một sắc thái mới trong hoạt động kinh doanh tiền tệ ở nước ta

Xuất phát từ những vấn đề trên, em nhận thấy đây là một vấn đề quan trọng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP QUÂN ĐỘI

Trang 2

nói riêng Hiện nay, Ngân hàng đã và đang quan tâm tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được, Ngân hàng còn có những hạn chế, tồn tại phải khắc phục để đạt được kết quả tốt hơn Vì vậy,

em chọn đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội

Làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp, em hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội

Mục đích nghiên cứu đề tài:

- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về huy động vốn tại NHTM

- Thông qua việc phân tích thực trạng hiệu quả huy dộng vốn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội để rút ra kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế đó

- Tìm kiếm, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác huy động tại Ngân hàng

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Chuyên đề tập trung nghiên cứu thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội Số liệu chủ yếu trong 3 năm 2008, 2009, 2010, 2011

3 Phương pháp nghiên cứu:

Để đạt mục đích nghiên cứu, khóa luận sử dụng đồng bộ hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp biện chứng và logic trong khái quát tổng quan và luận giải vấn đề, sử dụng kết hợp hệ thống các phương pháp thống kê,

so sánh, phân tích tổng hợp… để làm sáng tỏ thực tiễn Đồng thời sử dụng hệ thống bảng biểu, sơ đồ minh họa để làm tăng tính trực quan và thuyết phục trong quá trình nghiên cứu

5 Kết cấu của chuyên đề:

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, chuyên đề gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả huy động vốn của ngân hàng

thương mại

Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội

phòng giao dịch Hoàng Cầu thời gian qua

Chương 3: Giải Pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn

tại Ngân hàng TMCP Quân Đội phòng giao dịch Hoàng Cầu

Trang 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1 Vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

Đối với các doanh nghiệp, kể cả các NHTM muốn tiến hành kinh doanh, điều kiện cần thiết trước tiên là phải có vốn Tuy nhiên, do đặc điểm khác nhau nên nguồn hình thành, quy mô và tính chất về vốn của các doanh nghiệp sẽ khác nhau

Do đặc thù hoạt động kinh doanh của NHTM, ngoài bộ phận vốn điều lệ khi thành lập và tích lũy được trong quá trình kinh doanh, bộ phận vốn chủ yếu của Ngân hàng là lượng tiền tệ nhàn rỗi trong quá trình sản xuất- lưu thông hàng hóa và quá trình tích lũy – tiêu dùng mà người chủ sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau Nói cụ thể hơn, họ đã chuyển nhượng quyền sử dụng vốn tiền tệ cho ngân hàng để rồi ngân hàng phải hoàn trả cho họ vốn gốc và một khoản thu nhập (tiền lãi) theo thỏa thuận Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng quá trình luân chuyển vốn, góp phần phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển Mặt khác, các hoạt động đó lại có ảnh hưởng quyết định đến việc thực hiện chức của NHTM, sự phát triển và tồn tại của Ngân hàng

Từ những phân tích trên đây có thể nói rằng: “Vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập và huy động được dùng

để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác”

Từ khái niệm trên cho thấy, sự đa dạng, sự phong phú về thành phần tạo nên vốn trong hoạt đông kinh doanh của NHTM Nói cụ thể hơn, vốn của NHTM bao gồm : vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác

a Vốn tự có và coi như vốn tự có.

Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập được và

Trang 4

thuộc sở hữu của ngân hàng Vốn này chiếm tỷ lệ nhỏ trong kết cấu tổng nguồn vốn của Ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng.Đây là nguồn vốn quan trọng vì nó là cơ sở để mở rộng quy mô hoạt động quyết định đến năng lực và thế cạnh tranh của NHTM, là tài sản đảm bảo tạo uy tín của Ngân hàng đối với khách hàng, theo đà phát triển của ngân hàng vốn này sẽ tăng dần về số tuyệt đối Ngoài ra nó còn là một trong những căn cứ quyết định đến khả năng và khối lượng vốn huy động của Ngân hàng cũng như việc duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp Ngân hàng gặp thua lỗ.

Theo thông tư 13/2010/TT-NHNN về việc ban hành “ Quy định về các tỉ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng” thì vốn tự có của TCTD bao gồm:Vốn tự có cấp 1

a 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật

b 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp luật

c Quỹ dự phòng tài chính

d Trái phiếu chuyển đổi do tổ chức tín dụng phát hành thỏa mãn các điều kiện sau:

(i) Có kỳ hạn ban đầu tối thiểu là 5 năm

(ii) Không được đảm bảo bằng tài sản của chính tổ chức tín dụng

(iii) Tổ chức tín dụng không được mua lại theo đề nghị của người sở hữu hoặc mua lại trên thị trường thứ cấp, hoặc tổ chức tín dụng chỉ được mua lại sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản với điều kiện việc mua lại không ảnh hưởng đến các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định

(iv) Tổ chức tín dụng được ngừng trả lãi và chuyển lãi lũy kế sang năm tiếp theo nếu việc trả lãi dẫn đến kết quả kinh doanh trong năm bị lỗ

(v) Trong trường hợp thanh lý tổ chức tín dụng, người sở hữu trái phiếu chuyển đổi chỉ được thanh toán sau khi tổ chức tín dụng đã thanh toán cho tất cả các chủ nợ có

Trang 5

bảo đảm và không có bảo đảm khác.

(vi) Việc điều chỉnh tăng lãi suất, kể cả việc điều chỉnh tăng phần lãi suất cộng thêm vào lãi suất tham chiếu chỉ được thực hiện sau 5 năm kể từ ngày phát hành và được điều chỉnh một (01) lần trong suốt thời hạn trước khi chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông

đ) Các công cụ nợ khác thỏa mãn tất cả những điều kiện sau:

(i) Là khoản nợ mà trong mọi trường hợp, chủ nợ chỉ được thanh toán sau khi tổ chức tín dụng đã thanh toán cho tất cả các chủ nợ có bảo đảm và không có bảo đảm khác

(ii) Có kỳ hạn ban đầu tối thiểu trên 10 năm

(iii) Không được đảm bảo bằng tài sản của chính tổ chức tín dụng

(iv) Tổ chức tín dụng được ngừng trả lãi và chuyển lãi lũy kế sang năm tiếp theo nếu việc trả lãi dẫn đến kết quả kinh doanh trong năm bị lỗ

(v) Chủ nợ chỉ được tổ chức tín dụng trả nợ trước hạn sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản

(vi) Việc điều chỉnh tăng lãi suất, kể cả việc điều chỉnh tăng phần lãi suất cộng thêm vào lãi suất tham chiếu chỉ được thực hiện sau 5 năm kể từ ngày ký kết hợp đồng và được điều chỉnh một (01) lần trong suốt thời hạn của khoản vay

V

ốn huy động của NHTM là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ

Trang 6

các tổ chức tài chính, tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua hoạt động kinh doanh của mình Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các sở hữu khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả

cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn hoặc khách hàng có nhu cầu rút vốn

V

ốn huy động thường xuyên biến động nên Ngân hàng không được phép sử dụng hết

số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán Vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinhdoanh của NHTM, nó là thành phần thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng

L

à nguồn vốn mà Ngân hàng chủ động đi vay trên thi trường nhằm đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn nhất thời Nguồn vốn đi vay thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng nhưng nó là nguồn vốn cần thiết đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng một cách bình thường

Vốn đi vay có tính ổn định nhưng lãi suất phải trả khá cao, đây là vấn đề bất lợi trong việc tối đa hóa lợi nhuận buộc các NHTM phải tính toán kỹ lưỡng trước khi quyết định vay Vốn đi vay bao gồm:

 Vay Ngân hàng Trung Ương: là hình thức các NHTM trong trường hợp cần bổ sung nhu cầu vốn khả dụng và phải phù hợp mục tiêu của NHNN trên cơ sở sự điều tiết của chính sách tiền tệ cũng như sự kiểm soát gắt gao của NHNN Tùy theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn được chia thành các loại:

+ Vốn vay ngắn hạn bổ sung là hình thức mà các NHTM xin vay vốn bổ xung vốn ngắn hạn của mình Các Ngân hàng chỉ được vay khi còn hạn mức tín dụng hoặc trong hạn mức tín dụng mà Ngân hàng đã thỏa thuận

+ Vốn vay để thanh toán là hình thức các NHTM vay nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán Do thời hạn vay ngắn, chi phí lại cao nên các Ngân hàng phải tăng cường huy động các nguồn vốn khác để trả nợ khi đến hạn

+ Vay chiết khấu là hình thức các NHTM vay NHNN trên cơ sở chứng từ có

Trang 7

giá Các chứng từ này phải đảm bảo tính hợp lệ, hợp pháp và an toàn Vay chiết khấu gồm hai hình thức: vay tái chiết khấu và vay có đảm bảo.

 Vay tổ chức tín dụng khác: Là quá trình điều hòa nhu cầu vốn khả dụng giữa NHTM thừa dự trữ cho NHTM thiếu hụt dự trữ tại NHNN nhằm đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển liên tục trong hệ thống Ngân hàng Các Ngân hàng đi vay phải chấp hành đầy đủ các quy chế về dự trữ bắt buộc, an toàn vốn và có tài khoản gửi thanh toán hoạt động thường xuyên tại NHNN Chi phí cho loại nguồn vốn này cao, Ngân hàng chỉ sử dụng khi nhu cầu cần thiết đảm bảo an toàn cho hoạt động của mình

Trong quá trình hoạt động, tùy theo từng điều kiện hoàn cảnh khác nhau Ngân hàng sử dụng linh hoạt từng loại nghiệp vụ trên để có nguồn vốn đáp ứng đủ nhu cầu cho nền kinh tế Ngoài ra, nếu các NHTM quản trị tốt thì sẽ thừa vốn, thúc đẩy kinh doanh tăng trưởng đồng thời giảm bớt những biến động của chu kỳ kinh doanh

và sức ép mang tính thời vụ đối với hoạt động nhận tiền gửi và cho vay

Từ những phân tích trên có thể thấy rõ những vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, đó là :

 Vốn là cơ sở tổ chức hoạt động kinh doanh trong mọi ngành nghề Mọi hoạt động kinh doanh đều phải có sự kết hợp của ba yếu tố đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động

 Vốn quyết định khả năng sinh lời và mở rộng hoạt động kinh doanh của NHTM

 Vốn quyết định khả năng thanh toán, chi trả của NHTM

 Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM

1.1.2 Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại

Việc huy động vốn của NHTM có thể theo nhiều phương pháp khác nhau, thông qua nhiều kênh dẫn vốn Trong quá trình huy động các NHTM lựa chọn nững

Trang 8

hình thức phù hợp với Ngân hàng mình để huy động Các hình thức huy động vốn chủ yếu của NHTM:

a Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi cá nhân:

 Huy động tiền gửi tiết kiệm:

Là hình thức mà người dân chủ yếu dành một phần thu nhập (Phần để tiết kiệm) của mình gửi vào Ngân hàng nhằm thực hiện các mục tiêu: tích lũy để dành, hưởng một ít lợi nhuận hoặc phục vụ chi tiêu thông thường Đây là loại tiền gửi được coi là công cụ huy động vốn truyền thống của NHTM Vốn huy động từ tài khoản tiền gửi tiết kiệm thường chiếm tỷ trọng đáng kể trong tiền gửi Ngân hàng

- Căn cứ vào kỳ hạn gửi tiền chia thành hai loại:

+ Tiết kiệm không kỳ hạn: Với hình thức này người gửi có thể gửi nhiều lần

và rút theo yêu cầu sử dụng bất cứ lúc nào mà không cần thông báo trước Loại tiền gửi này cũng được Ngân hàng trả lãi nhưng không được sử dụng các hình thức thanh toán để chi trả cho người khác như tiền gửi thanh toán Nguồn vốn này có tính ổn định thấp nên các NHTM quan tâm đến dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán

+ Tiết kiệm có kỳ hạn: Với hình thức này người gửi được rút ra sau một thời hạn nhất định trên cơ sở họ đã định kế hoạch sử dụng trong tương lai Khi khách hàng gửi tiền loại này sẽ thỏa thuận với Ngân hàng về thời hạn, lãi suất Về nguyên tắc, lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn cao hơn loại không kỳ hạn, kỳ hạn càng dài lãi suất càng cao, không vượt quá lãi suất trần do NHNN quy định Khách hàng gửi tiền loại này chỉ được rút gốc và lãi khi đến hạn

Tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng và tăng sức cạnh tranh trong huy động vốn Ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút vốn trước hạn và hưởng lãi suất theo mức lãi tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

- Căn cứ vào mục đích sử dụng phân thành các loại tiền gửi tiết kiệm sau:

+ Tiết kiệm báo trước: Là tiền gửi không có thời gian đáo hạn mà người gửi khi muốn rút ra phải báo trước cho Ngân hàng một thời gian

+ Tiết kiệm có mục đích: Người gửi tiền vào Ngân hàng kèm theo một mục đích sử dụng như: tiết kiệm để mua nhà ở, tiết kiệm để mua xe ô tô…Thực hiện phương thức này, người dân có nhiều cơ hội, chưa đủ tiền nhưng vẫn có nhà ở, vẫn

Trang 9

có ô tô để sử dụng Nhiều nước Chân Á đang phát triển khá mạnh loại hình tiết kiệm này.

- Căn cứ vào đối tượng gửi tiền chia ra: tiết kiệm cho người già, tiết kiệm cho trẻ sơ sinh, tiết kiệm cho thanh thiếu niên…

+ Tiết kiệm cho tuổi già là hình thức tiết kiệm dài hạn Người gửi tiền thường cao tuổi, họ muốn giành thời gian một phần thu nhập của mình để lúc già, yếu có một khoản tiền bù đắp hàng ngày của bản thân Thông thường hình thức này gắn liền với bảo hiểm, nghĩa là khi tham gia gửi tiết kiệm, trường hợp chưa đủ thời hạn nếu xảy ra rủi ro khách hàng gửi tiền chết hoặc không có khả năng gửi tiếp nhưng vẫn được hưởng đủ số tiền theo thời hạn đã thỏa thuận.Đây là hình thức phổ biến và phát triển ở các nước Châu Âu

+ Tiết kiệm cho trẻ sơ sinh: Nhân viên Ngân hàng thông qua bện viện nắm được số trẻ ra đời Họ tiếp cận, giới thiệu về Ngân hàng, các dịch vụ đáp ứng và động viên bố mẹ gửi tiền tiết kiệm cho con Sau này có một khoản tiền lớn phục vụ cho học tập và cuộc sống

+ Tiết kiệm cho thanh thiếu niên: ở lứa tuổi này, cuộc sống thường phụ thuộc vào gia đình, song những khoản tiền cho, tặng trong những dịp lễ Tết, giáng sinh, sinh nhật … của người lớn giáo dục cho trẻ em gửi vào Ngân hàng để dùng cho những mục đích sau này

- Căn cứ vào cách gửi tiền chia thành:

+ Tiết kiệm gửi lẻ rút gọn: đây là hình thức gửi góp, hàng tháng khách hàng trích một khoản thu nhập của mình gửi vào Ngân hàng để sau một thời gian có khoản tiền chi dùng vào những công việc lớn trong gia đình

+ Tiết kiệm gửi lẻ có bảo hiểm: Đây thường là loại gửi dài hạn 5-10 năm Loại này thường phù hợp với những người có thu nhập thường xuyên, muốn tập hợp một khoản tiền lớn để sử dụng vào mục đích nhất định sau này

Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn tương đối ổn định lâu dài, tiềm năng huy động của Ngân hàng trong dân cư còn rất cao nên các Ngân hàng cần sử dụng đa dạng các hình thức để huy động nguồn vốn này

 Tiền gửi thu nhập:

Trang 10

Các nước phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật tốt, thu nhập của người lao động luôn ổn định khá cao, người ta không phải dự kiến phân chia thu nhập thành tiêu dùng và tích lũy, khi cần đến đâu rút đến đó Khách hàng chủ yếu gửi toàn bộ thu nhập vào tài khoản, khi cần chi tiêu cái gì thì họ đi rút tiền hoặc thanh toán thông qua máy rút tiền tự động hoặc dịch vụ thanh toán thẻ của Ngân hàng.

b Huy động vốn qua tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức tài chính:

- Tiền gửi không kỳ hạn: Là khoản tiền được ký gửi với mục đích an toàn tài sản, khách hàng có thể đến Ngân hàng rút ra để chi tiêu hoặc yêu cầu Ngân hàng trích tiền từ tài khoản này để chi trả cho người thụ hưởng về tiền hàng hóa, dịch vụ.Đồng thời khách hàng cũng có thể yêu cầu Ngân hàng chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản này Với mục đích chính là để giao dịch thanh toán nên loại tiền gửi này không nhạy cảm với lãi suất Ngân hàng luôn phải thỏa mãn mọi yêu cầu của người gửi và chỉ được phép sử dụng tồn khoản khi đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả Các Ngân hàng thường bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài khoản

- Tài khoản thanh toán: Là loại tài khoản mà chủ tài khoản có toàn quyền sử dụng số tiền trong tài khoản trong phạm vi số dư tiền gửi Phạm vi sử dụng là để thanh toán hóa đơn, chi trả các hoạt động hàng hóa, dịch vụ…

Loại tài khoản này luôn và chỉ có số dư có, việc trả tiền cho bên thứ ba được thực hiện bằng séc, thẻ thanh toán, ủy nhiệm chi… Khi giấy tờ thanh toán của chủ tài khoản phù hợp với Ngân hàng

- Tài khoản vãng lai: là loại tài khoản thường dùng cho các tổ chức kinh tế, tài khoản có lúc dư có, có lúc dư nợ Số dư có thể hiện tiền gửi của khách hàng còn số

dư nợ thể hiện khoản tín dụng mà Ngân hàng cấp cho khách hàng Lãi suất đối với bên dư nợ hay dư có cũng như hạn mức đối với dư nợ do hai bên thỏa thuận

-Tiền gửi không kỳ hạn là một khoản nợ biến động thường xuyên, tuy nhiên trong mỗi Ngân hàng do có sự không khớp nhau giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản tiền gửi thanh toán của một doanh nghiệp hay giữa các tài khoản của các doanh nghiệp làm cho nhập lớn hơn xuất, tạo nên tồn khoản mà Ngân hàng được phép sử dụng làm phần vốn kinh doanh Cho nên để tăng cường nguồn vốn này

Trang 11

không phải là yếu tố lãi suất mà là sự an toàn thuận tiện cũng như chất lượng các dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp, đặc biệt là dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt.

-Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận trước giữa khách hàng và Ngân hàng về thời gian rút vốn Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn gốc tích lũy và xét về bản chất chúng được ký thác với mục đích hưởng lãi, do đó

nó rất nhạy cảm với lãi suất Mức lãi suất phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền, quan hệ cung cầu về vốn tại thời điểm huy động Về cơ bản, tiền gửi có kỳ hạn không được

sử dụng để thanh toán và việc rút vốn ra trước hạn chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn

C Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá

Bên cạnh hình thức nhận tiền gửi, các NHTM còn huy động vốn tiền tệ bằng việc phát hành giấy tờ có giá theo từng đợt phục cụ tùy theo mục đích cụ thể với sự chấp nhận của Ngân hàng Nhà nước hoặc hội đồng chứng khoán quốc gia Loại vốn này lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm và có nhiều kỳ hạn khác nhau, thời hạn càng dài lãi suất càng cao

- Kỳ phiếu Ngân hàng: Là một loại giấy tờ nhận nợ do Ngân hàng phát hành theo từng đợt với kỳ hạn và được gợi là kỳ phiếu có mục đích, được phát hành theo hai hình thức:

+ Phát hành trả lãi trước: khách hàng mua kỳ phiếu sẽ trả số tiền mua bằng mệnh giá trừ đi khoản lãi mà họ được hưởng Lãi suất của kỳ phiếu trả lãi trước thường cao hơn so với kỳ phiếu trả lãi sau nhằm hấp dẫn và thu hút khách hàng Khi đến hạn Ngân hàng sẽ hoàn trả cho khách hàng theo mệnh giá của kỳ phiếu

+ Phát hành trả lãi sau: Khách hàng có thể mua tùy theo khả năng của mình, ngân hàng ghi số tiền khách hàng mua trên tờ kỳ phiếu Khi đến hạn Ngân hàng sẽ hoàn trả vốn gốc và thanh toán lãi cho người mua kỳ phiếu

- Trái phiếu ngân hàng: Là một phiếu nợ trung, dài hạn của Ngân hàng với người chủ cầm dữ trái phiếu (có thể ký danh hoặc vô danh) Ngân hàng cam kết thanh toán một số tiền nhất định vào một thời điểm cụ thể trong tương lai với mức lãi suất quy định trong những thời hạn cho trước kỳ hạn của trái phiếu Ngân hàng thường là 3

Trang 12

năm, 5 năm… và lãi suất thì cao hơn kỳ phiếu và các loại tiền gửi khác.

Hình thức huy động này chỉ được tiến hành khi Ngân hàng thiếu vốn, do đó các Ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động, mức lãi suất, thời hạn và phương pháp huy động Khối lượng vốn này chỉ huy động trong một thời gian nhất định Khi đã huy động đủ khối lượng theo dự kiến Ngân hàng sẽ ngưng việc huy động kỳ phiếu, trái phiếu

- Chứng chỉ tiền gửi: Là một loại phiếu nợ dài hạn do NHTM thỏa thuận với khách hàng và được phát hành theo từng đợt (mỗi đợt không quá 60 ngày) Lãi suất chứng chỉ dài hạn được xác định ngay trên tờ chứng chỉ hoặc được điều chỉnh theo từng thời kỳ Đối với chứng chỉ tiền gửi có thể áp dụng 3 phương thức trả lãi: trả lãi trước, trả lãi sau, trả lãi theo định kỳ

d Huy động vốn thông qua đi vay:

Tiền gửi là nguồn tiền do khách hàng chủ động mang đến cho Ngân hàng, Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để kinh doanh Tuy nhiên, không phải lúc nào nguồn tiền gửi cũng đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh của Ngân hàng, chính vì vậy khi nhu cầu cho vay vượt quá khả năng hiện có của Ngân hàng, Ngân hàng có thể đi vay để đáp ứng Nguồn vốn đi vay tạo khả năng thanh toán cho NHTM

Nghiệp vụ này ra đời sau nhưng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong nghiệp vụ Ngân hàng, đã có lúc chiếm tới 20% tổng nguồn vốn của Ngân hàng Tuy nhiên, chi phí cho nghiệp vụ đi vay lớn nên nó làm giảm khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại

 Vay NHNN

Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò là người cho vay cuối cùng trong nền kinh

tế và là Ngân hàng của các NHTM Các NHTM là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ vì thế đôi khi họ cũng thiếu vốn trong thời gian ngắn Để khắc phục tình trạng này họ đã đi vay NHNN dưới hai hình thức:

- Hình thức tái cấp vốn: đây là hình thức tái cấp vốn tín dụng của NHNN nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và các phương tiện thanh toán cho các NHTM NHNN thực hiện tái cấp vốn cho các NHTM bằng cách:

+ Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng: là hình thức tái cấp vốn của NHNN cho các

Trang 13

Ngân hàng thương mại đã cho vay với khách hàng.

+ Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng

- Vay bổ sung thanh toán bù trừ: Nhằm tăng khả năng thanh toán của Ngân hàng thương mại NHNN thực hiện chức năng là trung gian thanh toán giữa các NHTM

và cho vay thấu chi đối với NHTM tạm thời thiều hụt vốn thanh toán

e.Huy động vốn khác

Thông qua quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM tạo ra một khoản vốn gọi là vốn trong thanh toán như: Vốn trên tài khoản ký quỹ mở thư tín dụng, tiền gửi thanh toán séc, tiền gửi ký quỹ Thông qua nghiệp vụ đại lý, NHTM cũng thu hút được một lượng vốn đáng kể trong quá trình thu chi hộ khách hàng Do việc phát tiền vay được thực hiện theo tiến độ công việc nên Ngân hàng có thể sử dụng tạm thời khoản đó vào kinh doanh Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng không lớn, song

nó có chi phí đầu vào thấp

Ngân hàng thương mại có thể thu hút vốn từ hoạt động ủy thác, đại lý Song huy động vốn này, NHTM phải có vị thế và uy tín đồng thời phải đáp ứng được các

ủy quyền của người ủy thác

Tóm lại, huy động vốn tại NHTM có nhiều hình thức đa dạng thông qua nhiều kênh dẫn vốn khác nhau nhưng đều mang một bản chất là vay mượn, đồng thời là nguyên tắc trả lãi Tùy theo phương pháp huy động theo hình thức như: tiền gửi hay nguồn vay, theo thời gian huy động: ngắn hạn hay trung hạn Ngân hàng sẽ có những mức lãi suất khác nhau Lãi suất huy động vốn ngắn hạn thường thấp, Ngân hàng phải trả lãi cao hơn cho lượng vốn trung và dài hạn Hiện nay các NHTM Việt Nam đang hướng tới mục tiêu huy động được nhiều hơn lượng vốn trung và dài hạn

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:

1.2.1 Quan niệm về hiệu quả huy động vốn.

Hiệu quả là thuật ngữ thường được sử dụng hoạt động kinh tế- xã hội, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh Khi đề cập đến hiệu quả, thường so sánh giữa chi phí bỏ

ra và kết quả thu được

Trang 14

Hiệu quả huy động vốn là việc huy động vốn phải đảm bảo tiết kiệm chi phí

và đủ nguồn vốn, mục đích làm tăng lợi nhuận cho Ngân hàng và đảm bảo khả năng thanh toán

Huy động vốn được coi là có hiệu quả khi thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và phát huy tốt vai trò trong hoạt động kinh doanh của NHTM, hay nói cách khác huy động vốn được coi là hiệu quả khi lượng vốn huy động được là lớn nhất với chi phí

bỏ ra ít nhất

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn

1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô huy động vốn:

Vốn huy động trong NHTM là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM Các NHTM hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn này

VHĐ = ∑ Vi

Với Vi là lượng vốn huy động từ các nguồn theo tiêu chuẩn phân bổ khác nhau.Chỉ tiêu vốn huy động phản ánh quy mô lượng vốn mà Ngân hàng huy động được tại từng thời điểm nhất định hoặc tính trung bình trong khoảng thời gian nhất định , thường là một năm

1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu huy động vốn:

a Theo loại tiền ( nội tệ, ngoại tệ)

Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền phản ánh tỷ trọng của nguồn vốn huy động bằng nội tệ hoặc ngoại tệ trong tổng nguồn vốn huy động, chiếm bao nhiêu lần hay phần trăm

Dvi=ViLT / VHĐ

Trong đó: là cơ cấu vốn theo loại tiền i

vi D

Trang 15

là nguồn vốn theo loại tiền i

Ngân hàng tiến hành phân tích cơ cấu vốn huy động theo hình thức này để thấy tình trạng của từng loại vốn huy động nội, ngoại tệ trong tổng nguồn vốn

b Theo đối tượng huy động:

Cơ cấu vốn huy động phân theo đối tượng huy động phản ánh tỷ trọng vốn huy động của từng đối tượng huy động trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng chiếm bao nhiêu lần hay phần trăm

DDti=ViDT / VHĐ

Trong đó: là cơ cấu vốn theo đối tượng i

là nguồn vốn huy động theo đối tượng i

Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng huy động phản ánh số vốn huy động từ từng đối tượng huy động từ từng đối tượng huy động chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng vốn huy động

c Theo thời hạn huy động:

Chỉ tiêu này nói lên tỷ trọng huy động vốn theo thời gian huy động (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) trong tổng nguồn vốn huy động là bao nhiêu lần hay phần trăm bao nhiêu:

DTG=ViTG / VHĐTrong đó: là cơ cấu huy động vốn theo thời gian i

là nguồn vốn huy động theo thời gian i

Cơ cấu này thể hiện tỷ trọng của vốn huy động theo thời gian huy động chiếm

tỷ trọng bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng

1.2.2.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh chi phí huy động vốn

* Chỉ tiêu phản ánh tiền lãi phải trả: là tổng chi phí phát sinh do lãi phải trả cho khoản tiền huy động được của Ngân hàng

Tỷ lệ chi trả lãi bình quân = Chi phí trả lãiTổng NVHĐ x 100%

LT

i

V

DTi D

DT

i

V

TG D

TG

i

V

Trang 16

Chỉ tiêu này được tính theo đơn vị giá trị (thường quy về VNĐ) và theo chính sách tỷ giá hối đoái nếu nguồn vốn huy động là ngoại tệ Chỉ tiêu cho biết chi phí về lãi trả cho huy động vốn của Ngân hàng là bao nhiêu Từ đó góp phần điều chỉnh lãi suất đầu ra hợp lý.

 Chỉ tiêu phản ánh chi phí huy động vốn: là các chi phí phát sinh trong hoạt động huy động vốn của Ngân hàng trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Chỉ tiêu này bao gồm tổng tiền lãi phải trả khách hàng (là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí huy động vốn ) và các chi phí các như chi phí in ấn giấy

tờ, chi phí quảng cáo…Thông qua chỉ tiêu này, Ngân hàng có thể xác định mức lãi suất cho vay hợp lý để đạt mức lợi nhuận thích hợp Hơn nữa, Ngân hàng còn định

ra lãi suất huy động có thể cạnh tranh thu hút vốn huy động so với các Ngân hàng khác

 Chi phí cho một đồng vốn huy động:

Cf =VHD

C

x 100Trong đó:

Cf : Tỷ lệ chi phí cho một trăm đơn vị vốn huy động

C : Tổng chi phí ( lợi tức trả người giữ tiền, chi phí quản lý, quảng cáo)

VHD : Tổng vốn kinh doanh hoặc vốn huy động

Chỉ tiêu nói lên trong 100 đồng vốn kinh doanh hay vốn huy động, Ngân hàng

đã bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí cho hoạt động kinh doanh hay huy động vốn

Tỷ lệ càng cao, hiệu quả quản lý chi phí của Ngân hàng không tốt, nếu không

có những giải pháp quản lý chi phí cho hợp lý và tiết kiệm sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tiền tệ tại Ngân hàng

1.2.2.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn:

Ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc đi vay để cho vay do đó giữa hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn có mối quan hệ biện chứng với nhau Để có vốn vay, ngân hàng phải thực hiện công tác huy động Nếu số lượng vốn huy động nhiều thì ngân hàng có thể tăng cường hoạt động sử dụng vốn, khi đó Ngân hàng đã

áp dụng đầy đủ các biện pháp như thay đổi lãi xuất, mở rộng các dịch vụ nhưng cũng

Trang 17

không thể tăng được khối lượng vốn huy động dẫn đến việc phải thực hiện chính sách tín dụng có lựa chọn, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của khách hàng.

Tuy nhiên số lượng vốn huy động cơ cấu, loại hình, thời gian huy động lại phụ thuộc vào phương hướng kinh doanh tức là vào chiến lược tín dụng của Ngân hàng Khi Ngân hàng muốn mở rộng doanh số cho vay nhằm chiếm lĩnh những thị trường lớn hơn, lúc này Ngân hàng cần phải tăng cường hoạt động huy động vốn nhằm huy động số vốn cần thiết Trong trường hợp doanh số cho vay của Ngân hàng không tăng nhưng để tăng lợi nhuận, giảm bớt chi phí của việc huy động Còn khi Ngân hàng muốn thu hẹp hoạt động tín dụng thì bắt buộc phải có sự thay đổi tương ứng trong hoạt động huy động nhằm giảm bớt một cách tương ứng lượng tiền không cần thiết Nhờ đó tránh được những chi phí mà Ngân hàng phải gánh chịu nếu không có

sự đồng bộ giữa huy động và sử dụng

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả huy động vốn.

Hoạt động kinh doanh chịu tác động của môi trường xung quanh rất lớn Nghiệp vụ HĐV của NHTM cũng không nằm ngoài quy luật đó Do đó, những nhân

tố ảnh hưởng đến nghiệp vụ huy động vốn của NHTM rất phong phú, đa dạng Song tựu chung lại, những nhân tố chính ảnh hưởng đến nghiệp vụ huy động vốn của NHTM như sau:

1.2.3.1 Các nhân tố khách quan.

Đây là yếu tố mà khi tác động đến Ngân hàng sẽ không thể chống được, đó là các rủi ro không thể tránh Ngân hàng chỉ có thể nhận thức, dự báo và tìm cách giảm thiểu các rủi ro khi nó xảy ra

Trang 18

pháp luật Cụ thể là Luật tổ chức tín dụng (1997), Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính (1990), Luật NHNN Việt Nam (1998), các văn bản pháp luật khác như: chỉ thị, thông tư… Lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng là vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, vì vậy các hoạt động của Ngân hàng luôn được Nhà nước quản lý chặt chẽ bằng văn bản pháp quy Mỗi văn bản đều có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của Ngân hàng, cụ thể là hoạt động huy động vốn.

Chính phủ đề ra chính sách tiền tệ quốc gia và hệ thống Ngân hàng là công cụ đắc lực để thực hiện Chẳng hạn khi nền kinh tế lạm phát tăng Nhà nước có chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì lúc đó NHTM huy động vốn dễ dàng hơn Hoặc khi Nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất thì Ngân hàng khó huy động vốn hơn vì người có tiền nhàn rỗi họ bỏ tiền vào sản xuất có lợi hơn gửi Ngân hàng

Các quy định của pháp luật đòi hỏi các NHTM luôn tuân thủ Luật pháp quy định số tiền huy động của Ngân hàng không được lớn hơn 20 lần vốn chủ sở hữu

b.Môi trường kinh tế- xã hội

* Sự ổn định của nền kinh tế:

Tình hình kinh tế trong và ngoài nước cũng có tác động không nhỏ đến quá trình huy động vốn của Ngân hàng, khi nền kinh tế ở vào trạng thái tăng trưởng hay suy thoái thì nó đều ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn của NHTM Mọi biến động của nền kinh tế bao giờ cũng được biểu hiện rõ trong việc tăng, giảm nguồn vốn huy động từ bên ngoài của Ngân hàng

* Thu nhập trong dân cư:

Dân cư có thu nhập càng cao thì lượng tiền tạm thời nhàn rỗi càng nhiều, mức tiết kiệm càng lớn.Nhưng khi thu nhập bình quân đầu người đạt đến độ cao nhất định thì tỷ lệ tiết kiệm không tương quan với thu nhập nữa

* Tâm lý, thói quen tiêu dùng của người gửi tiền:

Đặc điểm này được thể hiện rõ nét và khác biệt giữa các vùng, miền, các địa phương trong mỗi quốc gia và càng khác nhau giữa các quốc gia Trong phạm vi quốc gia các NHTM phải nắm vững yếu tố tâm lý của dân cư từng vùng, địa phương để có chính sách huy động vốn thích hợp

Trang 19

c Môi trường Khoa học – công nghệ.

Có thể nói công nghệ Ngân hàng hiện đại khác xa so với trước đây Việc áp dụng máy tính là một công cuộc cách mạng trong hoạt động của Ngân hàng Nhờ có

hệ thống tin học hiện đại, Ngân hàng có thể thu thập thông tin về khách hàng, về thị trường tốt Từ đó, có thể hoạch định ra các hình thức huy động, thời gian huy động, hình thức trả lãi…mặt khác, nhờ hệ thống thông tin tốt khiến cho Ngân hàng có thể nâng cao hiệu quả huy động vốn

1.2.3.2 Nhân tố chủ quan.

a Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng.

Chiến lược kinh doanh có thể nói là đường lối, phương hướng hoạt động của một Ngân hàng Mỗi Ngân hàng có một chiến lược kinh doanh khác nhau Điều này phụ thuộc vào từng điểm mạnh, điểm yếu, khả năng cũng như hạn chế của Ngân hàng Chiến lược kinh doanh xác định quy mô huy động có thể mở rộng hay thu hẹp, cơ cấu vốn có thể thay đổi về tỷ lệ các loại nguồn,chi phí hoạt động có thể tăng hay giảm

Chiến lược kinh doanh có liên quan đến huy động vốn bao gồm: Chính sách

về giá cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và phí dịch vụ Đây là các yếu tố quan trọng Với việc lãi suất huy động tăng thì sẽ dẫn đến nguồn vốn vào Ngân hàng tăng, rất lớn Nhưng đồng thời thì hiệu quả của việc huy động vốn có thể giảm do chi phí huy động tăng Do đó số lượng nguồn vốn huy động sẽ phụ thuộc chủ yếu vào chiến lược kinh doanh hay đúng hơn là phụ thuộc vào chính bản thân Ngân hàng

b Năng lực và trình độ của cán bộ Ngân hàng.

Không chỉ riêng Ngân hàng mà trong bất cứ hoạt động nào, ngành nghề nào, yếu tố con người cũng phải được đặt lên hàng đầu Các cán bộ nhân viên Ngân hàng

có năng lực sẽ phán đoán, xử lý chính xác các tình huống sẽ làm cho các hoạt động huy động vốn được thực hiện một cách tốt đẹp Trình độ của cán bộ Ngân hàng càng cao sẽ làm cho các thao tác nghiệp vụ được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả Thái độ trong tiếp xúc của nhân viên với khách hàng cũng rất quan trọng Nó

có thể lôi kéo khách hàng làm tăng nguồn vốn huy động đồng thời cũng có thể làm

Trang 20

khách hàng rời bỏ gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng trong hoạt động của Ngân hàng, trước hết là trong khâu huy động vốn Các nhân viên Ngân hàng là những người mang hình ảnh cho cả Ngân hàng Do đó, để tăng cường huy động vốn thì một điều cực kì quan trọng là các nhân viên Ngân hàng phải có đủ những tiêu chí của một nhân viên Ngân hàng chuyên nghiệp: Hiểu biết khách hàng, Hiểu biết nghiệp vụ, Hiểu biết quy trình, Hoàn thiện phong cách phục vụ.

c.Uy tín của Ngân hàng.

Đó là hình ảnh của Ngân hàng trong lòng khách hàng, là niềm tin của khách hàng đối với Ngân hàng Uy tín được xây dựng, hình thành trong cả một quá trình lâu dài Người gửi tiền khi gửi thường lựa chọn những Ngân hàng có bề dày hoạt động với kết quả kinh doanh tốt chứ không phải là những Ngân hàng mới thành lập Ngân hàng lớn thường được ưu tiên lựa chọn hơn so với các Ngân hàng nhỏ Hình thức bảo hiểm tiền gửi làm tăng độ an toàn, tăng uy tín, tăng lòng tin của khách hàng với Ngân hàng, là tiền đề cho việc huy động được những nguồn vốn lớn hơn với chi phí rẻ hơn và tiết kiệm được thời gian

d.Mạng lưới phục vụ.

Với những Ngân hàng sát địa bàn dân cư hoặc gần với khu trung tâm thương mại thì sẽ có thuận lợi khi thu hút vốn Mạng lưới huy động của Ngân hàng thường được thể hiện thông qua các quỹ tiết kiệm, phòng giao dịch Khi công chúng có tiền nhàn rỗi họ thường đến các địa điểm giao dịch gần nhất của Ngân hàng để gửi tiền Mạng lưới huy động rộng rãi sẽ tạo điều kiện thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân

cư Do vậy, việc mở thêm phòng giao dịch là rất quan trọng nhưng vị trí đặt ở đâu

để huy động vốn có hiệu quả nhất còn quan trọng hơn Thông thường các chi nhánh thường được mở ở khu vực đông dân cư hoặc các khu công nghiệp Việc Ngân hàng

mở phòng giao dịch trước các Ngân hàng khác ở khu dân cư mới cũng tạo lợi thế hơn, thu hút nhiều khách hàng hơn

Nhìn chung có rất nhiều những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng Các yếu tố này tác động đến mọi hoạt động, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Mỗi Ngân hàng khi hoạt động đều cần phải tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu Những yếu tố tác động này có tính hai mặt: có thể

Trang 21

có tác động tích cực đồng thời có thể tác động tiêu cực tới hoạt động của Ngân hàng Ngân hàng nào xác định đúng, chính xác các yếu tố tác động sẽ huy động được vốn lớn với chi phí rẻ, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động.

1.3 KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VÀ BÀI HỌC CÓ THỂ VẬN DỤNG CHO NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI.

1.3.1 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả huy động vốn của các Ngân hàng thương mại cổ phần.

Các Ngân hàng thương mại cổ phần đã áp dụng nhiều biện pháp tích cực để đẩy mạnh việc gia tăng vốn huy động như đa dạng hóa các hình thức huy động, đưa

ra nhiều chương trình huy động vốn mới có tính cạnh tranh, thay đổi lãi suất cho phù hợp với diễn biến lãi suất trên thị trường Bên cạnh đó, Ngân hàng cũng áp dụng nhiều biện pháp quản lý vốn một cách đồng bộ, áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro (rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá…) thực hiện trích lập dự phòng đúng quy định và đảm bảo tỷ lệ huy động vốn thích hợp

* Thực hiện các chương trình khuyến mại

Các NHTMCP đã liên tiếp đưa ra các chương trình khuyến mại nhằm tăng cường nguồn vốn huy động và đã thu hút được sự quan tâm lớn Cùng với hoạt động triển khai mở rộng mạng lưới chi nhánh đến các tỉnh thành phố lớn trong cả nước Ngân hàng tiếp tục quảng bá hình ảnh của mình, đưa ra các sản phẩm huy động phù hợp và áp dụng nhiều chương trình khuyến mại thu hút dân cư, các TCKT đến giao dịch với Ngân hàng ngày một nhiều

Đồng thời để nâng cao uy tín, các NHTMCP tiến hành xây dựng thương hiệu của mình thông qua các hoạt động marketing như: quảng cáo, các hoạt động công chúng (PR) tài trợ cho nhiều chương trình đưa hình ảnh của Ngân hàng đến với công chúng Thêm vào đó, mạng lưới hoạt động của các Ngân hàng không ngừng được mở rộng và chiếm lĩnh những địa bàn dân cư đông đúc Công tác tiếp thị được phát triển mạnh mẽ đặc biệt với các điểm giao dịch mới đi vào hoạt động, các NHTMCP đã đến tận nhà để quảng cáo về hoạt động của mình để người dân hiểu về chính sách huy động và cho vay của Ngân hàng từ đó lựa chọn Ngân hàng làm địa

Trang 22

chỉ tin cậy khi có giao dịch Áp dụng nhiều hình thức khuyến khích khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng bằng vật chất như: huy động vốn có thưởng, tặng hoa, tặng quà nhân dịp ngày lễ tết… Hoạt động sử dụng vốn không ngừng được mở rộng và thu được kết quả cao làm cho hiệu quả hoạt động huy động vốn được tăng lên rõ rệt.

* Có chính sách huy động đối với từng loại khách hàng

Sự phân loại khách hàng theo đối tượng khách hàng giúp Ngân hàng đưa ra các chính sách lãi suất, các hình thức huy động, chính sách khách hàng phù hợp với từng đối tượng khách hàng và quan trọng hơn là cho phép đánh giá được hiệu quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng

Các Ngân hàng TMCP tiến hành huy động vốn từ các cá nhân, TCKT theo các hình thức không kì hạn, có kỳ hạn Vốn không kỳ hạn chủ yếu là tiền gửi thanh toán của các TCKT và một số rất ít là của khách hàng cá nhân dưới dạng tiền gửi thanh toán hoặc tiết kiệm không kỳ hạn Các khoản này chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn trên dưới 10% Mặc dù chỉ thu hút được một lượng vốn trong thanh toán nhưng đây là nguồn có chi phí thấp, ít nhạy cảm với lãi suất và có thể tăng thêm thu nhập từ phí dịch vụ nên đây là một trong các nguồn giúp Ngân hàng giảm chi phí huy động nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn Để huy động được nguồn vốn này, Ngân hàng tổ chức thực hiện tốt công tác chăm sóc khách hàng, đẩy mạnh quan hệ với khách hàng là những công ty, doanh nghiệp, cá nhân có nguồn tiền gửi lớn Triển khai hàng loạt dịch vụ thanh toán kèm theo như trả lương qua tài khoản, các hình thức tư vấn đầu tư… làm tốt công tác thanh toán và đa dạng hóa các hình thức thanh toán

Các loại kỳ hạn thường có là 1, 3, 6, 9, 12, 24 tháng… các NHTMCP đã phần nào giải quyết được những tồn tại trước đây là kế hoạch sử dụng vốn của người gửi không phù hợp với kỳ hạn nhận tiền gửi của Ngân hàng Bước đầu làm thay đổi thói quen giữ tiền, gửi tiền nhỏ giọt chờ đợt huy động mới có lãi suất huy động cao hơn Trong cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn thì tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng luôn chiếm

tỷ trọng lớn trong nguồn tiền gửi huy động từ dân cư và các TCKT Trong những năm qua, do áp dụng chính sách sản phẩm huy động với sự phong phú đa dạng về

kỳ hạn, lãi suất, Ngân hàng TMCP đã thu hút được nguồn vốn với quy mô đáng kể

Trang 23

từ khu vực dân cư và các TCKT Tuy vậy, nhưng huy động từ nguồn này chủ yếu là vốn ngắn hạn, với lãi suất thấp tạo điều kiện tăng thu nhập cho Ngân hàng Vốn ngắn hạn nhờ vào việc đẩy mạnh thu hút vốn nhàn rỗi trong dân cư và TCKT, thực hiện các biện pháp kích thích vào nhu cầu tích trữ nhằm mục đích sinh lời của người dân.

* Từng bước đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư và cho vay đối với nền kinh tế.

Các Ngân hàng TMCP đã triển khai cung cấp cho khách hàng không chỉ những sản phẩm truyền thống như tiền gửi tiết kiệm thông thường, tiết kiệm an sinh

mà cung cấp thêm những sản phẩm mới như: Tiết kiệm đồng Việt Nam bù đắp trượt giá bằng USD, Tiết kiệm đồng Việt Nam đảm bảo bằng USD…Kỳ hạn của các loại tiền gửi cũng phong phú hơn có thêm các loại hình tiền gửi kỳ hạn 1, 2, 9 tháng… tạo sự phù hợp nhu cầu kỳ hạn của khách hàng và sự đa dạng kỳ hạn trong cơ cấu nguồn của Ngân hàng Dân cư có thể giữ của cải dưới dạng tài sản tiền gửi an toàn, tính thanh khoản cao mà không cần phải cất giữ tiền mặt hoặc các tài sản vật chất khác Khách hàng được cung cấp những tiện ích gia tăng có thể chuyển nhượng số tài khoản, các dịch vụ đi kèm với huy động vốn được cải thiện về chất lượng như Ngân hàng cung cấp cho khách hàng hệ thống thanh toán điện tử hiện đại, cải tiến các công cụ thanh toán như séc, ủy nhiệm thu – chi …

Ngoài ra, các Ngân hàng TMCP cũng tích cực tham gia vào thị trường tiền tệ liên Ngân hàng, mở rộng quan hệ hợp tác với các Ngân hàng khác trong mọi hoạt động

từ đó khai thác được nguồn vốn từ thị trường này tạo cơ cấu vốn có chi phí rẻ hơn

* Áp dụng chính sách lãi suất đa dạng mềm dẻo

Các Ngân hàng TMCP đã áp dụng chính sách lãi suất đa dạng, mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế và diễn biến lãi suất trên thị trường từ đó tạo ra tác động tích cực tới cả hoạt động huy động vốn, được đánh giá là những Ngân hàng luôn đi đầu trong các đợt tăng lãi suất huy động và có lãi suất huy động cao,

có biểu lãi suất hấp dẫn trong cuộc chạy đua lãi suất Ngân hàng sử dụng nhiều mức lãi suất riêng biệt \

* Nâng cao trình độ đội ngũ lao động và công nghệ

Trang 24

Ngân hàng không ngừng nâng cao chất lượng nghiệp vụ, chất lượng tổ chức điều hành Các Ngân hàng TMCP đã có những chính sách tuyển dụng cũng như đào tạo nhằm nâng cao chất lượng cho đội ngũ nhân viên của mình Tiến hành tổ chức nhiều lớp đào tạo nghiệp vụ, cử nhân viên đi học tại các trường đào tạo chính quy

về lĩnh vực Ngân hàng tài chính, liên kết với các Ngân hàng, tổ chức trong và ngoài nước trong công tác đào tạo

Bên cạnh đó, công nghệ của Ngân hàng được đổi mới và trang bị ngày một hiện đại Nhờ công nghệ hiện đại, các Ngân hàng TMCP tăng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, từng bước hoàn thiện và triển khai loại hình dịch vụ mới Ngoài ra, Ngân hàng cũng chính thức thành lập Trung tâm thẻ và phát hành thẻ nhằm phục vụ tốt hơn nhóm khách hàng mục tiêu của mình là các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.3.2 Bài học về nâng cao hiệu quả huy động vốn đối với Ngân hàng TMCP Quân đội

Song song với việc học hỏi kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả huy động vốn thành công thì Ngân hàng cũng cần rút ra các bài học để giúp cho công tác huy động vốn đạt được những thành quả tốt nhất

Tăng cường công tác quảng cáo, Marketing bằng cách đẩy mạnh, đa dạng hóa các hình thức quảng cáo, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài báo, vô tuyến cũng như các phương tiện giao dịch hàng ngày để làm cho khách hàng hiểu biết chính xác hơn, tin tưởng hơn loại hình hoạt động của Ngân hàng, từ

đó sẽ chọn Ngân hàng là nơi gửi tiền và giao dịch Bên cạnh đó Ngân hàng sẽ lựa chọn các hình thức khuyến mại tặng quà cho khách hàng, hay tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Ngân hàng

Có chính sách lãi suất linh hoạt: lãi suất huy động có ảnh hưởng lớn trong việc kích thích khách hàng gửi tiền, cho nên ngoài yếu tố niềm tin vào Ngân hàng, nếu mức lãi suất huy động hợp lý sẽ thu hút được những khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội vào Ngân hàng

Mở rộng các hình thức huy động vốn một cách triệt để nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Đây là yếu tố hàng đầu quyết định hiệu quả huy động vốn của

Trang 25

Ngân hàng.

Tăng cường năng lực về công nghệ, nguồn lực nhân tài để phục vụ tốt cho mọi hoạt động của Ngân hàng Và đây là một trong những yếu tố chính quyết định khả năng nâng cao hiệu quả huy động vốn của các NHTM

Xây dựng hoàn chỉnh các chức năng, cơ chế huy động vốn, điều hòa vốn mang tính chất tương đối ổn định nhằm thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Huy động vốn là một nghiệp vụ quan trọng quyết định hiệu quả kinh doanh của mỗi NHTM Trong môi trường kinh doanh Ngân hàng càng phức tạp hiện nay, hoạt động huy động vốn của Ngân hàng luôn phải chịu tác động của nhiều yếu tố

Do đó, việc đánh giá chính xác hiệu quả huy động vốn là rất quan trọng và cần thiết, đòi hỏi phải có sự phân tích, đánh giá đầy đủ và toàn diện, nhằm phát hiện những điểm chưa hợp lý và bất hợp lý của việc huy động vốn, từ đó đưa ra biện pháp phù hợp giúp Ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung

Trang 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI

PHÒNG GIAO DỊCH HOÀNG CẦU

2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI.

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Quân Đội

• Tên đầy đủ bằng tiếng Việt : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội

• Tên gọi tắt bằng tiếng Việt : Ngân hàng TMCP Quân đội

• Tên đầy đủ bằng tiếng Anh : Military Commercial Joint Stock Bank

• Tên giao dịch : Ngân hàng Quân đội

Trụ sở chính đặt tại : số 3 Liễu Giai, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, thành phố

- Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam;

- Tổng Công ty Viễn thông Quân đội;

- Tổng Công ty bay dịch vụ Việt Nam

Khi mới được thành lập, quy mô ngân hàng rất nhỏ, chưa có một điểm giao dịch nào ngoài Hội sở chính phải đi thuê ở 28A, đường Điện Biên Phủ (Hà Nội) Nguồn nhân lực lúc ấy chỉ có 25 cán bộ, nhân viên và 5 chiếc máy tính Sau 17 năm hoạt động và phát triển không ngừng, tính đến hết quý IV năm 2012, vốn điều lệ của MB đã tăng lên đến 10.000 tỷ đồng Hiện nay, ngân hàng có 01 Hội sở chính,

Trang 27

01 Sở giao dịch, 02 phòng giao dịch tại Lào và Campuchia có 166 điểm giao dịch trên toàn quốc vào ngày 11_11_2011, 05 công ty con và 02 công ty liên kết MB hiện đang nắm giữ trên 50% vốn cổ phần của năm công ty là:

- Công ty Cổ phần Chứng khoán Thăng Long

- Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ đầu tư MB;

- Công ty Quản lý tài sản Ngân hàng Quân đội;

- Công ty Cổ phần Địa ốc MB;

- Công ty Cổ phần Viet R.E.M.A.X

Chiến lược phát triển

Ngân hàng TMCP Quân đội xác định một chiến lược mới cho một giai đoạn phát triển mới, trở thành tập đoàn tài chính - ngân hàng, có thương hiệu mạnh và năng lực cạnh tranh cao trên thị trường bao gồm các mảng kinh doanh chính: ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, bất động sản, cho thuê tài chính trong giai đoạn 2011-2015

2.1.2 Mô hình tổ chức của Ngân hàng:

 đúng pháp luật của Nhà nước, quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, của Ngân hàng TMCP Quân Đội

- Tổng giám đốc: Phụ trách toàn bộ mạng lưới Ngân hàng

- Phó tổng giám đốc: Phụ trách và trực tiếp chỉ đạo điều hành( Ủy ban, chi nhánh, văn phòng đại diện…)

Khối nguồn vốn & Kinh doanh ngoại tệ:

- Nguồn vốn, trạng thái ngoại hối

- Hoạt động trên các trung tâm: chứng khoán, ngoại hối, liên Ngân hàng, đầu

tư liên doanh, góp vốn cổ phần

- Hỗ trợ quản lý rủi ro thanh khoản

Khối NHBL & SME

- Phát triển kinh doanh, kết quả kinh doanh của hệ thống mạng lưới bán lẻ

- Quản lý hệ thống mạng lưới bán lẻ

Khối khách hàng doanh nghiệp :

- Phát triển kinh doanh và kết quả kinh doanh đối với khách hàng doanh nghiệp lớn và khách hàng đa quốc gia

Trang 28

Ban kiểm Soát

- Thay mặt Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động quản trị, điều hành của Ban Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị Gồm 2 chức năng kiểm tra và giám sát.Phòng kiểm toán nội bộ

- Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kiểm toán toàn diện hoặc theo chuyên đề hoạt động của đơn vị trong MB, báo cáo kết quả, khuyến nghị biện pháp sửa chữa, theo dõi thực hiện

Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ

- Tổ chức kiểm tra kiểm soát toàn diện, chuyên đề, định kỳ hoặc đột xuất

- Kiểm soát sau: thực hiện qua các nhóm tại vùng

Khối quản lý rủi ro

- Quản lý toàn bộ danh mục rủi ro, giám sát biến động

- Đề xuất quy định, giới hạn, phân quyền tín dụng

- Xây dựng cơ sở dữ liệu

- Đánh giá độc lập về rủi ro

- Giám sát và báo cáo phục vụ công tác quản trị

- Tham gia xử lý, thu hồi nợ quá hạn

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch Hoàng Cầu giai đoạn 2009- 2011:

Theo báo cáo tài chính phòng giao dịch từ năm 2009, lượng vốn bình quân ngân hàng huy động được trình bày trong bảng số liệu dưới đây:[tỉ đồng]

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch Hoàng Cầu

Trang 29

Biểu đồ 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch Hoàng Cầu giai đoạn

2009- 2011

2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn:

Nhìn chung, lượng vốn phòng giao dịch huy động được tăng dần lên qua các năm Đáng chú ý nhất là năm 2010, tổng số vốn huy động của phòng giao dịch lên tới 4946,7 tỷ đồng, tăng tới 153% so với năm 2009 là 3240,66, có lẽ đây là năm vốn huy động của phòng giao dịch Hoàng cầu có tốc độ phát triển cao nhất Trái ngược với hoàn cảnh tổng thể hoàn cảnh của ngân hàng, khi mà đây là năm ngân hàng Quân Đội cỏ tỉ lệ tăng trưởng thấp so với những năm trước và sau năm 2010 và tăng 123% vào năm 2011

Theo như số liệu trong bảng báo cáo thống kê trong 8 năm gần đây nhất của phòng giao dịch, ta thấy, tỷ trọng vốn huy động của 3 khối khách hàng cũng có sự thay đổi từ năm 2008 Nếu như trong năm 2007, khối khách hàng cá nhân là nhóm khách hàng chủ yếu mang lại nguồn huy động vốn cho phòng giao dịch ( chiếm 76% tổng vốn huy động) thì bước sang năm 2010, khối khách hàng doanh nghiệp lớn lại trở thành nhóm khách hàng huy động vốn chính của phòng giao dịch Hoàng Cầu với tốc độ tăng trưởng ngoạn mục, từ gần 185 tỷ năm 2007lên tới 4946,7 tỷ đồng, gấp hơn 26 lần Kể từ đó tới nay, khối khách hàng này vẫn giữ vị thế chủ chốt trong việc cung cấp nguồn vốn huy động cho phòng giao dịch Tuy nhiên, có vẻ như nguồn vốn huy động từ nhóm khách hàng này đã bắt đầu bão hòa bởi lượng vốn huy động được

từ khối khách hàng này chỉ tăng nhẹ trong năm 2011 Thay vào đó, ta thấy một sự

Ngày đăng: 12/01/2016, 15:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh Ngân hàng- Học viện Ngân hàng (TS Tô Ngọc Hưng) Khác
3. Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng Khác
4. Phân tích tài chính doanh nghiệp- ĐH kinh tế quốc dân (TS. Lê Thị Xuân & ThS. Nguyễn Xuân Quang) 5. Tạp chí Ngân hàng Khác
6. Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ Khác
8. Báo kinh doanh và các tài liệu khác của Ngân hàng TMCP Quân Đội năm 2009, 2010, 2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch Hoàng Cầu - Chuyên đề tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch Hoàng Cầu (Trang 28)
Bảng 2.6:  Nguồn vốn khách hàng cá nhân - Chuyên đề tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn
Bảng 2.6 Nguồn vốn khách hàng cá nhân (Trang 34)
Bảng 2.7: Cơ cấu huy động vốn doanh nghiệp vừa và nhỏ - Chuyên đề tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn
Bảng 2.7 Cơ cấu huy động vốn doanh nghiệp vừa và nhỏ (Trang 35)
Bảng 2.8: Cơ cấu vốn huy động khối doanh nghiệp lớn - Chuyên đề tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn
Bảng 2.8 Cơ cấu vốn huy động khối doanh nghiệp lớn (Trang 36)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w