1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài báo cáo:NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH VÀ HỮU TÍNH CÂY TRE

41 737 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc sống thay đổi, khoa học công nghệ phát triển, các lợi ích từ cây tre được tìm tòi và đổi mới, tre dần trở nên quan trọng hơn, gắn bó hơn với mỗi gia đình, và giờ đây tre không chỉ đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIATRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

Khoa: Sinh Học

-Bài báo cáo:

NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH VÀ HỮU TÍNH CÂY TRE.

TS Dương Công Kiên Vũ Hồng Nhung 1115396 Nguyễn Thị Ngọc Ánh 1115027

Trang 2

MỤC LỤC:

I.2.2 Đặc điểm một số loài tre ở Việt Nam: 4

I.4 Một số chi/loài mới tre, trúc ở Việt Nam

CHƯƠNG III: KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY 33

Trang 3

CHƯƠNG ITỔNG QUAN TÀI LIỆU

Trong bản thân của mỗi người dân Việt Nam có lẽ không ai là xa lạ với hình ảnh và câu truyện về Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc, con đường làng rợp mát bóng tre hay những món ăn dân dã đựơc làm từ đọn măng trong mỗi mâm cơm gia đình Việt Cuộc sống thay đổi, khoa học công nghệ phát triển, các lợi ích từ cây tre được tìm tòi và đổi mới, tre dần trở nên quan trọng hơn, gắn bó hơn với mỗi gia đình, và giờ đây tre không chỉ đứng tại chân làng mà nó dần đi vào từng góc nhà, nơi phố phường nhộn nhịp: thân tre được xử lí làm nội thất, cấu tạo kiến trúc nhà, đồ trang trí,thân tre được làm

xà phòng,lá tre làm thuốc, …

Cũng chính vì những lợi ích mà tre mang lại nên ngày nay nhu cầu về nhân giống và tìm ra những giống mới ưu Việt đối với cây tre ngày càng được chú trọng Trong phạm vi nhỏ của bài báo cáo này, xin được giới thiệu một số phương pháp truyền thống cũng như hiện đại trong việc nhân giống cây tre tại Việt Nam và một số nước trên thế giới

I.1 phân loại thực vật :

Giới (regnum) : Plantae

Ngành (division) : Magnoliophyta

Lớp (classic) : Liliopsida

Bộ (ordo) : Poales

Họ (familia) : Poaceae

I.2 Đặc điểm sinh học:

I.2.1 Đặc điểm chung:

Tre là cây một lá mầm

Thân: là những đặc điểm rõ ràng nhất để phân biệt giữa các loài tre

Thân có thể khác nhau về kích thước, màu sắc, hình dạng, và thậm chí cả mùi.Thân gồm có thân ngầm và thân mọc trên không

Thân ngầm: Phát triển ra chồi gốc (măng tre) và rể tre Thân ngầm phân

nhánh tạo thành khối bám vững chắc trong đất với nhiều nhánh (do sự phát triển của thân trên không), thân già hóa gỗ và tồn tại rất nhiều năm Sự phát triển của thân ngầm quyết định dạng của buội tre Do cách mọc của thân ngầm chia dạng buội tre thành hai loại:

• Thân ngầm dạng khối: tạo ra buội tre có gốc tập trung Dạng này phát tán chậm

• Thân ngầm dạng bò lan tỏa: tạo ra buội tre có gốc rời rạc Dạng này phát tán nhanh Thân ngầm mọc chồi non (măng tre) để hình thành cây

Trang 4

tre mới và mọc rể ăn sây dưới đất để buội tre bám trụ và hút chất dinh dưỡng từ đất.

Thân trên không cây tre: Thân trên không gồm lóng và đốt, mỗi thân

có vài chục lóng Số lượng và chiều dài của lóng quyết định chiều cao của mỗi loài tre Lóng có hình trụ tròn, rổng ruột, thành lóng hóa gổ rắn chắc Trên mỗi đốt có mang một lá bẹ có vai trò bảo vệ Trên đốt có đai rể khí sinh, có từ 1-5 nhánh, trong đó có 1 nhánh phát triển vượt trội Với các loài tre gai ở mỗi đốt còn mọc từ 1 đến nhiều gai sắc, nhọn

Măng tre chính là chồi gốc hay thân non của buội tre, là sản phẩn duy

nhất con người có thể ăn

Rễ: Tre có rể chùm mọc từ thân ngầm, bộ rể dày đặc với nhiều cấp, phát

triển mạnh cả bề rộng lẩn bề sâu Nhiều người còn gọi thân ngầm là rể củ của tre

Cành: Cành cấp 1 của tre mọc từ thân chính, từ cành mẹ tiếp tục nhảy

chồi ra cành cấp 2, rồi cấp 3 Cách phát triển và cấu tạo của cành giống như

ở thân chính

Lá: Lá tre thon, dài, mọc cách luân phiên theo hướng đối diện Mặc dù

phần lớn lá của tre có màu xanh, nhưng với tre dại, tre cảnh lá cũng có thể là màu nâu, đen, vàng, hoặc sọc

Hoa: Tre là loài cây một lá mầm có hoa Hoa tre chỉ mọc một lần ở cuối

ngọn của thân tre khi cây đã già sắp chết Một buội tre thân gổ lớn có tuổi thọ khoảng 100 đến 150 năm mới nở hoa

Hoa tre khó thụ phấn nên tre sinh sản chủ yếu bằng cách nhảy chồi ờ gốc (mọc măng)

I.2.2 Đặc điểm một số loài tre ở Việt Nam:

a) Tre Bụng phật

Tên khoa học: Bambusa vulgaris Schr.cv Wamin McClure

Tên khác: Bambusa wanin Camus

Thân ngầm: mọc cụm thưa, cây cách nhau 10 – 20cm

Thân khí sinh: cao 4 – 6m Mo thân: bẹ mo hình thang, mặt ngoài phủ

lông mềm, màu hung

Lá: Phiến lá hình lưỡi mác hay ngọn giáo, dài 24 – 26,5cm, rộng 2,2 –

3cm

Phân bố: Nhiều nơi trong nước và thế giới Giá trị: Cây có dáng đẹp,

lóng có hình dạng đặc biệt, thân có thể uốn thành các hình dạng con vật và tạo cảnh theo ý muốn Vì vậy, thường được trồng làm cảnh trong công viên, vườn nhà Đôi khi dùng thân làm đồ thủ công mỹ nghệ

Hình I.2.2a: Loài tre Bụng phật dạng lóng thẳng (Bambusa vulgaris)

Trang 5

b) Tre Gai: Bambusa blumeana

Cây chia cành sớm, các đốt dưới gốc thường 1 cành, các cành nhỏ biến thanh gai cong, cứng, nhọn, chúng đan chéo nhau tạo thành bụi gai dày đặc, cho xuyên qua; các đốt phần giữa thân có 3 cành, cành chính to và dài hơn cành bên

Bẹ mo rụng muộn, hình thang, đầu hình cung rộng hay lõm xuống, 2 vai

có mũi nhọn hơi nhô cao; tai mo hình bán nguyệt, gần bằng nhau, lật ra ngoài, mép có lông mi cong; lưỡi mo cao 4-5mm, xẻ mạnh, mép có lông mi; mặt lưng phủ dày lông gai màu nâu tối, mặt trong nhẵn; lá mo hình trứng hay trứng thuôn, đầu có mũi nhọn, thường lật ra ngoài, hai mặt đều có lông cứng

Lá 5-9, ở đầu cành nhỏ, hình dải, đầu có mũi nhọn, dài 10-20cm, rộng 15-25mm

Cụm hoa dài, mỗi đốt mang hai hay nhiều bông nhỏ màu vàng rơm pha màu tím nhạt khi non Mỗi bông nhỏ mang 4-12 hoa, trong đó 2-5hoa lưỡng tính, mày nhỏ có 2 gờ, có 3 mày cùc nhỏ; nhị 6, rời; bầu hình trứng, vòi ngắn, đầu nhuỵ 3

Đặc điểm sinh thái:

Việt Nam tre gai được trồng hoặc mọc tự nhiên ở độ cao dưới 700m; từ vùng ven biển, đồng bằng đến trung du và miền núi Đây là loài tre ưa ẩm và

ưa sáng, có thể trồng quanh đồng ruộng, xóm làng, ven chân đê, dọc bờ sông, bờ suối… Trồng nơi đất xấu búi tre bị khô cằn, thân cây nhỏ, vách dày Cây có thể chịu ngập lâu khi nước lũ, nhưng không ưa đất mặn, phèn

Trang 6

Độ pH thích hợp của đất trồng tre gai là 5-6,5 Trồng nơi đất tốt, tầng đất sâu, nhiều mùn, độ ẩm cao, tre gai mọc thành bụi lớn tới 30-40 cây với chiều cao đến 20m, đường kính 15cm

Trồng sau 3 năm thân tre cao khoảng 3m và bắt đầu đẻ măng to Sau 5 năm cây cao trung bình 8-10m, với bụi tre khoảng 10-40 thân và mỗi năm cho khoảng 30 măng, nhưng chỉ khoảng 1/3-1/4 số măng phát triển thành cây trưởng thành, số còn lại bị chết vì sâu bệnh, gió hoặc khô hạn

Từ khi măng xuất hiện đến khi đạt chiều cao tối đa của cây trưởng thành khoảng 5 tháng, mỗi ngày cây măng cao thêm khoảng 17cm Cây măng sinh trưởng mạnh nhất vào cuối mùa mưa Vào thời kỳ này, cây măng cao thêm khoảng 45 cm/ngày Nếu không được chăm sóc tốt và bị chặt nhiều lần, tre gai thường có hiện tượng “nâng búi”, khi đó thân ngầm phát triển ngoài không khí, búi tre bị nâng cao và các cây sinh sau lại chui vào giữa bụi tre khiến bụi tre thoái hoá, không ra măng hàng năm nữa Cây có tính chống chịu khoẻ, rất ít sâu bệnh Ỏ Việt Nam tre gai được trồng hoặc mọc tự nhiên ở độ cao dưới 700m; từ vùng ven biển, đồng bằng đến trung du và miền núi Đây là loài tre ưa ẩm và ưa sáng, có thể trồng quanh đồng ruộng, xóm làng, ven chân đê, dọc

bờ sông, bờ suối… Trồng nơi đất xấu búi tre bị khô cằn, thân cây nhỏ, vách dày Cây có thể chịu ngập lâu khi nước lũ, nhưng không ưa đất mặn, phèn Độ pH thích hợp của đất trồng tre gai là 5-6,5 Trồng nơi đất tốt, tầng đất sâu, nhiều mùn, độ ẩm cao, tre gai mọc thành bụi lớn tới 30-40 cây với chiều cao đến 20m, đường kính 15cm

Trồng sau 3 năm thân tre cao khoảng 3m và bắt đầu đẻ măng to Sau 5 năm cây cao trung bình 8-10m, với bụi tre khoảng 10-40 thân và mỗi năm cho khoảng 30 măng, nhưng chỉ khoảng 1/3-1/4 số măng phát triển thành cây trưởng thành, số còn lại bị chết vì sâu bệnh, gió hoặc khô hạn Từ khi măng xuất hiện đến khi đạt chiều cao tối đa của cây trưởng thành khoảng 5 tháng, mỗi ngày cây măng cao thêm khoảng 17cm Cây măng sinh trưởng mạnh nhất vào cuối mùa mưa Vào thời kỳ này, cây măng cao thêm khoảng 45 cm/ngày Nếu không được chăm sóc tốt và bị chặt nhiều lần, tre gai thường có hiện tượng “nâng búi”, khi đó thân ngầm phát triển ngoài không khí, búi tre bị nâng cao và các cây sinh sau lại chui vào giữa bụi tre khiến bụi tre thoái hoá, không ra măng hàng năm nữa Cây có tính chống chịu khoẻ, rất ít sâu bệnh

Mùa măng từ tháng 5,6 đến tháng 10,11; tập trung vào 3 đợt:

Đợt 1 Vào tháng 6-7, măng có chất luợng tốt nhất, nhân dân thường nuôi tất cả măng đợt này

Đợt 2 Vào tháng 8-9 Măng ít và nhỏ, cây tre mọc lên cũng thấp bé

Đợt 3 Vào tháng 10-11 Phần lớn do những cây măng đợt đầu sinh ra, khi đó chúng đã ổn định cả về chiều cao, về đường kính và ra cành lá đày đủ Măng đợt

Trang 7

này thường nhỏ, mọc nông và hay bị sâu bệnh, nhưng lại thường cho thân khí sinh

có vách dày và ít gai

Trồng sau 3 năm thân tre cao khoảng 3m và bắt đầu đẻ măng to Sau 5 năm cây cao trung bình 8-10m, với bụi tre khoảng 10-40 thân và mỗi năm cho khoảng 30 măng, nhưng chỉ khoảng 1/3-1/4 số măng phát triển thành cây trưởng thành, số còn lại bị chết vì sâu bệnh, gió hoặc khô hạn Từ khi măng xuất hiện đến khi đạt chiều cao tối đa của cây trưởng thành khoảng 5 tháng, mỗi ngày cây măng cao thêm khoảng 17cm Cây măng sinh trưởng mạnh nhất vào cuối mùa mưa Vào thời kỳ này, cây măng cao thêm khoảng 45 cm/ngày Nếu không được chăm sóc tốt và bị chặt nhiều lần, tre gai thường có hiện tượng “nâng búi”, khi đó thân ngầm phát triển ngoài không khí, búi tre bị nâng cao và các cây sinh sau lại chui vào giữa bụi tre khiến bụi tre thoái hoá, không ra măng hàng năm nữa Cây có tính chống chịu khoẻ, rất ít sâu bệnh

Mùa măng từ tháng 5,6 đến tháng 10,11; tập trung vào 3 đợt:

Đợt 1 Vào tháng 6-7, măng có chất luợng tốt nhất, nhân dân thường nuôi tất cả măng đợt này

Đợt 2 Vào tháng 8-9 Măng ít và nhỏ, cây tre mọc lên cũng thấp bé

Đợt 3 Vào tháng 10-11 Phần lớn do những cây măng đợt đầu sinh ra, khi đó chúng đã ổn định cả về chiều cao, về đường kính và ra cành lá đày đủ Măng đợt này thường nhỏ, mọc nông và hay bị sâu bệnh, nhưng lại thường cho thân khí sinh

có vách dày và ít gai

Bổ sung phần cuối của đặc tính sinh học

Hai loài tre Bụng phật (Bambusa vulgaris Schr.cv Wamin McClure) và tre Vàng sọc (Bambusa vulgaris Schr ex Wendland.cv Vittata McClure) có chung tên khoa học là Bambusa vulgaris [15], bởi sự giống nhau cơ bản ở nhiều đặc điểm hình thái, nhưng là các thứ trồng khác nhau nên giữa hai loài có một số đặc điểm khác nhau như: chiều cao thân khí sinh (13-15 m đối với tre Vàng sọc, 4 – 6 m đối với tre Bụng phật), độ dài lóng thân (tre Vàng sọc dài 20 – 30 cm, tre Bụng phật dài 4 – 10 cm), tre Bụng phật có dạng lóng phồng, lóng thẳng và lóng phồng thẳng (½ thân phía dưới phồng, ½ thân phía trên thẳng), còn tre Vàng sọc thì chỉ có dạng lóng thẳng và tròn đều Theo các tác giả Nguyễn Khắc Khôi (2007), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) đều đồng ý các dạng này chỉ là biến thể của một loài dựa trên một số đặc điểm hình thái nhưng vẫn thiếu tính xác thực vì không có cơ quan sinh sản Tương tự, đối với tre Đùi gà theo Lê Nguyên (1971), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) cho rằng tre Đùi gà có tên khoa học là Bambusa ventricosa McClure nhưng Nguyễn Khắc Khôi (2007), Vũ Văn Dũng (2000), Dransfield và Widjaja (1995) cho rằng tre Đùi gà là sự biến danh của loài Bambusa tuldoides (tên Việt Nam là Hóp nhỏ) Khó khăn này không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trên thế giới

c) Tre Vàng sọc

Trang 8

Tên khoa học: Bambusa vulgaris Schr ex Wendland cvVittata McClure

(1961)

Thân ngầm: Mọc cụm thưa, cây cách nhau 20 – 30cm

Thân khí sinh: Cao 8 – 15m, đường kính 8 – 12cm.

Mo thân: Bẹ mo hình thang, khi non màu lục tươi, có vân sọc dọc màu

vàng, mặt lưng mọc dày lông gai màu nâu thẫm, dễ rụng

Lá: Phiến lá hình lưỡi mác hay ngọn giáo, dài 22 – 30cm, rộng 2,3 –

Mỡ đã tạo thành nhiều thứ trồng trọt khác nhau, trong đó có tre Vàng sọc, tre Bụng phật Tuy nhiên, cơ sở khoa học của hiện tượng này chưa có nguồn gốc chứng minh vững chắc Cần phân tích ADN để làm rõ hơn (vì cùng nơi sống nhưng vẫn có cả 3 dạng khác nhau)

Hình I.2.2c

d) Tre Đùi gà

Tên khoa học: Bambusa ventricosa McClure

Thân ngầm: Mọc cụm dày đặc

Thân khí sinh: Khi mọc trong tự nhiên cao 9 – 11m, đường kính 4 – 6,2cm

Mo thân: Bẹ mo hình thang Tai mo phát triển, mép phủ lông dài 2mm

Lá: Phiến lá hình trứng hay ngọn giáo, dài 22 – 24cm, rộng 2,1 – 2,7cm

Phân bố: Mọc tự nhiên ở Quảng Ninh (Móng Cái), Lạng Sơn Trồng ở Phú Thọ (Đoan Hùng), Hà Nội (Ba Vì) Trên thế giới: phân bố ở vùng nam Trung Quốc Giá trị: Cây trồng làm cảnh đẹp vì có lóng hình đùi gà, thường trồng trong công viên, vườn nhà, chậu cây Thân còn dùng làm gậy chống

Trang 9

Loài rất hiếm gặp trong tự nhiên cũng như trong trồng trọt Khi trồng làm cảnh thường có 2 loại thân trong một bụi cây: Một loại thân có lóng phồng to hình đùi

gà ở phía dưới (1/4 thân), phía trên có lóng thẳng (3/4 thân) và một loại thân có lóng thẳng tròn đều trên toàn bộ chiều cao

Tỷ lệ loại lóng thẳng tới 70 – 80% trong một bụi, loại lóng đùi gà chỉ 20 – 30% Trong tự nhiên cây to cao và hoàn toàn chỉ có cây mang lóng thẳng tròn đều, có thể cùng loài với Hóp nhỏ (Bambusa tuldoides)

I.3 Phân bố địa lí :

Trang 10

16 Madagaxca 11 40

Ghi chú *: Nay khoảng hơn 200 loài

I.3.2 Tại Việt Nam:

Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về diện tích tre nứa, với 194 loài tre trúc thuộc 26 chi Bảng 2 Hiện trạng tre trúc Việt Nam tính tới tháng 12/2004.Các loại

rừng tre trúc

Diện tích ( ha)

Phân chia theo chức năng (ha)Rừng đặc

chủng

Rừng phòng hộ

Rừng sản xuất

I.4 Một số chi/loài mới và danh sách các chi/loài tre, trúc ở Việt Nam .

Các nhà khoa học phát hiện ở Việt Nam đã phần nào đánh giá được tính

đa dạng về thành phần loài tre trúc ở nước ta Tuy nhiên, mới chỉ có 80 loài

đã tạm thời được định danh, còn lại là các loài chưa có tên

Trong nhiều năm trở lại đây, rất nhiều chi, loài mới được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và bổ sung vào danh lục tre nứa của nước nhà Công trình đầu tiên nghiên cứu về tre nứa ở Việt Nam là Camus and Camus (1923) đã thống kê có 73 loài tre trúc của Việt Nam Năm 1978 Vũ Văn Dũng công bố Việt Nam có khoảng 50 loài Năm 1999 Phạm Hoàng Hộ

đã thống kê được 123 loài, số lượng các loài tre trúc của Việt Nam đã tăng lên đáng kể

Trang 11

Không dừng lại ở đó vào giai đoạn 2001-2003, Nguyễn Tử Ưởng, Lê Viết Lâm (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) cùng với GS Xia Nianhe, chuyên gia phân loại tre (chi Bambusa) của Viện thực vật học Quảng Châu, Trung Quốc đã xác định ở Việt Nam có 113 loài của 22 chi, kiểm tra và cập nhật 11 tên khoa học mới, đặc biệt đưa ra được 6 chi và 22 loài tre lần đầu đầu được định tên khoa học ở Việt Nam bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam; đưa ra 22 loài cần được xem xét để xác nhận loài mới.

Trong 2 năm 2004 – 2005, PGS.TS Nguyễn Hoàng Nghĩa cùng hai chuyên gia phân loại tre Trung Quốc là GS Li Dezhu, Phó Viện trưởng Viện thực vật học Côn Minh, Vân Nam (chuyên gia chi Dendrocalamus) và GS Xia Nianhe (chuyên gia chi Bambusa) tiếp tục cộng tác nghiên cứu với các nhà nghiên cứu tre trúc ở nước ta tiếp tục nghiên cứu định danh các loài tre nứa hiện có của Việt Nam ban đầu đã đưa ra danh sách gồm 194 loài của 26 chi tre trúc Việt Nam Phần lớn trong số đó là chưa có tên Một số chi có nhiều loài là chi Tre gai (Bambusa) có 55 loài thì có tới 31 loài chưa có tên, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài với 5 loài chưa định tên, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài với 14 loài chưa có tên, chi Vầu đắng (Indosasa)

có 11 loài với 8 loài chưa có tên và chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài thì

có tới 11 loài chưa có tên

Bên cạnh đó, các nhà khoa học Việt Nam đã tìm ra được nhiều chi, loài mới cho nước nhà Năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự đã công bố

7 loài nứa mới thuộc chi Nứa (Schizostachyum) như: Khốp Cà Ná (Cà Ná, Ninh Thuận), Nứa Núi Dinh (Bà Rịa - Vũng Tàu), Nứa đèo Lò Xo (Đắc Glei, Kon Tum), Nứa lá to Saloong (Ngọc Hồi, Kon Tum), Nứa không tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa có tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa Bảo Lộc (Bảo Lộc, Lâm Đồng – mô tả để so sánh) Các tác giả

đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, sinh thái của từng loài cụ thể

Đồng thời nhóm nghiên cứu phát hiện ra 6 loài tre quả thịt dựa trên cơ sở cấu tạo hình thái và giải phẫu hoa quả, sáu loài tre quả thịt đã được mô tả và định danh để tạo nên một chi tre mới cho Việt Nam, đó là chi Tre quả thịt (Melocalamus) Các loài đã được nhận biết là Dẹ Yên Bái (Melocalamus yenbaiensis), Tre quả thịt Cúc Phương (M cucphuongensis), Tre quả thịt Kon Hà Nừng (M kbangensis), Tre quả thịt Lộc Bắc (M blaoensis), Tre quả thịt Pà Cò (M pacoensis) và Tre quả thịt Trường Sơn (M truongsonensis).Cũng trong đợt khảo sát này, Nguyễn Hoàng Nghĩa và nhóm nghiên cứu

đã phát hiện thêm một loài nứa mới cho Việt Nam có tên là Nứa Sapa (Schizostachyum chinense Rendle) được tìm thấy trong rừng lá rộng thường xanh của Vườn Quốc gia Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai), tác giả đã mô tả về đặc điểm hình thái, sinh học của loài

Bảng 3.Danh sách các chi/ loài tre, trúc ở Việt Nam:

Trang 12

stt Chi/Loài Tên khoa học

14 Tre đắng Yên Tử Arundinaria sp.5

23 Tre sọc trắng Bambusa cf heterostachya (Munro)

Holttum

Hóp nước Cầu Hai Bambusa sp.

Trang 13

Hóp đá Cầu Hai Bambusa sp.

26 Tre ven Long Thành Bambusa flexuosa Schultes

Schult

Tre sọc vàng Bambusa multiplex cv Alphons-Kazz

Tre hàng rào Bambusa multiplex cv Fernleaf

36 Lồ ô Bình Long Bambusa procera A.Chev & A.Cam

Tre vàng sọc Bambusa vulgaris Schre ex Wend cv

VittataTre bụng phật Bambusa vulgaris Schre cv Wamin

McClure

46 Lùng Thanh Hoá Bambusa (Lingnania) sp.3

Dùng Cầu Hai Bambusa (Lingnania) sp.3

Trang 14

Tre Đông Khê Bambusa (Lingnania) sp.3

53 Mạy khô, hon trúc Bambusa sp.10

56 Hóp cần câu (trúc đá) Bambusa sp.13

57 Tre không gai Tân An Bambusa sp.14

72 Le đặc ruột núi đá Bonia sp.

Trang 15

74 Cơm lam Cephalostachyum pergracile Munro

87 Mạy púa cay na Dendrocalamus aff pachystachys Hsueh

et D.Z.LiMạy púa cáy Dendrocalamus aff pachystachys Hsueh

et D.Z.LiBương mốc Ba Vì Dendrocalamus sp.

BươngThanh Hoá Dendrocalamus sp.

Bương Tuần Giáo Dendrocalamus sp.

et Li

Trang 16

89 Mạnh tông Dendrocalamus asper (Schult) Backer

Arn ex Munro

94 Mai xanh, tre tàu Dendrocalamus latiflorus Munro

Tre trinh Dendrocalamus aff latiflorus Munro

99 Mạy hốc Cầu Hai Dendrocalamus sikkimensis Munro

100 Bương lớn Điện Biên Dendrocalamus sinicus Chia et Sun

Trang 17

109 Mạy lay/Láy Thái Gigantochloa albociliata (Munro)

114 Mum đèo Hàm Rồng Gigantochloa sp.4

115 Bắp cày/luồng đá Gigantochloa sp.5

117 Le lá nhỏ Lang Hanh Gigantochloa sp.7

118 Le lá dài Lang Hanh Gigantochloa sp.8

125 Vầu đắng Phú Thọ Indosasa angustata McClure

127 Vầu ngọt lá nhỏ Indosasa parvifolia C.S.Chao et

Q.H.Dai

129 Vầu đắng Tuyên Quang Indosasa sp.2

130 Vầu đắng Cúc Phương Indosasa sp.3

Vầu đắng Nghệ An Indosasa sp.3

Trang 18

134 Khum phàm Indosasa sp.7

137 Giang Bắc Bộ Maclurochloa tonkinensis sp.nov

138 Giang Tân Trào Maclurochloa tantraoensis sp.nov

139 Giang Sơn Dương Maclurochloa sonduongensis sp.nov

140 Giang Tràng Định Maclurochloa trangdinhensis sp.nov

141 Giang Lộc Bắc Maclurochloa locbacensis sp.nov

143 Giang đèo Prenn Maclurochloa sp.2

Giang Điện Biên Maclurochloa sp.3

147 Giang Tuần Giáo Maclurochloa sp.6

150 Giang Kon Hà Nừng Maclurochloa sp.9

151 Giang vách mỏng

Đatanla

Maclurochloa sp.10

Giang vách dày Đatanla Maclurochloa sp.10

152 Giang thân to Đatanla Maclurochloa sp.11

153 Giang Lang Hanh Maclurochloa sp.12

154 Tre quả thịt Cúc Phương Melocalamus cucphuongensis sp.nov.

156 Tre quả thịt Pà Cò Melocalamus pacoensis sp.nov.

157 Tre quả thịt Lộc Bắc Melocalamus blaoensis sp.nov.

158 Tre quả thịt Trường Sơn Melocalamus truongsonensis sp.nov.

Trang 19

159 Tre quả thịt Kon Hà

Nừng

Melocalamus kbangensis sp.nov.

160 Tre quả thịt rỗng ruột

KHN

Melocalamus sp.1

161 Tre quả thịt Tân ấp Melocalamus sp.2

162 Giang Thuận Châu Melocalamus sp.3

163 Giang Hoàng Su Phì Melocalamus sp.4

Xix Trúc Phyllostachys

165 Trúc hoá long Phyllostachys aurea Carr ex A et

C.Riv

169 Trúc cần câu Cao Bằng Phyllostachys sulphurea (Carr.) A et

C.Riv

Xxii Nứa Schizostachyum

176 Lồ ô Đà Nẵng Schizostachyum zollingeri Steud.

177 Nứa hoa lúa Lộc Bắc Schizostachyum sp.1

Trang 20

Nứa Ngoạn Mục Schizostachyum sp.5

185 Nứa lá to Saloong Schizostachyum sp.9

186 Nứa không tai Côn Sơn Schizostachyum sp.10

Nứa có tai Côn Sơn Schizostachyum sp.10

188 Sặt Langbian Sinarundinaria schmidiana (A.Cam.)

Chao & Renv

189 Trúc lùn Sa Pa Sinarundinaria sp.1

190 Vầu lớn Cúc Phương Sinobambusa sp.1

193 Le đuôi chồn Tây

Nguyên

Vietnamosasa ciliata N.T.Quyen

194 Le cỏ Lang Hanh Vietnamosasa pusila N.T.Quyen

CHƯƠNGII: PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG :

III.1 Nhân giống hữu tính :

Tre mặc dù sống nhiều năm , nhưng không giống các loại cây sống nhiều năm thường gặp .Tre là một loại thực vật có hoa, nhưng chỉ nở hoa một lần duy nhất vào lúc cuối đời Thường thì tre có thời gian nở hoa trong khoảng 5 - 60 năm một lần Hoa tre có mùi hương hơi nồng

và có màu vàng nhạt như màu đất

Hình I hoa tre:

Ngày đăng: 12/01/2016, 15:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Phân bố của các loài tre trúc trên thế giới: - Bài báo cáo:NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH VÀ HỮU TÍNH CÂY TRE
Bảng 1. Phân bố của các loài tre trúc trên thế giới: (Trang 9)
Hình I  hoa tre: - Bài báo cáo:NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH VÀ HỮU TÍNH CÂY TRE
nh I hoa tre: (Trang 20)
Hình minh họa cách chiết: - Bài báo cáo:NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH VÀ HỮU TÍNH CÂY TRE
Hình minh họa cách chiết: (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w