PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Thời tiết khí hậu miền núi phía Bắc nước ta khá đa dạng, những nơi ở độ cao ≥500m so với mặt nước biển, có mùa đông lạnh, mùa hè mát rất thích hợp để phát triển cây ăn quả ôn đới với nhiều chủng loại như: mận, mơ, hồng, đào, lê...với yêu cầu đơn vị lạnh khác nhau. Đây là một lợi thế để trồng các loại cây ăn quả ôn đới mà phần lớn các tỉnh khác trong cả nước, thậm chí kể cả các nước trong khối ASEAN, hoặc chỉ trồng ở mức rất hạn chế. Trong các loại cây ăn quả ôn đới hồng là cây ăn quả truyền thống, được bà con nông dân trồng từ lâu đời ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, các tỉnh Tây nguyên, là những nơi có nhiều tiềm năng về đất đai, điều kiện sinh thái thích hợp cho phát triển cây hồng (Lê Đức Khánh và cs., 2012). Đây cũng là vùng có nhiều bà con dân tộc thiểu số sinh sống, đời sống còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay các giống hồng trồng phổ biến ngoài sản xuất gồm các nhóm hồng giấm và hồng ngâm, đều thuộc chủng loại hồng chát địa bản địa, chất lượng quả thấp, không đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng, nhất là thời kỳ hội nhập hiện nay, dẫn đến hiệu quả kinh tế trồng cây hồng ăn quả không cao, nhiều nơi người dân chặt bỏ để chuyển đổi sang cây trồng khác. Giống hồng ngọt Fuyu, có nguồn gốc từ Nhật Bản đã được đưa vào Việt Nam từ năm 2005. Đây là giống hồng thuộc nhóm hồng không chát, không cần xử lý sau thu hoạch, có thể ăn ngay khi quả chín, chất lượng quả cao, được xem như là những giống cây trồng mới, thích hợp với các tỉnh miền núi phía Bắc, có tiềm năng và ưu thế thương mại đối với Việt Nam, được Bộ Nông Nghiệp và PTNT công nhận tạm thời, quyết định số 3326 QĐ/BNN – TT, ngày 29/10/2007; lấy tên là MC1; công nhận chính thức ngày 15/12/2011, quyết định số 735/QĐTT- CCN. Là giống cây trồng mới, hồng MC1 bị khá nhiều loài sâu hại tấn công làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của quả hồng đặc biệt là nhóm sâu ăn lá. Chúng tấn công gây hại làm giảm quang hợp của cây dẫn đến cây bị suy yếu đặc biệt chúng tập trung gây hại vào giai đoạn lộc xuân của cây hồng, đây là giai đoạn rất quan trọng quyết định sự sinh trưởng và phát triển của cây hồng. Trên thế giới, các kết quả công bố và nghiên cứu về loài sâu ăn lá hồng chưa nhiều, nhất là những nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học và sinh thái học. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về sâu hại hồng còn rất ít, chỉ có một số kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (1999), Lê Văn Thuyết (2002), Lê Đức Khánh và cs. (2012) về thành phần loài sâu hại hồng ở Việt Nam. Chưa có tài liệu nghiên cứu chuyên sâu nào về nhóm sâu ăn lá hồng. Việc thu thập, xác định thành phần sâu hại trên hồng, xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái và diễn biến tình hình gây hại của loài chủ yếu là rất cần thiết, là cơ sở để xây dựng quy trình quản lý tổng hợp sâu hại chính trên hồng một cách hợp lý, an toàn và bền vững, góp phần thúc đẩy sản xuất hồng ăn quả ở nước ta nói chung, các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng. 1.2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1. Mục đích Từ những hiểu biết về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của đối tượng nghiên cứu, góp phần nâng cao khả năng phòng chống loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) theo hướng tổng hợp, đạt hiệu quả kinh tế, an toàn và thân thiện với môi trường. 1.2.2. Yêu cầu - Điều tra thành phần sâu hại chính trên cây hồng ngọt nhập nội MC1. Bước đầu đánh giá vị trí của loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) và tác hại của chúng đối với giống hồng ngọt nhập nội MC1. - Xác định được đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae). - Xác định được diễn biến mật độ của loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) trong mối quan hệ với các yếu tố khí hậu thời tiết, giống, mùa vụ sinh trưởng, kỹ thuật trồng trọt và kẻ thù tự nhiên. - Thử nghiệm biện pháp phòng chống sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) theo hướng tổng hợp. 1.3. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI - Bổ sung danh lục 11 loài sâu hại thuộc 3 bộ và 9 họ trên cây hồng ngọt MC1 nhập nội. Lần đầu tiên phát hiện loài ngài cánh trong hại vỏ Ichneumenoptera sp. (Lepidoptera: Sesiidae) trên cây trồng ở Việt Nam.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ QUANG KHẢI
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC
VÀ KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG SÂU ĂN LÁ HỒNG
NGỌT Hypocala subsatura Guenee (LEPIDOPTERA:
NOCTUIDAE) TẠI HÒA BÌNH, VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ QUANG KHẢI
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC
VÀ KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG SÂU ĂN LÁ HỒNG
NGỌT Hypocala subsatura Guenee (LEPIDOPTERA:
NOCTUIDAE) TẠI HÒA BÌNH, VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận án
Lê Quang Khải
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Viết Tùng, TS Lê Đức Khánh và Cố GS.TS Hà Quang Hùng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Viện Bảo vệ thực vật,
Bộ môn Côn trùng đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án./
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2015
Nghiên cứu sinh
Lê Quang Khải
Trang 52.3.2 Dịch hại trên cây hồng và sâu hại nói riêng 7 2.3.3 Đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại hồng 11
2.4.2 Dịch hại trên cây hồng và sâu hại nói riêng 19 2.4.3 Đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính 20 2.4.4 Biện pháp phòng chống sâu hại hồng chính 20
Trang 6PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.4.1 Phương pháp xác định thành phần sâu hại hồng, đặc điểm hình thái của
sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) 23 3.4.2 Phương pháp xác định đặc điểm sinh vật học của sâu ăn lá hồng
Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) 28 3.4.3 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ sâu ăn lá hồng Hypocala
subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) trên cây hồng ngọt nhập nội
MC1 và một số yếu tố ảnh hưởng tới diễn biến mật độ 33 3.4.4 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng chống sâu ăn lá hồng
Hypocala subsatura Guenee theo hướng tổng hợp 37
4.1 Thành phần sâu hại hồng ở việt nam, đặc điểm hình thái của sâu ăn lá
hồng Hypocala subsatura guenee (lepidoptera: noctuidae) 42 4.1.1 Thành phần sâu hại hồng ngọt nhập nội MC1 tại Đà Bắc, Hòa Bình 43 4.1.2 Thời gian xuất hiện gây hại của một số loài sâu hại chính 44 4.1.3 Cấu trúc thành phần loài sâu hại chính trên cây hồng 46
4.1.5 Tần suất xuất hiện của các loài sâu ăn lá hồng tại Đà Bắc, Hòa Bình 48
4.1.7 Phân biệt đặc điểm hình thái hai loài sâu ăn lá hồng 53
Trang 74.2.3 Bảng sống và các chỉ tiêu sinh học cơ bản của sâu ăn lá hồng 65 4.2.4 Ảnh hưởng của thức ăn thêm đến thời gian sống và sức sinh sản của
4.3 Diễn biến mật độ sâu ăn lá hồng trên cây hồng ngọt mc1 và một số yếu tố
4.3.1 Thời điểm xuất hiện gây hại và triệu chứng của sâu ăn lá hồng 68 4.3.2 Tỷ lệ hại của sâu ăn lá hồng trên các bộ phận của cây ký chủ 70 4.3.3 Ảnh hưởng của mật độ sâu ăn lá hồng tới tỷ lệ ra hoa, kết quả và thu hoạch 71 4.3.4 Thời điểm xuất hiện và diễn biến mật độ của sâu ăn lá hồng theo giai
4.3.5 Diễn biến mật độ của sâu ăn lá hồng qua các năm 74 4.3.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình hình phát sinh phát triển của sâu ăn lá hồng 77 4.4 Một số nghiên cứu về biện pháp phòng chống sâu ăn lá hồng Hypocala
Danh mục các công trình công bố có liên quan đến luận án 91
Trang 9theo các giai đoạn sinh trưởng của cây hồng ngọt nhập nội MC1 tại Đà
4.6 Sự khác nhau về mặt hình thái giữa 2 loài sâu ăn lá hồng 53 4.7 Kích thước các pha phát dục của 2 loài sâu ăn lá hồng 55 4.8 Thời điểm vũ hóa trong ngày của trưởng thành sâu ăn lá hồng Hypocala
4.9 Thời điểm giao phối trong ngày của trưởng thành sâu ăn lá hồng
Hypocala subsatura Guenne (Viện BVTV, 2014) 57 4.10 Nhịp điệu và sức đẻ trứng của trưởng thành sâu ăn lá hồng Hypocala
4.11 Sự lựa chọn thức ăn của sâu ăn lá Hypocala subsatura Guenee trong
4.12 Thời gian phát dục các pha sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee
4.13 Tỷ lệ chết các pha của sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee 66 4.14 Các chỉ tiêu sinh học cơ bản của sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura
Guenee ở điều kiện nhiệt độ 28˚C và ẩm độ 70% 67 4.15 Ảnh hưởng của thức ăn thêm đến thời gian sống sức đẻ trứng và tỷ lệ trứng nở
của trưởng thành cái sâu ăn lá hồng (Viện BVTV, 2014) 68 4.16 Diễn biến mật độ của sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee theo
các giai đoạn sinh trưởng của hai giống hồng ở Hòa Bình, 2014 71 4.17 Thành phần thiên địch trên sâu hại hồng tại Hòa Bình 2011-2012 81
Trang 104.18 Hiệu lực phòng trừ của thuốc trừ sâu đối với sâu ăn lá hồng Hypocala
subsatura Guenee tuổi 1, Viện BVTV 2013 82 4.19 Hiệu lực phòng trừ của thuốc trừ sâu đối với sâu ăn lá hồng Hypocala
subsatura Guenee tuổi 2, Viện BVTV 2013 83 4.20 Hiệu lực phòng trừ của thuốc trừ sâu đối với sâu ăn lá hồng Hypocala
subsatura Guenee tuổi 3 ở phòng thí nghiệm tại Viện BVTV, 2013 83 4.21 Hiệu lực phòng trừ của thuốc trừ sâu đối với sâu ăn lá hồng Hypocala
subsatura Guenee tuổi 4, Viện BVTV 2013 84 4.22 Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến mật độ sâu ăn lá hồng Hypocala
subsatura Guenee tại Đà Bắc, Hòa Bình 2013 85 4.23 Hiệu lực phòng trừ của thuốc trừ sâu đối với sâu ăn lá hồng Hypocala
subsatura Guenee tại Đà Bắc, Hòa Bình 2013 86 4.24 Năng suất và phẩm chất quả khi áp dụng biện pháp phòng chống theo
4.25 Hiệu quả kinh tế lý thuyết mô hình phòng trừ tổng hợp tại Đà Bắc, Hòa
Trang 11
DANH MỤC CÁC HÌNH
4.4 Trứng sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee 49 4.5 Sâu non tuổi 1 sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee 49 4.6 Sâu non tuổi 2 sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee 50 4.7 Sâu non tuổi 3 hồng sâu ăn lá Hypocala subsatura Guenee 50 4.8 Sâu non tuổi 4 sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee 51 4.9 Sâu non tuổi 5 sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee 51 4.10 Nhộng sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee 52 4.11 Trưởng thành cái sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee 52 4.12 Trưởng thành đực sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee 53 4.13 Kích thước mảnh đầu của 2 loài sâu ăn lá hồng 56 4.14 Tỷ lệ sống (lx) và sức sinh sản (mx) của sâu ăn lá hồng Hypocala
4.1 Triệu chứng gây hại của sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee trên lá 69 4.2 Triệu chứng gây hại của sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee trên hoa 69 4.3 Triệu chứng gây hại của sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee trên quả 70 4.15 Tỷ lệ hại của sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee trên một số bộ
4.16 Diễn biến mật độ sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee theo các giai
đoạn sinh trưởng của cây hồng tại Đà Bắc, Hòa Bình năm 2012, 2013 73 4.17 Diễn biến mật độ sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee tại Đà Bắc,
Trang 124.22 Ảnh hưởng của biện pháp tỉa cành tạo tán đến mật độ sâu ăn lá hồng
Hypocala subsatura Guenee tại Đà Bắc, Hòa Bình, 2012 79 4.23 Ảnh hưởng của giống đến mật độ sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura
4.24 Mật độ sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee khi áp dụng biện
pháp phòng chống theo hướng tổng hợp, Đà Bắc, Hòa Bình 2013 87
Trang 13TRÍCH YẾU LUẬN ÁN
Tên tác giả: Lê Quang Khải
Tên luận án: “Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và khả năng phòng chống
sâu ăn lá hồng ngọt Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) tại
Hòa Bình, Việt Nam”
Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) theo hướng tổng hợp, đạt
hiệu quả kinh tế, an toàn và thân thiện với môi trường
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thu thập thành phần sâu hại hồng, xác định đặc điểm hình thái theo Quy chuẩn quốc gia QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT về Phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng
- Phương pháp xác định đặc điểm sinh vật học sâu ăn lá hồng hồng
Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) theo Gaylor (1992), Phạm
Bình Quyền (2005) và Nguyễn Văn Đĩnh (2005)
- Phương pháp xác định đặc điểm sinh thái học của sâu ăn lá hồng
Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) theo Quy chuẩn quốc gia
QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT về Phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng
- Phương pháp đánh giá hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật trong phòng thí nghiệm và trên đồng ruộng theo Tiêu chuẩn bảo vệ thực vật (BNN&PTNT, 2001)
- Các số liệu được tính toán theo phương pháp thống kê sinh học thông dụng, sử dụng phần mềm IRRSTAT 5.0 để so sánh và phân tích Vẽ đồ thị và biểu đồ bằng phần mềm Microsoft Excel
Trang 14Kết quả chính và kết luận
- Xác định được thành phần sâu hại chính trên cây hồng ngọt nhập nội Fuyu tại Hòa Bình gồm 18 loài thuộc 5 bộ, 13 họ Một số loài gây hại phổ biến là sâu ăn lá hồng subsatura, bọ xít, rệp sáp bột tua ngắn và ruồi đục quả
- Xác định các chỉ tiêu sinh vật học cơ bản của sâu ăn lá hồng Hypocala
subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) ở nhiệt độ 26oC, 28oC và 30oC, ẩm
độ 70% như vòng đời và thời gian phát dục các pha Các chỉ tiêu sức đẻ trứng, tỷ
lệ tăng tự nhiên (r), hệ số nhân một thế hệ (Ro)và thời gian tăng đôi quần thể (DT) được xác địn ở nhiệt độ 28oC và ẩm độ 70%
- Xác dịnh được tập tính hoạt động và gây hại của các pha sâu ăn lá hồng Hồng Fuyu là thức ăn ưa thích hơn so với hồng Nhân Hậu
- Xác định được sự phát sinh gây hại của sâu ăn lá hồng Hypocala
subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) có quan hệ chặt với các giai đoạn
sinh trưởng của cây hồng Trong năm sâu ăn lá hồng phát sinh gây hại nặng trên các đợt lộc xuân và lộc thu
- Xác định được loài bọ xít ăn sâu thuộc họ Pentatomidae là thiên địch của
sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee
- Thử nghiệm nấm ký sinh côn trùng Metarhizium anisopliae có hiệu lực
phòng trừ sâu ăn lá hồng
Trang 15THESIS ABSTRACT
PhD candidate: Le Quang Khai
Thesis title: “Some biological, ecological and control measures of Hypocala
subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) in Hoa Binh, Vietnam”
Major: Plant protection; Code: 62 62 01 12
Education organization:: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research objectives
Study on the biological, ecological to improve the control measures of
Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) with hight result
Materials and Methods:
- Monitoring the composition of insect pests on sweet persimmon: Vietnam standard 01-38:2010/BNNPTNT
- Biological of Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae):
Gaylor (1992), Pham Binh Quyen (2005) and Nguyen Van Đinh (2005)
- Ecological of Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae):
Vietnam Plant protection standard 01-38:2010/BNNPTNT
- The effective of insecticide: Plant protection standard (Vietnam Ministry
of Agriculture and Tural development, 2001)
- Data analysis: IRRSTAT 5.0 and Microsoft Excel
Main findings and conclusions
- The composition of insect pests on sweet persimmon including 18
species belong to 5 orders, 13 families Among them, leaf eating moth (Hypocala
subsatura Guenee), mealy bug (Pseudococcus citri Risso) and fruit fly
(Bactrocera dorsalis Hendel) were the most important species
- Determined the additional scientific data on biological characteristics of
Hypocala subsatura Guenee on sweet persimmon: life cycle, developmental time
of egg, larvae, pupae and adult, the intrinsic rate of natural increase (r), the net reproduction rate (Ro) and time for double population (DT) at 28oC and 70% RH
- Determined some behavior features of Hypocala subsatura Guenee
Trang 16damaging on sweet persimmon
- Determined the population dynamic of Hypocala subsatura Guenee
(Lepidoptera: Noctuidae) in the development period of sweet persimmon
- Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) had been attacked
by stink bug belong to Pentatomidae
- Biology pesticide were tested for controlling of Hypocala subsatura
Guenee (Lepidoptera: Noctuidae)
Trang 17PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thời tiết khí hậu miền núi phía Bắc nước ta khá đa dạng, những nơi ở độ cao ≥500m so với mặt nước biển, có mùa đông lạnh, mùa hè mát rất thích hợp để phát triển cây ăn quả ôn đới với nhiều chủng loại như: mận, mơ, hồng, đào, lê với yêu cầu đơn vị lạnh khác nhau Đây là một lợi thế để trồng các loại cây ăn quả ôn đới mà phần lớn các tỉnh khác trong cả nước, thậm chí kể cả các nước trong khối ASEAN, hoặc chỉ trồng ở mức rất hạn chế
Trong các loại cây ăn quả ôn đới hồng là cây ăn quả truyền thống, được bà con nông dân trồng từ lâu đời ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, các tỉnh Tây nguyên, là những nơi có nhiều tiềm năng về đất đai, điều kiện sinh thái thích hợp cho phát triển cây hồng (Lê Đức Khánh và cs., 2012) Đây cũng là vùng có nhiều bà con dân tộc thiểu số sinh sống, đời sống còn nhiều khó khăn
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay các giống hồng trồng phổ biến ngoài sản xuất gồm các nhóm hồng giấm và hồng ngâm, đều thuộc chủng loại hồng chát địa bản địa, chất lượng quả thấp, không đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng, nhất là thời kỳ hội nhập hiện nay, dẫn đến hiệu quả kinh tế trồng cây hồng ăn quả không cao, nhiều nơi người dân chặt bỏ để chuyển đổi sang cây trồng khác Giống hồng ngọt Fuyu, có nguồn gốc từ Nhật Bản đã được đưa vào Việt Nam từ năm 2005 Đây là giống hồng thuộc nhóm hồng không chát, không cần
xử lý sau thu hoạch, có thể ăn ngay khi quả chín, chất lượng quả cao, được xem như là những giống cây trồng mới, thích hợp với các tỉnh miền núi phía Bắc, có tiềm năng và ưu thế thương mại đối với Việt Nam, được Bộ Nông Nghiệp và PTNT công nhận tạm thời, quyết định số 3326 QĐ/BNN – TT, ngày 29/10/2007; lấy tên là MC1; công nhận chính thức ngày 15/12/2011, quyết định số 735/QĐ-TT- CCN
Là giống cây trồng mới, hồng MC1 bị khá nhiều loài sâu hại tấn công làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của quả hồng đặc biệt là nhóm sâu ăn lá Chúng tấn công gây hại làm giảm quang hợp của cây dẫn đến cây bị suy yếu đặc biệt chúng tập trung gây hại vào giai đoạn lộc xuân của cây hồng, đây là giai đoạn rất quan trọng quyết định sự sinh trưởng và phát triển của cây hồng
Trang 18Trên thế giới, các kết quả công bố và nghiên cứu về loài sâu ăn lá hồng chưa nhiều, nhất là những nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học và sinh thái học Ở Việt Nam, những nghiên cứu về sâu hại hồng còn rất ít, chỉ có một số kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (1999), Lê Văn Thuyết (2002), Lê Đức Khánh và cs (2012) về thành phần loài sâu hại hồng ở Việt Nam Chưa có tài liệu nghiên cứu chuyên sâu nào về nhóm sâu ăn lá hồng
Việc thu thập, xác định thành phần sâu hại trên hồng, xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái và diễn biến tình hình gây hại của loài chủ yếu là rất cần thiết, là cơ sở để xây dựng quy trình quản lý tổng hợp sâu hại chính trên hồng một cách hợp lý, an toàn và bền vững, góp phần thúc đẩy sản xuất hồng ăn quả ở nước ta nói chung, các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng
1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích
Từ những hiểu biết về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của đối tượng nghiên cứu, góp phần nâng cao khả năng phòng chống loài sâu ăn lá hồng
Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) theo hướng tổng hợp, đạt
hiệu quả kinh tế, an toàn và thân thiện với môi trường
1.2.2 Yêu cầu
- Điều tra thành phần sâu hại chính trên cây hồng ngọt nhập nội MC1 Bước
đầu đánh giá vị trí của loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee
(Lepidoptera: Noctuidae) và tác hại của chúng đối với giống hồng ngọt nhập nội MC1
- Xác định được đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu ăn lá
hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae)
- Xác định được diễn biến mật độ của loài sâu ăn lá hồng Hypocala
subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) trong mối quan hệ với các yếu tố khí
hậu thời tiết, giống, mùa vụ sinh trưởng, kỹ thuật trồng trọt và kẻ thù tự nhiên
- Thử nghiệm biện pháp phòng chống sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura
Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) theo hướng tổng hợp
1.3 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Bổ sung danh lục 11 loài sâu hại thuộc 3 bộ và 9 họ trên cây hồng ngọt MC1
nhập nội Lần đầu tiên phát hiện loài ngài cánh trong hại vỏ Ichneumenoptera sp
(Lepidoptera: Sesiidae) trên cây trồng ở Việt Nam
Trang 19- Cung cấp một số dẫn liệu mới về đặc điểm sinh vật học, tập tính hoạt
động của loài sâu ăn lá hồng ngọt Hypocala subsatura Guenee
- Ghi nhận một số dẫn liệu mới về diễn biến mật độ sâu ăn lá hồng ngọt dưới ảnh hưởng của một số yếu tố như cắt cành, giống hồng đến diễn biến mật
độ sâu ăn lá hồng ngọt
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài đã nghiên cứu một cách hệ thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và đề xuất một số biện pháp phòng chống loài sâu ăn lá hồng trên cây hồng ngọt, các kết quả này là những tư liệu khoa học mới để sử dụng trong công tác nghiên cứu và đào tạo
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài đã đóng góp những cơ sở khoa học để đánh giá khả năng phòng
chống loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae)
theo hướng tổng hợp hiệu quả, an toàn với môi trường và sản phẩm, góp phần sản xuất cây ăn quả ôn đới an toàn, bền vững và nâng cao thu nhập cho người nông dân ở Hòa Bình - vùng miền núi phía Bắc Việt Nam, nơi tập trung chủ yếu đồng bào dân tộc, đời sống còn rất nhiều khó khăn
1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae)
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu
Thành phần sâu hại trên cây hồng ngọt nhập nội MC1, đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học và thử nghiệm một số biện pháp phòng chống sâu ăn
lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) theo hướng tổng
hợp tại Đà Bắc, Hòa Bình, Việt Nam từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 4 năm 2014
Trang 20PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Những năm trước đây ở nước ta, hồng là một trong những cây ăn quả được lựa chọn làm cây mũi nhọn trong việc thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, đặc biệt là vùng núi phía Bắc nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Thực tế nhiều vùng trồng hồng tập trung đã cho hiệu quả kinh tế cao như: vùng hồng Đà Lạt - Lâm Đồng, Lục Ngạn - Bắc Giang, Lục Yên - Yên Bái, vùng Bảo Lâm - Lạng Sơn và
Đà Bắc - Hoà Bình (Vũ Công Hậu, 1999)
Ở Việt Nam, các giống hồng trồng phổ biến ngoài sản xuất, bao gồm các nhóm hồng giấm và hồng ngâm đều thuộc chủng loại hồng chát, kỹ thuật quản lý vườn quả kém, năng suất và chất lượng quả ngày càng thấp, hiệu quả kinh tế không cao (Lê Đức Khánh và cs., 2004) Do vậy, cây hồng cũng không được các nhà quản lý và nông dân chú trọng, quan tâm Thậm chí, tại một số địa phương, người dân không biết kỹ thuật xử lý sau thu hoạch, khử chát, quả chín nhưng không thể ăn được đành vứt bỏ Đây cũng là một nguyên nhân giải thích tại sao cho đến nay, những nghiên cứu chuyên sâu và công bố về sâu hại trên hồng còn rất ít, mới chỉ dừng lại ở công bố thành phần sâu hại trên hồng và sử dụng thuốc hóa học khi phát hiện sâu hại trên đồng ruộng
Hồng ngọt MC1 là giống cây trồng mới, thích ứng khá rộng, được trồng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam như Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Bắc Kạn
và thậm chí cả ở Bắc Giang (Lê Đức Khánh và cs., 2012) Giống hồng này bị rất nhiều đối tượng sâu hại tấn công, gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, làm giảm năng suất, chất lượng, giá trị thương phẩm của quả Trong khi đó ở Việt Nam, chưa có tài liệu công bố hoặc nghiên cứu về giống hồng MC1 mà chỉ có một
số kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (1999), Lê Văn Thuyết (2002), Lê Đức Khánh và cs (2004, 2012), Lê Đức Khánh và Hà Minh Trung (2006) về thành phần sâu hại hồng ở Việt Nam
Loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee đã được ghi nhận xuất hiện
ở Việt Nam từ kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (1976); Lê Đức Khánh và cs (2012) đã xác định được loài sâu hại này gây hại trên hồng từ tháng
3 đến tháng 6, tập trung vào giai đoạn ra lộc xuân của cây Ngoài ra, chúng còn
Trang 21gây hại trên hoa, quả làm ảnh hưởng tới năng suất của cây
Đối với giống hồng mới nhập nội MC1, nghiên cứu thành phần sâu bệnh hại nói chung và sâu ăn lá hồng nói riêng, đánh giá vị trí của đối tượng, tác hại của chúng gây ra trong sản xuất là nhiệm vụ cần thiết hàng đầu, là cơ sở đề xuất những biện pháp phòng trừ hiệu quả, giảm bớt những tổn thất cho sản xuất, góp phần mở rộng sản xuất bền vững và ổn định, nâng cao đời sống cho bà con nông dân
2.2 THÔNG TIN VỀ HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
Đề tài được thực hiện tại tỉnh Hòa Bình là tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, có vị trí ở phía nam Bắc Bộ, giới hạn ở tọa độ 200°19' - 210°08' vĩ
độ Bắc, 104°48' - 105°40' kinh độ Đông Địa hình núi trung bình, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm về phía tây bắc có độ cao trung bình từ 600 – 700 m, địa hình hiểm trở, diện tích 212.740 ha, chiếm 44,8% diện tích toàn vùng; vùng núi thấp nằm ở phía đông nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 – 250, độ cao trung bình từ 100 – 200 m (Cục Thống kê tỉnh Hòa Bình, 2012)
Hòa Bình có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa đông phi nhiệt đới khô lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23°C Tháng 7
có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27 - 29°C, ngược lại tháng 1 có nhiệt
độ thấp nhất, trung bình 15,5 - 16,5°C
Diện tích cây ăn quả chủ lực trong toàn tỉnh gần 10.489 ha, trong đó cây
ăn quả có múi có diện tích lớn nhất, ngoài ra có một số loại cây ăn quả khác như nhãn, vải, mít, bưởi, hồng
Huyện Đà Bắc nằm ở phía tây bắc của tỉnh Hòa Bình, có độ cao 600m so với mặt nước biển thích hợp và đủ độ lạnh (CU) cho sự sinh trưởng, phát triển của cây hồng ngọt nhập nội MC1 Diện tích 779,04m2, dân số 52.381 người gồm 1 thị trấn
và 19 xã Đây cũng là nơi tập trung người đồng bào dân tộc, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn Một số cây trồng nông nghiệp phổ biến ở huyện Đà Bắc đó là lúa, ngô, mía, chè, nhãn, hồng Ngoài ra, đây cũng là một vùng gỗ, luồng nguyên liệu nổi tiếng của tỉnh (Cục Thống kê tỉnh Hòa Bình, 2012)
Trước đây hồng Nhân Hậu được trồng phổ biến và trở thành nguồn thu chính cho người nông dân Đà Bắc Những loài sâu bệnh hại chủ yếu trên hồng Nhân Hậu là ruồi đục quả, xén tóc, bệnh giác ban… Từ năm 2006 do giá trị của
Trang 22hồng Nhân Hậu xuống rất thấp (giá bán xung quanh 1.000 đồng/kg) do đó dẫn đến việc người nông dân bỏ không thu hoạch và phá đi Từ năm 2005 giống hồng MC1 được đưa vào trồng thử nghiệm tại Đà Bắc nhưng với diện tích nhỏ và chưa được người nông dân quan tâm Từ năm 2008 đến 2012 dự án của Trung tâm Nông nghiệp quốc tế Úc đã đưa kỹ thuật ghép cải tạo và thâm canh hồng MC1 đã cho kết quả tốt và góp phần nâng cao thu nhập, tránh được việc phá bỏ vườn hồng Nhân Hậu của người nông dân huyện Đà Bắc (Lê Đức Khánh và cs., 2012)
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC
2.3.1 Cây hồng và vai trò kinh tế
Hồng là loại cây ăn quả thuộc chi Diospyros, họ thị Ebenaceae, bộ thị
Ebenales có xuất xứ từ Trung Quốc, được trồng từ hơn 2000 năm trước Từ
Trung Quốc, hồng (chi Diospyros) được trồng ở các nước Châu Á Tại Châu Âu,
mặc dù hồng được ghi nhận từ thế kỷ 13 tuy nhiên được trồng phổ biến bắt đầu
từ thế kỷ 19 sau đó là ở Châu Mỹ Hiện nay Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Brazil
là các nước có diện tích trồng hồng lớn nhất trên thế giới
Người Châu Âu và vùng Địa Trung Hải quen với cây hồng và đánh giá nó rất cao Họ cho rằng hồng ăn ngọt, hương vị đậm đà và có tập quán dùng thìa để
ăn Ở nhiều nước Châu Á người ta đánh giá hồng có giá trị dinh dưỡng và phẩm
vị ngon hơn nhiều loại quả khác Ở Trung Quốc và Nhật Bản hồng là một trong
những loại hoa quả phổ biến trong khẩu phần ăn hàng ngày (Nissen et al., 2000)
Theo thống kê, diện tích hồng trên thế giới khoảng trên 300.000 ha và sản lượng khoảng hơn 2,4 triệu tấn, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm khoảng 5,76%, là một trong 5 loại cây trồng trên thế giới có tỷ lệ tăng trưởng nhanh nhất Trong 2,4 triệu tấn hồng được sản xuất trên toàn thế giới, sản lượng do Trung Quốc sản xuất tới 1,8 triệu tấn, chiếm 75%; Nhật Bản và Triều Tiên mỗi nước sản xuất khoảng 250.000 tấn Italia
là nước sản xuất hồng chủ yếu của vùng Địa Trung Hải với diện tích khoảng 2.650 ha
và 42.000 tấn, tiếp đến là Tây Ban Nha với diện tích 2.300 ha và 33.000 tấn Châu
Mỹ, diện tích trồng hồng ở Braxin khoảng 3.000 ha với sản lượng 45.000 tấn Diện tích còn lại là ở các nước khác như Mỹ, Israel, Úc, Niu-Di-Lân, Nga, (Lê Đức Khánh và cs., 2012)
Ở Trung Quốc diện tích trồng hồng năm 2007 đã lên tới 663.500ha, sản lượng 2.340.000 tấn và đứng đầu thế giới Quảng Tây, Hà Bắc, Hà Nam, Thiểm Tây,
Phúc Kiến là 5 tỉnh đứng đầu trong sản xuất hồng ở Trung quốc (Hu et al., 2013)
Trang 23Ngay từ năm 860, sách Trung Quốc đã viết hồng có 7 ưu điểm lớn đó là:
1 Sống lâu, tuổi tính hàng trăm năm
2 Lá dày, nhiều bóng râm, lá nhiều thì năng suất cao, đỡ tốn công làm cỏ, đặc biệt ở gốc
3 Không có chim làm tổ trên cây vì lá tuy rậm nhưng rụng vào mùa đông
4 Không có sâu đục thân và cành vì vỏ nhiều chất tannin Vỏ cây hồng là một loại vỏ đẹp, nhẵn ít bị sâu đục
5 Lá hồng xanh đậm ít bị sâu ăn Mùa hè lá đã đẹp, mùa thu đến càng đẹp
vì chuyển sang màu vàng rồi đỏ trước khi rụng Tuy nhiên ưu điểm này bị hạn chế ở Việt Nam do nhiệt độ cao lá chậm chuyển sang đỏ và thời gian lá đỏ không lâu còn ở vĩ tuyến Bắc lá đỏ giữ trên cây đến 3-4 tháng
6 Quả ngon, vị ngọt nhiều người thích ăn
7 Lá to bản khi rụng có thể dùng đóng sách (thời cổ người ta viết chữ trên
Tonewase, cũng được trồng khá phổ biến (Sato and Yamada, 2000)
Ngoài ra, Tây Ban Nha là một trong những nước có ngành sản xuất hồng lớn nhất và phát triển nhanh nhất trong khu vực Địa Trung Hải Cho đến nay, sản lượng hồng của Tây Ban Nha đã lên đến 70.000 tấn tập trung chủ yếu ở các vùng
Valencia, Andalucia và Huelva (Llácer and Badenes, 2002)
2.3.2 Dịch hại trên cây hồng và sâu hại nói riêng
Nghiên cứu thành phần sâu hại hồng ở Tây Ban Nha, Iranzo (2000) đã thu thập và xác định được 8 loài sâu hại và 1 loài nhện hại thuộc 6 bộ và 8 họ trong
Trang 24đó có 2 loài thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) đó là loài sâu đục thân Lobesia
botrana Denis & Schiffermuller thuộc họ Tortricidae và loài Sesamia nonagrioides
Lefebvre thuộc họ Noctuidae Hai loài bọ phấn Dialeurodes citri Ashmed và
Parabemisia myricae Kuwana; Ruồi đục quả Ceratitis capitata Wiedemann; Rệp Pseudococcus longispinus Targioni – Tozzeti; Bọ trĩ Heliothrips haemorrhoidalis Bouche; loài cánh cứng thuộc họ Curculionidae Pantomorus cervinus Boheman và loài nhện hại Colomerus vitis Pagenstcher
Trên giống hồng không chát Diospyros kaki từ tháng 4 đến tháng 5 năm
2003 Wakgari and Giloomee (2004) đã thu thập, xác định được 17 loài sâu hại thuộc 10 họ, 1 loài bọ rùa bắt mồi ăn thịt và 1 loài ốc sên Trong các loài sâu hại
có loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura với mức độ gây hại thấp; loài
Cryptophiebia leucotreta và Pseudococcus longispinus là những loài gây hại với
mức độ cao
Báo cáo của Cục Nông, Lâm Ngư Úc năm 2004 đưa ra thành phần sâu hại
là đối tượng kiểm dịch thực vật trên hồng của Nhật, Hàn Quốc và Isarel nhập khẩu vào Úc bao gồm 26 loài sâu bệnh hại trong đó có 24 loài sâu hại và 2 loại bệnh hại Báo cáo cũng tổng hợp thành phần sâu hại trên hồng tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Isarel, Mỹ và New Zealand trong đó ở Nhật Bản là 63 loài, Hàn Quốc là
116 loài, Israel 39 loài, Mỹ 45 loài và New Zealand 27 loài Tổng số loài sâu hại hồng thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera ở cả 4 nước là 48 loài Trong đó họ Arctidae
có 4 loài; Geometridae 4 loài; Hepialidae 1 loài; Limacodidae 6 loài; Lymantriidae 5 loài; Nymphalidae 1 loài; Oecophoridae 1 loài; Pyralidae 5 loài; Psychidae 1 loài; Saturniidae 1 loài; Sessiidae 1 loài; Tortricidae 9 loài và 8 loài
thuộc họ Noctuidae đó là Acronicta rumicis Linnaeus; Adris tyrannus amurensis Staudinger; Artena dotata Fabricius; Blenina senex Butler; Eudocima fullonia Clerck; Lagoptera juno Dalman; Sesamia nonagrioides Lefevbre và Spodoptera
litura Fabricius (Department of Agriculture, Fisheries and Forestry; Australia
Government, 2004)
Ở Mỹ, Holdeman (2003) đã thu thập được 5 loài sâu ăn lá thuộc họ
Noctuidae gây hại trên hồng đó là Alypia wittfieldii; Catocala piatrix; Hypocala
andremona; Hysorophra monilis và Renia adspergillus Tác giả Russell and
Brinen (2007) đã xác định một số loài sâu hại chính trên hồng đó là rệp sáp, rầy, xén tóc và sâu đục thân gây hại trên thân và lá cây, bọ xít gây hại trên quả Một số
loài rệp chủ yếu là rệp sáp và rệp vảy Rệp sáp gồm các loài Ceroplastes ceriferus;
Trang 25C.floridensis; C.hesperidium; Kilifia acuminata và Parthenoleucanium corni Rệp
vảy bao gồm các loài Hemiberlesia rapax, Pseudaulacaspis pentagona Ngoài ra, Hacker and Hausmann (2010) đã thu thập được 155 loài ngài thuộc họ Noctuidae
bộ Lepidoptera tại Bogue, Mauritania và Yemen trong đó có loài sâu ăn lá
Hypocala rostrata Fabricius thu thập được trên hồng
Ở Upper Kula, đảo Maui, Hawaii giống hồng Diospyros kaki L bị gây hại nặng bởi ruồi đục quả địa trung hải Ceratitis capitata Wiedemann Sự gây hại
của chúng dẫn đến việc rụng quả hàng loạt, gây ảnh hưởng rất lớn đến việc xuất khẩu hồng (McQuate and Sylva, 2005)
Ngoài ruồi đục quả, cây hồng ở Mỹ còn bị một số loài sâu hại như rệp sáp, rầy, xén tóc và sâu đục thân gây hại trên thân và lá cây, bọ xít gây hại trên quả Ngoài ra một số loài sâu hại khác đó là rầy hồng, bọ trĩ, một số loài sâu đục thân cũng là sâu hại chính trên hồng, trong đó ngài cánh trong là loài gây hại rất quan
trọng (Russell and Brinen, 2007) Loài rệp Ferrisia gilli Gill đã được tìm thấy lần
đầu tiên năm 1990 khi chúng tấn công vào cây hồ trăn ở California và vào năm
2006, ngoài ra chúng còn được tìm thấy ở trên mận, hồng, đào và một số loại cây
ôn đới khác Chúng tấn công gây hại trên thân, cành, lá và cả trên quả Sự gây hại của chúng dẫn đến năng suất và phẩm chất quả giảm, gây hại trên lá làm cây giảm khả năng quang hợp Sự gây hại của chúng cũng dẫn đến các loại nấm muội
đen và các loại nấm khác tấn công (Haviland, 2006)
Loài rầy Trioza diospyri Ashmead được tìm thấy lần đầu tiên năm 1881 ở
Florida trên hồng Chúng gây hại trên tất cả các giống hồng bản địa cho đến các giống nhập ngoại từ Nhật bản, Châu Á Chúng tấn công chích hút vào lá non và chồi non, dẫn đến lá bị quăn queo, xoăn, mất khả năng quang hợp và dẫn đến giảm năng suất và phẩm chất của hồng (Mead, 2008) Ngoài rầy, các loài sâu đục thân thuộc họ xén tóc xuất hiện gây hại nhiều ở phía đông đến nam Mỹ từ New England tới Texas và Arizona Cây hồng, hồ đào là những loại ký chủ ưa thích của chúng, ngoài ra chúng còn gây hại trên rất nhiều loại cây trồng khác Thời gian xuất hiện gây hại nặng vào cuối mùa hè, đây là thời gian thích hợp cho chúng đẻ trứng (Hyche, 1995)
Tại miền Tây Ấn Độ, Sivasankaran et al (2011) đã thu thập và xác định được 15 loài thuộc họ phụ Catocalinae, Noctuidae bằng bẫy đèn đó là Hypocala
rostrata Fabricius; Hypocala biarcuata Walker; Hypocala deflorata Fabricius;
Trang 26Hypocala lativitta Moore; Anomis mesogona Walker; Anomis privata Walker; Polydesma lindsayi Hampson; Lacera noctilio Fabricius; Sphingomorpha chlorea Cramer; Oxyodes scrobiculata Fabricius; Serrodes campana Guenee; Chrysopera combinans Walker; Homoptera glaucinans Guenee; Hulodes caranea Cramer; Oraesia emarginata Fabricius Sekhon (2015) đã thu thập và
xác định được 26 loài thuộc họ Noctuidae tại tỉnh Chamba thuộc 7 họ phụ trong
đó có loài Hypocala subsatura Guenee
Thành phần sâu bệnh hại chủ yếu trên hồng ở Đài Loan gồm một số loại
bệnh như Pseudocercospora kaki, Colletotrichum gloeosporioides, Phyllactinia
kakicola、Botrytis cinerea, Phomopsis sp., Pestalotia diosopyri Một số loài sâu
hại gồm rệp xơ trắng Phellinus noxius, ruồi đục quả Bactrocera dorsalis, nhện
Oligonychus litchi Các loài sâu ăn lá hồng bao gồm loài Hypocala deflorata và Hypocala subsatura (Cai and Hua, 2013)
Ở Hàn Quốc, trong tất cả các loại cây ăn quả hồng là cây có diện tích lớn thứ hai Điều tra phỏng vấn các hộ trồng hồng cho thấy rằng nhóm bọ xít gây hại phổ biến nhất (chiếm 73% tổng số nông họ phỏng vấn), sau đó đến nhóm rệp (19%)
Trong nhóm rệp thì loài Eriococcus lagerstroemiae, Ceroplastes pseudoceriferus và
Phenacoccus aceris là 3 loài gây hại chính Ngoài nhóm rệp, tác giả còn chỉ ra 3 loài
bọ xít gây hại quan trọng trên hồng là Halyomorpha halys; Plautia stali và Riptortus
clavatus Loài bọ trĩ Ponticulothrips diospyrosi được tìm thấy lần đầu tiên ở Hàn
Quốc vào năm 2000 nay đã phát triển lan tới miền nam Hàn Quốc Diện tích hồng bị gây hại bởi bọ trĩ lên tới 446ha vào năm 2005 Ngoài ra, tác giả còn ghi
nhận sự gây hại của một số loài sâu hại khác trên hồng đó là ngài Synanthedon
tenuis và nhện đỏ Tetranychus urticae (Son et al., 2009) Kim and Yoo (2012) đã
thu thập và xác định được 160 loài thuộc 15 họ thuộc bộ Lepidoptera tại đảo
Biguemd trong đó có loài Hypocala subsatura, thu được vào tháng 6
Hadley (2008) cho biết loài bọ xít Halyomorpha halys có mặt ở phía đông
Châu Á, trong đó có Nhật, Trung Quốc và Hàn Quốc Ngoài ra, chúng còn được ghi nhận ở California và New Jersey vào năm 2001 Chúng là loài gây hại trên rất nhiều loại cây trồng trên thế giới Đối với cây ăn quả chúng gây hại nhiều trên mận, đào, hồng, táo và trên một số loại đậu ăn quả Chúng tập trung gây hại trên lá non và các chồi non, sự gây hại của chúng dẫn đến chồi, lá non bị khô, héo dẫn đến chết làm ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây Ngoài ra chúng còn gây hại trên quả non
Trang 272.3.3 Đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại hồng
Kết quả nghiên cứu của Kumar et al (1989) cho biết ở Ấn Độ, sâu non loài Hypocala rostrata xuất hiện từ tháng 4 và mật độ cao nhất vào tháng 10 năm
1985 Vào tháng 7 và tháng 8, thời gian phát dục của sâu non Hypocala rostrata
là 18 ± 1,41 ngày Thời gian phát dục của nhộng từ 6,17 ± 0,41 đến 15,89 ± 4,43 ngày vào tháng 4 và tháng 11
Tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc loài Hypocala subsatura Guenee là loài
dịch hại chính trên cây hồng không chát Có 2 đến 3 lứa trong 1 năm, giai đoạn nhộng qua đông trong đất Trong năm, trưởng thành bắt đầu xuất hiện từ tháng 5
và đẻ trứng, kéo dài đến tháng 11 Sâu non xuất hiện gây hại từ tháng 5 đến tháng
12 Sâu non lứa thứ 1 gây hại trong tháng 5 và kéo dài tới tháng 7 Lứa thứ 2 xuất hiện vào tháng 6 tới tháng 8 Lứa thứ 3 từ tháng 8 đến tháng 12 Từ tháng 12 đến tháng 4 qua đông trong đất ở dạng nhộng (Jinnian and Sheng, 1993) Trong khi đó,
trên hồng ở tỉnh Giang Tây loài Hypocala moorei Butler là loài sâu hại chính Có 2
thế hệ trong 1 năm Vị trí hóa nhộng dưới mặt đất từ 6-8 cm Trưởng thành vũ hóa vào tháng 6 và bắt đầu giao phối đẻ trứng trong vòng 5-6 ngày Trứng được đẻ thành từng quả đơn lẻ trên lá non, lộc và chồi non, nở sau 5-7 ngày Sâu non có 5 tuổi, thời gian phát dục từ 17-19 ngày Thời gian phát dục của pha nhộng từ 16-19
ngày Xử lý thuốc gốc deltamethrin hiệu quả vào giai đoạn sâu non tuổi 1-3
(Zhang, 1989)
Trên giống hồng Fuyu ở nhiệt độ 26±1˚C, ẩm độ 70±10% với các công thức thức ăn nhân tạo khác nhau (thành phần chính là đậu trắng, bột mỳ, bột cám,
bột váng sữa và men bia) vòng đời của Hypocala andremona là 39,1 ngày và tỷ
lệ sống sót là 15,2% Thời gian sống của trưởng thành đực và cái lần lượt là 15,6
và 16,8 ngày và số trứng trung bình của 1 trưởng thành cái là 41,1 trứng
(Bavaresco et al., 2006)
Đối với các loài sâu hại hồng trong nhóm đục thân thuộc họ Sesiidae, bộ cánh vảy Lepidoptera, thuộc nhiều giống khác nhau việc xác định được vòng đời của chúng là yếu tố quyết định để tiến hành phòng trừ cũng như quản lý sự gây hại đạt kết quả tốt Trứng được đẻ vào trong thân cây, thời gian phát triển của trứng khoảng 7-10 ngày Sau khi trứng nở, sâu non đục ngay vào lớp vỏ cây, sau đó đục dần lên phía trên và chất thải của chúng đùn ra ngoài đường đục Sâu non tuổi nhỏ
sẽ lột xác lên tuổi tiếp theo sau 12 ngày sau khi nở Phòng trừ sâu non tuổi nhỏ dễ hơn nhiều so với sâu non tuổi lớn Sâu non đục ở trong thân cây trong suốt mùa Hè
Trang 28và qua mùa Đông ở tuổi 1 đến 4 Sâu non hóa nhộng vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân và thời gian từ 2-4 tuần tùy thuộc vào nhiệt độ và ẩm độ Ở nhiệt độ thích hợp, trưởng thành vũ hóa vào mùa xuân - hè, có thể từ 1-2 đợt trong một mùa
(Nissen et al., 2006)
Trưởng thành loài ngài cánh trong gây hại trên hồng xuất hiện vào đầu mùa xuân, 1 năm có 1 lứa, nhộng có thể dễ dàng được tìm thấy ở lớp vỏ cây ở phần gốc với đa phần lộ ra bên ngoài Trong các loài dịch hại thì rầy là loài sâu hại lá đầu tiên xuất hiện vào mùa xuân Chúng gây hại làm cho lá bị quăn queo
và biến dạng Trên cơ thể của trưởng thành có một lớp bột màu trắng do vậy rất khó trong phòng trừ Ngoài ra, rầy còn chích hút vào các chồi non làm cho cây bị còi cọc, sinh trưởng kém Loài xén tóc gây hại chủ yếu trên các giống hồng cũ và cây bồ đào Vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10 con cái đẻ trứng vào bên trong của chồi ở cuối đoạn cành Vào mùa xuân khi cây hồng kết thúc giai đoạn rụng lá, các loài sâu hại trong rừng cũng tấn công và gây hại trên chồi và lộc non, một số loài cánh cứng ăn lá vào ban đêm (Russell and Brinen, 2007)
Hohmann et al (2011) đã nuôi sinh học loài Hypocala andremona Cramer
ở Brasil trên 2 giống hồng Atago và Giumbo trong phòng thí nghiệm với mức nhiệt độ 27±1˚C; ẩm độ 65±10% từ năm 2001 đến 2002 tại Londrina, bang Parana Thời gian phát dục của sâu non khi nuôi bằng lá hồng Giumbo dài 17,8±0,17 ngày, dài hơn khi nuôi bằng lá hồng Atago là 15,8±0,27 ngày Giai đoạn nhộng khi nuôi bằng lá hồng Giombo ngắn hơn Atago, 12±0,29 ngày so với 13,3±0,17 ngày Tỷ lệ sâu non hóa nhộng là 60,8 và 38,8% khi nuôi bằng lá hồng Giombo và Atago Tỷ lệ vũ hóa trung bình là 93% Thời gian tiền đẻ trứng và thời gian phát dục của trứng lần lượt là 4 ngày và 2,1 ngày Tổng số trứng đẻ là 524,7 trứng, tỷ lệ nở là 77% Thời gian sống của trưởng thành dài 12,9 ngày Trưởng thành thích đẻ trứng trên lá non ở tầng trên của cây Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Hallman and Knight ,1993 về tỷ lệ sống sót của loài này từ 0%
trên giống Diospyros montana Roxb đến 64% trên giống D.digyna Thời gian phát dục của sâu non dài 19 ngày với thức ăn là D.digyna và 28-32 ngày với thức
ăn là Diospyros spp., tỷ lệ sâu non hóa nhộng là 41 và 100% Thời gian phát dục của nhộng từ 12 đến 13 ngày Loài Hypocala andremona (Lepidoptera:
Noctuidae) gây hại trên 8 giống hồng ở Miami, Florida, Mỹ trong đó có giống
hồng Nhật Bản Diospyros kaki Giống D.digyna là thức ăn ưa thích nhất Không
thu thập được các loài ký sinh trên đồng ruộng
Trang 29Trên hồng ở Đài Loan, Trung Quốc bị một số loài sâu ăn lá gây hại trong
đó có loài Hypocala deflorata Esper Sâu non gây hại trên các ngọn non, khi mới
nở thì gây hại trên ngọn non và lá non, gặm cụt ngọn non hoặc để lại các vết khuyến trên lá Khi cây ra quả non thì sâu non đục vào bên trong quả non gây hại bên trong quả Chúng phân bố ở các vùng bằng phẳng đến địa hình núi, trưởng thành kích thước nhỏ đến trung bình, xuất hiện quanh năm nhưng chủ yếu gây hại nặng vào mùa hè và mùa thu (Cai and Hua, 2013)
Đặc điểm hình thái của loài Hypocala deflorata Esper được Cai and Hua
(2013) mô tả như sau: Trưởng thành dài khoảng 9 ~ 20mm, sải cánh dài 21 ~ 35mm,
cơ thể màu nâu xám hoặc nâu, cánh trước có màu xám hoặc xám tím, trên cánh có nhiều chấm nhỏ màu đen Tấm lưng gồ lên, từ giữa cánh đến đầu cánh có 1 vân hình quả thận màu đen, mép ngoài cánh có vân lượn sóng Trưởng thành đực có màu đậm hơn trưởng thành cái Các đốt bụng cuối con cái to hơn con đực Trứng có màu trắng sữa, hình bán cầu,đường kính trung bình khoảng 0.2 ~ 0.3mm, viền nắp trứng có 1 vân màu hồng Chiều dài sâu non tuổi cuối trung bình khoảng 30 ~ 35mm Màu sắc
cơ thể sâu non có sự biến động lớn: đầu có màu vàng nâu, cơ thể màu xanh nhạt, 2 bên cơ thể mỗi bên có 1 đường vân màu đen nhạt Nhộng hình trụ, chiều dài nhộng khoảng 10 ~ 20mm, màu nâu đỏ đến nâu đen, đốt bụng thứ tư có hình trụ tròn và có bề ngang bằng với bề ngang của phần ngực Cuối bụng có 4 gai xếp hành 1 hàng và 2 gai ở giữa thì dài hơn Nhộng qua đông trong đất Thời gian phát dục của nhộng từ 3-5 ngày, Từ tháng 5 đến cuối tháng 6 thì trưởng thành của lứa thứ nhất vũ hóa
2.3.4 Biện pháp phòng chống sâu hại hồng
Biện pháp sinh hoc
Loài tuyến trùng Steinernema carpocapsae đã được Gill and Raupp
(1992) nghiên cứu và ứng dụng để phòng trừ các loài ngài cánh trong đục thân hồng ở vùng Bắc Mỹ của Mexico Kết quả chỉ ra rằng ở vườn sử dụng tuyến trùng để phòng trừ chỉ điều tra thấy 20% số cây có ngài cánh trong đục thân, thu được 1 sâu non trong khi ở vườn không sử dụng biện pháp phòng trừ, có tới trên 50% số cây trong vườn bị hại và thu được trung bình khoảng 2-3 sâu non/cây Trung bình mật độ sâu non ngài cánh trong/cây ở vườn không phòng trừ là 1,3con/cây trong khi đó ở vườn sử dụng tuyến trùng là 0,2 con/cây
Hai loài ong ký sinh Trichogramma chilonis (Trichogrammatidae) và
Euplectrus plathypenae (Eulophidae) được Kessing et al (1993) tìm thấy ở
Trang 30Hawaii có thể hạn chế số lượng quần thể ngài chích hút quả trên hồng Othreis
fullonia (Clerk) Ngoài ra, còn có 5 loài bắt mồi ăn thịt và nấm ký sinh tấn công
ngài chích hút quả Biện pháp phòng trừ chủ yếu là bắt bằng tay đối với trưởng thành (khi mật độ thấp) Ngài chích hút quả ưa thích ánh sáng tím và trắng do đó
có thể sử dụng bẫy đèn để bắt trưởng thành Một số biện pháp khác sử dụng để làm giảm tác hại của ngài chích hút quả đó là vệ sinh đồng ruộng, phát quang bụi rậm, bao quả, xông khói và thu hoạch quả sớm để tránh sự gây hại của trưởng thành
Tác giả Hohmann and Lovato (2003) đã thu thập và tìm thấy ong ký sinh
trứng loài sâu ăn lá Hypocala andremona ở Londrina và Arapongas, Brazil bằng
phương pháp thu hàng tuần số lượng trứng ở 2 cành trên 1 cây, mỗi vườn thu 10 cây từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 2 năm 2001.Trứng được mang về và tiếp tục theo dõi trong phòng thí nghiệm ở điều kiện nhiệt độ 26±1˚C, ẩm độ 60±10% Kết
quả đã thu thập và phân loại được 3 loài ong ký sinh đó là Trichogrammatoidea
annulata De Santis, Trichogramma pretiosum Riley và Trichogramma bruni
Nagaraja Ở Arapongas chỉ thu thập được loài Trichogramma pretiosum Riley
Georgie (2003) đã thu thập và xác định được 38 loài thiên địch ký sinh và bắt mồi thuộc bộ 2 cánh và bộ cánh màng đối với sâu non của ngài cánh trong tiện vỏ trên cây hồng Trong đó đặc biệt là các loài ong ký sinh sâu non thuộc họ
Braconidae Ở Úc đã tìm ra được loại chất dẫn dụ (Z,Z)-3,13-octadecadien-1-OAc and (Z,Z)-3,13-octadecadien-1-ol đối với trưởng thành loài ngài cánh trong
Carmenta chrysophanes Meyrick (Lepidoptera: Sesiidae) gây hại trên một số cây
trồng như táo, lê… Thí nghiệm ngoài đồng ruộng cho thấy rằng hiệu quả thu
thập số lượng con đực loài ngài cánh trong lên tới 70-95% (Nissen et al., 2006)
Để phòng trừ loài ruồi đục quả địa trung hải Ceratitis capitata (Wiedemann) loài ong ký sinh Opius humilis và Diachasma tryoni đóng vai trò rất quan trọng trong cân bằng và quản lý mật độ ruồi trong tự nhiên (Vargas et al., 2010)
Biện pháp hóa học
Tất cả các loài rệp gây hại trên hồng ở Nhật Bản được sử dụng một biện pháp chung để phòng trừ đó là khi thấy trứng và rệp tuổi nhỏ xuất hiện thì sử dụng dầu khoáng kết hợp với thuốc trừ sâu để phun phòng trừ khoảng 2 lần, 10 –
14 ngày/lần Loài bọ xít chủ yếu gây hại trên quả nhưng chỉ tập trung vào một số giống hồng không chát (Kawai, 1980)
Trên hồng, một số loại thuốc trừ sâu đã được thử nghiệm phòng trừ đối
Trang 31với một số loài sâu hại chính như Amdro trừ kiến, Pirellin, Provado 1.6F trừ rệp, rầy, bọ phấn , Acramite trừ nhện và Whitmire PT270 Dursban trừ một số loài cánh cứng tuy nhiên khi mật độ sâu hại vượt trên ngưỡng gây hại kinh tế hoặc
đã xuất hiện trong một thời gian dài với số lượng cao thì mới tiến hành phòng trừ bằng thuốc trừ sâu Ngoài ra còn khuyến cáo sử dụng một số loại thuốc sinh học (Russell and Brinen, 2007)
Ở Hàn Quốc, sâu bệnh hại là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến sản xuất hồng Tất cả các người trồng hồng đều phun thuốc trừ sâu 6 - 9 lần/năm Đối với các loài rệp hại người dân sử dụng thuốc trừ sâu thường xuyên để phòng trừ, đặc biệt là sử dụng dầu khoáng phun vào mùa đông có tác dụng rõ rệt trong việc
giảm mật độ rệp (Son et al., 2009)
Cây hồng ăn quả ở Georgia bị tấn công bởi rất nhiều loài côn trùng khác nhau, trong đó đặc biệt là rầy, rệp và các loài sâu đục thân Trong điều kiện bình thường, không sử dụng thuốc, mật độ sâu hại được điều chỉnh bởi nhiều yếu tố tự nhiên như bắt mồi ăn thịt, ký sinh và nấm bệnh Để tránh ảnh hưởng tới các loài có ích dầu khoáng là biện pháp được khuyến cáo để phòng trừ các loài sâu hại trên hồng (Krewer, 2012) Việc sử dụng thảo dược cộng với dầu khoáng trước khi thu hoạch 3 tháng cho đến khi thu hoạch không làm ảnh hưởng đến chất lượng và mẫu
mã của quả hồng, phun 2 tuần một lần để phòng trừ và hạn chế mật độ sâu hại Sử dụng dầu khoáng cộng với thuốc trừ sâu có hiệu quả bằng 2 lần khi chỉ sử dụng thuốc trừ sâu Sử dụng dầu khoáng cộng với thuốc trừ sâu 14 ngày trước khi thu hoạch có thể giữ được hiệu lực dài hơn so với phun trực tiếp Trong giai đoạn thu hoạch thì quả là nơi tập trung nhiều loài sâu hại nhất, sử dụng dầu khoáng không trộn thuốc có thể bảo vệ quả lâu dài hơn so với sử dụng thuốc trừ sâu, ngoài ra còn bảo đảm sản phẩm an toàn, giảm tính kháng thuốc của sâu hại trong những vụ sau (Gaskin, 1996)
Biện pháp bẫy bả
Thí nghiệm phòng trừ ruồi đục quả địa trung hải Ceratitis capitata bằng
cách sử dụng bả ruồi phun vào vườn cây cà phê xung quanh vườn hồng cho kết quả tương đối khả quan vì cà phê cũng là một trong những ký chủ ưa thích của loài ruồi này Để hạn chế mật độ quần thể ruồi, bả ruồi được sử dụng phun vào thời gian bắt đầu có quả, khi đó sẽ phòng trừ được cho cả 2 vườn cà phê và vườn hồng (McQuate and Sylva, 2005)
Trang 32Biện pháp quản lý tổng hợp
Ở Hawaii, phòng trừ ruồi đục quả Bactrocera dorsalis trên hồng bằng cách
tổng hợp các biện pháp như vệ sinh đồng ruộng, chôn lấp quả rụng, sử dụng bẫy dẫn dụ và sử dụng một số giống không mẫn cảm với ruồi đục quả Thành phần thiên địch trên ruồi đục quả ở Hawaii đã thu được 32 loài Trong số các loài đó thì
1 loài bắt mồi ăn thịt và 13 loài ong ký sinh đóng vai trò quan trọng trong quản lý
ruồi đục quả Ba loài ong ký sinh Opius longicaudatus var malaiaensis (Fullaway), O.vandenboschi (Fullaway), và O.oophilus (Fullaway) đã được ứng
dụng để phòng trừ trên diện rộng Ngoài ra, sử dụng bả protein kết hợp với thuốc hóa học để tiêu diệt trưởng thành là biện pháp được ứng dụng rộng rãi ở Hawaii (Mau, 2006)
2.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
2.4.1 Cây hồng và vai trò kinh tế
Hồng là một loại cây ăn quả thuộc chi Thị (Diospyros) Quả hồng sắc
vàng cam đến đỏ cam tùy theo giống; cỡ nhỏ đường kính dưới 1 cm cho tới cỡ lớn đường kính đến 9 cm Dáng quả hình cầu, hình con cù, hay dạng quả cà chua
bẹp Đài hoa thường dính với quả khi chín
Quả hồng khi chín có phẩm vị thơm ngon có thể sử dụng để ăn tươi, sấy khô, làm mứt, bánh nướng… hoặc sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp mỹ phẩm để làm kem dưỡng da Ngoài ra, các bộ phận khác của quả hồng còn có nhiều giá trị dược lý khác như sử dụng ăn tươi có tác dụng chữa táo bón, trĩ, giảm sốt, giảm căng thẳng, chữa say rượu, phòng trừ bướu cổ; quả hồng sấy khô sử dụng để chữa bệnh viêm phế quản, bệnh ho khan, trừ giun sán, cầm máu, long đờm… ; cuống và đài hoa được dùng để chữa ho và nấc rất tốt, dịch quả xanh được sử dụng để chữa cao huyết áp, chất vitamin và hợp chất có trong quả hồng
có tác dụng kháng khuẩn, chống dị ứng và chữa cao huyết áp rất tốt (Lê Đức Khánh và cs., 2004)
Hồng được coi là một loại quả quý, trước đây bày bàn thờ để cúng và dùng làm quà biếu trong những ngày lễ tết do mã quả đẹp, vị ngọt hợp với khẩu
vị của người Việt Nam Một số giống được trồng để lấy gỗ, một số được trồng lấy quả Quả hồng có rất nhiều mầu sắc khác nhau từ vàng cam cho đến cam đỏ sẫm tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi giống Kết quả phân tích hàm lượng các chất dinh dưỡng trong quả hồng tươi (nặng 168g) của các nhà khoa học Mỹ như sau: nước 139,4g (82,98%); chất béo 0,3g (0,18%); đạm 1g (0,59%); bột đường 31,2g
Trang 33(18,57%); caroreis 18mg; vitaminC 13mg; vitaminB12 0,03mg; vitaminA 3640UI; vitaminB1 0,5mg; folate 13mg; niacin 0,2mg; natri 3mg; canxi 3mg; magie 15mg; kẽm 0,18mg; mangan 0,596mg; kali 270mg; photspho 28mg; sắt 0,26mg; đồng 0,19mg Người Mỹ đã gọi hồng là mỹ phẩm phương Đông (Hà Minh Trung và
Vũ Thị Quỳnh Hoa, 2004)
Diện tích trồng hồng ở Việt Nam tăng lên nhanh từ năm 1998 với 2.575ha lên 4.713ha năm 2000; năm 2004 là 4.827ha và tới năm 2006 là 9.080ha Năng suất hồng năm từ năm 1998 tới 2004 gần như nhau lần lượt là 4,6 tấn/ha năm 1998; 4,62 tấn/ha năm 2000 và 4,7 tấn/ha năm 2004 Năm 2006 năng suất rất cao lên tới 7,14 tấn/ha nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với sản lượng của Úc (35 tấn/ha) Sản lượng hồng năm 1998 là 11.845 tấn tăng lên 21.774 tấn năm 2000; năm 2004 sản lượng là 22.687 tấn và năm 2006 là 64.831 tấn
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, hồng là một trong những cây ăn quả được lựa chọn làm cây mũi nhọn trong việc thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá, phủ xanh đất trống đồi trọc Thực tế nhiều vùng trồng hồng tập trung đã cho hiệu quả kinh tế cao như: vùng hồng Đà Lạt - Lâm Đồng, Lục Ngạn - Bắc Giang, Lục Yên - Yên Bái, vùng Bảo Lâm - Lạng Sơn và Đà Bắc - Hoà Bình Các tỉnh có diện tích trồng hồng lớn tập trung là Lạng Sơn 2.200 ha chiếm 24,23% diện tích cả nước; Bắc Giang 1.562 ha chiếm 17,2%; Thái Nguyên 1.565ha chiếm 17,24%; tiếp theo đó đến các tỉnh Hòa Bình 615 ha (6,77%), Yên Bái 631,5ha (6,96%) và Lâm Đồng 700 ha (7,71%) Ngoài ra, hồng còn được trồng nhiều ở một số tỉnh khác như Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Phòng và Phú Thọ.Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là hồng ở nước ta khá đa dạng về giống, song lại rất ít giống có giá trị hàng hoá cao, chủ yếu thuộc nhóm hồng chát Nhiều giống khi đã qua các khâu chế biến nhưng vẫn còn vị chát, đặc biệt khi chế biến ở dạng sấy khô làm cho sản phẩm bị biến màu, kém hấp dẫn, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường tiêu dùng (Lê Đức Khánh và cs., 2012)
Trên cơ sở mức tiêu thụ hồng ở nhiều nước phát triển ở châu Á như Hàn Quốc và Nhật Bản và với mức sống đang được nâng cao ở Việt Nam, George và Nissen (2005) ước tính nhu cầu hồng ở thị trường nội địa lên tới 200 triệu đôla
úc Hơn nữa, vì hồng ở Việt nam thu hoạch sớm hơn các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc từ 2 - 3 tháng, do đó Việt Nam có lợi thế cạnh tranh trong khu vực, có tiềm năng phát triển sản phẩm quả chín sớm xuất khẩu sang các nước láng giiềng châu Á và một số thị trường khác (George and Nissen, 2005)
Trang 34Hiện nay sản xuất hồng của Việt Nam còn ở mức khiêm tốn Diện tích và sản lượng còn ít, năng suất thấp, tổng sản lượng khoảng trên 50 ngàn tấn năm
2006 Ngoài ra, năng suất hồng ở Việt Nam còn rất thấp, dưới 15 tấn/ha Năng suất trung bình chỉ đạt 6 - 8 tấn/ha, trong khi đó năng suất ở Úc đạt từ 25 – 35 tấn/ha Việt Nam có một số vùng trồng hồng và mỗi vùng đều có những giống thơm ngon nổi tiếng Ở Đà Lạt, Lâm Đồng có các giống chủ yếu thuộc loài
Diospyros kaki Linnaeus Đây cũng là loài được trồng phổ biến ở Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc và các tỉnh phía Bắc nước ta (George and Nissen, 2005)
Theo Lê Đức Khánh và Hà Minh Trung (2006) một số giống hồng phổ biến được trồng ở Việt Nam là hồng Pome tròn, hồng trứng lốc, hồng trứng muộn, hồng chén Ngoài ra còn một số giống khác như hồng quế hương, hồng gạch, hồng son, hồng hỏa tiễn……
Ở Thừa Thiên Huế các giống hồng đều được di thực từ các tỉnh phía Bắc và
từ Đà Lạt ra Giống chủ yếu là giống hồng vuông Huế với quả hình vuông dài, vai rộng và thóp về phía dưới Khi chin vỏ quả màu đỏ, thịt quả dẻo, ngọt, không hạt
Ở Hà Tĩnh hồng được trồng chủ yếu ở 2 xã Thạch Đài và Thạch Lĩnh ở vùng Thạch Hà với diện tích trồng chiếm 35% tổng diện tích cây ăn quả Giống được trồng phổ biến là hồng vuông và hồng tròn
Vùng Nam Đàn, Nghệ An có nhiều giống được trồng như hồng chuột, hồng gáo, hồng tròn dài, hồng tiên, hồng cậy vuông……
Lý Nhân, Hà Nam có 2 giống hồng đặc sản là Nhân hậu và hồng Văn Lý được trồng chủ yếu ở 2 xã Hòa Hậu và Văn Lý
Vùng Thạch Thất, Hà Nội chủ yếu trồng giống Thạch Thất hay còn gọi là Yên Thôn với đặc tính sinh trưởng khỏe, thích nghi rộng, săng suất cao được nhiều người ưa chuộng
Vĩnh Phúc có một số giống nổi tiếng như hồng hạc trì, hồng tiến, hồng trạch và một số giống khác như hồng trứng, hồng ngâm…
Vùng Cao Lộc, Lạng Sơn có giống hồng ngâm không hạt Bảo Lâm đặc sản nổi tiếng với hương vị thơm ngon (Lê Đức Khánh và Hà Minh Trung, 2006)
Theo Trần Thế Tục và cs (1995) ở Việt Nam có 3 loại hồng chính:
- Hồng lông (D.tonkinensis Linnaeus): phân bố rải rác ở khắp miền Bắc
Quả to, tròn hoặc hơi dẹt; khi còn xanh vỏ quả có phủ lớp lông tơ, nhiều chất
Trang 35nhờn và chấm đen Phẩm chất loại này kém (có vị chát và hôi) nên không được người tiêu dùng ưa chuộng
- Hồng cậy (D.lotus Linnaeus): xuất hiện rải rác ở các tỉnh phía Bắc Quả
tròn, dẹt, bé, trọng lượng chỉ 10g/quả, trước đây người dân thường dùng lấy nhựa phất quạt
- Hồng trơn (D.kaki Thundberg): phát triển nhiều ở các tỉnh phía Bắc và Đà
Lạt Lá nhẵn, hình bầu dục hoặc elip, mặt trên lá màu xanh sẫm, mặt dưới có lông màu xanh nhạt hoặc trắng Cây sinh trưởng khỏe Phẩm chất tùy thuộc vào giống Trong 3 loài trên chỉ có hồng trơn là có giá trị thương mại cao Loại này được phân làm 2 nhóm dựa vào phương pháp khử chát là hồng giấm và hồng ngâm
- Hồng ngâm: chất chát (tanin) ở dạng dễ hòa tan, vì vậy hồng được ngâm
trong nước sạch để tanin hòa tan vào nước và không còn vị chát ngay trong trạng thái cứng Một số giống hồng ngâm phổ biến ở nước ta như: hồng Bảo Lâm, Lạng Sơn, hồng Quản Bạ - Hà Giang, hồng ngâm Lục Yên, Yên Bái, hồng Thạch
Hà, Hà Tĩnh,
- Hồng giấm (hồng đỏ): chất tanin thuộc dạng khó tan, nhưng có thể
chuyển thành nhiều chất khác (trong đó có đường, vì vậy làm tăng độ ngọt cho quả) thông qua quá trình tác động của nhiệt độ hoặc các chất làm chín (đốt hương, đất đèn, ethylen ) Sau quá trình chín, hồng trở nên mềm và dễ bị tổn thương, bởi vậy đòi hỏi cao về bao bì đóng gói và vận chuyển Các giống hồng
đỏ phổ biến ở nước ta như hồng Thạch Thất, hồng Nhân Hậu, hồng Sơn Dương,
hồng Đà Lạt
2.4.2 Dịch hại trên cây hồng và sâu hại nói riêng
Ở Việt nam, cho đến nay các điều tra về sâu hại hồng chưa nhiều Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật công bố năm 1999 thu được 9 loài sâu hại
trên hồng thuộc 5 bộ, 9 họ đó là các loài bọ cánh cứng Adoretus tenuimaculatus Waterhouse; Colasposoma dauricum auripenne Motschulsky; Paracycnotrachelus
montanus Jekel; câu cấu Platymycterus sieversi Reitter; 2 loài ve sầu bướm Ricania speculum Walker và Lawana imitata Melichar; sâu đục thân Zeuzera coffeae Neintn; ruồi đục quả Bactrocera dosalis Hendel và bọ xít xanh Nezara viridula Linnacus
Trên cây hồng ngọt nhập nội ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La,
Trang 36Lào Cai, Hòa Bình đã thu thập được 9 loài sâu hại gồm có 2 loài bọ ăn lá Adoretus
tenuimaculatus Waterhouse và Colasposoma dauricum auripenne Motschulsky, 1
loài ve sầu bướm Lawana imitata Melichar, 1 loài bọ cánh cứng
Paracycnotrachelus montanus, câu cấu xanh nhỏ Platymycterus sieversi Reitter,
ruồi đục quả Bactrocera dosalis Hendel, 1 loài sâu ăn lá (chưa xác định tên), 1 loài
bọ ăn lá Anomala sp và loài bọ gạo nhỏ Phyllobius sp Trong các loài sâu hại thì
bọ ăn lá Colasposoma dauricum auripenne Motschulsky và ruồi hại quả
Bactrocera dosalis Hendel là các loài sâu hại chính, xuất hiện thường xuyên (Lê
Đức Khánh và cs., 2004)
Ngoài ra, Arita and Gorbunov (1995) bước đầu thu thập thành phần loài ngài cánh trong thuộc họ Sesiidae ; Lepidoptera ở Việt nam đã thu được tổng
cộng 22 loài, trong đó có 7 loài mới, và đặc biệt có 2 loài đó là Ichneumenoptera
duporti Le Cerf, 1927 và Tinthia spilogastra Le Cerf, 1916 là những loài lần đầu
tiên thu được tại Việt nam
2.4.3 Đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài sâu hại chính
Cho đến nay, ở Việt Nam những nghiên cứu về sâu hại hồng còn rất hạn chế Bước đầu chỉ có kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Đức Khánh và cs (2006) về một số đặc điểm hình thái và gây hại của loài sâu hại hồng Trưởng
thành bọ cánh cứng Colasposoma dauricum auripenne Motschulsky màu xanh
tối, kích thước 0,4-0,6cm, thường xuất hiện và gây hại từ tháng 4-7, ban ngày ẩn nấp dưới đất hoặc trong tàn dư cây trồng, chiều mát hoặc tối mới xuất hiện gây hại Bọ có thể ăn trụi chồi và lá cây thời kỳ kiến thiết cơ bản, gây chết hoặc chậm
sinh trưởng cây Rệp sáp Pseudococcus citri Risso gây hại nặng thời kỳ quả lớn
(tháng 5-9) đến thu hoạch, gây rụng quả hoặc làm giảm phẩm chất quả Rệp có kích thước 1,5-2mm, màu trắng, sống ở các kẽ nứt thân cành Khi quả đậu, rệp chuyển gây hại phần cuống quả ở giữa kẽ đài (tai) và quả từ sau khi quả đậu
Trưởng thành Ruồi hại quả Bactrocera dosalis Hendel có cơ thể màu vàng, cánh
trong Trưởng thành dùng ống đẻ trứng chích sâu vào trong thịt quả chín, đẻ trứng thành từng ổ, sâu non nở ra phá hoại phần thịt quả làm quả bị thối, tạo điều kiện cho bệnh phát triển
2.4.4 Biện pháp phòng chống sâu hại hồng chính
Biện pháp quản lý tổng hợp
Ở Việt Nam phòng trừ ruồi đục quả Bactrocera dorsalis trên cây hồng cần
áp dụng đồng bộ các biện pháp chôn lấp quả rụng, vệ sinh đồng ruộng và phát
Trang 37quang bụi rậm, sử dụng bẫy pheromone thu bắt con đực và phun bả protein để trừ
cả con đực và con cái (Lê Đức Khánh và cs., 2008)
2.5 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM
Hồng là một trong những loại cây trồng quan trọng ở một số vùng miền núi nước ta Các giống hồng trồng phổ biến hiện nay chủ yếu thuộc nhóm hồng chát, cần phải xử lý bằng cách giấm hoặc ngâm trước khi ăn Việc thử nghiệm và phát triển các giống hồng ngọt nhập nội như MC1, Jiro đã và đang được tiến hành tại Việt Nam Với một giống cây trồng mới, loại thức ăn mới thì thành phần sâu hại và xác định những loài gây hại chủ yếu là rất quan trọng và cần thiết Ngoài ra, việc xác định đúng vị trí, sự gây hại của chúng cùng với nghiên cứu tìm hiểu những đặc điểm sinh học, sinh thái học để từ đó đề xuất những biện pháp phòng trừ chúng an toàn, hiệu quả là vấn đề cần nghiên cứu và thực hiện trong thời gian tới
Trang 38PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Các thí nghiệm ngoài đồng ruộng được thực hiện tại các xã Cao Sơn, Tu
Lý, Kim Lý, Huyện Đà Bắc, Hòa Bình, Việt Nam và các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm tại Bộ môn Côn trùng, Viện Bảo vệ thực vật
3.1.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 4 năm 2014
3.2 VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống hồng ngọt nhập nội MC1 (Fuyu) thuộc loài Diospyros kaki và giống hồng Nhân Hậu (giống địa phương) thuộc loài Diospyros lotus, gốc ghép
hồng Nhân Hậu 10 năm tuổi, cây ghép MC1 4 năm tuổi
- Nấm ký sinh côn trùng Metarhizium anisopliae: do Viện Bảo vệ thực
vật sản xuất, với nồng độ bào tử 1 x109 Bt/g chế phẩm, là loại chế phẩm được khuyến cáo sử dụng trừ sâu bộ cánh vảy
3.2.2 Dụng cụ nghiên cứu
- Hộp thuỷ tinh, lọ đựng mẫu, đĩa petri, lam kính
- Vợt côn trùng bắt trưởng thành, bút lông, bình tam giác
- Cồn 70%, kim côn trùng, ống nghiệm nhỏ, bông thấm nước
- Kính lúp cầm tay điều tra ngoài đồng, kính lúp soi nổi 2 mắt, kính lúp soi nổi kết nối máy tính, tủ định ôn, tủ khí hậu, tủ lạnh, máy ảnh số, dao, kéo, panh
- Hôp nhựa nuôi sâu, hộp thủy tinh nuôi sâu, lồng nuôi sâu, giấy lọc
- Sổ ghi chép số liệu điều tra, số liệu thí nghiệm
- Mật ong, đường, lồng lưới
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Điều tra thành phân sâu hại hồng, đặc điểm hình thái của sâu ăn lá hồng
Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae)
2 Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của sâu ăn lá hồng Hypocala
Trang 39subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae)
3 Điều tra diễn biến mật độ sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee
(Lepidoptera: Noctuidae) trên cây hồng ngọt nhập nội MC1 và một số yếu tố ảnh hưởng tới diễn biến mật độ như kỹ thuật tỉa cành tạo tán, các giống hồng
4 Nghiên cứu biện pháp phòng chống sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura
Guenee theo hướng tổng hợp
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp xác định thành phần sâu hại hồng, đặc điểm hình thái
của sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae)
* Phương pháp thu thập thành phần sâu hại hồng
Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010) (QCVN01-38: 2010/BNNPTNT):
- Địa điểm thu thập mẫu: tại một số vườn trồng hồng tại Đà Bắc, Hòa Bình
- Thu thập ngẫu nhiên với 10 điểm/vườn, mỗi điểm 1 cây Điểm điều tra cách bờ 1 hàng cây
- Phương pháp thu :
+ Bắt bằng tay : đối với pha trứng, nhộng và trưởng thành
+ Thu thập tất cả mẫu triệu chứng hại của các loài sâu hại cho vào túi nylon hoặc hộp đựng mẫu mang về phòng thí nghiệm để tiếp tục nuôi và thu trưởng thành, ký sinh
+ Bẫy đèn: thu thập trưởng thành các loài thuộc bộ cánh cứng
- Đối với các loài sâu hại khác: mẫu sâu non được nuôi đến khi trưởng thành vũ hóa trong phòng thí nghiệm Giết trưởng thành bằng lọ độc (dùng Ethyl acetate hoặc Chloroform), làm mẫu, cắm mẫu để phân loại
- Đối với loài ngài cánh trong hại vỏ: phương pháp thu thập mẫu theo Naka and Mochizuki (2010) Thu thập nhộng (thường ở vị trí mối ghép giữa cây gốc ghép và mắt ghép) mang về phòng thí nghiệm Nhộng thường nằm 1 phần bên trong thân cây, 1 phần lộ ra bên ngoài Cho nhộng vào hộp nhựa bên dưới có đặt giấy ẩm (độ ẩm từ 50-70%) Theo dõi cho đến khi hóa trưởng thành Thức ăn cho trưởng thành bằng nước lã, sau 2 ngày giết bằng lọ độc
- Đối với sâu ăn lá hồng: theo phương pháp của Viện Bảo vệ thực vật
1997 Sâu non thu được cho vào hộp nhựa (kích thước 30x30x15cm) bên trong
Trang 40có lá hồng non làm thức ăn Mỗi hộp 10 sâu non các tuổi, bên dưới hộp có lót giấy thấm Theo dõi và thay thức ăn hàng ngày đến khi hóa nhộng Nhộng được thu hàng ngày và được cho vào hộp nhựa tròn (đường kính 15cm, cao15cm) bên trong có mùn cưa, theo dõi đến khi vũ hóa trưởng thành Trưởng thành sau khi vũ hóa được đưa vào lồng nuôi (kích thước 60x60x60cm, bên ngoài căng vải màn mắt nhỏ, hình hộp), bên trong có để cây hồng MC1 nhỏ cao 40cm (trồng trong chậu), với thức ăn là mật ong 10%, nuôi trong 2 ngày sau đó giết bằng lọ độc
* Phương pháp tính chỉ số loài ưu thế (DI)
Theo phương pháp của Simpsom (1949)
Thu thập mẫu thành phần sâu hại hồng ở 5 giai đoạn sinh trưởng của cây: giai đoạn ra lộc, ra hoa đậu quả, thu hoạch quả, lộc thu và giai đoạn rụng lá Thu thập tất cả sâu hại có mặt trên cây, phân loại, đếm số lượng từng loài
Chỉ số lòai ưu thế
Trong đó: N: Tổng số lượng các loài trong quần xã
n1, n2: Số lượng cá thể loài 1 và 2
* Tần suất xuất hiện của các loài sâu ăn lá hồng
Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010) (QCVN01-
38:2010/BNNPTNT)
Mẫu các loài sâu ăn lá hồng được thu thập ở 5 giai đoạn sinh trưởng của cây hồng: ra lộc xuân, ra hoa đậu quả, thu hoạch, lộc thu và trước rụng lá Thu thập tại một số vườn trồng hồng ở Đà Bắc, Hòa Bình Phân loại và đếm số lượng các loài sâu ăn lá hồng
Số lần thu thập được loài (A) Tần suất xuất hiện loài (A) (%) = - x 100
Tổng số lần thu thập mẫu
* Phương pháp làm mẫu và bảo quản mẫu vật
Theo phương pháp làm mẫu và bảo quản mẫu côn trùng của Viện Bảo vệ thực vật (1997)
Làm mẫu:
- Làm mẫu trứng:
n n DI
N
+
=