Qua đó cho thấy nguồn vốn hoạt động trong năm của chi nhánh tập trung hầu hết vào lĩnh vực cấp tín dụng và càng ngày dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân càng cao , lĩnh vực này đã m
Trang 1Chương 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÌN DỤNG VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG- CN5
3.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của NHCT-CN5 63
3.1.1 Vốn huy động trên tổng nguồn vốn 63
3.1.2 Dư nợ trên tổng nguồn vốn 64
3.1.3 Dư nợ trên tổng nguồn vốn huy động 64
3.1.4 Hệ số thu nợ 64
3.1.5 Nợ quá hạn trên tổng dư nợ 64
3.2 Một số biện pháp phòng ngừa & hạn chế rủi ro 66
3.2.1 Đề ra chính sách tín dụng linh hoạt 66
3.2.2 Qui định và kiểm soát qui trình cho vay 66
3.2.3 Đảm bảo tín dụng 67
3.2.4 Đăng ký giao dịch đảm bảo góp phần hạn chế rủi ro trong đảm bảo tiền vay 69
3.2.5 Lựa chọn khách hàng 70
3.2.6 Thu thập và xử lý thông tin 71
3.2.7 Đào tạo đội ngũ nhân viên giỏi về chuyên môn nghiệp vụ 72
3.2.8 Tăng cường kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn của khách hàng 73
3.2.9 Giảm thiểu rủi ro 74
3.2.10 Phân tán rủi ro 74
3.2.11 Ngăn chặn nợ quá hạn phát sinh 74
3.3 Các biện pháp xử lý 75
3.4.1 Phân loại nợ quá hạn 75
3.4.2 Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 76
3.3.3 Xử lý nợ quá hạn 77
3.4 Một số kiến nghị 79
Trang 2Chương 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÌN DỤNG VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG- CN5
3.1 ĐÁNH GIÁ TÌNH CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG
Bảng 8:Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động
Chỉ tiêu ĐVT 2005 2006 2007
Tổng nguồn vốn Tr.đ 1.130.645 1.181.672 1.260.878
Tổng vốn huy động Tr.đ 810.016 824.963 963.934
Dư nợ KH cá nhân Tr.đ 468.764 465.527 508.599
Tổng dư nợ Tr.đ 852.298 816.714 876.895
Tổng doanh số cho vay Tr.đ 1.280.839 1.142.254 1.330.782
Tổng doanh số thu nợ Tr.đ 1.160.245 1.166.122 1.098.712
Tổng doanh số dư
nợ quá hạn Tr.đ 26.832 16.744 16.210
Vốn huy động/nguồn vốn % 71,64 69,81 76,45
Dư nợ/nguồn vốn % 75,38 69,12 69,55
Dư nợ KHCN/nguồn vốn % 41,46 39,40 40,34
Dư nợ/vốn huy động % 105,22 99,00 90,97
Dư nợKHCN/vốn huy động % 57,87 56,43 52,76
Hệ số thu nợ % 90,58 102,09 82,56
Tỷ lệ nợ quá hạn % 3,15 2,05 1,85
(Ngu ồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHCT-CN5)
3.1.1 Vốn huy động trên tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này cho ta biết được khả năng huy động vốn đáp ứng được bao nhiêu phần trăm cho nguồn vốn hoạt động của ngân hàng Theo bảng kết quả chỉ tiêu đánh giá hoạt động của ngân hàng ta thấy tỷ lệ vốn huy động trên tổng nguồn vốn có xu hướng giảm năm 2005 nhưng không đáng kể, từ 71,64% trong năm 2005 xuống 69,81% vào năm 2006 và có xu hướng tăng trong năm 2007(76,45%) Thông thường một ngân hàng hoạt tốt khi tỷ số này đạt mức từ 70% đến 80% trong tổng nguồn vốn
sử dụng tại ngân hàng Kết quả đạt được trong 3 năm qua của chi nhánh đã ở mức
Trang 3tương đối tốt do đó trong thời gian tới chi nhánh cần cố gắng hơn nữa để duy trì và nâng tỷ trọng vốn huy động trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng
3.1.2 Dư nợ trên tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này phản ánh chính sách tín dụng của ngân hàng, cho thấy hoạt động của ngân hàng có tập trung vào hoạt động cấp tín dụng hay không Trong 3 năm qua, tại chi nhánh NHCT-CN5 chỉ tiêu này luôn đạt ở mức khá cao nhưng có xu hướng giảm do chính sách hạn chế cho vay mới để thu hồi những khoản nợ cũ, hạn chế rủi ro , năm 2005 là 75,38%, năm 2006 là 69,12%, đến năm 2003 là 69,55% Qua đó cho thấy nguồn vốn hoạt động trong năm của chi nhánh tập trung hầu hết vào lĩnh vực cấp tín dụng và càng ngày dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân càng cao , lĩnh vực này
đã mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng trong thời gian qua
3.1.3 Dư nợ trên tổng nguồn vốn huy động
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn huy động của ngân hàng, nếu tỷ số này lớn hơn 100% thì nguồn vốn huy động được sử dụng hết cho hoạt động cấp tín dụng, nếu nhỏ hơn 100% thì vốn huy động vẫn còn thừa
Qua bảng kết quả chỉ tiêu đánh giá hoạt động, thì 3 năm trở lại đây chỉ tiêu này của chi nhánh có xu hướng giảm thể hiện nguồn vốn huy động dư thừa chưa phát huy hết hiệu quả của nguồn vốn huy động
3.1.4 Hệ số thu nợ
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của ngân hàng Nó phản ánh trong một thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽ thu về được bao nhêu đồng vốn Tỷ lệ này càng cao càng tốt Trong thời gian qua tỷ lệ thu hồi vốn so với doanh số cho vay của chi nhánh rất cao.Cụ thể năm 2005 đạt 90,58%, năm 2006 đạt102,09%, năm 2007 đạt 82,56%
3.1.5 Nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu thể hiện trực tiếp công tác thẩm định phương án sản xuất kinh
Trang 4doanh của cán bộ tín dụng Đồng thời phản ánh khả năng thu hồi vốn của ngân hàng đối với khách hàng cũng như uy tín của khách hàng đối với ngân hàng Hiện nay, theo mức độ cho phép của Ngân hàng Nhà nước thì tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là dưới 5%, trong đó tỷ lệ nợ khó đòi trong tổng nợ quá hạn thấp thì được coi là tín dụng có chất lượng tốt
Trở lại tình hình nợ quá hạn tại NHCT_CN5, năm 2005 tỷ lệ này lên đến 3,15%, tuy chưa vượt quá mức độ cho phép nhưng cũng ở mức khá cao, cho thấy sự tăng trưởng tín dụng trong những năm trước đã làm cho tỷ lệ nợ quá hạn tăng cao Tỷ lệ nợ quá hạn giảm mạnh trong năm 2006 là 2,05%, n ăm 2007 l à 1,92% hoạt động cấp tín dụng trong những năm này có thể được đánh giá tốt.Cho thấy chi nhánh đã tích cực trong việc xử lý nợ quá
Nhận xét chung về cấp tín dụng tại NHCT-CN5
Hoạt động cấp tín dụng của chi nhánh tăng trưởng không đều Trong đó hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân của chi nhánh luôn chiếm tỷ trọng lớn và có
xu hướng tăng Việc cấp tín dụng cho đối tượng khách hàng này thường có nhược điểm
là số hồ sơ nhiều, khoản vay nhỏ nhưng độ an toàn cao, phân tán rủi ro và thu hút dược nhiều khách hàng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng.Do đó chi nhánh có xu hướng mở rộng cho vay với đối tượng khách hàng này.Trong 3 năm qua Tổng dư nợ giảm nhưng tổng doanh số cho vay lại tăng, doanh số thu nợ tăng và dư nợ quá hạn giảm mạnh Điều này được đánh giá là rất tốt.Chi nhánh cần tiếp tục phát huy tốt những việc làm này
Tuy nhiên cũng cần phải nói đến chính sách cho vay của chi nhánh đối với khách hàng cá nhân nói riêng và khách hàng nói chung hiện nay còn khá khắt khe Đối tượng khách hàng mà chi nhánh hướng tới là những khách hàng truyền thống , còn đối với khách hàng mới thì còn khá rụt rè trong việc cho vay hay còn hạn chế đầu tư mới Điều này cần phải được xem xét lại để chi nhánh có được một thị trường khách hàng
Trang 5tiềm năng lớn, đồng thời mở rộng hoat động cấp tín dụng của mình, thu lại lợi nhuận cao hơn
3.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA & HẠN CHẾ RỦI RO
3.2.1 Đề ra một chính sách tín dụng linh hoạt.
Với mục tiêu an toàn cho hoạt động của Ngân hàng chính sách tín dụng phải được vận dụng linh hoạt, và trở thành người hướng dẫn hoạt động cho tất cả các khâu được thuận lợi Chính sách tín dụng phải nêu ra phạm vi, qui mô cho vay, các loại cho vay, mối quan hệ giữa các loại cho vay, giữa cho vay với vốn tự có, giữa cho vay với những khoản nợ của Ngân hàng, với mục tiêu hợp lý về thời hạn và an toàn về vốn Việc định
kỳ hạn nợ cho vay đối với những khoản vay có chu kỳ khác nhau như đối với cho vay trung và dài hạn khác với những khoản vay ngắn hạn, phải định kỳ hạn đúng vào khi thu hoạch, khi khách hàng có được thu nhập từ việc bán được hàng hóa sản phẩm Hiện nay, Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng chủ yếu dựa vào các tiêu chuẩn: uy tín, năng lực, vốn, đảm bảo, các điều kiện khác Tuy nhiên do sự thay đổi của các điều kiện kinh tế, môi trường xã hội, Ngân hàng sẽ thay đổi điều kiện cấp tín dụng cho khách hàng một cách hợp lý hơn
3.2.2 Qui định và kiểm soát qui trình cho vay.
Quy trình cho vay là một quá trình từ việc lập hồ sơ xin vay vốn đến thu hồi hết
nợ vay Quy trình này bao gồm 4 giai đoạn:
- Lập hồ sơ xin vay vốn
- Phân tích tín dụng
- Quyết định tín dụng
- Quản lý tín dụng (theo dõi hồ sơ tín dụng và trao đổi thông tin với các bên có liên quan)
Trang 6Trong 4 giai đoạn của qui trình cho vay thì giai đoạn lập hồ sơ và phân tích tín dụng có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc đánh giá mức độ rủi ro của khoản tín dụng cấp ra Ngân hàng cần quan tâm đến các chỉ tiêu như: số tiền cho vay có phù hợp với mục đích, nhu cầu sử dụng vốn vay hay không, chu kỳ sản xuất, sự thành thật của khách hàng, … Trong điều kiện như hiện nay, giá cả vật tư cũng như sản phẩm không ổn định sẽ gây ra bất lợi cho Ngân hàng khi quyết định cho vay đối với các dự
án sửa chữa, xây dựng nhà (do giá ximăng, sắt thép tăng cao)… Vì vậy, để đảm bảo cho khoản tín dụng của mình Ngân hàng thường xét duyệt cho vay đối với những hộ có tài sản đảm bảo có giá trị cao
3.2.3 Đảm bảo tín dụng.
Mặc dù hoàn trả tín dụng không phải mục đích kinh doanh của Ngân hàng, nhưng
nó là cơ sở quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu kinh doanh Để đảm bảo thu hồi được nợ, Ngân hàng phải xem xét một cách thận trọng đến uy tín và năng lực của khách hàng, từ đó áp dụng những phương pháp cho vay thích hợp Nếu khách hàng được đánh giá là tốt như có phẩm chất tốt trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, chấp hành tốt các hợp đồng tín dụng trong quá khứ và có triển vọng phát triển trong tương lai thì Ngân hàng có thể cho vay không cần đảm bảo Ngược lại, nếu khách hàng không đạt được các tiêu chuẩn đó thì để hạn chế rủi ro buộc Ngân hàng phải cho vay có đảm bảo
Đảm bảo tín dụng là thiết lập những cơ sở pháp lý để có thêm một nguồn thu nợ thứ hai ngoài nguồn thu nợ thứ nhất
Trong cho vay kinh doanh nguồn thu nợ thứ nhất là doanh thu đối với cho vay vốn lưu động hoặc là khấu hao và lợi nhuận đối với cho vay trung và dài hạn để hình thành tài sản cố định Trong cho vay tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất của Ngân hàng là thu nhập cá nhân như tiền lương, các khoản thu nhập tài chính (lãi cho vay, lãi các chứng khoán) và các khoản thu nhập khác
Trang 7Khi đánh giá hoạt động của khách hàng nếu thấy rằng nguồn thu nợ thứ nhất chưa có cơ sở chắc chắn thì buộc Ngân hàng phải thiết lập các cơ sở pháp lý để có thêm một nguồn thu nợ thứ hai Nguồn thu nợ thứ hai bao gồm giá trị tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Khi quyết định cho vay, người ra quyết định phải có câu trả lời cụ thể cho ba câu hỏi sau:
-Khách hàng có mong muốn trả nợ không?
-Khách hàng có khả năng trả nợ không?
-Khả năng và ý muốn đó có duy trì được trong suốt thời hạn vay vốn không? Đảm bảo tín dụng được coi là tiêu chuẩn khi xét duyệt cho vay, nhưng phải thấy rằng đây không phải là tiêu chuẩn quan trọng nhất mang tính nguyên tắc Tuy vậy trên thực tế, đôi khi Ngân hàng xếp đảm bảo vào vị trí số một và thậm chí trong nhiều trường hợp coi như nó là tiêu chuẩn duy nhất
Chính quan điểm này đã dẫn đến xuất hiện hàng loạt các rủi ro trong cho vay của Ngân hàng
Mặc dù đảm bảo tín dụng không phải là tiêu chuẩn mang tính nguyên tắc, nhưng không vì thế mà đặt thấp vị trí của nó Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, các hoạt động kinh tế diễn ra hết sức đa dạng và phức tạp, vì thế mọi dự đoán rủi ro của Ngân hàng chỉ mang tính chất tương đối Trong môi trường kinh doanh, đảm bảo là tiêu chuẩn bổ sung những mặt hạn chế của việc quản trị tín dụng, cũng như phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi cho việc kinh doanh tín dụng của Ngân hàng
Trang 83.2.4 Đăng ký giao dịch đảm bảo góp phần hạn chế rủi ro trong bảo đảm tiền vay.
Giao dịch bảo đảm là hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản theo đó bên bảo đảm cam kết với bên nhận bảo đảm về việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được quy định tại Điều 13 Nghị định
số 165/1999/NĐ – CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, mà cụ thể là: các bên thoả thuận bên bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm
Đăng ký giao dịch bảo đảm cho phép các cơ quan chức năng quản lý việc giao dịch bảo đảm ngày càng chặt chẽ Đặc biệt đối với các tổ chức tín dụng thì việc đăng
ký giao dịch bảo đảm là một trong những biện pháp góp phần hạn chế rủi ro trong bảo đảm tiền vay., mà cụ thể là:
- Thứ tự ưu tiên thanh toán giữa những người cùng nhận bảo đảm bằng một tài sản được xác định theo thứ tự đăng ký hạn chế rủi ro cho các tổ chức tín dụng khi xử lý tài sản Một trong những giá trị pháp lý của việc đăng ký giao dịch bảo đảm là thứ tự ưu tiên thanh toán giữa những người cùng nhận bảo đảm bằng một tài sản được xác định theo thứ tự đăng ký Chính vì vậy, đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ cho phép các tổ chức tín dụng khi xử lý tài sản của khách hàng sẽ được hưởng thứ tự ưu tiên thanh toán theo thứ tự đã đăng ký nhằm hạn chế rủi ro cho các tổ chức tín dụng
- Hạn chế việc lợi dụng của khách hàng: hiện nay, khi cho vay có bảo đảm bằng tài sản các tổ chức tín dụng thường giữ bản chính các giấy tờ liên quan chứng minh quyền
sở hữu, quyền sử dụng của tài sản bảo đảm, còn tài sản thường giao cho bên bảo đảm giữ Tuy bên bảo đảm giữ tài sản nhưng tổ chức tín dụng luôn tin tưởng là khách hàng không thể sử dụng tài sản này để làm tài sản bảo đảm vay vốn tại tổ chức tín dụng khác, nhất là khi tài sản đó chỉ có khả năng bảo đảm trả nợ tại một tổ chức tín dụng hoặc bán đi vì cho rằng bản chính các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử
Trang 9dụng của tài sản bảo đảm chỉ có một và tổ chức tín dụng đã giữ nên khách hàng không còn bản chính các giấy tờ này để thực hiện hành vi lợi dụng Nhận thức trên là chưa đầy đủ, vì hiện nay đang tồn tại không ít trường hợp một tài sản nhưng lại có nhiều bản chính các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng nhất là trong lĩnh vực nhà đất Mặc khác, bất cứ loại tài sản nào khi chủ tài sản báo mất các giấy tờ có liên quan chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản ấy thì đều được các cơ quan chức năng xem xét cấp lại giấy khác Đặc biệt đối với những phương tiện đi lại, vận chuyển như ô tô, xe máy, tàu thuyền thì việc cấp lại gấy đăng ký rất dễ dàng mà không cần điều tra, xác minh việc mất đó là có thật Từ việc quản lý thiếu chặt chẽ trên, khách hàng có thể lợi dụng để có nhiều bản chính của một tài sản để thực hiện hành vi vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng khác nhau hoặc tự ý bán tài sản khi đã dùng để bảo đảm tiền vay tại tổ chức tín dụng mà tổ chức tín dụng, người mua tài sản và các cơ quan chức năng không phát hiện được Nhưng nếu có đăng ký giao dịch bảo đảm thì khách hàng không thể lợi dụng được, vì thông qua việc thu thập thông tin về giao dịch bảo đảm, các tổ chức tín dụng sẽ dễ dàng phát hiện và từ chối việc cho vay hoặc người mua
sẽ từ chối việc mua tài sản bất hợp pháp Nếu người mua thiếu thông tin thì trong quá trình làm thủ tục sang tên, trước bạ, chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng để mua tài sản các cơ quan chức năng có liên quan sẽ phát hiện và ngăn chặn kịp thời nên hạn chế được việc khách hàng lợi dụng
- Thông qua việc đăng ký giao dịch bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có liên quan giám sát chặt chẽ và chủ động phối hợp với tổ chức tín dụng xử lý kịp thời tài
sản bảo đảm khi cần thiết nhằm hạn chế rủi ro cho tổ chức tín dụng
3.2.5 Lựa chọn khách hàng.
Trong quá trình quan hệ với khách hàng, Ngân hàng sẽ phân tích, đánh giá khách hàng nhằm phân loại khách hàng có uy tín và khách hàng có ít uy tín Từ đó Ngân hàng
Trang 10sẽ thu thập thêm thông tin cần thiết, kiểm soát chặt chẽ khách hàng có ít uy tín.
Trong môi trường cạnh tranh giữa các Ngân hàng, việc thiết lập mối quan hệ lâu dài với khách hàng là rất cần thiết, bởi vì Ngân hàng không những đánh giá được khách hàng mà còn giảm được chi phí thu thập thông tin, chi phí giám sát các khoản vay của khách hàng
Như vậy, phân tích sàng lọc khách hàng giúp cho Ngân hàng nâng cao độ an toàn vốn tín dụng của mình, bên cạnh đó thiết lập quan hệ lâu dài với khách hàng tốt sẽ giúp cho Ngân hàng đối phó với những bất ngờ về rủi ro đạo đức mà ban đầu quan hệ Ngân hàng không lường trước được
3.2.6 Thu thập và xử lý thông tin.
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng có độ rủi ro cao, vì thế Ngân hàng cần theo dõi thông tin trên thị trường, theo sát khách hàng để phát hiện những trường hợp vi phạm và đưa ra biện pháp xử lý kịp thời để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra sau này Hơn nữa, nếu Ngân hàng có đầy đủ thông tin và thông tin chính xác thì những biện pháp đưa ra sẽ chính xác, phù hợp với hoạt động của khách hàng, dẫn đến việc sản xuất kinh doanh hiệu quả, giảm thiểu được rủi ro cho Ngân hàng trong việc thu hồi vốn Phân tích, đánh giá chính xác khách hàng là một trong những biện pháp quan trọng quyết định hiệu quả đầu tư, cần phân tích đánh giá chính xác khách hàng vay vốn
để có quyết định đầu tư vốn cho chắc chắn thể hiện qua các nội dung sau:
a Đánh giá về năng lực pháp lý của khách hàng.
Nhằm ràng buộc trách nhiệm của khách hàng trước pháp luật và để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng Xác định tính pháp lý của khách hàng chính là cơ
sở để ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng
Đánh giá năng lực pháp lý của doanh nghiệp trên một số mặt sau:
- Quyết định thành lập doanh nghiệp;