Bảng 6: Hệ thống quản lý kinh tế vĩ mô bất cập và thiếu đồng bộ Cơ quan Chức năng Điểm yếu Cần thay đổi Ngân hàng Nhà nước Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ Thiếu tính độc l
Trang 1CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP TRONG ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BĐS Nội dung chính :
3.1 Những tồn tại trong việc điều hành CSTT của Chính phủ, Bộ Tài Chính, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam và Bộ Kế hoạch - Đầu tư -58
3.1.1 Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch – Đầu tư và NHNN Việt Nam chưa có tầm nhìn chiến
lược dài hạn và chưa phối hợp hiệu quả với nhau làm cơ sở cho hoạch định và điều hành chính sách đặc biệt là CSTT -58
3.1.2 Ngân hàng Nhà nước có vai trò tương đối hạn chế trong việc điều hành chính sách
tiền tệ, thiếu khả năng dự báo thị trường dẫn đến chậm trễ trong việc ra quyết sách đồng thời quyết sách thường đi sau thị trường và mang tính hành chính áp đặt không có khả năng điều tiết mang tính thị trường -60
3.1.3 Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ còn thiếu linh hoạt -62 3.2 Giải pháp trong điều hành chính sách tiền tệ từ phía NHNN -64 3.2.1 Nâng cao vị thế, tăng cường tính độc lập và cơ cấu lại bộ máy tổ chức của NHNN
3.2.2 Tiếp tục đổi mới điều hành CSTT -66 3.2.3 Đổi mới và phát triển hệ thống giám sát ngân hàng -66
Trang 23.2.4 Đổi mới quản lý và phát triển nhân lực -69
Trang 3CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ TRONG ĐIỀU HÀNH CSTT ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BẤT ĐỘNG SẢN
3.1 Những tồn tại trong việc điều hành CSTT của Chính phủ, Bộ Tài Chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Kế hoạch - Đầu tư
Trong thời gian qua, việc điều hành chính sách vĩ mô nói chung và chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa nói riêng đã thu được một số thành tựu rất đáng ghi nhận Song bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều hạn chế, bất cập mang tính chiến lược về mối quan
hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ở Việt Nam cũng như những sai lầm, chậm trễ trong quản lý, điều hành và đưa ra quyết sách của Chính phủ và các Bộ ngành
3.1.1 Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch – Đầu tư và NHNN Việt Nam chưa có tầm nhìn chiến lược dài hạn và chưa phối hợp hiệu quả với nhau làm cơ sở cho hoạch định
và điều hành chính sách đặc biệt là Chính sách tiền tệ
Hệ thống quản lý kinh tế của Việt Nam chưa tương thích với một nền kinh tế hội nhập toàn cầu Hiện nay, ba bộ và cơ quan ngang bộ có trách nhiệm hoạch định chính sách vĩ mô là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước chưa phối hợp với nhau một cách hiệu quả
Bộ KHĐT thuần túy làm công việc tổng hợp các kế hoạch đầu tư mà không lưu ý một cách thích đáng tới tình hình vĩ mô chung của nền kinh tế
Đối với Bộ Tài chính, mối bận tâm lớn nhất là huy động và phân bổ vốn cho các
dự án đã được phê duyệt và chỉ kiểm soát được (một phần) các khoản chi thường xuyên của Chính phủ Tuy nhiên, với rất nhiều các khoản chi xuất hiện dưới dạng đầu
tư, đồng thời tỷ lệ chi ngoài ngân sách hiện đang rất cao, có thể nói là Bộ Tài chính chưa kiểm soát tốt chính sách ngân sách
Trang 4Về phía NHNN, cơ quan này không được phép quyết định lượng cung tiền và cung tín dụng như “thiên chức” vốn có của các ngân hàng trung ương trên thế giới mà chỉ có thể sử dụng một số ít các công cụ (như tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các quyết định và chỉ thị có tính hành chính) không thực sự hữu hiệu khi phải đối diện với nguy cơ lạm phát Trong năm 2007, ngay cả khi lạm phát tăng nhanh thì NHNN cũng không được phép điều chỉnh lãi suất Kết quả là lãi suất thấp hơn mức lạm phát khiến cho lãi suất thực trở nên âm Lãi suất thực âm làm cho các tài sản tài chính trở nên kém hấp dẫn và
do vậy khuyến khích các nhà đầu tư chuyển từ tài sản tài chính sang BĐS và vàng
Bảng 6: Hệ thống quản lý kinh tế vĩ mô bất cập và thiếu đồng bộ
Cơ
quan Chức năng Điểm yếu Cần thay đổi
Ngân
hàng
Nhà
nước
Xây dựng và
thực hiện chính
sách tiền tệ
Thiếu tính độc lập; Phụ thuộc quá mức vào các biện pháp hành chính
* Tăng cường tính độc lập cho NHNN
* Sử dụng đầy đủ các công cụ của chính sách tiền tệ
* Giảm cung tiền và tín dụng
* Lãi suất thực dương
* Mở rộng biên độ giao dịch của tiền Đồng
* Tăng cường hoạt động giám sát và điều tiết khu vực ngân hàng
Bộ Tài
chính
Xây dựng và
thực hiện chính
sách ngân hàng
- Thiếu chiến lược hữu hiệu về nguồn thu ngân sách
- Không kiểm soát được chi tiêu ngân sách
- Kiểm soát chi thường xuyên kém
- Chi ngoài ngân sách quá nhiều
* Giảm thâm hụt ngân sách
* Đưa tất cả các khoản chi vào trong ngân sách
* Tăng cường minh bạch trong thu chi ngân sách
* Mở rộng cơ sở thuế (đặc biệt là thuế nhà đất)
* Xây dựng khuôn khổ chung cho ngân sách
Bộ Kế
hoạch
và Đầu
tư
Phân bổ nguồn
vốn
Phân bổ vốn và nguồn lực theo các tiêu thức chính trị thay vì kinh tế
* Loại bỏ các dự án đầu tư công lãng phí
* Thẩm định đầu tư công độc lập
* Quyết định đầu tư dựa trên phân tích chi phí - lợi ích thật minh bạch
(Nguồn: Bài Thảo luận Chính sách Số 1 – Chương trình Châu Á ĐH Harvard – Chương trình
FULLBRIGHT Việt Nam)
Trang 5Thiếu sự phối hợp giữa 3 cơ quan hoạch định chính sách ở nước ta là điều rất đáng lo ngại và rất nguy hiểm trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam phải thực hiện các cam kết hội nhập trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang bước vào một giai đoạn bất
ổn Các dòng vốn nước ngòai sẽ quay đầu tháo chạy khỏi Việt Nam nếu thị trường tài chính, thị trường tiền tệ Việt Nam cứ “xập xình” như hiện nay Việt Nam cần một chính sách vĩ mô, đặc biệt là một CSTT cẩn trọng hơn để giúp nền kinh tế kiềm chế lạm phát, tăng trưởng, phát triển bền vững và có sức chống đỡ dẻo dai hơn đối với những thách thức của kinh tế toàn cầu
3.1.2 Ngân hàng Nhà nước có vai trò tương đối hạn chế trong việc điều hành chính sách tiền tệ, thiếu khả năng dự báo thị trường dẫn đến chậm trễ trong việc
ra quyết sách đồng thời quyết sách thường đi sau thị trường và mang tính hành chính áp đặt không có khả năng điều tiết mang tính thị trường.
Nhiệm vụ của NHNN quy định trong việc thực hiện CSTT quốc gia tương đối cụ thể nhưng còn một số hạn chế và tính độc lập thấp: NHNN chỉ chủ trì xây dựng dự án CSTT quốc gia trình Chính phủ, sau đó Chính phủ trình Quốc hội quyết định mà NHNN không thể trực tiếp trình Quốc hội (Ngân hàng Nhà nước là thành viên của Chính phủ) Mất quá nhiều thời gian để đề trình các quyết sách theo đúng nguyên tắc hành chính dẫn đến chậm trễ trong thực hiện các biện pháp can thiệp của NHNN trên thị trường tiền tệ trong khi thị trường tiền tệ nói riêng và thị trường tài chính Việt Nam nói chung đang diễn biến hết sức phức tạp và cần có những can thiệp vĩ mô thích hợp, hiệu quả để bình ổn thị trường
NHNN cũng chưa thực sự chủ động trong thực thi CSTT Hàng năm, NHNN tính toán mức cung ứng tiền, còn việc điều tiết khối lượng tiền phải thông qua Chính phủ phê duyệt Để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, CSTT cần phải tính toán kỹ để xác định khối lượng tiền cần bơm, hút, trong khi Bộ Tài chính lại quy định tần suất tiến hành hoạt động các phiên đấu thầu chứng khoán nợ, quy định lãi suất chứng khoán Chính phủ và lãi suất trái phiếu phát hành qua NHNN luôn bị đẩy lên tối đa Vì vậy,
Trang 6Ngân hàng Nhà nước khó có thể chủ động trong việc sử dụng các công cụ để điều tiết lượng tiền trong lưu thông
Hơn nữa, có khá nhiều cơ quan, tổ chức tham gia chỉ đạo, xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ: Theo Luật Ngân hàng Nhà nước thì không chỉ Quốc hội, Chính phủ quyết định và chỉ đạo, giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ mà một số tổ chức chính trị, chính quyền các cấp như các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác của Nhà nước, cũng có trách nhiệm phối hợp, giám sát, kiểm tra hoạt động ngân hàng
Bản thân NHNN cũng chưa thật sự chủ động trong việc kiểm soát các kênh cung ứng tiền tệ theo tín hiệu thị trường, chưa có những dự đoán trước một cách khoa học tình hình biến động nên sự điều tiết nhiều khi chỉ là để khắc phục những hậu quả đã xảy ra
Chẳng hạn như dấu hiệu lạm phát cao ở Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện từ cuối năm 2006 và lớn dần trong những năm tiếp theo, nhưng trong năm 2007 NHNN lại tung quá nhiều VND để mua USD từ nguồn FII dẫn đến lượng tiền lớn được đẩy vào lưu thông quá dễ dàng qua các kênh tín dụng NHTM làm cho TTCK tăng trưởng nóng, lạm phát tiếp tục tăng cao Tiếp đến NHNN dùng Quyết định 03, Chỉ thị 03 siết cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán, ngay lập tức nguồn vốn tháo chạy khỏi thị trường chứng khoán sang thị trường BĐS Đến lượt thị trường BĐS sốt nóng những tháng cuối năm 2007, đến đầu năm 2008 lạm phát tiếp tục tăng ở mức báo động, thị trường chứng khoán ảm đạm, thị trường tiền tệ bất ổn, NHNN mới bắt đầu can thiệp bằng DTBB, tín phiếu NHNN bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn,… nhằm rút tiền ra khỏi lưu thông kiềm chế lạm phát và gián tiếp siết cho vay đầu tư BĐS
Rõ ràng những can thiệp của NHNN đều mang tính hành chính, và đi sau thị trường Giá như NHNN dự báo tốt có biện pháp định hướng cho thị trường BĐS ngay khi siết chứng khoán để thị trường BĐS tăng trưởng vừa phải, thị trường BĐS đã sốt quá cao, vốn tín dụng của NHTM gần 50% nằm trong BĐS, vốn tự có của Nhà đầu tư
Trang 7ghìm trong BĐS cũng không nhỏ, NHNN siết cho vay BĐS cứng nhắc trong khi các NHTM đã cho vay ra quá nhiều và hậu quả là các NHTM gặp khó khăn về thanh khỏan, bằng chứng là diễn biến trên thị trường tiền tệ thời gian qua
Ngoài ra, trong nền kinh tế nước ta hiện nay còn một số tổ chức có hoạt động nghiệp vụ ngân hàng như: Công ty dịch vụ tiết kiệm Bưu điện, Quỹ hỗ trợ phát triển, Các tổ chức này có quyền huy động mọi nguồn tiết kiệm nhàn rỗi trong dân cư và cho vay đối với các dự án của Chính phủ, cho vay đầu tư nhưng nằm ngoài sự quản lý của NHNN Vì vậy đã gây khó khăn lớn cho Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soất, hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ
3.1.3 Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ còn thiếu linh hoạt:
Các công cụ chính sách tiền tệ chưa thực sự hoàn thiện, đôi khi còn mang tính áp đặt của NHNN hoặc thực hiện các yêu cầu của Chính phủ Sự kết hợp giữa các công cụ nhiều khi chưa mang lại hiệu quả như mong muốn:
•Đối với công cụ lãi suất:
Chính sách lãi suất vẫn còn tiếp tục được duy trì với nhiều bất cập: có quá nhiều loại với các mức lãi suất khác nhau trong hoạt động hệ thống NH Ngoài lãi suất
cơ bản do NHNN công bố làm tham chiếu cho hoạt động của các tổ chức tín dụng, thì còn rất nhiều loại lãi suất ưu đãi khác nhau cùng song song tồn tại Trong khi lãi suất được công bố lại được xác định bằng cách bình quân hóa các mức lãi suất làm cho lãi suất thị trường liên ngân hàng chưa thể coi là cơ sở lãi suất hoạt động của các tổ chức tín dụng
Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng thởi gian qua phần nào đã phản ánh đúng quan hệ cung-cầu vốn, quan hệ vay mượn trên thị trường Tuy nhiên, chỉ diễn ra một chiều giữa bên cho vay là các NHTM Nhà nước có vốn dư thừa với các chi nhánh
NH nước ngoài, NHTM cổ phần do đó chưa có tác dụng tham chiếu
Lãi suất liên ngân hàng và lãi suất thị trường mở trong nhiều trường hợp biến động vượt ra khỏi biên độ giữa lãi suất trần và lãi suất sàn Do đó cơ chế lãi suất trần,
Trang 8sàn bị phá vỡ, chưa phát huy được vai trò định hướng lãi suất thị trường Biên độ dao động lãi suất còn tương đối hẹp so với mức độ phát triển còn thấp của thị trường tiền tệ
và hiệu quả điều tiết còn hạn chế của nghiệp vụ thị trường mở
Ngoài ra, cản trở lớn nhất trong việc hình thành và điều tiết sự biến động của lãi suất một cách hiệu quả, chủ động đó là hệ thống thông tin phục vụ cho hoạt động của thị trường cũng như thông tin của thị trường đối với nền kinh tế chưa đầy đủ và chính xác
•Đối với công cụ nghiệp vụ thị trường mở:
Nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu phát huy vai trò điều tiết khối lượng vốn khả dụng của các TCTD Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở nhìn chung đã được NHNN điều hành linh hoạt trong khoảng giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu để định hướng lãi suất thị trường Tuy nhiên, NHNN có khi vẫn phải áp dụng lãi suất chỉ đạo trong các phiên giao dịch Nhưng mối quan hệ giữa các lãi suất của NHNN và lãi suất thị trường còn chưa thực sự gắn kết chặt chẽ Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở còn một số bất cập trong đặt thầu, xét thầu, các thủ tục đăng ký, lưu ký giấy tờ có giá
Danh mục giấy tờ có giá được sử dụng trong nghiệp vụ thị trường mở tuy đã được mở rộng, song vẫn tập trung chủ yếu ở các NHTM Nhà nước Kỳ hạn của các trái phiếu Chính phủ - công cụ chủ yếu sử dụng trong nghiệp vụ thị trường mở, vẫn chưa thực sự đa dạng Việc thực hiện thống nhất một kỳ hạn giao dịch trong một phiên đấu thầu cũng có hạn chế nhất định đối với việc tham gia nghiệp vụ của các TCTD thành viên
•Về điều hành tỷ giá:
Việc quản lý tỷ giá vẫn mang tính hành chính, mặc dù tỷ giá do NHNN công bố hoàn toàn dựa trên quan hệ cung cầu trên thị trường và biên độ giao động tỷ giá của các NHTM đã được điều chỉnh lên 1% nhưng vẫn tỏ ra chưa hoàn toàn hợp lý đối với các NHTM và tương đối chặt chẽ đối với các hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, trên
Trang 9thực tế các NHTM linh hoạt điều chỉnh mức giá thỏa thuận với khách hàng hoặc tính thêm một số phí, lệ phí giao dịch,…để tìm tỷ giá giao dịch có lợi nhất cho NH
Chính sách mới của cơ chế điều hành tỷ giá chưa thể hiện rõ vai trò điều tiết vĩ
mô của Nhà nước, chưa thật sự gắn với các mục tiêu vĩ mô, cũng chưa thể hiện thực sự
có hiệu quả là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ Việc chấp hành quy định
về niêm yết giá và bán hàng, cung cấp dịch vụ thu bằng ngoại tệ chưa nghiêm, vẫn còn diễn ra phổ biến ở nhiều nơi Nhiều nguồn ngoại tệ chưa thu hút được vào hệ thống ngân hàng NHNN vẫn chưa quản lý hết được các nguồn ngoại tệ Thực trạng này chứng tỏ nếu chỉ dựa vào quan hệ cung cầu trên thị trường thì sẽ không phản ánh đúng được tương quan về kinh tế, không đạt được mục tiêu khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu
Điều hành tỷ giá được kết hợp với một loạt công cụ khác của chính sách tiền tệ, trực tiếp là NHNN còn quy định lãi suất tiền gởi USD của các tổ chức tín dụng và Kho bạc Nhà nước tại NHNN, quy định tỷ lệ DTBB tiền gởi ngoại tệ ở mức cao và thiếu linh hoạt so với diễn biến của thị trường ngoại hối, NHNN cũng chưa khuyến khích sử dụng hiệu quả các công cụ phái sinh
3.2 Giải pháp trong điều hành chính sách tiền tệ từ phía NHNN
3.2.1 Nâng cao vị thế, tăng cường tính độc lập và cơ cấu lại bộ máy tổ chức của NHNN
Để có thể hoạch định và điều hành CSTT hiệu quả thì trước hết cơ quan điều hành
và hoạch định chính sách đó phải có đầy đủ quyền lực, trách nhiệm và khả năng Do vậy giải pháp đầu tiên trong nhóm các giải pháp điều hành CSTT là giải pháp phát triển NHNN.Đã đến lúc Chính Phủ, Quốc Hội phải xem xét lại tính độc lập, tự chủ của NHNN Việt Nam sao cho:
- NHNN hoạt động thực sự với tư cách và mang đầy đủ tính chất là NHTW trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Chủ yếu thực hiện chức năng NHTW (ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các ngân hàng, người cho vay cuối
Trang 10cùng, cơ quan điều tiết thị trường tiền tệ và trung tâm thanh toán) kết hợp với chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng
- NHNN độc lập, tự chủ trong việc xây dựng, điều hành chính sách tiền tệ (CSTT), lãi suất và tỷ giá hối đoái; Nâng cao vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của NHNN trong việc tổ chức thực hiện chiến lược, xây dựng và điều hành CSTT trên cơ
sở phân định rõ quyền hạn, nhiệm vụ; Đồng thời, có sự phối hợp chặt chẽ giữa NHNN với các cơ quan chức năng, đặc biệt là Bộ Tài chính vào quá trình xây dựng và thực thi CSTT, pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
- NHNN có đủ nguồn lực và độc lập tương đối về nghiệp vụ, tổ chức và tài chính, hoạt động với cơ chế khác với các cơ quan hành chính – sự nghiệp, dưới sự quản lý, giám sát của Chính phủ và Quốc hội
- NHNN có trách nhiệm và quyền hạn chủ chốt trong việc quản lý, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính trong việc quản lý, giám sát đảm bảo an toàn hệ thống tài chính
Ngoài ra, để thực hiện tốt chức năng của mình, NHNN Việt Nam phải có những cải tổ nhất định bộ máy tổ chức để tinh gọn, linh hoạt và hoạt động hiệu quả nhất Cụ thể:
- Cơ cấu lại các chi nhánh theo hướng tập trung và không áp dụng một cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ đồng nhất đối với tất cả các chi nhánh Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để hình thành các chi nhánh khu vực sau năm 2010
- Quy mô và phạm vi hoạt động, cơ cấu tổ chức của các chi nhánh NHNN sẽ có
sự điều chỉnh phù hợp với yêu cầu quản lý tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên từng địa bàn cũng như những thay đổi trong sắp xếp, tổ chức các hoạt động nghiệp vụ của từng chi nhánh NHNN thuộc các lĩnh vực chủ yếu như thanh tra, giám sát, cung ứng tiền
mặt và thanh toán (Nguồn: Định hướng phát triển NHNN giai đoạn 2006 – 2010)