Một trong những nguyên nhân sâu sa khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam chưa mở rộng được thị phần tại quốc gia rộng lớn này đó chính là thái độ thờ ơ, chưa quan tâm đúng mức đến mức độ ả
Trang 1Trung Quốc là một nước láng giềng nằm giáp phía Bắc Việt Nam, “ núi liền núi,
sông liền sông” Như một tất yếu khách quan, quan hệ ngoại giao, văn hoá, thương
mại giữa hai nước từ lâu đã trở thành mối quan hệ truyền thống bền vững Trong
lịch sử, những biến động về chính trị, xã hội đã từng có những ảnh hưởng tiêu cực
nhưng chưa bao giờ triệt tiêu hoàn toàn mối quan hệ giữa nhân dân hai nước
Chính vì vậy, sau một thời kỳ sóng gió, với sự nỗ lực của cả hai bên, quan hệ đã trở
lại bình thường hoá vào cuối năm 1991 Từ đó cho đến nay, quan hệ thương mại
giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã có những bước tiến mạnh mẽ Tuy
nhiên, mối quan hệ này vẫn chưa thực sự phát phát huy và khai thác tương xứng
với tiềm năng vốn có của nó Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của ta hàng
năm sang Trung Quốc vẫn còn quá nhỏ bé Một trong những nguyên nhân sâu sa
khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam chưa mở rộng được thị phần tại quốc gia
rộng lớn này đó chính là thái độ thờ ơ, chưa quan tâm đúng mức đến mức độ ảnh
hưởng của văn hoá kinh doanh trong hoạt động xuất khẩu
Vì vậy, để góp phần giúp doanh nghiệp hiểu được bản chất cũng như đánh giá
đúng đắn những tác động của văn hoá kinh doanh trong hoạt động kinh doanh
quốc tế, từ đó nâng cao khả năng thâm nhập của hàng hoá Việt Nam sang thị
trường Trung Quốc, tác giả đã chọn đề tài
“ Tìm hiểu văn hóa kinh doanh Trung Quốc và triển vọng thâm nhập của hàng hoá
Việt Nam vào thị trường Trung Quốc ” để viết luận văn tốt nghiệp
Nội dung của Luận văn tốt nghiệp gồm 3 phần chính:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về văn hóa kinh doanh và văn hoá kinh
doanh Trung Quốc
Chương II: ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh Trung Quốc đến việc thâm nhập
của hàng hoá Việt Nam sang thị trường Trung Quốc
Chương III: Triển vọng và Giải pháp giúp thúc đẩy thành công khả năng thâm nhập
của hàng hoá Việt Nam sang thị trường Trung Quốc
Vì văn hoá là một vấn đề rộng lớn và phức tạp, cho nên trong quá trình phân tích,
trình bày chắc chắn vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu sót Tác giả rất mong nhận
được những góp ý xây dựng của thầy cô và bạn đọc
Nhân đây, cho phép tác giả được bày tỏ lòng biết ơn đối với tập thể thầy, cô giáo
khoa Kinh tế Ngoại thương đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ trong quá trình
nghiên cứu đề tài này Đặc biệt, tác giả cũng xin chân thành cảm ơn, Th.S Nguyễn
Trang 2Hoàng ánh, người đã tận tình hướng dẫn và cho những nhận xét quý báu, giúp tác
giả có thể hoàn thiện và nâng cao thêm chất lượng nội dung của Luận văn tốt
nghiệp
Trang 3I Giới thiệu chung về văn hoá
1 Bản chất và định nghĩa văn hoá
Trước khi đi đến một định nghĩa tổng quát về bản chất của văn hoá đủ để làm cơ sở
lý luận và định hướng đúng về vấn đề văn hoá kinh doanh nói chung và văn hoá
kinh doanh Trung Quốc nói riêng, chúng ta cần tìm hiểu bản chất cốt lõi của văn
hoá.7
Từ Văn hoá mà chúng ta đang dùng có cội nguồn từ chữ Hán Theo quan
niệm của phương Đông, từ “Văn hoá” bao gồm Văn là vẻ đẹp nhân tính, là cái đẹp
tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách
thức cai trị đúng đắn của người cầm quyền Chữ Hoá trong văn hoá là việc đem cái
văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hoá, giáo dục và hiện thực hoá trong thực
tiễn đời sống Chung quy, theo cách hiểu này, văn hoá là văn trị giáo hoá, là giáo
dục, cảm hoá bằng điển chương, lễ nhạc, không dùng hình phạt tàn bạo và sự
cưỡng bức
ở phương Tây, từ văn hoá bắt nguồn từ tiếng La tinh là Cultura Nó bao hàm ý
nghĩa trồng trọt, nuôi dưỡng, cư trú, luyện tập, lưu tâm Từ đó mà có culture (tiếng
Anh, Pháp), kultur (tiếng Đức), kultura (tiếng Nga) Trong tiếng Anh, Pháp, Đức,
Nga hiện nay, từ culture vẫn giữ lại một số hàm nghĩa ban đầu của tiếng la tinh
Như vậy, văn hoá, trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây, đều có
một nghĩa chung căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con người (cá nhân,
cộng đồng, xã hội loài người); cũng có nghĩa làm cho con người và cuộc sống trở
nên tươi đẹp
Tuy nhiên, văn hoá là một thực thể năng động, luôn luôn phát triển, song
song với sự phát triển của văn minh nhân loại Nội dung của nó có thể xác định
trong bốn mặt: các thành tựu thuộc văn minh vật chất, các thành tựu của văn hoá
nhận thức (nhân sinh quan, thế giới quan, triết học, mỹ học, văn học, nghệ thuật ),
các thành tựu của văn hoá ứng xử (bao gồm các thang giá trị trong cách ứng xử với
thiên nhiên và ứng xử với con người, với gia đình, với xã hội ), các thành tựu của
văn hoá tổ chức đời sống (bao gồm các thang giá trị trong cách tỏ chàc đời?số‹g
gia đình, cộng đồng, xã hội )
Trang 4ch sử với chức năng giáo dục
( Tính nhân bản với chức năng giao tiếp
Qua phân tích tìm hiểu về bản chất và các thuộc tính của văn hoá ta có thể định
nghĩa văn hoá như sau:
“Văs hŠá là hệ thốnw các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, lưu truyền
và phát triển qua quá trình sáng tạo của con người trong sự tương tác với môi
trường tự nhiên và xã hội” (Lương Duy Thứ$- Đại cư0ng văn hoá Phương Đông)
2 Các yếu tố của văn hoá
Mặc dù, văn áoá là bức chân dung rất phức tạp của một dân tộc, nhưng nhìn chung
bất kỳ nền văn hoá nào cũng bao gồm các yếu#tố sau: ùhẩm mỹ, giá trị và thái độ,
phong tục và tập quán, cấu trúc xã ởội và ngôn ngữ
2.1 Thẩm mỹ
Thẩm mỹ là những gì mà một nền văn hoá cho là đẹp khi Đem xét đến các khía
cạnh như nghệ ộhuật (bao gồm âm nhạc, hội hoạ, nhảyU úa, kịch nói và kiến trúc);
hình ảnh thể hiện gợi cảm qua các ỉhểu hiện; và sự _ượng trưng của các màu sắc
Giá trị thẩm mỹ của một xã hội liên quan đến một nền văn hoá nhất định Ví dụ,
quao niệm
tr
n th
giới về màu sắc rất khác nhau ở phương Tây, áo cưới thườkg làà=àu trắng, trong
khi ở Châu á, theo quan niệm cổ truyền, màu trắng lại tượng trưng cho sự tang tóc
2.2 @Giá tRị Và thái độ
Giá trị (value) là những niềm tin và chuẩn mực chungƠcho ‘ốt tập thể người được
các thành viên chấp nhận, còn thái độ (attitude) là sự đánh giá những giải pháp
khác nhau dựa trên những giá trị này Giá trị và thái độ của mỗi quốc gia là khác
nhau vì chúng được hình thành trong những môi trường văn hoá khác nhau Chẳng
hạn, ở Nhật, giá trị là sự đồng lòng trong nhóm, mọi người đều tin cậy lẫn nhau
Trong khi đó, ở Mỹ giá trị là tự do cá nhân, người Mỹ có thể làm theo sở thích
hoặc thay đổi lối sống của mình cho dù có phải từ bỏ mọi cam kết với gia đình, với
cộng đồng Do vậy, muốn hoạt động cho phù hợp với từng hoàn cảnh, môi trường
Trang 5mới chúng ta cần phải hiểu rõ về thái độ cũng như giá trị của từng nền văn hoá
2.3 Tập quán và phong tục
Phong tục tập quán là những quy ước thông thường của cuộc sống hàng ngày Đó
là những quy ước xã hội có liên quan đến các vấn đề như: nên ăn mặc như thế nào
trong từng hoàn cảnh cụ thể, như thế nào thì được coi là cách cư xử đúng đắn, cách
sử dụng các đồ dùng ăn uống (dao, dĩa, đũa ) trong bữa ăn, cách xử sự với những
người xung quanh Trong khi phong tục tập quán quy định các cách cư xử được
coi là phù hợp thì vi phạm phong tục tập quán không phải là vấn đề nghiêm trọng
2.4 Cấu trúc xã hội
Cấu trúc xã hội thể hiện cấu tạo nền tảng của một nền văn hoá Nó bao gồm ba
yếu tố quan trọng dùng để phân biệt các nền văn hoá, đó là: các nhóm xã hội, địa
vị xã hội và tính linh hoạt của xã hội Cấu trúc xã hội sẽ góp phần hình thành nên
cách hành xử riêng của mỗi dân tộc trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh doanh
2.5 Tôn giáo
Tôn giáo là một hệ thống các tín ngưỡng và nghi thức liên quan đến lĩnh vực thần
thánh Có thể nói, tôn giáo có một mối quan hệ rất mật thiết với đời sống hằng
ngày của con người Nó ảnh hưởng lớn đến vai trò của nam giới và nữ giới, ảnh
hưởng tới lối sống, tới tập quán và đạo đức xã hội (các nghi lễ, đám cưới, đám
ma ) Do vậy, hiểu biết về tôn giáo là một trong những yếu tố then chốt để hiểu
được bản sắc của một nền văn hoá
2.6 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một yếu tố hết sức quan trọng của văn hoá Chính nhờ ngôn ngữ mà
con người mới có thể xây dựng và duy trì văn hoá của mình Bởi lẽ, với tính chất
truyền thống, văn hoá có thể được truyền từ đời này qua đời khác Trong khi đó, cơ
chế truyền thống hoạt động được là nhờ có ngôn ngữ làm công cụ lưu trữ và truyền
đạt thông tin Do đó, chúng ta chỉ có thể hiểu thực sự một nền văn hoá khi biết
ngôn ngữ của nền văn hoá đó
2.7 Giáo dục
ở đây, giáo dục được hiểu là giáo dục chính quy và không chính quy Giáo dục
chính quy là nền giáo dục mà học viên, nhất là lớp trẻ, được tiếp nhận tại nhà
trường, còn giáo dục không chính quy là những gì họ tiếp thu được ở gia đình và
xã hội Trong phần lớn các nền văn hoá, các kỹ năng cần thiết trong cuộc sống như
ngôn ngữ, nhận thức hay toán học được dạy thông qua hệ thống giáo dục chính
quy Gia đình và các nhóm xã hội khác nhau cung cấp những hướng dẫn không
Trang 6chính thức về tập quán và cách thích nghi với xã hội Như vậy, hệ thống giáo dục
đã góp phần không nhỏ vào việc hình thành tính truyền thống, tập quán, giá trị của
mỗi nền văn hoá
Như một tất yếu, sự khác biệt về văn hoá giữa các quốc gia đã tạo ra những nét đặc
trưng riêng biệt đối với các khía cạnh của cuộc sống, trong đó có hoạt động kinh
doanh
3 ảnh hưởng của các nhân tố văn hoá trong kinh doanh quốc tế
Khi người mua và người bán ở khắp nơi trên thế giới gặp gỡ nhau, họ mang theo
nền tảng giá trị, thái độ, đức tin cũng như tập quán lối sống khác nhau Do vậy, am
hiểu nền văn hoá của nước sở tại, văn hoá của từng khu vực trên thế giới là vô cùng
quan trọng Bởi nó sẽ giúp cho công ty gần gũi hơn với nhu cầu và mong muốn của
khách hàng, từ đó sẽ nâng cao sức cạnh tranh của công ty
3.1 Thẩm mỹ
Vấn đề thẩm mỹ là quan trọng khi một hãng có ý định kinh doanh ở một nền văn
hoá khác Nhiều sai lầm có thể xảy ra do việc chọn các màu sắc không phù hợp với
quảng cáo, bao bì sản phẩm và thậm chí các bộ quần áo đồng phục làm việc Ví
dụ, màu xanh lá cây là màu được ưa chuộng của đạo Hồi và được trang trí trên lá
cờ của hầu hết các nước Hồi giáo Do đó, bao bì sản phẩm ở đây thường là màu
xanh lá cây để chiếm lợi thế về cảm xúc này Trong khi đó, đối với nhiều nước
châu á, màu xanh lá cây tượng trưng cho sự ốm yếu Chính vì vậy, các công ty cần
phải nghiên cứu thận trọng màu sắc và tên gọi sản phẩm để chắc chắn rằng nó
không gợi lên bất kỳ phản ứng không trù bị trước nào
3.2 Giá trị và thái độ
Giá trị: Các giá trị là quan trọng đối với kinh doanh vì nó ảnh hưởng đến ước muốn
vật chất và đạo đức nghề nghiệp của con người Ví dụ, như uống bia rượu là một
trong những thói quen của người châu Âu, nhưng nếu như buôn bán và sử dụng
những sản phẩm này ở các quốc gia theo luật Hồi giáo chắc chắn sẽ bị phản đối vì
vi phạm điều cấm kỵ trong tín ngưỡng của họ Do đó, các nhà kinh doanh cần phải
tôn trọng cá giá trị trong nền văn hoá bản địa đối với những hoạt động kinh doanh
như vậy Chúng ta không những phải chú ý đáp ứng nhu cầu sản phẩm cho người
dân ở đó mà còn phải chú ý tới ảnh hưởng của sản phẩm và hoạt động kinh doanh
đối với quan niệm, thói quen truyền thống của người địa phương
Thái độ: Mỗi một nền văn hoá lại có một mẫu thái độ khác nhau đối với các khía
cạnh của cuộc sống Có nền văn hoá sẽ dễ dàng tiếp nhận các đặc trưng của nền
Trang 7văn hoá khác, nhưng cũng có nền văn hoá trong đó việc thừa nhận các đặc trưng
của một nền văn hoá khác là rất khó khăn Nguyên nhân của sự chống đối này là
do chủ nghĩa vị chủng Nhiều hoạt động kinh doanh quốc tế đã không đạt được kết
quả như mong muốn do sự chống đối của Chính phủ, người lao động hoặc công
luận khi các công ty cố thay đổi văn hoá của địa phương đó Ví dụ, khi các rào cản
đầu tư và thương mại giảm, các công ty bán hàng tiêu dùng và dịch vụ giải trí - như
hãng Coca-cola, Walt-Disney và MTV - tự do hơn trong việc thâm nhập các thị
trường Nhiều người chỉ trích rằng trong hoạt động xuất khẩu sản phẩm và đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài của các hãng đó, nước Mỹ đang thực thi chủ nghĩa bành
trướng văn hoá - sự thay thế những truyền thống, tính anh dũng dân tộc, sự tôn tạo
của một nền văn hoá bằng những nét đặc sắc của một nền văn hoá khác Chính vì
vậy, các sản phẩm của Walt-Disney và công viên Disneyland Paris đã gặp phải sự
phản đối của người Pháp Do vậy, các chính sách và tập quán lạ so với tín ngưỡng
lâu đời tại địa phương cần phải được giới thiệu từ từ để đạt được thành công trong
việc thâm nhập hàng hoá, dịch vụ sang thị trường nước đó
Như vậy, sự am hiểu văn hoá địa phương có thể cho các nhà kinh doanh biết rõ khi
nào sản phẩm hoặc hoạt động xúc tiến phải được điều chỉnh theo sở thích địa
phương, theo cách thức phản ánh các giá trị và thái độ của họ
3.3 Tập quán và phong tục
Khi tiến hành kinh doanh ở một nền văn hoá khác, điều quan trọng đối với mỗi
doanh nhân là phải hiểu phong tục, tập quán của người dân nơi đó Ví dụ, tặng quà
là một trong những hình thức hiệu quả để xây dựng niềm tin đối với khách hàng,
để xâm nhập thị trường, nhưng chúng ta cũng cần phải chú ý đến hình thức quà sao
cho phù hợp với từng quốc gia Chẳng hạn, ở Nhật, quà phải được gói một cách cẩn
thận và tinh tế (đòi hỏi người gói quà phải được đào tạo về công việc này) Vì vậy,
hiểu được tập quán và phong tục của từng nền văn hoá không những sẽ giúp cho
các doanh nhân tránh được những sai lầm không đáng có mà còn tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm công ty mình hiệu quả hơn
3.4 Cấu trúc xã hội
Tìm hiểu cấu trúc xã hội của từng thị trường là vô cùng quan trọng Bởi nó tác
động đến tâm lý của người dân Chẳng hạn để giành được sự thâm nhập vào trong
những thị trường mang tính gia đình là khó khăn Vì các yếu tố chất lượng và giá
cả không phải là những động cơ hiệu quả để người dân này bỏ qua các mối quan
hệ gia đình Do đó, hiểu biết về cấu trúc xã hội sẽ giúp cho các doanh nhân có
Trang 8Các tôn giáo khác nhau có quan điểm khác nhau về thời gian, việc làm, tiết kiệm,
hàng hoá, thời gian mở cửa hoặc đóng cửa, ngày nghỉ, kỳ nghỉ, lễ kỷ niệm Chẳng
hạn, trong những ngày lễ Sabbat, các tín đồ theo đạo Do Thái, sẽ không làm việc
Thay vào đó, họ sẽ về nhà cầu nguyện Chính vì vậy, các hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp phải được tổ chức sao cho phù hợp với từng tôn giáo chi phối
trên thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động
3.6 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng trong nền văn hoá của từng quốc gia Nó cung
cấp cho các nhà sản xuất kinh doanh quốc tế một phương tiện quan trọng để giao
tiếp Đặc biệt, ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, hoạt động kinh doanh muốn mở
rộng, trước hết đòi hỏi phải thống nhất sử dụng ngôn ngữ Thông thường các công
ty đa quốc gia có hàng trăm chi nhánh, các công ty con, các đại lý phân phối ở các
quốc gia khác nhau ở đây diễn ra các quan hệ giao dịch giữa giám đốc, các nhà
cung ứng, các khách hàng và những đối tác kinh doanh Điều này tất yếu đòi hỏi
các doanh nhân phải sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau Như vậy, trong kinh
doanh quốc tế, thông thạo ngôn ngữ của một nền văn hoá là điều hết sức cần thiết
3.7 Giáo dục
Trình độ giáo dục ảnh hưởng rất nhiều đến việc đưa hàng hoá thâm nhập ra thị
trường nước ngoài, lựa chọn các phương tiện quảng cáo Ví dụ, tại thị trường mà ở
đó tỷ lệ người mù chữ cao, các nhà quảng cáo nên sử dụng các phương tiện nghe
nhìn hơn là các tài liệu in ấn Vì vậy, các nhà kinh doanh không thể bỏ qua yếu tố
này
Các yếu tố của văn hoá như ngôn ngữ, lối sống, truyền thống, tập quán ảnh
hưởng trực tiếp, hoặc gián tiếp lên hoạt động kinh doanh quốc tế và tác động của
chúng không giống nhau Vì vậy, các doanh nhân cần phải căn cứ vào từng biến số
về yếu tố văn hoá để phát hiện những xu hướng vận động của chúng trong từng
thời kỳ, hoàn cảnh cụ thể, từ đó hoạch định chi tiết các giải pháp kinh doanh cho
phù hợp
II Giới thiệu chung về văn hoá kinh doanh
1 Khái niệm văn hoá kinh doanh
1.1 Khái niệm kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh cần cho cuộc sống cũng như cuộc
Trang 9sống cần cho kinh doanh Đây là một nghề chính đáng, là một hoạt động cơ bản
của con người xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công lao động
tạo ra Kinh doanh (danh từ, động từ hoặc cả hai) gồm nhiều hình thức khác nhau
buôn bán (thương mại), sản xuất, dịch vụ (du lịch, thông tin, y tế, giáo dục, tư
vấn ) Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá và thị trường, trên thực tế đã
xuất hiện không ít khái niệm về kinh doanh, nhưng để phục vụ cho việc nghiên cứu
nội dung bài Luận văn tốt nghiệp, tác giả đã chọn khái niệm kinh doanh của Luật
Doanh nghiệp năm 1999
“ Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình
đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi ” (Điều 3-Luật doanh nghiệp)
Chủ thể kinh doanh là những người làm kinh doanh Khách thể kinh doanh là
những khách hàng của chủ thể Nguyên tắc cơ bản của kinh doanh là đôi bên (chủ
thể và khách thể hoặc nhiều chủ thể) cùng được lợi Người kinh doanh phải căn cứ
vào nhu cầu, thị hiếu sở thích của khách hàng mục tiêu mà anh ta nhắm vào để
cung cấp cho họ một lượng hàng hoá dịch vụ nào đó nhằm thu một lượng tiền với
một mức lợi nhuận nhất định Ngược lại, khách hàng có quyền chấp nhận hàng hoá
và trả tiền hay không, qua đó thực hiện việc có bỏ phiếu hay không cho sự thành
đạt của người kinh doanh
Mặc dù kinh doanh là nhằm mục đích sinh lợi nhưng thực tế, giữa kinh doanh và
văn hoá có một mối quan hệ mật thiết, vừa thống nhất vừa phụ thuộc vào nhau
1.2 Khái niệm về văn hoá kinh doanh
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt nam đang tồn tại nhiều cách khái niệm
khác nhau về văn hoá kinh doanh Nhìn chung, những quan điểm này có thể được
chia thành hai nhóm:
( Quan điểm thứ nhất: coi văn hoá kinh doanh gần như đồng nghĩa với văn hoá
trong kinh doanh Theo đó, các nhà nghiên cứu Viện kinh doanh Nhật bản - Hoa
kỳ (Japan America Business Academy - JABA), trong cuộc hội thảo mang tên “Mở
khoá vào tư duy kinh doanh của người Nhật” (Unlocking the Japanese Business
Mind), đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá kinh doanh có thể được định nghĩa như ảnh
hưởng của những mô hình văn hoá của một xã hội đến những thiết chế và thông lệ
kinh doanh của xã hội đó ”
( Quan điểm thứ hai: Theo quan niệm này, các nhà nghiên cứu coi tập thể những
người làm việc cho một doanh nghiệp là một cộng đồng riêng biệt, do đó sẽ được
Trang 10phân biệt bằng “một tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách
ứng xử và sự giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng"
(Khái niệm văn hoá của UNESCO) Đã có rất nhiều khái niệm VHKD theo quan
niệm này được đưa ra, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn nào
được chính thức công nhận
Nhìn chung, cách nhìn thứ hai có phần hẹp hơn quan niệm của nhóm thứ nhất, chủ
yếu đi sâu vào phần quản lý doanh nghiệp trong kinh doanh Để phục vụ cho quá
trình tìm hiểu ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh trong hoạt động kinh doanh quốc
tế nói chung và khả năng thâm nhập của hàng hoá ra thị trường nước ngoài nói
riêng, tác giả chọn khái niệm văn hoá kinh doanh của các nhà nghiên cứu Viện
kinh doanh Nhật bản - Hoa kỳ (Japan America Business Academy - JABA)
“Văn hoá kinh doanh có thể được định nghĩa như ảnh hưởng của những mô hình
văn hoá của một xã hội đến những thiết chế và thông lệ kinh doanh của xã hội đó”
(JABA)
Đối với một người làm kinh doanh hay một tổ chức kinh doanh cụ thể thì văn hoá
tồn tại tiềm ẩn trong họ như một nguồn lực, hệ giá trị mà muốn khơi dậy, phát
huy được cần có thời gian, môi trường và sự tác động phù hợp
1.3 Các đặc điểm của văn hoá kinh doanh
Văn hoá kinh doanh có ảnh hưởng sâu rộng đến nhận thức và hành động của con
người trên thương trường Trên thực tế đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
đến vấn đề này Để phục vụ cho lĩnh vực kinh doanh quốc tế, kết qủa nghiên cứu
của Hofstede là phù hợp hơn cả Theo Hofstede, văn hoá dân tộc không phải là đặc
tính riêng của từng cá nhân mà là của một số đông người được qui định bởi cùng
một môi trường, một nền giáo dục và những kinh nghiệm sống tương tự nhau Qua
nghiên cứu, Hofstede đã rút ra bốn khía cạnh của văn hoá đó là sự phân cấp quyền
lực, tính cẩn trọng, tính đối lập chủ nghĩa cá nhân/ chủ nghĩa tập thể và nam
quyền/nữ quyền Tuy nhiên, văn hoá kinh doanh chính là sự ảnh hưởng của văn
hoá xã hội đến thiết chế và thông lệ kinh doanh Do vậy, văn hóa kinh doanh cũng
có những đặc điểm giống như văn hoá
( Sự phân cấp quyền lực (Power distance): Sự phân cấp quyền lực thể hiện
mức độ bất bình đẳng của xã hội Trong những xã hội có khoảng cách quyền lực
cao, con người có khả năng về tài sản, vị trí xã hội khác nhau, sẽ có quyền lực rất
khác nhau Cấp dưới (người có quyền lực thấp) phải tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh
của cấp trên (người có quyền lực cao), còn cấp trên là người có quyền quyết định
Trang 11mọi việc Ngược lại, những xã hội có khoảng cách quyền lực thấp, sự bất công ít
hơn, mọi người cố gắng duy trì sự công bằng tương đối trong việc phân công
quyền lợi, địa vị và của cải Trong các xã hội này, cấp dưới không phải nhất nhất
tuân theo mệnh lệnh cấp trên, mà thông qua cấp trên điều phối để công việc của họ
được thực hiện trôi trảy
( Tính cẩn trọng (Uncertainly avoidance): Tính cẩn trọng là thước đo đánh
giá cách xã hội phản ứng lại những điều không chắc chắn, những tình thế bất ổn
trong cuộc sống hàng ngày Đối với xã hội có tính cẩn trọng thấp, các thành viên
có thể chấp nhận và đối phó với rủi ro, bất trắc mà không quá lo lắng, sợ hãi Vì
thế, những người sống trong xã hội này sẽ khoan dung hơn đối với các ý kiến và
cách cư xử không giống họ Ngược lại, những người sống trong xã hội mang tính
cẩn trọng cao, luôn đề phòng mọi bất trắc Do vậy, họ thường có một khoản tiền
bảo hiểm cho an toàn lao động, tiền hưu trí
( Chủ nghĩa cá nhân / chủ nghĩa tập thể (Individualism / collectivism): mô tả
mối quan hệ giữa một cá nhân với những người xung quanh, qua đó cho thấy mối
tương quan giữa tính cá nhân và tập thể Dựa trên khía cạnh này ta thấy: Một thái
cực gồm những xã hội có mối quan hệ giữa các cá nhân rất lỏng lẻo Những xã hội
như vậy cho phép mức độ tự do cá nhân rất rộng rãi và mỗi người phải tự chăm lo
đến lợi ích cá nhân của chính bản thân mình Một thái cực khác, là những xã hội
có tính tập thể cao, có nghĩa là xã hội với những mối quan hệ rất chặt chẽ giữa các
cá nhân, tạo thành những nhóm người có chung quyền lợi (tập thể) Trong xã hội
như vậy, mọi người cùng chăm lo cho lợi ích tập thể và chỉ bảo vệ những ý kiến và
niềm tin mà tập thể đã thông qua
( Tính đối lập giữa nam quyền/ nữ quyền (Masculinity/Femininity) Nam
quyền/nữ quyền phản ánh mức độ xã hội tuân theo những tiêu chuẩn mà theo
truyền thống được xem như nam quyền hay nữ quyền chiếm ưu thế Ví dụ, những
tiêu chuẩn nam quyền bao gồm sự quyết đoán, tôn trọng người thành đạt, người
giỏi kiếm tiền và sự giàu có Những tiêu chuẩn nữ quyền bao gồm sự quan tâm đến
vấn đề chăm sóc, giáo dục, bảo vệ môi trường và bênh vực cho người yếu thế Theo
nghiên cứu của Hofstede, Nhật, australia, Italia, là những nước có tính nam quyền
điển hình, còn Na-Uy, Thuỵ Điển, Hà Lan và Đan Mạch là những nước có tính nữ
quyền cao
Mỗi một quốc gia khác nhau có đặc điểm văn hoá kinh doanh khác nhau Nghiên
cứu môi trường kinh doanh quốc tế trên các khía cạnh văn hoá kinh doanh có ý
Trang 12nghĩa to lớn trong hoạt động ngoại thương Bởi nó giúp doanh nghiệp sắp xếp,
phân loại các quốc gia theo nhóm nước có những đặc điểm khá tương đồng và
những nhóm nước có những nét khác nhau, từ đó có những hướng đi phù hợp với
từng loại hình hoạt động kinh doanh, đặc biệt kinh doanh xuất khẩu hàng hoá
2 ảnh hưởng của các nhân tố văn hoá kinh doanh đến quá trình thâm nhập của
hàng hoá ra trị trường nước ngoài
Trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu, chủ thể kinh doanh
muốn thu được lợi nhuận, trước hết phải căn cứ vào nhu cầu, thị hiếu sở thích của
khách hàng, thị trường mục tiêu để cung cấp hàng hoá, dịch vụ Trên thực tế, thị
hiếu, tâm lý tiêu dùng của người dân chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các đặc trưng của
nền văn hoá kinh doanh quốc gia nơi mà họ sống Do vậy nghiên cứu tâm lý tiêu
dùng dưới góc độ văn hoá kinh doanh dân tộc có ý nghĩa quan trọng đối với các
doanh nhân
2.1 ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến tâm lý tiêu dùng
( Sự phân cấp quyền lực (Power distance)
Tính hữu dụng xã hội trong một sản phẩm là kết quả của sự liên kết giữa nó với bộ
phận kinh tế xã hội nào đó Đó là tính hữu dụng đã trao “địa vị” cho các sản phẩm
Người ta cho rằng những xã hội với khoảng cách quyền lực cao như Venezuela và
Mexico sẽ coi trọng giá trị “địa vị” của một sản phẩm cụ thể ở mức độ lớn hơn là
những nền văn hoá với khoảng cách quyền lực thấp như Đan Mạch và áo
( Tính cẩn trọng (Uncertainly avoidance)
Người mua quen sống trong một nền văn hoá mang tính cẩn trọng cao thường
quan tâm đến tính an toàn, có quan điểm giảm bất trắc khi ra giá Có thể nói rằng,
điểm nổi bật trong quá trình lựa chọn sản phẩm của những xã hội này đó là nhãn
hiệu đã được thiết lập, bảo hành ở mức tối đa và bảo đảm nhận lại được tiền Dựa
trên kết quả nghiên cứu của Hofstede, Bỉ, Pháp là những nước có tính cẩn trọng
cao, còn Đan Mạch, Thuỵ Điển là những nền văn hoá điển hình mang tính cẩn
trọng thấp, Mỹ nằm ở khoảng giữa
( Chủ nghĩa cá nhân/ Chủ nghĩa tập thể (Individualism / collectivism)
Những nước thể hiện chủ nghĩa cá nhân cao (như Mỹ) chú trọng vào việc tìm kiếm
sự đa dạng và hài lòng hơn hẳn so với những xã hội mang tính tập thể cao như
Nam Tư và Colombia Theo Sheth (1983), thuật ngữ “epistemic value” (giá trị hữu
dụng) được sử dụng để mô tả những đặc tính hữu dụng của sản phẩm nhằm phục
vụ cho những nhu cầu mới lạ, đa dạng và lập dị của con người Như vậy, những đặc
Trang 13tính của sản phẩm được thiết kế hữu dụng epistemic sẽ được người tiêu dùng Mỹ
đánh giá cao hơn là người tiêu dùng Colombia
( Nam quyền/ nữ quyền (Masculinity/Femininity )
Thị hiếu, tâm lý tiêu dùng của người dân cũng phụ thuộc vào tính nam quyền/ nữ
quyền của từng nền văn hoá kinh doanh Thông thường, các sản phẩm “thân thiện
với môi trường” như bao bì có thể tự phân huỷ hay tái chế sẽ có sức hấp dẫn lớn
đối với các nước Bắc Âu (những nước có tính nữ quyền tương đối nhiều) hơn
những nước có tính nam quyền, như là Venezuela và Italia
Như vậy, nghiên cứu đặc trưng của từng nền văn hoá kinh doanh dân tộc là một
trong những biện pháp cạnh tranh hữu hiệu giúp doanh nghiệp chiếm được tìm cảm
của khách hàng, qua đó tác động vào sự lựa chọn của họ đối với sản phẩm và dịch
vụ của công ty
2.2 ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến đàm phán
Trong kinh doanh quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu, bất kỳ một doanh
nghiệp nào cũng muốn nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm công ty mình, muốn
mở rộng thị phần, nhằm thu được nhiều lợi nhuận Và đàm phán là một trong
những biện pháp giúp các doanh nghiệp đạt được mục đích đó Cũng như tâm lý
tiêu dùng, đàm phán chịu sự chi phối bởi bốn đặc trưng của văn hoá kinh doanh
( Sự phân cấp quyền lực (Power distance)
Những xã hội có khoảng cách quyền lực cao thường nhìn người khác như một mối
đe doạ và do đó ít có chiều hướng tin vào người khác Ngược lại, những người sống
trong xã hội có khoảng cách quyền lực thấp, cảm thấy ít bị đe doạ bởi người khác
hơn và do đó cũng tin tưởng người khác hơn Kết quả là những người trong xã hội
có khoảng cách quyền lực cao sẽ chỉ thương thảo sau khi đã thiết lập được lòng tin
vào người bán hàng Vì vậy, phong cách giao tiếp “hướng vào công việc”- mong
muốn chỉ phải bỏ ra thời gian, công sức và nỗ lực tối thiểu - có thể có ý nghĩa ở
những nước Tây Âu, có khoảng cách quyền lực tương đối thấp, nhưng sẽ không
mang lại kết quả mong đợi ở Trung Đông
Không chỉ vậy, những xã hội có khoảng cách quyền lực cao thường nhấn mạnh sự
cần thiết phải trao đổi thông tin rõ ràng trong khi truyền đạt về những lợi ích của
sản phẩm, những đặc điểm bảo hành và cả những điều khoản đối phó với sự kiện
bất ngờ Trong khi đó, những người sống trong xã hội có nền văn hoá mang tính
quyền lực thấp sẽ có khuynh hướng đàm phán theo kiểu khuyến khích sự linh hoạt
trong việc quy định trách nhiệm, trong giao hàng và các khía cạnh khác trong đàm
Trang 14phán thương mại Phong cách giao tiếp của những người này có phần ít hình thức,
ít bị chi phối bởi nhiệm vụ hơn khi so sánh với phong cách của người chịu ảnh
hưởng văn hoá kinh doanh mang tính khoảng cách quyền lực sâu sắc
( Tính cẩn trọng (Uncertainly avoidance)
Hofstede đã nhận xét rằng những nền văn hoá mang tính cẩn trọng thường có
phong cách giao tiếp theo truyền thống với những nguyên tắc giao dịch cơ bản đã
được nhiều thế hệ tuân thủ Nhìn chung, những người được nuôi dưỡng trong nền
văn hóa này sẽ chậm ra quyết định đặc biệt là những quyết định liên quan đến kinh
doanh quốc tế Họ có khuynh hướng thận trọng và bảo thủ khi đưa ra những
phương pháp và cách làm mới Trong khi đó, những xã hội mang tính cẩn trọng
thấp lại có thiên hướng đổi thay khi phải đối mặt với những thách thức và cơ hội
mới
( Chủ nghĩa cá nhân / Chủ nghĩa tập thể (Individualism / collectivism )
Graham cùng các tác giả khác (1988) và đồng nghiệp của mình đã nghiên
cứu ứng dụng phương pháp giải quyết vấn đề (PSA- problem solving approach)
trong đàm phán kinh doanh Một đầu của thước đo PSA là hành vi đàm phán được
đặc trưng bởi tính hợp tác và hoà hợp ở đầu kia của thước đo là những hành vi đàm
phán được mô tả mang tính cạnh tranh và cá nhân Kết quả cho thấy, những xã hội
mang tính tập thể hay những tiêu chuẩn nam quyền có xu hướng nhằm tới việc
mang lại phúc lợi cho mọi người, còn những xã hội mang tính chủ nghĩa cá nhân
tập trung vào việc tối đa hoá một cách tương đối lợi ích của bản thân
Ngoài ra, nền văn hoá tập trung chú trọng vào lợi ích của tập thể, của xã hội
sẽ thể hiện tương đối nhiều hơn chiều hướng thích bắt chuyện ngoài xã hội, xây
dựng mối quan hệ tốt
Tóm lại, bốn khía cạnh của văn hoá kinh doanh nêu trên đã hình thành nên
tâm lý cũng như phong cách đàm phán rất riêng của từng nền văn hoá và đặc biệt
có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động xuất khẩu
3 ý nghĩa của việc nghiên cứu văn hoá kinh doanh trong việc thúc đẩy khả năng
thâm nhập của hàng hoá ra thị trường nước ngoài
Nghiên cứu ảnh hưởng của văn hoá kinh doanh đến việc xuất khẩu hàng hóa ra thị
trường nước ngoài sẽ giúp cho các doanh nghiệp biết trước được kết cục của các
giao dịch Chỉ nền kinh tế và cơ sở hạ tầng không chưa đủ để tiên đoán được cơ
hội thành công trong hoạt động xuất khẩu, mà các doanh nghiệp còn phải biết điều
chỉnh cách hoạt động kinh doanh của mình sao cho phù hợp với văn hoá kinh
Trang 15doanh của từng thị trường đối tác
Ngày nay, trong nền kinh tế thế giới tiến vào thời đại tri thức và toàn cầu hoá, triết
lý của người tiêu dùng có thể diễn tả trong câu: “Người ta không mua một sản
phẩm, người ta mua một sự thích thú” Nếu doanh nghiệp kinh doanh theo kiểu
truyền thống mà không chú ý tới tìm hiểu văn hoá kinh doanh của từng quốc gia,
thì sẽ không thể kinh doanh và phát triển trên thị trường đó được ở bất kỳ nơi đâu,
những yêu cầu về số lượng, chất lượng, công dụng và giá cả của hàng hoá cơ bản
đều giống nhau, nhưng yêu cầu về thẩm mỹ, màu sắc lại tuỳ thuộc vào dân tộc,
tôn giáo, khu vực địa lý, trình độ văn hoá tiêu dùng Các sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ nào đáp ứng được cả hai yêu cầu trên thì mới có thể chiếm được tình cảm
người tiêu dùng Để đạt được điều đó, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp phải
gắn liền với các đặc trưng của từng nền văn hoá kinh doanh Như vậy, việc đưa các
yếu tố văn hoá vào sản xuất, kinh doanh sẽ tạo ra sức sống của sản phẩm hàng hoá
xuất khẩu trên thị trường
II Giới thiệu về văn hoá kinh doanh Trung Quốc
1 Văn hoá Trung quốc
Với dân số trên 1.2 tỷ người, GDP năm 2002 đạt 929 tỷ USD, nền kinh tế lớn thứ 7
trên thế giới, Trung Quốc hiện đang được coi là thị trường hấp dẫn mà mọi quốc
gia đều muốn hướng tới Tuy nhiên, để có thể thành công trong quá trình hợp tác
kinh doanh với Trung Quốc, các doanh nghiệp trước hết cần phải hiểu rõ về bản
sắc văn hoá đất nước này Bởi hơn bao giờ hết, giao lưu hội nhập văn hoá chính là
nhịp cầu hữu nghị giữa các dân tộc Nó sẽ góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy
quan hệ thương mại giữa hai nước
1.1 Đôi nét về đất nước Trung Hoa
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, nằm trên bờ Tây Thái Bình Dương,
có tổng diện tích gần 9.6 triệu km2, là nước lớn thứ ba trên thế giới sau Nga và
Canada Đây là một đất nước có đường biên giới lục địa dài hơn 20000km, tiếp
giáp với 14 quốc gia: ấn độ, Lào, Nga, Mông cổ, Triều tiên, Kazakhstan,
Uzbekistan, Kirgyzstan, Afghanistan, Pakistan, Nepal, Bhutan, Myanmar và Việt
nam Biên giới biển tiếp giáp với 8 nước: Triều Tiên, Việt nam, Hàn Quốc, Nhật
bản, Philipin, Malaysia, Indonesia, Brunei Địa hình chủ yếu là các dãy núi, đồng
bằng rộng lớn và sa mạc ngăn cách các vùng tách biệt đã tạo ra các nền văn hoá
khác nhau ngay trong cùng một nước
Phần lớn lãnh thổ của Trung Quốc nằm trong vùng khí hậu ôn hoà Tuy
Trang 16nhiên, do đất nước rộng lớn nên điều kiện nhiệt độ và thời tiết ở các vùng rất khác
nhau Miền Bắc có mùa đông kéo dài, lạnh giá với tuyết và lượng mưa trung bình
Miền Nam có mùa đông ngắn, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Vùng cao nguyên Tây
Tạng nhiệt độ nóng ẩm quanh năm
Theo tư liệu công bố gần đây cho biết Trung Quốc có nguồn tài nguyên thiên
nhiên đứng hàng thứ ba thế giới Chủng loại và số lượng tài nguyên có thể khai
thác trong nhiều năm, đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển của đất nước
Về dân số, đây là một quốc gia đông dân nhất trên thế giới Tới cuối năm
1999 dân số là 1.24 tỷ người Tuy mật độ dân số tương đối cao (145 người/km2)
nhưng phân bố không đồng đều
Trung Quốc là quốc gia nhiều dân tộc, tổng cộng có 56 dân tộc Trong số
56 dân tộc đó, người Hán chiếm 93.3% tổng dân số (hơn 936 triệu người), 55 dân
tộc còn lại chiếm 6.7% (hơn 67 triệu người)
1.2 Văn hoá Trung Hoa
Vì đa dân tộc nên ngôn ngữ ở Trung Quốc cũng rất đa dạng, bao gồm tiếng
Quảng, tiếng Triều Châu, tiếng Phúc Kiến Nhưng từ năm 1911, cách mạng Tân
Hợi thống nhất Trung Hoa, thổ ngữ Bắc Kinh, còn gọi là tiếng phổ thông hay là
tiếng Quan thoại được chọn làm ngôn ngữ chính Chữ viết của người Hán ngày nay
đã được giản lược (so với Hán cổ) để sử dụng tiện lợi cho quảng đại quần chúng
Văn hoá Trung Hoa nổi tiếng với những học thuyết triết học của Khổng Tử,
Lão Tử, Mạnh Tử thuyết Ngũ Hành, thuyết Âm Dương Các học thuyết đó đã
ảnh hưởng không ít đến sự hình thành tính cách con người và nền văn hoá Trung
Hoa Chẳng hạn, người Hoa rất khiêm tốn, biết lo xa, mưu lược sâu sắc, cần cù lao
động,
ở Trung Quốc có bốn tôn giáo lớn, đó là Khổng giáo, Phật giáo, Đạo Lão,
và đạo thờ cúng tổ tiên, trong đó Khổng giáo ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của
người dân Trung Hoa Thiên Chúa giáo mãi đến thế kỷ 19 mới vào được Trung
Quốc nhưng không phải là tôn giáo chính
Do ảnh hưởng của đạo Khổng, nên gia đình đóng một vai trò quan trọng trong xã
hội Trung Quốc Kính trọng người lớn tuổi, thờ kính ông bà là nét đặc trưng của
người dân đất nước này Và chính xuất phát từ tinh thần gia tộc, nên người Trung
Hoa, dù theo bất kỳ tôn giáo nào, cũng không bao giờ quên việc thờ cúng tổ tiên,
mong tổ tiên phù hộ cho gia đình mình Mặt khác, ở Trung Quốc, tập thể bao giờ
cũng được đặt cao hơn cá nhân Tuy nhiên, ngày nay tư tưởng này ít nhiều cũng đã
Trang 17Ngoài ra, Triết lý Tam Cương của đạo Khổng cùng với các quy định cổ hủ khác
như chỉ con trai mới được thờ cúng tổ tiên, con gái lấy chồng mang tên nhà
chồng đã góp phần hình thành nên tư tưởng trọng nam khinh nữ của người dân
nơi đây Trong gia đình người đàn ông đóng vai trò trụ cột Ngoài xã hội, trong
khi đàn ông nắm giữ tất cả các vị trí quan trọng, phụ nữ chỉ làm việc như nhân viên
văn phòng và trợ lý quản lý Do vậy, có thể nói rằng, Trung Quốc là một xã hội
phân quyền sâu sắc
Dù truyền thống hay hiện đại, người Trung hoa luôn coi trọng quan hệ, tức “guan
xi” Bắt đầu từ huyết thống gia tộc, cuộc sống của mỗi người dần hình thành một
mạng lưới quan hệ riêng như đồng tông, đồng hương, đồng học, đồng sự Khi đối
nhân xử thế, người Trung hoa thường “lấy tôi làm trung tâm và xây dựng mối quan
hệ khác dựa trên quan hệ xa gần của đối tượng và từ đó có sự đối xử khác nhau”
2 Văn hoá kinh doanh Trung Quốc
Mặc dầu Trung Quốc không nằm trong mô hình nghiên cứu của Hofstede, nhưng
kết quả nghiên cứu về các giá trị văn hoá kiểu Trung Hoa của M.H.Bond lại cho
thấy rằng văn hoá Trung Quốc cũng có những đặc trưng giống với mô hình của
Hofstede đó là: Sự phân cấp quyền lực, chủ nghĩa cá nhân/ chủ nghĩa tập thể, tính
nam quyền/nữ quyền Tuy nhiên, đặc điểm khả năng dám chịu rủi ro không có
nghĩa tương đương trong các kết luận nghiên cứu của M.H.Bond Ngược lại, ông
đã phát hiện ra một đặc điểm mới, đó là: định hướng dài hạn hay ngắn hạn, trong
đó định hướng dài hạn được tạo nên từ các giá trị như: tính lo xa, tính kiên trì, ý
thức tiết kiệm và trọng danh dự Như vậy, từ kết quả nghiên cứu về giá trị văn hóa
Trung Hoa của M.H Bon, ta có thể rút ra kết luận một số nét đặc trưng tiêu biểu
của nền văn hoá kinh doanh đất nước này
( Sự phân cấp quyền lực cao
Người lãnh đạo có quyền quyết định mọi công việc: Trung Quốc là một
trong những xã hội có khoảng cách quyền lực cao Chính điều này đã ảnh hưởng
không nhỏ đến hoạt động kinh doanh Người lãnh đạo trong doanh nghiệp thường
quán xuyến hết tất cả các công việc, là người có quyền quyết định Trong khi đó,
nhân viên cấp dưới (người có quyền lực thấp) có ít quyền tự quyết hơn Họ phải
tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của cấp trên (người có quyền lực cao) Đặc điểm này
khác hẳn với nền văn hoá coi trọng bình đẳng, tiêu biểu như nước Mỹ Các nhân
viên cấp dưới được khuyến khích chủ động ra quyết định trong kinh doanh
Trang 18Trong đàm phán với người nước ngoài, ngưòi Trung Quốc thường tỏ vẻ bề trên:
Trung Quốc là một trong bốn “cái nôi” văn hoá của nhân loại, là cội nguồn của văn
hoá phương Đông Vì vậy, người Trung Hoa luôn tin rằng đất nước mình là nơi văn
minh nhất Và điều này được thể hiện ngay trong tên gọi “Trung Quốc”, tức là
Quốc gia Trung Tâm của Thế giới Cho đến tận đầu thế kỷ XX, người Trung hoa
vẫn gọi những người dân các nước châu á khác là rợ, còn dân phương Tây được gọi
chung là quỷ ngoại bang Mặc dù thời nay, nhận thức của người Trung quốc về
người ngoại quốc đã có những thay đổi đáng kể, nhưng những quan niệm xưa vẫn
chưa hoàn toàn biến mất Chính vì vậy, trong giao tiếp, người Trung quốc có thể tỏ
ra bề trên đôi chút với đối tác Hay khi tìm cách tiếp cận những tư tưởng và kỹ
thuật phương Tây, họ cũng tìm cách tiếp cận từ từ nhằm mục đích duy trì bản sắc
Trung Quốc
( Định hướng dài hạn
Lo xa, đa mưu túc trí: Không như người Việt Nam, người Trung Quốc nổi tiếng là
biết lo xa, đa mưu, túc trí Trong thương thảo, họ luôn tỏ ra rất có tổ chức, có tầm
nhìn chiến lược, sẵn sàng sử dụng mọi mánh khoé để gây sức ép đối tác, nhằm đạt
được mục đích của mình Người Trung Quốc thường cố tìm cách kéo dài các cuộc
thảo luận, cốt để làm cho đối phương mất kiên nhẫn Lợi dụng sự mất kiên nhẫn
này, họ sẽ ép đối phương phải nhân nhượng
Coi trọng thể diện: “Sợ mất mặt” là tính cách cơ bản của người Trung quốc Họ
đặc biệt đề cao tự trọng, không muốn bản thân mình bị mất thể diện trước người
khác cũng như làm người khác mất thể diện Đối với người lớn tuổi, thì “thể diện”
lại càng được coi trọng Do vậy, đối với một doanh nghiệp nước ngoài khi làm ăn
với người Trung Quốc cần phải đặc biệt chú ý đến vấn đề này Nếu vi phạm điều
cấm kỵ này, giao dịch chắc chắn sẽ bị thất bại
Quyết định của tập thể: Tránh bất trắc chính là một phần của biểu hiện định hướng
dài hạn Do sợ gặp phải rủi ro, nên người Trung Quốc thường thận trọng và có lúc
rụt rè khi phải quyết định đặc biệt là đối với vấn đề kinh doanh Quyết định đưa ra
thường là quyết định của tập thể, có sự tham gia góp ý, cân nhắc kỹ lưỡng của các
thành viên trong đoàn Do đó, quá trình đàm phán với người Trung Quốc thương
lâu và phải tốn thời gian
Chú trọngviệc chọn đối tác kinh doanh: Với đặc tính luôn lo xa, sợ gặp phải rủi ro,
nên người Trung Quốc rất cẩn thận trong khi chọn đối tác làm ăn Họ không dễ
dàng tin vào người khác Do vậy, trước khi làm ăn với người Trung Quốc, tốt hơn
Trang 19hết là các đối tác nên có được một sự giới thiệu Sự giới thiệu, giống như một sự
“mai mối”, của một người quen biết với họ, đã từng hay hiện tại đang giao dịch với
họ có ích cho đối tác nhiều hơn là tự bản thân đối tác nỗ lực tìm mọi cách để tạo
lập lòng tin nơi họ Chính vì thế, người trung gian đóng vai trò rất quan trọng
trong quá trình kinh doanh với người Trung Quốc, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc
Các doanh nghiệp nước ngoài nên sử dụng những người trung gian để tạo sự tin
cậy hoặc khi gặp các vấn đề mà hai bên không đồng ý
( Chủ nghĩa cá nhân/ chủ nghĩa tập thể
Bản thân trong văn hoá kinh doanh Trung Quốc tồn tại những mâu thuẫn Mặc dầu,
người Trung Quốc rất tôn trọng chủ nghĩa tập thể nhưng cũng đặc biệt quan tâm
đến lợi ích cá nhân
a/ Chủ nghĩa tập thể
Coi trọng quan hệ: Tư tưởng “coi trọng quan hệ” của người Trung Quốc đã góp
phần hình thành nên một đặc điểm rất riêng trong văn hoá kinh doanh đó là tính
tập thể Trên thực tế, “guan-xi” không có ý nghĩa như một tình cảm đơn thuần mà
còn là cơ sở để giúp đỡ nhau khi cần Do vậy, muốn hợp tác làm ăn thành công với
người Trung Quốc, đối tác nước ngoài nên tranh thủ thời gian để xây dựng mối
quan hệ với họ
Cách thức tạo vốn: Từ đặc trưng “coi trọng quan hệ”, cách thức tạo vốn kinh
doanh của người Trung hoa cũng có biểu hiện đặc thù rõ nét Nguồn vốn được huy
động một cách nhanh chóng nhờ vào tinh thần gia tộc, dòng họ và mối quan hệ
đồng hương
Kinh doanh mạng: Với bí quyết kinh doanh lâu đời đã giúp người Trung Quốc hiểu
được rằng “buôn có bạn, bán có phường” ý thức
người Hoa thoát khỏi tâm lý tiểu nông để đi đến một sự liên hiệp chặt chẽ trong
quá trình xây dựng phường, hội trong thời kỳ trước đây và các hình thức tổ chức
công ty, tập đoàn kinhể
xuyản quốc gia trong xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá hiện nay Có thể nói
rằng, kinh doanh mạng (Business network) là một hình thức hoạt động rất đặc thù
của người Hoa Khác vR
các Xập đoàn tư bản bản địa khi xây dựng các hình thức kinh doanh mạng mang
tính khu vực và Quốc tế thông qua sự bảo hộ của Chính phủ thì sự mở rộng hình
thức kinh doanh của người Hoa chủ zếu dựa vào cácÂ/ối liên hệ thân tộc, đồng
hương
Trang 20Thực chất những lợi ích cá nhân luôn ảnh hưởng rất lớn đến thương vụ của một
công ty Một thương vụ làm ăn phải đem lại đặc quyền, thu nhập hay danh tiếng
cho một người hay một nhóm người nào đó Người Trung Quốc cho rằng không
nên làm gì hết thậm chí có thể ngăn chặn không để mọi việc được tiến hành nếu
công việc đó bị chỉ trích, gây khó khăn hay chưa được tất cả những người có liên
quan thông qua trước Cách tiếp cận đặc thù của người Trung Quốc với mọi việc
theo hướng bảo vệ quyền lợi cá nhân trước tiên Bảo vệ cá nhân mình nói cho cùng
chính là bảo vệ cuộc sống “miếng cơm manh áo” Do đó, trong mọi thương vụ,
người Trung Quốc thường mặc cả rất quyếo liệt,:nhằm giành càng nhiều lợi ích về
phía'mình càng tốt
Như vậy, trong chương i, tác giả đã tập trung giới thiệu những vấn đề lý luận cơ
bản về văn hoá kinh doanh và văn hoá kinh `oanh Tổung Quốc, như: Khái niệm về
văn hoá, văn hoá kinh doanh, ảnE hưởng của các yếu tố văn hoá kinh doanh đến
hoạt động xuất khẩu hàng hoá, giới thiệu đôi nét về văn hoá kinh doanh Trung
Qổốc Trên cơ sở#đó, trong chương II, tác giả sẽ tập trung ngýiên cứu về ảnh
hưởng của văn hoá kinh doanh Trung Quốc đến khả năng thâm nhập của hàng hoá
Việt Nam sang thị trường rộng lớn này
Chương II
ảnh hưởng của Văn hoá kinh doanh Trung Quốc
đến khả năng thâm nhập của hàng hoá Việt nam
vào thị trường Trung Quốc
I Lịch sử quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc
Trung Quốc - Việt Nam là hai nước láng giềng, núi sông liền một dải, phong tục
tập quán gần gũi Việc giao lưu kinh tế giữa hai nước đã có từ rất lâu Tuy nhiên,
cùng với những bước thăng trầm của lịch sử, sự biến động của tình hình quốc tế và
khu vực, quan hệ thương mại Việt - Trung, theo đó, cũng có những sự biến động
1 Thời kỳ phong kiến
Từ năm 968, Việt Nam thoát khỏi ách thống trị phong kiến Trung Quốc, trở thành
một quốc gia độc lập Từ đó, quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam và Trung
Quốc dần dần được hình thành Tuy nhiên, lúc này, trong nước đang áp dụng chính
sách “ngăn sông, cấm chợ”, “bế quan, toả cảng” với thế giới bên ngoài Thêm vào
đó, các triều đại lo ngại sự “dòm ngó” xâm lấn lãnh thổ của phong kiến phương
Bắc Vì thế, quan hệ thương mại giữa hai nước thời bấy giờ nhìn chung kém phát
Trang 21triển, đơn điệu Buôn bán mang tính rộng lớn, quy củ còn rất hạn chế, mới chỉ có
tư thương tham gia Trong giai đoạn này, hình thức trao đổi hàng hoá giữa hai nước
chủ yếu là sự “cống nạp”, “ban thưởng” giữa các triều đại phong kiến
2 Giai đoạn từ năm 1898 đến năm 1991
2.1 Giai đoạn từ năm 1898 đến 1945
Dưới thời Pháp thuộc, nền sản xuất của đất nước ta bị kìm hãm, không phát triển
được Do chính sách khai thác thuộc địa cộng thêm chính sách thuế khoá nặng nề
của thực dân Pháp, nên phần lớn sản phẩm, nguyên liệu, khoáng sản khai thác
được chủ yếu là vơ vét, phục vụ chính quốc Mặt khác, để chống đối lại phong trào
giải phóng dân tộc, đế quốc Pháp thi hành biện pháp đóng cửa biên giới, thoả hiệp
với nhà Thanh, hoạch định lại biên giới Chính vì vậy, trong giai đoạn này, quan
hệ thương mại giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc gần như bị gián đoạn
2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1975
Sau khi ký Hiệp Định thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 18 - 1-1950, quan hệ kinh
tế thương mại Việt - Trung đã từng bước hình thành và phát triển Năm 1951, hai
nước bắt đầu quan hệ mậu dịch với nhau, và quan hệ này được chính thức hoá vào
năm 1952 khi Hiệp định thương mại được ký giữa Chính phủ hai nước
Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn này, do kinh tế của hai nước còn gặp nhiều khó
khăn, nên quan hệ kinh tế - thương mại Việt nam - Trung quốc chưa phát triển Số
lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc rất hạn chế, hàng Trung
Quốc xuất sang Việt Nam cũng không nhiều Lúc này, nhìn chung, quan hệ kinh tế
giưa chỉ mang tính chất một chiều: tập trung chủ yếu vào việc thực hiện những
Hiệp định và Nghị định thư thương mại với nội dung Trung Quốc viện trợ hay cho
Việt Nam vay
2.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến 1991
Nhưng từ sau ngày Việt Nam giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, quan hệ
hai nước diễn biến theo chiều hướng xấu, kéo theo quan hệ thương mại bị suy giảm
và chấm dứt vào tháng 2 năm 1979 Trong khoảng mười năm quan hệ Việt - Trung
không bình thường (1978-1988), việc qua lại và buôn bán giữa hai nước tuy vẫn
diễn ra qua biên giới, nhưng không “công khai”, quy mô không đáng kể
3 Từ năm 1991 đến nay
3.1 Từ năm 1991 đến 1993
Đầu thập kỷ 90, đang trên con đường cải cách, mở cửa, Trung Quốc cũng muốn
khẳng định là một cực trong thế giớ đa cực của tương lai Vì vậy, để tạo môi
Trang 22trường thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu này, bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh
phát triển kinh tế, Trung Quốc đã bắt đầu chú trọng cải thiện và tăng cường quan
hệ với các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam
Về phía nước ta, tại Đại Hội lần thứ VI năm 1986, Đảng ta đã tuyên bố “Việt Nam
sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn
vẹn lãnh tỏ của nhau” Chúng ta cũng cần môi trường hoà bình để phát triển, nên
bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, một láng giềng đồng thời cũng là một
nước lớn trên thế giới là điều kiện cần thiết
Ngày 5-11-1991, Đoàn Đại biểu cấp cao nước ta sang thăm chính thức Trung
Quốc Việc bình thường hoá quan hệ Việt - Trung theo tinh thần “khép lại quá
khứ, mở ra tương lai” là một tất yếu lịch sử, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ
kinh tế thương mại Việt Nam - Trung Quốc phát triển
3.2 Giai đoạn từ năm 1993 đến nay
Từ khi hai nước bình thường hoá qua0n hệ đến nay, Chính phủ hai nước đã lần lượt
ký hơn hai mươi Hiệp định trong lĩnh vực kinh tế thương mại, tạo cơ sở pháp lý
cho quan hệ thương mại hai nước, như Hiệp định thương mại, Hiệp định hợp tác
kinh tế và khoa học kỹ thuật, Hiệp định thành lập Uỷ ban hợp tác kinh tế thương
mại, Hiệp định hợp tác thanh toán Ngân hàng và Hiệp định giao thông đường sắt,
đường bộ, hàng không, hàng hải Một số bộ ngành, chính quyền địa phương của
hai nước cũng ký rất nhiều Hiệp định kinh tế thương mại Sự kiện quan trọng là
tháng 11 năm 1995, Uỷ ban Hợp tác kinh tế thương mại của hai nước đã tổ chức
họp lần thứ I tại Hà nội, xây dựng cơ chế thảo luận cấp Chính phủ, thúc đẩy quan
hệ hợp tác kinh tế thương mại hai nước phát triển Trên cơ sở Hiệp định đã ký,
cùng với sự cố gắng của cả hai bên, cho đến nay hai nước đã khai thông 25 cửa
khẩu ở biên giới hai nước, trong đó có 4 cửa khẩu quốc tế, 7 cửa khẩu quốc gia và
14 cửa khẩu buôn bán tiểu ngạch
Ký kết những Hiệp định và các văn kiện kể trên cùng với việc khai thông cửa khẩu
đã tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại Việt Nam -
Trung Quốc phát triển, mở ra một thời kỳ mới Trong những năm gần đây, quan hệ
thương mại hai nước nhìn chung đã có những bước tiến mạnh mẽ, kim ngạch xuất
khẩu ngày càng tăng, đóng góp có hiệu quả cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân
II Tình hình xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong thời
gian qua
Kể từ 1991 trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc không
Trang 23ngừng tăng lên, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nước nhà Đặc biệt,
năm 2002, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1.534 triệu USD, tăng 79 lần so với năm
1991 là 19,3 triệu USD Riêng 6 tháng đầu năm 2002, kim ngạch xuất khẩu Việt
Nam sang Trung Quốc đạt 794 triệu USD với mức tăng trưởng là 30% Tính trung
bình, tốc độ tăng trưởng giai đoạn từ 1991 đến nay là khoảng xấp xỉ 20%/ năm
Tốc độ phát triển này khá cao so với tốc độ phát triển thương mại Việt Nam với
một số nước khác (như Mỹ, EU, Nhật Bản) Như vậy, điều này đã phần nào chứng
minh được tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc
1 Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu sang Trung Quốc trong những năm vừa qua
1.1 Thực trạng cơ cấu hàng hoá xuất khẩu
Cùng với sự phát triển các mối quan hệ giữa Việt nam và Trung Quốc, cơ cấu hàng
hoá xuất nhập khẩu của hai nước cũng phát triển theo hướng ngày càng đa dạng
hoá về mặt hàng và chủng loại, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của cả hai bên
Hàng hoá của Việt Nam xuất sang Trung quốc gồm 4 nhóm chính là:
Nhóm hàng nguyên liệu (như than đá, dầu thô, quặng kim loại, các loại dầu, cao su
tự nhiên v.v )
Nhóm hàng nông sản (lương thực, chè, rau, gạo, sắn lát, hạt điều, các loại hoa quả
nhiệt đới như chuối, xoài, thanh long, chôm chôm v.v )
Nhóm hàng thủy sản tươi sống, thuỷ sản đông lạnh (như tôm, cá, cua )
Nhóm hàng tiêu dùng (hàng thủ công mỹ nghệ, giày dép, đồ gia dụng cao cấp
v.v )
Tỷ trọng xuất khẩu của các mặt hàng thuộc 4 nhóm trên cũng tăng dần qua các
năm, đặc biệt là 3 năm gần đây Đáng lưu ý là, Việt nam đã xuất sang Trung quốc
một mặt hàng mới chưa từng có, đó là linh kiện vi tính
Trang 27Nguồn: Hải Quan Việt Nam (Trung tâm tin học và thống kê)
Trong số các mặt hàng nêu trên, nhiều mặt hàng của Việt nam xuất khẩu sang thị
trường Trung quốc đã khẳng định được thị phần và sức cạnh tranh của mình như
dầu thô, hàng hải sản, hoa quả, cao su hạt điều v.v Đối với mặt hàng hải sản, nếu
như năm 1996 mới đạt 9,6 triệu USD, đến năm 2002 đã tăng lên 223 triệu USD
Năm 1996 mặt hàng rau quả đạt 5,1 triệu USD, đến năm 2002 cũng tăng lên đến
120,4 triệu USD Và chỉ trong 7 tháng đầu năm 2003, Việt nam đã xuất sang
Trung quốc 153 triệu USD hàng hải sản, 126 triệu USD hàng rau quả, 11 triệu
USD hàng dệt may và 3,2 triệu USD hàng giày dép Sáu tháng đầu năm 2003 đánh
dấu sự tăng trưởng mạnh của hàng dệt may, đạt 28 triệu USD Đặc biệt, đối với cao
su, Trung quốc hiện đang nhập khẩu 60% sản lượng cao su xuất khẩu của Việt
Nam (gần 80.000 tấn) (
)
Dầu thô c
ng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và tăng đều hơn so với giai đoạn trước Nếu như
1993 kim ngạch dầu thô là 31,722 triệu USD, năm 1994 giảm xuống rất thấp còn
7.600.000 USD thì năm 1996 con số này đã là 16.671.913 USD và tăng lên
141.371.655 USD năm 1997 và đạt 644 triệu USD vào năm 2002 Trong khi đó
kim ngạch xuất khẩu than đá dường như có xu hướng giảm mạnh do nhiều nguyên