1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn trần đức hùng, xã minh lập, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên

57 1,6K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -  -

ĐÀO VĂN LỘC

Tên đề tài:

TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở ĐÀN LỢN THỊT

VÀ SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI TRẠI LỢN TRẦN ĐỨC HÙNG XÃ MINH LẬP, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y

Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: 1 TS Nguyễn Thị Ngân

2 TS Nguyễn Quang Tính

Thái Nguyên, 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Qua một thời gian học tập, rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 5 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của các thầy cô, gia đình, bận bè tôi đã hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp

Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y

đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt tôi xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Ngân, người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành bản khóa luận này

Cũng qua đây, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới ông Trần Đức Hùng – chủ trang trại chăn nuôi lợn đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện chuyên

đề tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề

Đồng thời, tôi xin cảm ơn Ủy ban Nhân dân xã Trại Cài đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành đợt thực tập tốt nhất Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Thái Nguyên,ngày 24 tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Đào Văn Lộc

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình đào tạo của Nhà trường, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, ‘‘lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình dạy và học của các trường Đại học nói chung và của trường Đại học Nông Lâm nói riêng Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại kiến thức đã học, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen dần với thực tế sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm bắt được các phương pháp tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, tạo

cho mình tác phong làm việc nghiêm túc, sáng tạo

Từ những mục tiêu đó, được sự quan tâm nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y-Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sự tiếp nhận giúp đỡ tận tình của trại chăn nuôi Trần Đức

Hùng Tôi đã tiến hành thực tập tại trại với đề tài: “Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn Trần Đức Hùng, xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”

Sau thời gian thực tập với sự cố gắng nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong khoa, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Ngân đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản khóa luận này

Do thời gian và trình độ có hạn, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên quá trình thực tập không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, kính mong được sự nhận xét, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo cùng bạn bè, đồng nghiệp để bản khóa luận này hoàn chỉnh hơn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Đào Văn Lộc

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

TrangBảng 4.1 Bảng kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại Trần Đức Hùng 29Bảng 4.2: Tình hình mắc bệnh chung của đàn lợn thịt 30Bảng 4.3: Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn thịt trong tháng 12

và 4 tháng đầu năm 2015 31Bảng 4.4: Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo lứa

tuổi 34Bảng 4.5: Tỷ lệ lợn thịt mắc hội chứng tiêu chảy theo tính biệt 35Bảng 4.6: Những biểu hiện lâm sàng của lợn khi mắc hội chứng tiêu chảy

(n=258) 36Bảng 4.7 Bệnh tích chủ yếu của lợn mắc hội chứng tiêu chảy 38Bảng 4.8 Kết quả điều trị lợn mắc Hội chứng tiêu chảy 39

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 4.1: Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn thịt trong tháng 12 và

4 tháng đầu năm 2015 32Hình 4.2: Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi 34

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Cl.perfringens : Clostridium perfringens

PED : Pressure Equipment Directive (Bệnh tiêu chảy truyền nhiễm)

TGE : Transmissible Gastro Enteritis (Bệnh viêm ruột dạ dày truyền nhiễm) HCTC : Hội chứng tiêu chảy

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở khoa học 3

2.1.1 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy 3

2.1.2 Những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy 4

2.1.2.1 Nhóm nguyên nhân nội tại 4

2.1.2.2 Nhóm nguyên nhân do ngoại cảnh 7

2.1.2.3 Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy là vi khuẩn 8

2.1.2.4 Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy là virus 12

2.1.2.5 Các nguyên nhân do kí sinh trùng 15

2.1.3 Cơ chế gây hội chứng tiêu chảy và bệnh lý lâm sàng 16

2.1.4 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy 17

2.1.5 Triệu chứng và bệnh tích của hội chứng tiêu chảy 19

2.1.5.1 Triệu chứng 19

2.1.5.2 Bệnh tích 20

2.1.5.3 Các biện pháp phòng bệnh 20

2.1.5.4 Vệ sinh phòng bệnh 21

2.1.5.5 Phòng bệnh bằng vaccine 21

2.1.5.6 Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học 21

Trang 8

2.1.5.7 Điều trị Hội chứng tiêu chảy 22

2.1.5.8 Đặc điểm sinh lí của lợn con 23

2.1.5.9 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn 23

2.1.5.10 Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa 23

2.1.5.11 Đặc điểm về khả năng điều hòa thân nhiệt 24

2.1.5.12 Đặc điểm về khả năng miễn dịch 24

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 24

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 25

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 27

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu 27

3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 28

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 28

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 29

4.1.1 Công tác phòng bệnh 29

4.1.2 Công tác điều trị bệnh 30

4.1.2.1 Tình hình mắc bệnh chung của đàn lợn thịt 30

4.2 Kết quả nghiên cứu 31

4.2.1 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn thịt trong tháng 12 và 4 tháng đầu năm 2015 31

4.2.2 Kết quả điều tra tình hình lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi 34 4.2.3 Kết quả điều tra tình hình lợn mắc hội chứng tiêu chảy theo tính biệt 35

Trang 9

4.2.4 Những biểu hiện lâm sàng của lợn khi mắc hội chứng tiêu chảy 36

4.2.5 Bệnh tích chủ yếu của lợn mắc hội chứng tiêu chảy 38

4.2.6 Quy trình phòng bệnh và điều trị tại trại Trần Đức Hùng 38

4.2.7 Phác đồ điều trị Hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn thịt 39

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40

5.1 KẾT LUẬN 40

5.2 TỒN TẠI 40

5.3 ĐỀ NGHỊ 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người Chủ trương hiện nay của nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hành hóa thực sự nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu

Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng

và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân

Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta có nhiều chuyển biến rõ rệt tăng cả về số lượng và chất lượng Song việc chăn nuôi đang gặp nhiều khó khăn Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng chủ yếu đến hiệu quả kinh tế của chăn nuôi đó là tình hình dịch bệnh

Để chăn nuôi lợn có hiệu quả, vấn đề vệ sinh phòng bệnh cần được đặc biệt quan tâm Bởi dịch bệnh xảy ra là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến chi phí chăn nuôi và giá thành sản phẩm Trong chăn nuôi lợn thịt, ngoài các bệnh của lợn thịt thì bệnh tiêu chảy ở lợn cũng rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng đáng kể tới tỉ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn Trong đó bệnh tiêu chảy ở lợn là một bệnh thường xuyên xảy ra trong nhiều trại lợn thịt và các hộ gia đình nuôi lợn thịt ở nước ta

Đã có nhiều công trình nghiên cứu phòng trị bệnh nhưng vì tính chất phức tạp của nguyên nhân gây bệnh đã có nhiều loại kháng sinh và hóa dược được sử dụng để phòng và trị bệnh nhưng các kết quả thu được lại không như

Trang 11

mong muốn, lợn khỏi bệnh thường còi cọc, chậm lớn Xuất phát từ yêu cầu

thực tiễn sản xuất, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình mắc Hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn Trần Đức Hùng, xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

-Nắm được tình hình dịch bệnh nói chung và hội chứng tiêu chảy nói riêng trên đàn lợn thịt của trại Trần Đức Hùng

-Đánh giá được công tác điều trị hội chứng tiêu chảy từ đó đưa ra quy trình phòng trừ bệnh trên đàn lợn có hiệu quả

1.4 Ý nghĩa đề tài

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

Bổ sung tư liệu về hội chứng tiêu chảy trên lợn và quá trình điều trị hội

chứng tiêu chảy cho các nghiên cứu tiếp theo về căn bệnh này

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Là cơ sở để xác định biện pháp phòng trị có hiệu quả, từng bước góp phần vào việc khống chế hội chứng tiêu chảy gây ra, góp phần giảm thiệt hại cho người chăn nuôi

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy

Tiêu chảy là một thuật ngữ để chỉ một hiện tượng đại tiện phân lỏng, được mô tả phân lỏng, nhiều nước hoặc có máu và mủ

Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa,

là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước

do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [17] Hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải

là bệnh đặc thù (Arche H, 2000) [1]

Tùy theo đặc điểm, tính chất, diễn biến bệnh, hoặc loài gia súc, hoặc nguyên nhân chính gây bệnh mà Hội chứng tiêu chảy được gọi bằng tên khác nhau như bệnh xảy ra đối với gia súc non theo mẹ, gọi là bệnh lợn con ỉa phân trắng, hay bê nghé ỉa phân trắng còn ở gia súc sau cai sữa là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hóa, hoặc hội chứng rối loạn tiêu hóa Nếu xét về nguyên

nhân chính gây bệnh thì có các tên gọi như bệnh Colibacillosis do vi khuẩn

E.coli gây ra, bệnh Phó thương hàn lợn do vi khuẩn Samonella cholerae suis

gây ra, bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do Coronavirus gây ra

Thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể như khi cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 đến 6 lần trở lên) và nước trong phân từ 75% trở lên gọi là hiện tượng tiêu chảy Tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây ra đồng thời nên gọi là Hội chứng tiêu chảy Cho dù do bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả nghiêm trọng là mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức, những gia súc khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn Đặc biệt khi

Trang 13

gia súc bị tiêu chảy nặng kèm hiện tượng viêm nhiễm, tổn thương, tổn thương thực thể đường tiêu hóa dẫn đến gia súc có thể chết với tỉ lệ, gây hại lớn về kinh tế

2.1.2 Những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy

2.1.2.1 Nhóm nguyên nhân nội tại

Lợn con theo mẹ có 5 điểm yếu khiến chúng thích ứng kém với môi trường: Hệ thống enzym tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, điều hòa thân nhiệt kém,

dự trữ năng lượng của cơ thể ít, thiếu sắt, đặc biệt là hệ thống miễn dịch và hormone chưa phát triển

* Hệ thống enzym tiêu hóa chưa hoàn chỉnh

Ở gia súc non sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cở thể nhất là cơ quan tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, nồng độ HCl và các men tiêu hóa chưa đảm nhiệm đầy đủ chức năng tiêu hóa, rất dễ gây rối loạn trao đổi chất, hậu quả dễ nhận biết là rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lớn Trong dịch vị của gia súc non chưa có đủ acid HCl tự do nên không hoạt hóa được men pepsin vì vậy không tiêu hóa hết sữa mẹ, trong khi đó sữa

mẹ lại là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn

Trong dịch vị của lợn con dưới 1 tháng tuổi không có HCl tự do, vì lúc này acid tiết ra ít và nhanh chóng tiết ra dịch nhầy Do vậy, vi sinh vật có điều kiện phát triển và gây bệnh viêm dạ dày, viêm ruột ở lợn con

Ở lợn có giai đoạn không có HCl trong dạ dày, đây được gọi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên Chính nhờ sự thích ứng này, cơ thể lợn con mới

có khả năng hấp thu được kháng thể miễn dịch qua sữa đầu Trong gai đoạn này thì dịch vị lại không có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu và sữa nên albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thấm thấu vào máu, nhưng khi lợn trên 15 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn là sự cần thiết sinh lý bình thường nữa Việc tâp ăn cho lợn

Trang 14

con sớm và cai sữa sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, hoạt hóa hoạt động tiết dịch, giúp tăng khả năng tạo các đáp ứng miễn dịch của cơ thể Giai đoạn sau cai sữa sẽ là giai đoạn khó khăn đối với lợn con khi chuyển từ sữa mẹ sang thức ăn tổng hợp (dạng rắn) Điều đó có thể gây mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại phát triển và cũng là nguyên nhân gây ra bệnh, dẫn đến kết quả là lợn con chậm lớn và có thể chết

Việc chuyển đổi thức ăn từ sữa mẹ (lỏng, dễ tiêu hóa, giàu chất dinh dưỡng) sang thức ăn thô (khô cứng, khó tiêu hóa) sẽ gây ra các vấn đề sau:

- Cơ thể bị mất kháng thể: Do trong sữa mẹ có chứa hàm lượng kháng thể cao Sau cai sữa, kháng thể không còn được cung cấp, đường tiêu hóa vẫn còn mẫn cảm với bệnh dẫn đến hệ thống miễn dịch trở nên kém hơn

- Thức ăn thô cứng làm hệ thống ruột bị tổn thương: Dinh dưỡng được

hấp thu tại ruột non qua nhung mao dài Tuyến tụy và các đầu của nhung mao trong ruột non cũng sinh ra các enzyme tiêu hóa Khi cai sữa, thức ăn thô, cứng làm các nhung mao ngắn lại, diện tích hấp thu và khả năng tiêu hóa của nhung mao ruột giảm đi sẽ làm sự tiêu hóa thức ăn giảm

Ngoài ra, lợn con còn chịu nhiều tác động của lợn mẹ, sự thay đổi ngoại cảnh cũng góp phần làm tăng stress của lợn con

Khi lợn trưởng thành tỉ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ít do có sức đề kháng, chủ yếu lợn trưởng thành bị bệnh là do thay đổi thành phần hức ăn đột ngột, chăm sóc và thời tiết

* Điều hòa thân nhiệt kém

Lúc mới sinh, thân nhiệt của lợn con là 38,5-39,50C, thân nhiệt trung bình là 33-350C Khi ra khỏi cơ thể mẹ, thân nhiệt lợn con tạm thời tụt xuống tùy thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi Ở giai đoạn này năng lực điều hòa nhiệt kém: Nhiệt đô trực tràng giảm 20C khi nhiệt độ chuồng nuôi 180C, nhưng sẽ

Trang 15

giảm 50C khi nhiệt độ chuồng nuôi là 110C (sau 20 phút) Thân nhiệt trở lại bình thường sau 24 giờ Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con c̣òn kém do nhiều nguyên nhân:

-Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể lợn con thấp, trên thân lợn lông còn thưa khả năng giữ nhiệt kém làm giảm khả năng chống rét của lợn

-Diện tích của bề mặt cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối nên lợn con mất nhiệt nhiều khi bị lạnh

Nói chung, khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém Mặt khác phản

xạ có điều kiện của lợn con chưa ổn định, thích ứng kém với những thay đổi của ngoại cảnh Do vậy lợn con rất dễ bị cảm lạnh dẫn đến tiêu chảy, đặc biệt vào những tháng mưa, lạnh và độ ẩm cao Đối với lợn trưởng thành ít bị hơn

do khả năng điều tiết nhiệt tốt hơn và khả năng chịu đựng tốt hơn lợn con Nhưng khi gặp điều kiện xấu mà không chăm sóc thì tỷ lệ lợn trưởng thành bị bệnh cũng rất cao và có thể chết

* Năng lượng dự trữ trong cơ thể ít

Lúc lợn con mới sinh, cơ thể chứa 80% nước và chỉ có 20% lipid (ở 3 tuần có 65% là nước và 12% lipit) Khi lợn con cai cai sữa được đưa về các trại chăn nuôi trong quá trình vận chuyển làm năng lượng lợn con giảm và có thể gây stress Vì vậy, khi vận chuyển về chuồng úm ta cần phải có các biện pháp giữ nhiệt cho lợn con và cung cấp đầy đủ các chất cần thiết để lợn có thể phát triển bình thường

Giai đoạn sau cai sữa lợn con phát triển mạnh cần nhiều chất dinh dưỡng

để phát triển và giai đoạn này lợn cũng ăn khỏe để bù đắp năng lượng

Nhờ quá trình oxy hóa mỡ mà gia súc non điều chỉnh được thân nhiệt, do

đó lượng mỡ thích lũy khác nhau sẽ làm cho khả năng điều hòa thân nhiệt khác nhau Vì vậy mà lợn trưởng thành ít bị bệnh hơn lợn con

Trang 16

* Hệ thống miễn dịch và hormone chưa hoàn chỉnh

Miễn dịch là khả năng của cơ thể đáp ứng lại các kích thích của mầm bệnh khi xâm nhập vào cơ thể Ở gia súc non, mầm bệnh có nhiều thuận lợi khi xâm nhập vào cơ thể Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl còn ít nên chưa đủ để đáp ứng cho qua trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hóa kém, hấp thu kém Chính vì vậy, ở giai

đoạn này mầm bệnh như Salmonella, E coli dễ dàng xâm nhập vào cơ thể

qua đường tiêu hóa và gây bệnh cho lợn con

Do cấu tạo đặc biệt của gia súc non nên tiêu chảy thường xảy ra ở giai đoạn lợn con tập ăn và cai sữa Bên cạnh đó còn một yếu tố nữa là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột của của gia súc non, việc cân bằng

hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột như thế nào để khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể gia súc non

2.1.2.2 Nhóm nguyên nhân do ngoại cảnh

Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây bệnh dịch, mối quan hệ giữa Cơ thể-Mầm bệnh-Môi trường là nguyên nhân cửa sự không ổn định sức khỏe, đưa đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001) [18]

Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, các điều kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn, nước uống

Trang 17

Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh Khẩu phần ăn cho vật nuôi thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt, thức ăn kém chất lượng như mốc, thối và nhiễm tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hóa kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc

Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không phù hợp, thay đổi đột ngột về thức

ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển làm giảm sức đề kháng của con vật,

vi khuẩn thường trực sẽ tăng độ độc và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2013) [8] Như vậy, nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây bệnh không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hòa trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hóa

có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh

2.1.2.3 Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy là vi khuẩn

Tiêu chảy là một hội chứng thường xuất hiện trên heo con ở hầu hết các lứa tuổi, nhưng tập trung nhiều nhất ở tuần tuổi thứ 3 và khoảng 1 tuần sau khi cai sữa Hội chứng này không những làm giảm tăng trọng, giảm tỉ lệ nuôi sống, dễ dàng làm xuất hiện các bệnh kế phát và làm giảm hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi

Vi khuẩn ở ống tiêu hóa cùng với vật chủ hình thành một hệ thống sinh thái mà sự cân bằng là cần thiết cho sức khỏe vật chủ Vi khuẩn ở ruột có một vai trò sinh lý rất lớn, chúng tham gia vào quá trình tiêu hóa và chuyển hóa tinh bột, chất xơ, góp phần vào chuyển hóa nước, dị hóa protid, làm giảm bilirubin ở ruột và thủy phân ure

Trong điều kiện bình thường, giữa hệ vi khuẩn đường ruột và vật chủ ở trạng thái cân bằng, ổn định, cùng tồn tại có lợi cho cơ thể vật chủ Khi có tác nhân bất lợi hoặc từ ngoại cảnh hoặc ngay trong đường tiêu hóa tác động thì

Trang 18

sức đề kháng của lợn con giảm xuống, trạng thái cân bằng vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ Nhân cơ hội này một số vi khuẩn có hại nhân lên về số lượng,

tăng lên về độc lực và gây bệnh

* Nguyên nhân do E coli:

Trong đường tiêu hóa của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là vi khuẩn đường ruột, được chia làm hai loại, trong đó vi khuẩn có lợi lên men phân giải các chất dinh dưỡng, giúp cho qúa trình tiêu hóa được thuận lợi và vi khuẩn có hại, khi có điều kiện thuận lợi thì sẽ phát triển nhanh và gây bệnh cho vật chủ

Họ vi khuẩn đường ruột gồm những vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Những vi khuẩn này, muốn từ vi khuẩn cộng sinh trở thành gây bệnh gồm có 3 điều kiện:

-Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính

-Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là sản sinh các độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin

-Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ

đó phát triển nhân lên

Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là: E coli, Salmonella

spp, Shigella, Klebsiella, Cl perfringens… là những vi khuẩn quan trọng gây

rối loạn tiêu hóa, viêm ruột tiêu chảy ở người và nhiều loài động vật

Theo Nguyễn Anh Tuấn và cs (2013) [21] cho biết, tỷ lệ phân lập E coli

từ mẫu phân của lợn con theo mẹ là 86,2%; từ mẫu phân lợn sau cai sữa là 78,0% trên mô hình trang trại nuôi công nghiệp

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4] cho biết, chiếm tỉ lệ cao nhất trong

số các vi khuẩnđường ruột gây tiêu chảy là E coli (45%) Cũng theo tác giả,

vi khuẩn yếm khí Cl perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi và khi

nó trở thành vai trò chính

Trang 19

Vi khuẩn đường ruột có vai trò không thể thiếu được trong Hội chứng

tiêu chảy Arche H, 2000) [1]

Theo Nguyễn Như Pho (2013) [14], khả năng gây bệnh của các loại vi khuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau Đối với lợn sau cai sữa hoặc giai đoạn đầu

nuôi thịt thì tỉ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai đoạn từ lúc sơ sinh đến sau cai sữa thường do E coli; lứa tuổi 6-12 tuần thì thường do xoắn khuẩn

Treponema hyodysenterriae; còn vi khuẩn yếm khí Cl perfringens thường gây

bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1 tuần tuổi đến cai sữa

Bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu có những bệnh sau:

Theo Trần Thị Hương Giang và cs (2012) [5] cho biết, tỷ lệ mẫu thịt bò và

thịt lợn không đạt TCVS ở chỉ tiêu E coli là 53,33%, cao nhất là thịt gà 60,0%

* Nguyên nhân chính làm tăng độ nhiễm E coli ở lợn con:

- Ở giai đoạn sơ sinh:

+ Lợn con không được bú nhiều sữa đầu, sữa của lợn mẹ có chất lượng không tốt

+ Lợn con bị lạnh: do không được úm hoặc bị gió lùa, độ ẩm cao

+Chăm sóc lợn mẹ không tốt, khâu đỡ đẻ không tốt, thức ăn không tốt, hoặc thay đổi thức ăn liên tục dẫn đến lợn mẹ bị viêm vú

+ Chuồng nuôi ô nhiễm, áp lực mầm bệnh cao

- Ở giai đoạn tập ăn

+ Chọn thức ăn không phù hợp, thức ăn không đúng chủng loại dẫn tơi rối loạn tiêu hóa

Trang 20

+ Cho lợn tập ăn không đúng phương pháp: không bổ sung men sống

hỗ trợ, đổ quá nhiều thưc ăn, thức ăn lưu quá lâu dẫn tới ôi thui, nhiễm khuẩn

* Nguyên nhân do Salmonella

Salmonella thuộc họ trực khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, là

một loại vi khuẩn có hình gậy ngắn, hai đầu tròn, không hình thành nha bào,

giáp mô Đa số Salmonella có khả năng di động, bắt màu gram âm, vừa hiếu

khí vừa kị khí bắt buộc

- Yếu tố gây bệnh của Salmonella:

+ Yếu tố bám dính: giúp Salmonella bám dính được trên lớp tế bào bề

mặt niêm mạc ruột của lợn rồi tiết độc tố và gây tiêu chảy

+ Độc tố đường ruột: đây là yếu tố quyết định khả năng gây bệnh và mức độ tiêu chảy ở lợn khi bị bệnh

Theo Nguyễn Mạnh Phương và cs (2012) [15], nghiên cứu trên đàn lợn nuôi tại trang trại chăn nuôi quy mô lớn với quy trình hiện đại đáp ứng các tiêu chuẩn của chăn nuôi công nghiệp nhằm bước đầu đưa ra nhận xét về mối quan hệ giữa tuổi của lợn con mắc HCTC với tỷ lệ phân lập vi khuẩn

Salmonella và E.coli cũng như các đặc điểm sinh học ảnh hưởng đến độc lực

của các chủng vi khuẩn phân lập từ lợn mắc bệnh

Theo Nguyễn Mạnh Phương và cs (2012) [15], nghiên cứu Salmonella

spp phân lập từ phân và cơ quan nội tạng lợn con sau cai sữa bị tiêu chảy từ 9 trang trại chăn nuôi công nghiệp tại 6 tỉnh miền Bắc được xác định thuộc 5

serotyp Trong các chủng phân lập được, S typhimurium chiếm tỷ lệ cao nhất (51,61%) tiếp theo là S anatum (19,35%), S agona (16,14%), S meleagridis

và S ruzizi (cùng có tỷ lệ 6,45%)

Ở lợn con bị tiêu chảy, vi khuẩn Salmonella spp có mặt trong hầu hết

các cơ quan phủ tạng, tỷ lệ phân lập cao nhất là ở hạch màng treo ruột (95,23%), tiếp đến là chất chứa ruột già (80,95%), ruột non (57,14%), ở gan

Trang 21

(52,38%), ở lách (28,57%) và thấp nhất là ở thận (23,80%) (Trần Đức Hạnh, 2011) [5]

* Nguyên nhân do Clostridium perfringens

Có 3 loại Clostridium perfringens A, B, C là mầm gây bệnh đương ruột

quan trọng đối với lợn

Clostridium perfringens typ B gây bệnh kiết lị, nhiễm độc ruột ở dê,

cừu, ngựa và cả lợn

Bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con do Clostridium perfringens typ C có

biểu hiện lâm sàng trầm trọng về tiêu chảy ra máu, lợn con yếu ớt, lười vận động, tỷ lệ tử vong cao (thường biến động từ 5-59%, có khi đến 100%)

Bệnh nhiễm khuẩn Clostridium perfringens typA thường xảy ra ở lợn

sau khi sinh được vài giờ, vi khuẩn có thể tìm thấy ở phân Lợn con bị bệnh ỉa phân nhão như kem bột trong vòng 48h sau khi đẻ, lợn không sốt, bụng chướng hơi Tiêu chảy thường kéo dài 5 ngày, phân lợn có màu mận hồng, lợn bệnh chết ít nhưng sau khi khỏi bệnh lợn thường bị chậm lớn

2.1.2.4 Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy là virus

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [19], virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở gia súc Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỉ lệ chết cao

* Bệnh dịch tả lợn

Bệnh dịch tả do một loại virus thuộc họ Togaviridiae giống Pestisvirus

gây ra Bệnh lây lan với tốc độ nhanh qua tiếp xúc, thức ăn, nước uống, hoặc

có thể qua đường hô hấp và bề mặt da bị tổn thương Bệnh xảy ra quanh năm

và lợn mọi lứa tuổi đều mắc Những triệu chứng chủ yếu của bệnh là:

-Con vật sốt cao, thường 4 - 5 ngày đầu lợn bệnh bị táo bón, lợn bỏ ăn thích nằm chỗ tối, khát nước, chảy nước mắt nước mũi Khi nhiệt độ cơ thể

Trang 22

giảm con vật ỉa chảy, phân loãng thối khắm đặc trưng, lợn bị viêm niêm mạc mắt mũi Đồng thời trên vùng da mỏng có những điểm lấm tấm xuất huyết như đầu đinh ghim Về sau những điểm này thường thường tập hợp thành từng đám

* Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm

-Bệnh TGE của lợn do một loại virus cùng tên thuộc nhóm Coronavirus,

họ Coronaviridiae gây ra Virus xuất hiện năm 1935 tại Mỹ và được mô tả lần

đầu tiên vào năm 1946 Tại Châu Á bệnh xuất hiện ở Triều Tiên, 1981; Thái

Lan, 1987 (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [3]

-Lợn ở mọi lứa tuổi đều nhiễm bệnh, thời gian ủ bệnh là 2 – 3 ngày Mức độ trầm trọng của bệnh tùy thuộc vào lứa tuổi của lợn Lợn lớn chỉ gây tiêu chảy nhẹ, kéo dài trong vài ngày, sau đó tự khỏi Ngược lại ở lợn con bệnh lại xảy ra trầm trọng Tỷ lệ chết có thể lên đến 100%

* Bệnh tiêu chảy truyền nhiễm ở lợn (PED)

-Bệnh PED do một loại Coronavirus có tên CV777 gây ra Bệnh xảy ra

với mọi lứa tuổi Đặc tính kháng nguyên của loại virus này hoàn toàn khác kháng nguyên của virus gây bệnh TGE Thể bệnh PED giống như thể bệnh TGE, nhưng nhẹ hơn vì bệnh PED chỉ gây chết khoảng 60% lợn con dưới 21 ngày tuổi, 15% lợn vỗ béo (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [3]

-Lợn mắc PED thường có triệu chứng nôn mửa, con vật có biểu hiện đau bụng Virus phá hủy lông nhung của ruột (đặc biệt là không tràng và hồi tràng) Lợn bỏ ăn uống nước nhiều, thích nằm chíu đầu vào nhau

-Mổ khám thấy ruột non mỏng, ruột bị căng phồng chứa nhiều nước màu vàng

Theo Nguyễn Tất Toàn (2012) [20], kết quả chẩn đoán cho thấy tỷ lệ mẫu dương tính với PEDV ở ruột (58,14%) cao hơn mẫu phân (16,96%)

Trang 23

* Bệnh do Rotavirus

Arche H, 2000) [1] cho biết, Rotavirus và Coronavirus là những virus

gây tiêu chảy quan trọng ở gia súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn con, ngựa con và đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá hủy màng ruột và gây tiêu chảy nặng

Các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Như Pho (2003) [14], cũng cho

thấy Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu chảy chủ yếu cho lợn con trong

giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và chết cao

Theo Phạm Sỹ Lăng (2006) [13], bệnh tiêu chảy ở lợn do Rotavirus

thường xảy ra ở lợn con bú sữa mẹ lứa tuổi 1-3 tuần lễ và lợn con sau cai

sữa khảng 6 tuần lễ bệnh tiêu chảy ở lợn do Rotavirus sẽ trở nên trầm trọng, nếu lợn con bị nhiễm kế phát các chủng E coli có độc lực và các loài cầu

trùng gây bệnh

Bệnh tiêu chảy do Rotavirus thường xảy ra ở lợn đang bú từ 1 tới 6 tuần

tuổi và cao nhất ở lợn khoảng 3 tuần tuổi

Nguyên nhân có thể là do lúc 3 tuần tuổi lượng kháng thể ở sữa mẹ giảm, cùng với lợn vừa mới tập ăn đã tạo điều kiện cho bệnh xảy ra

Biểu hiện đặc trưng của bệnh là lợn đi ỉa phân màu trắng hoặc vàng, lúc

bị bệnh phân lợn lỏng như nước, sau đó vài giờ hoặc 1 ngày phân sẽ đặc hơn

và có dạng như kem rồi keo quánh trước khi trở lại bình thường

Lợn tiêu chảy gầy sút rõ rệt, lông xù Sau khi khỏi bệnh lợn còi cọc, chậm lớn, biếng ăn, còn lợn lớn không có biểu hiện lâm sàng (Đào Trọng Đạt

và cs, 1995) [3]

Theo Lâm Thị Thu Hương và cs (2011) [9] cho biết, Rotavirusvà

Escherichia coli là hai tác nhân quan trọng gây tiêu chảy nghiêm trọng ở heo

con Bệnh tiêu chảy gây thiệt hại đáng kể do chi phí điều trị, lợn con giảm

tăng trọng, lợn bệnh, lợn chết

Trang 24

2.1.2.5 Các nguyên nhân do kí sinh trùng

Có nhiều loại kí sinh trùng gây bệnh tiêu chảy ở lợn như cầu trùng:

Eimeria, Isospora, Crytosporidium hoặc một số loài giun tròn lớp Nematoda (Ascaris suum, Trichuris suis, Strongyloides, Haemonchus, Mecistocirrus )

Bệnh do Isospora, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn lợn

con từ 5 đến 25 ngày tuổi, còn lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003) [14]

Cầu trùng, một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa nuôi trong các

hộ gia đình tại Thái Nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006) [11] Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong Hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn

và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009) [12] Cầu trùng và một số loại giun tròn là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Hà Nội (Thân Thị Đang, 2010) [2] Qua nghiên cứu tác giả nhận xét lợn nuôi bình thường so với lợn tiêu chảy nhiễm cầu trùng ở lợn bình thường là: giun lươn 41,32%, giun đũa 31,82%, giun tóc 23,14%; lợn bị mắc Hội chứng tiêu chảy với tỷ lệ: giun lươn 35,77%, giun đũa 56,93%, giun tóc 60,58%

Qua đó tỷ lệ lợn bình thường chủ yếu nhiễm nhẹ, không có con nào nhiễm nặng Tỷ lệ lợn tiêu chảy nhiễm nặng biến động từ 7,83-13,46%

Đặc điểm chủ yếu của triêu chảy do kí sinh trùng là con vật mắc bệnh bị tiêu chảy nhưng không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và phân bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn, thể trạng sút

Trang 25

Như vậy có thể thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn thì cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn,

vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột mãn tính

2.1.3 Cơ chế gây hội chứng tiêu chảy và bệnh lý lâm sàng

* Cơ chế sinh bệnh

Cơ chế sinh bệnh của Hội chứng tiêu chảy là quá trình rối loạn chức năng bộ máy tiêu hóa và nhiễm khuẩn Hai qua trình này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể quá trình này trước, quá trình kia sau và ngược lại, song không thể phân biệt được từng quá trình

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [19], cơ chế chung của Hội chứng tiêu chảy do 4 yếu tố:

+ Tiêu chảy do giảm tính thẩm thấu (do giảm hấp thu nước), đây là cơ chế thường thấy nhất trong tiêu chảy Sự tồn tại của các chất có hoạt tính thẩm thấu trong kết tràng dẫn đến sự kém hấp thu nước như: Những chất không tiêu hóa được (chẳng hạn như thuốc), thức ăn không tiêu hóa đươc, thành ruột bị viêm Đối với dạng tiêu chảy này thì việc ăn kiêng có thể cải thiện tình hình bệnh

+ Tiêu chảy do thẩm xuất (tăng sức thẩm thấu ngược) là việc thải vào lòng ruột máu, huyết tương, niêm dịch sau khi thành ruột bị tổn thương (do loét, viêm) Trong trường hợp này phân có màu đỏ, đỏ sẫm và có nhiều chất nhầy trong phân

+ Tiêu chảy do tăng bài tiết dịch, do thoát nhiều nước và chất điện giải vào lòng ruột qua niêm mạc thành ruột, đặc biệt là ở ruột non Trường hợp này là do tác động của độc tố của vi sinh vật gây bệnh Thức ăn có quá nhiều chất béo cũng có thể là nguyên nhân gây ỉa chảy

Trang 26

+ Tiêu chảy do rối loạn nhu động: ít khi là cơ chế khởi phát của tiêu chảy mà thường kế phát của sự nhiễm trùng, dẫn đến tăng tiết dịch và rối loạn trương lực thẩm thấu

Như vậy khi có một tác nhân bất lợi nào đó, trạng thái cân bằng của khu

hệ vi khuẩn đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loài nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn vãng lai, các vi khuẩn gây bệnh có cơ hội tăng mạnh cả về số lượng và độc lực, các vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hóa do không cạnh tranh nổi nên giảm di, cuối cùng loạn khuẩn xảy ra, hấp thu bị rối loạn, gây tiêu chảy

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [19], khi thiếu mật thì tới 60% mỡ không tiêu hóa được, gây ra chứng đầy bụng, khó tiêu và tiêu chảy hoặc việc giảm hấp thu cũng dẫn đến tiêu chảy

2.1.4 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy

Khi tác động vào cơ thể tùy từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình sinh bệnh và gây hậu quả cụ thể Tuy nhiên khi hiện tượng tiêu chảy xảy ra,

cơ thể chịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung

đó là sự mất nước, rối loạn cân bằng acid-bazo

* Mất nước do tiêu chảy

-Trong cơ thể nước chiếm 50-70% trọng lượng cơ thể, được phân bón ở hai khu vực chính là trong tế bào và ngoại tế bào

-Nước cung cấp cho cơ thể qua thức ăn nước uống và được thải ra ngoài theo nước tiểu, theo phân, mồ hôi, hơi thở Quá trình hấp thu và cân bằng nước trong cơ thể khỏe mạnh thường ổn định (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [19]

-Khi bị viêm ruột cơ thể không những không hấp thu được nước do thức

ăn nước uống đưa vào mà còn mất nước do tiết dịch Mặt khác khi bị viêm, tính mẫn cảm tăng, nhu động ruột tăng lên nhiều lần Hơn nữa do tổ chức ruột

bị tổn thương, niêm mạc ruột tăng tiết và kéo theo một lượng chất điện giải với hàng loạt các biến đổi bệnh lý khác

Trang 27

-Chính vì vậy trong điều trị bệnh viêm ruột, ỉa chảy việc xác định mức độ mất nước và các biện pháp phòng chống mất nước luôn được chú ý hàng đầu

* Tình trạng mất nước và chất điện giải

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [19], tùy theo trường hợp ỉa chảy gây nên những thể mất nước khác nhau

Có thể phân loại mất nước thành 3 thể sau:

-Mất nước nhược trương

-Mất dịch và natri nặng

-Mất nước nặng và giảm Natri trong máu

Mất nước đẳng trương: nước và các chất điện giải mất một lượng tương đương Trong trường hợp này, thể tích nước ở khu vực ngoại bào bị giảm nhưng độ đậm điện giải không thay đổi Khu vực nội bào và thăng bằng về điện giải về H+ không bị ảnh hưởng

Mất nước ưu trương: nước mất nhiều hơn chất điện giải, ở khu vực ngoại bào thể tích nước bị giảm, đậm độ muối tăng (tức hằng số điện giải tăng) nên áp lực thẩm thấu tăng Để lập lại thế thăng bằng áp lực thẩm thấu giữa hai khu vực thì nước từ nội bào ra ngoại bào, kết quả cả hai khu vực nội bào và ngoại bào đều mất nước, đó là mất nước toàn bộ Đi theo với nước người ta còn thấy sự di chuyển của các chất điện giải như:

+ K+ từ khu vực nội bào ra khu vực ngoại bào

+ Na+ và H+ từ khu vực ngoại bào vào trong khu vực nội bào

Mất nước nhược trương: nước mất ít hơn muối Trong trường hợp này thể tích khu vực ngoại bào bị giảm, nhưng vì mất nhiều muối nên đậm độ cũng giảm, nước đi từ khu vực ngoại bào (chỗ áp lực thẩm thấu hạ) vào khu vực nội bào, cả 3 loại mất nước này đều gây nên những hậu quả bệnh lý

* Rối loạn cân bằng acid-base

Phản ứng của máu thường ổn định bởi trong máu có các hệ đệm cùng với các hoạt động của các cơ quan điều hòa phản ứng của máu như phổi, thận

Trang 28

Hệ đệm được hình thành hoàn toàn ngay trong những tháng đầu ngay khi gia súc sinh ra Nó gồm những đôi đệm trong huyết tương và hồng cầu

Acid hữu cơ gồm: Acid lactic, Acid piruvic, và những yếu tố khác Trong các đôi đệm trên thì đôi đệm quan trọng nhất là đôi đệm hồng cầu Đây là hệ đệm lớn nhất nên sự trung hòa acid trong máu chủ yếu là NaHCO3 quyết định Cũng vì vậy người ta đo hàm lượng muối bicacbonat chứa trong 100ml máu để biểu thị lượng kiềm dự trữ

Trong thực tế, việc đánh giá các rối loạn toan-kiềm dựa vào đánh giá sự thay đổi trong hệ thống bicacbonat-acid cacbonic là hệ đệm chủ yếu của dịch ngoại bào Vì các hệ đệm nội bào và ngoại bào có liên quan đến nhau về chức năng nên việc đo hệ bicacbonat thường được mô tả dưới dạng phương trình Henderson-Haselbatch:

+ pH = pK + log

+ pH của acid cacbonic là 0,1

+ H2CO3 được tính bằng α.pCO2 trong đó α là khả năng hòa tan của cacbodioxit (CO2) trong các dịch thể

Như đã thấy thông qua phương trình Henderson-Haselbatch, nếu lượng acid vào máu nhiều, các đôi đệm không trung hòa hết, lượng dự trữ kiềm trong máu giảm xuống khác thường thậm chí phản ứng máu giảm, trường hợp này gọi là trúng độc toan Như khi kiềm vào máu nhiều, hệ đệm không đủ khả năng phản ứng hết OH-, lúc này cơ thể nhiễm độc kiềm

2.1.5 Triệu chứng và bệnh tích của hội chứng tiêu chảy

2.1.5.1 Triệu chứng

Lợn con mắc bệnh vẫn ăn và chạy bình thường Sau đó con vật kém ăn, gầy nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo nhợt nhạt, hai chân sau đứng co rúm lại và run rẩy, đuôi và kheo dính đầy phân, khi con vật đi ỉa rặn nhiều, lưng uốn cong, bụng thóp lại, thể trạng đờ đẫn, nằm nhiều hơn đi lại

Ngày đăng: 12/01/2016, 11:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ArChe. H (2000), Sổ tay dịch bệnh động vật, (Phạm Gia Ninh và Nguyễn Đức Tâm dịch), Nxb Bản đồ, Hà Nội, tr.53 204-207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay dịch bệnh động vật
Tác giả: ArChe. H
Nhà XB: Nxb Bản đồ
Năm: 2000
2. Thân Thị Đang, Lê Ngọc Mỹ, Tô Long Thành, Nguyễn Thị Kim Lan (2010), “Vai trò kí sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và biện pháp phòng trị”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y, tậpXVII (1), trang 43-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò kí sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và biện pháp phòng trị”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y
Tác giả: Thân Thị Đang, Lê Ngọc Mỹ, Tô Long Thành, Nguyễn Thị Kim Lan
Năm: 2010
5. Trần Thị Hương Giang, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012), “Xác định tỷ lệ nhiễm và độc lực của vi khuẩn Escherichia coli phân lập được từ thịt (lợn, bò, gà) ở một số huyện ngoại thành Hà Nội”, Tạp chí Khoa học và Phát triển Tập 10, số 2, trang 295 – 300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tỷ lệ nhiễm và độc lực của vi khuẩn "Escherichia coli" phân lập được từ thịt (lợn, bò, gà) ở một số huyện ngoại thành Hà Nội”, "Tạp chí Khoa học và Phát triển
Tác giả: Trần Thị Hương Giang, Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Năm: 2012
6. Trần Đức Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên, Cù Hữu Phú (2011), “Kết quả phân lập, xác định đặc tính sinh học và serotyp các chủng Salmonella spp ở lợn con tiêu chảy tại một số tỉnh phía Bắc”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y - tập XVIII - số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phân lập, xác định đặc tính sinh học và serotyp các chủng "Salmonella" spp ở lợn con tiêu chảy tại một số tỉnh phía Bắc”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y
Tác giả: Trần Đức Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên, Cù Hữu Phú
Năm: 2011
7. Nguyễn Bá Hiên (2001), Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên
Năm: 2001
8. Bùi Quý Huy (2003), Sổ tay phòng chống bệnh từ động vật lây sang người- Bệnh do E.coli, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, trang 30-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phòng chống bệnh từ động vật lây sang người-Bệnh do E.coli
Tác giả: Bùi Quý Huy
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
9. Lâm Thị Thu Hương, Đường Chi Mai (2011), “Tỷ lệ nhiễm Rotavirus và Escherichia coli k88 trên heo con tiêu chảy”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y - tập XVIII - số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ nhiễm "Rotavirus" và "Escherichia coli" k88 trên heo con tiêu chảy”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y
Tác giả: Lâm Thị Thu Hương, Đường Chi Mai
Năm: 2011
10. Laval A, Incidence dé Enterrites por Báo cáo tại: ‘‘Hội tháo Thú y về bệnh lợn” do cục Thú y và hội Thú y tại Hà Nội ngày 14/11/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘‘Hội tháo Thú y về bệnh lợn”
11. Nguyễn Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân (2006), “Một số đặc điểm dịch tễ Hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y, tập XIII (4), trang 92-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ Hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân
Năm: 2006
12. Nguyễn Kim Lan, La Văn Công, Nguyễn Thị Ngân, Lê Minh (2009), “Tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XVI (1), trang 36-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Kim Lan, La Văn Công, Nguyễn Thị Ngân, Lê Minh
Năm: 2009
13. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang, Bạch Quốc Thắng (2006), 17 bệnh mới của lợn, Nxb Lao động-Xã hội, trang 42-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 17 bệnh mới của lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang, Bạch Quốc Thắng
Nhà XB: Nxb Lao động-Xã hội
Năm: 2006
15. Nguyễn Mạnh Phương, Nguyễn Bá Tiếp, Văn Thị Hường, Cù Hữu Phú (2012), “Một số đặc điểm của Salmonella spp. Phân lập từ lợn con sau cai sữa mắc hội chứng tiêu chảy tại một số trang trại nuôi theo quy mô công nghiệp ở miền bắc”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, Tập 10, số 2, trang 315 – 324 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm của "Salmonella "spp. Phân lập từ lợn con sau cai sữa mắc hội chứng tiêu chảy tại một số trang trại nuôi theo quy mô công nghiệp ở miền bắc”, "Tạp chí Khoa học và Phát triển
Tác giả: Nguyễn Mạnh Phương, Nguyễn Bá Tiếp, Văn Thị Hường, Cù Hữu Phú
Năm: 2012
16. Tô Thị Phượng (2006), Nghiên cứu tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn ngoại hướng nạc tại Thanh Hóa và biện pháp phòng trị, Luận văn tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn ngoại hướng nạc tại Thanh Hóa và biện pháp phòng trị
Tác giả: Tô Thị Phượng
Năm: 2006
17. Phạm Thế Sơn, Phạm Khắc Hiếu (2008), “Tác dụng kháng khuẩn của chế phẩm EM-TK21 với vi khuẩn E.coli, Salmonella, Cl.perfringens (in vitro) và khả năng phòng trị tiêu chảy của chế phẩm EM-TK21 ở lợn 1-60 ngày tuổi”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập XV (1), trang 69-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác dụng kháng khuẩn của chế phẩm EM-TK21 với vi khuẩn "E.coli, Salmonella, Cl.perfringens" (in vitro) và khả năng phòng trị tiêu chảy của chế phẩm EM-TK21 ở lợn 1-60 ngày tuổi”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Phạm Thế Sơn, Phạm Khắc Hiếu
Năm: 2008
18. Nguyễn Như Thanh (2001), Dịch tễ học Thý y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, trang 22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học Thý y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
19. Phạm Ngọc Thạch (1996), Một số chỉ tiêu lâm sàng phi lâm sàng ở trâu viêm ruột ỉa chảy và biện pháp phòng trị, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội, trang 20-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu lâm sàng phi lâm sàng ở trâu viêm ruột ỉa chảy và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Ngọc Thạch
Năm: 1996
20. Nguyễn Tất Toàn, Nguyễn Đình Quát, Trịnh Thị Thanh Huyền, Đỗ Tiến Duy, Trần Thị Dân, Nguyễn Thị Phước Ninh, Nguyễn Thị Thu Năm (2012), “Phát hiện virut gây bệnh tiêu chảy cấp (PEDV) trên heo ở các tỉnh miền đông Nam bộ”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y, Số 5, trang 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện virut gây bệnh tiêu chảy cấp (PEDV) trên heo ở các tỉnh miền đông Nam bộ”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Tất Toàn, Nguyễn Đình Quát, Trịnh Thị Thanh Huyền, Đỗ Tiến Duy, Trần Thị Dân, Nguyễn Thị Phước Ninh, Nguyễn Thị Thu Năm
Năm: 2012
21. Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Bá Tiếp, ‘‘Vai trò của Escherichia coli và Salmonella spp trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa: nghiên cứu trên mô hình trại nuôi công nghiệp”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, tập 11, số 3, trang 318-327.II. Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Escherichia coli" và "Salmonella" spp trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa: nghiên cứu trên mô hình trại nuôi công nghiệp”, "Tạp chí Khoa học và Phát triển
22. Glawis Chning E, Bacher. H, ‘‘The Efficacy of Costat on E.coli infected weaning pigs”, 12 th IPVS congress, August 17-22, 1992; 182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘‘"The Efficacy of Costat on E.coli infected weaning pigs"”
23. Yongfei Pan, Xiaoyan Tian, Wei Li, Qingfeng Zhou, Dongdong Wang, Yingzuo Bi, Feng Chen,Yanhua Song (2012), Isolation and characterization of a variant porcine epidemic diarrhea virus in China, Pan et al. Virology Journal, 9, 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Isolation and characterization of a variant porcine epidemic diarrhea virus in China
Tác giả: Yongfei Pan, Xiaoyan Tian, Wei Li, Qingfeng Zhou, Dongdong Wang, Yingzuo Bi, Feng Chen,Yanhua Song
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Bảng kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại Trần Đức Hùng - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn trần đức hùng, xã minh lập, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.1. Bảng kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại Trần Đức Hùng (Trang 38)
Bảng 4.2: Tình hình mắc bệnh chung của đàn lợn thịt - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn trần đức hùng, xã minh lập, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.2 Tình hình mắc bệnh chung của đàn lợn thịt (Trang 39)
Bảng 4.3: Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn thịt trong - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn trần đức hùng, xã minh lập, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.3 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn thịt trong (Trang 40)
Hình 4.1: Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn thịt trong - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn trần đức hùng, xã minh lập, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên
Hình 4.1 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn thịt trong (Trang 41)
Bảng 4.4: Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn trần đức hùng, xã minh lập, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.4 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo (Trang 43)
Bảng 4.5: Tỷ lệ lợn thịt mắc hội chứng tiêu chảy theo tính biệt - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn trần đức hùng, xã minh lập, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn thịt mắc hội chứng tiêu chảy theo tính biệt (Trang 44)
Bảng 4.6: Những biểu hiện lâm sàng của lợn khi mắc hội chứng tiêu chảy - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn trần đức hùng, xã minh lập, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.6 Những biểu hiện lâm sàng của lợn khi mắc hội chứng tiêu chảy (Trang 45)
Bảng 4.7. Bệnh tích chủ yếu của lợn mắc hội chứng tiêu chảy - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn trần đức hùng, xã minh lập, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.7. Bệnh tích chủ yếu của lợn mắc hội chứng tiêu chảy (Trang 47)
Bảng 4.8. Kết quả điều trị lợn mắc Hội chứng tiêu chảy - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn thịt và phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn trần đức hùng, xã minh lập, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.8. Kết quả điều trị lợn mắc Hội chứng tiêu chảy (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w