CPS Chiến lược Hợp tác Quốc giaCAS Chiến lược Hỗ trợ Quốc gia DAC Uỷ ban hỗ trợ phát triển KWF Ngân hàng Tái thiết Đức FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài IBRD Ngân hàng quốc tế về Tái thiế
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH
THỨC (ODA) VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB)
10
1 Khái niệm và quá trình phát triển của ODA 10
4 Vai trò của ODA trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của các nước đang và chậm phát triển
3 Cơ chế cho vay của Ngân hàng Thế giới 26
4 ODA của Ngân hàng Thế giới qua kênh IDA 27
a Các khoản vay ưu đãi của IDA 28
b Viện trợ không hoàn lại của IDA 29
c Các quốc gia hợp lệ đối với tín dụng IDA 30
CHƯƠNG II: THU HÚT VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH
THỨC (ODA) TỪ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB) PHỤC VỤ SỰ
NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM
32
I TỔNG QUAN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA Ở VIỆT
II NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ODA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP
PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI Ở VIỆT NAM (1993-2007) 35
Trang 2III TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA CỦA NGÂN
HÀNG THẾ GIỚI PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH
TẾ-XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (1993-2007)
49
1 Vài nét về ODA từ WB vào Việt Nam trong giai đoạn
2 Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân vốn ODA của WB ở
3 Đánh giá chung về thu hút ODA từ WB phục vụ sự
nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam (1993-2007) 53
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG
CƯỜNG THU HÚT VỐN ODA TỪ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB)
4 Về hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị 70
1 Giải pháp chung nhằm thu hút vốn ODA vào Việt Nam 72
a Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án 76
b Cải thiện quy trình lập kế hoạch dự án đầu tư của WB 76
Trang 3c Đẩy mạnh nỗ lực chống tham nhũng 82
d Tăng cường quan hệ đối tác với nhà tài trợ 83
e Tăng cường theo dõi và đánh giá của các dự án WB 83
f Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền 84
Trang 4Bảng 2 ODA cam kết, ký kết và giải ngân thời kỳ 1993 - 2007
Bảng 3 Cơ cấu sử dụng vốn ODA thời kỳ 1993-2007 phân chia theo
ngành, lĩnh vực
Bảng 4 Cơ cấu sử dụng vốn ODA thời kỳ 1993-2007 theo vùng lãnh thổ
Bảng 5 Tóm tắt tình hình giải ngân ODA của WB ở Việt Nam trong các
năm 2000-2007
Bảng 6 Cơ cấu vốn ODA theo ngành, lĩnh vực thời kỳ 2006-2010
Biểu 1 Số dự án từ năm tài chính 1994-2008
Biểu 2 Cam kết dự án từ năm tài chính 1994-2008
Từ viết tắt
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
CAS Chiến lược Hỗ trợ quốc gia
CG Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ
CPRGS Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
của VN
Trang 5CPS Chiến lược Hợp tác Quốc gia
CAS Chiến lược Hỗ trợ Quốc gia
DAC Uỷ ban hỗ trợ phát triển
KWF Ngân hàng Tái thiết Đức
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
IBRD Ngân hàng quốc tế về Tái thiết và Phát triển
ICSID Trung tâm quốc tế Giải quyết tranh chấp về đầu tư
IDA Hiệp hội Phát triển Quốc tế
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
IFC Công ty Tài chính quốc tế
FAO Tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
GNI Tổng thu nhập quốc dân
NGO Tổ chức phi Chính phủ
MDG Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
MIGA Cơ quan Bảo hiểm đầu tư đa phương
PGAE Nhóm Quan hệ đối tác về Hiệu quả Viện trợ
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
UNDP Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
UNIDO Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
WHO Tổ chức Y tế Thế giới
IFAD Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế
FAO Tổ chức Nông lương Quốc tế
NIB Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu
OPEC Tổ chức Các nước Xuất khầu Dầu mỏ
JBIC Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
JICA Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
WFP Chương trình Lương thực Thế giới
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện đường lối “Đổi mới” do Đảng Cộng sản Việt Nam khởixướng từ giữa thập niên 80 của thế kỷ trước, Việt Nam đã thoát ra khỏi khủnghoảng để từng bước phát triển Điều này đã được chứng minh qua nhữngthành tựu to lớn về kinh tế mà Việt Nam đã đạt được trong hơn 20 năm quathông qua các chỉ số về tăng trưởng GDP, tăng thu nhập GDP bình quân đầungười, tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu, xuất khẩu lương thực Để đạtđược những thành tựu to lớn như vậy một phần là nhờ chính sách đúng đắn và
Trang 7sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta trong việc huy động và sử dụng hiệu quảcác nguồn lực của toàn xã hội vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Trong thời đại hiện nay, khi mà quan hệ hợp tác quốc tế đã mở rộng,trong các nguồn lực được huy động để xây dựng và phát triển đất nước thì cácnguồn nội lực luôn đóng vai trò chủ chốt và quyết định, tuy nhiên các nguồnngoại lực như nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn hỗtrợ phát triển chính thức (ODA) luôn có vai trò hỗ trợ và bổ sung quan trọng.
Năm 1993 đã đánh dấu bước phát triển trong quan hệ hợp tác của ViệtNam với các quốc gia và các vùng lãnh thổ, cũng như sự trở lại của cộngđồng các nhà tài trợ sau một thời gian dài ngừng quan hệ với Việt Nam Chođến nay, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) mà các tổ chức quốc
tế cũng như quốc gia tài trợ song phương dành cho Việt Nam đã lên đến 42,5
tỷ USD, chiếm khoảng 2% tổng giá trị vốn ODA của toàn thế giới Với nhiều
ưu điểm như nguồn vốn hỗ trợ lớn, lãi suất thấp (hoặc không có lãi suất), thờigian ân hạn dài… ODA đã thực sự trở thành một nguồn lực hết sức quantrọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế -xã hộicủa Việt Nam
Trong số các nhà tài trợ có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển cơ sở hạtầng kinh tế-xã hội của nước ta, Ngân hàng Thế giới (WB) luôn giữ vai tròquan trọng không chỉ bởi những khoản hỗ trợ với khối lượng lớn dành choViệt Nam mà còn ở sự hỗ trợ quan trọng trong vai trò điều phối nguồn việntrợ phát triển Từ khi Hội nghị Nhóm Tư vấn các Nhà tài trợ dành cho ViệtNam (CG) được tổ chức hàng năm tại Việt Nam, Ngân hàng Thế giới luônphối hợp với Chính phủ Việt Nam trong vai trò đồng chủ toạ đã điều hànhthành công các cuộc họp quan trọng này Bên cạnh đó, Ngân hàng Thế giớicũng luôn theo sát hỗ trợ Việt Nam thực hiện các Chiến lược Phát triển Kinh
tế Xã hội 10 năm và Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm thông quacung cấp các khoản tín dụng phù hợp với những ưu tiên của Chính phủ Do
Trang 8vậy các chương trình, dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ đã mang lại hiệuquả rõ rệt trong việc cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội nước ta.
Tuy vậy, việc quản lý và sử dụng ODA tại Việt Nam còn khá mới mẻ
và gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với các chương trình, dự án đòi hỏi sự chặtchẽ và minh bạch như các chương trình, dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ.Kết quả việc thực hiện các chương trình, dự án cụ thể một trong những tiêuchí quan trọng để các nhà tài trợ xem xét quyết định việc tiếp tục hỗ trợ choViệt Nam trong bối cảnh nhu cầu về ODA của các nước nghèo, các nướcchậm phát triển vẫn đang ngày một tăng cao
Nhận thức được tầm quan trọng của ODA cũng như lợi ích từ cáckhoản tín dụng ưu đãi của Ngân hàng Thế giới đối với sự phát triển của ViệtNam trong giai đoạn hiện nay và giai đoạn tới, tôi đã chọn đề tài “Một số giảipháp tăng cường thu hút vốn Hỗ trợ Phát triển Chính thức (ODA) từ Ngânhàng Thế giới (WB) phục vụ sự nghiệp phát triển Kinh tế-xã hội của ViệtNam” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp Thông qua khoá luận này tôi mongmuốn được góp một phần nhỏ bé trong việc thu hút nguồn vốn hỗ trợ pháttriển chính thức từ WB phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nướcta
Khoá luận sẽ tập trung nghiên cứu tình hình thu hút và sử dụng ODA
từ WB phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Việt Năm trong giaiđoạn 1993-2007, phân tích những thành quả đạt được và hạn chế trong việcthu hút và sử dụng ODA từ WB tại Việt Nam và nguyên nhân của những hạnchế đó Dựa trên những nguyên nhân đó, khoá luận sẽ đề xuất một số giảipháp thu hút và sử dụng ODA từ Ngân hàng Thế giới để phục vụ sự nghiệpphát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam
Kết cấu khóa luận: Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, khóa luận được kết cấu theo ba chương
Trang 9Chương I Khái quát về Hỗ trợ Phát triển Chính thức (ODA) và Ngân hàng Thế giới
Chương II: Thu hút vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) từ Ngân hàng thế giới (WB) phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn ODA từ Ngân hàng Thế giới
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI
I TỔNG QUAN VỀ ODA TRÊN THẾ GIỚI
1 Khái niệm và quá trình phát triển của ODA
a Khái niệm ODA:
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance), viết tắt
là ODA còn được gọi là Viện trợ phát triển và theo Ngân hàng Thế giới (WB)thì ODA là “khoản tài trợ hoặc giải ngân vốn vay ưu đãi (sau khi đã trừ phần
Trang 10trả nợ) được cung cấp bởi các cơ quan chính thức của các nước thuộc Tổ chứcHợp tác kinh tế và phát triển (OECD), một số quốc gia và tổ chức đa phươngkhác như Ngân hàng Thế giới vì mục đích phát triển Viện trợ quân sự khôngđược tính vào khái niệm này.”
Như vậy, ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, vốn vay ưuđãi đã giải ngân trừ đi khoản nợ đã thanh toán (còn gọi là vốn ODA thuần) do
cơ quan chính thức của Chính phủ các nước và các Tổ chức quốc tế cung cấp
hỗ trợ công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của nước tiếp nhận viện trợ Từ
“chính thức” được sử dụng ở đây để phân biệt ODA với các khoản tài trợ củacác tổ chức tư nhân như các công ty, doanh nghiệp hoặc các tổ chức phi chínhphủ (NGO) nước ngoài Viện trợ quân sự không hỗ trợ phát triển kinh tế xãhội, do vậy không được coi là ODA ODA có mục đích hỗ trợ phát triển, vìvậy các khoản viện trợ nhân đạo trong trường hợp dùng để đối phó với thiêntai, khắc phục các thảm hoạ tự nhiên, hoặc tai nạn bất khả kháng… cũngkhông được coi là ODA
Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (Organization of EconomicCooperation and Development viết tắt là OECD) có trụ sở và Ban thư kýđóng tại Paris, thủ đô nước Pháp Nòng cốt của OECD là các nước phát triểnnhư Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Canada các nước Bắc
Âu, Italia, Tây Ban Nha Gần đây, tham gia OECD còn có một số nước đãđạt trình độ phát triển tương đối cao như Hàn Quốc, một số nước thành viênmới của EU như Hung-ga-ry, Cộng hoà Séc
Trên giỏc độ cung cấp vốn ODA, OECD không phải là tổ chức việntrợ, song Tổ chức này thực hiện chức năng điều phối về chính sách, giám sátviệc thực thi chính sách và các quy định viện trợ phát triển Nhiều nước thànhviên OECD là các quốc gia cung cấp ODA chủ yếu của thế giới
Để thực hiện vai trò hướng dẫn viện trợ, OECD có Uỷ ban Hỗ trợ Pháttriển (Development Assistance Committee - DAC) chuyên trách nghiên cứu
Trang 11và khuyến nghị các quốc gia thành viên OECD về chính sách viện trợ pháttriển cũng như tổng kết và phổ biến kinh nghiệm, bài học thực tiễn tốt nhất vềtiếp cận, sử dụng và quản lý viện trợ trên thế giới.
b Quá trình phát triển của ODA trên thế giới
+ Giai đoạn 1948 - 1960:
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, năm 1948, Hoa Kỳ đã triển khaithực hiện Kế hoạch Marshall nhằm tái thiết Châu Âu bị tàn phá năng nề bởicuộc chiến này và ngăn chặn ảnh hưởng to lớn của Liên Xô Trong vòng bốnnăm, châu lục này đã nhận được khoảng 13 tỷ USD viện trợ từ Hoa Kỳ, trong
đó có 90% là viện trợ không hoàn lại Mặc dù bị tổn thất nặng nề bởi cuộcchiến tranh xâm lược của chủ nghĩa phát xít, sau chiến thắng, Liên Xô đãnhanh chóng khụi phục lại đất nước, đồng thời cung cấp những khoản viện trợlớn hỗ trợ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu Đâychính là những khoản ODA đầu tiên có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử pháttriển ODA trên thế giới
+ Giai đoạn 1961 - 1991:
Về kinh tế, đây là thời kỳ thế giới chia làm hai hệ thống: hệ thống kinh
tế kế hoạch hoá tập trung điều hành sự phát triển kinh tế của các nước đi theocon đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) và hệ thống kinh tế thị trường gắn vớicác nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) Trong bối cảnh như vậy, ODA được hìnhthành từ hai nguồn chính Một nguồn từ các nước XHCN, chủ yếu từ Liên Xô
và một số nước XHCN phát triển ở Đông Âu để hỗ trợ các nước trong pheXHCN và các nước mới giành được độc lập, thân thiện với lý tưởng XHCN.Nguồn thứ hai từ một số nước tư bản phát triển, dành cho các nước hướngtheo phát triển kinh tế thị trường, nhất là những nước mới giành được độc lập,theo đường lối dân tộc và nền kinh tế thị trường Trong giai đoạn này, một sốnền kinh tế ở châu Á đã làm nên kỳ tích trong phát triển như Nhật Bản Việntrợ phát triển của Hoa Kỳ và các tổ chức tài chính quốc tế là một trong những
Trang 12động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế của Nhật Bản Mặc dù thế giớichia thành hai phe đối lập nhau với những khoản chi phí khổng lồ để chạy đua
vũ trang và chiến tranh lạnh, song vẫn có những nước nhận được viện trợ pháttriển từ cả hai nguồn, điển hình là Ấn Độ, Ai Cập
+ Giai đoạn từ 1991 đến nay:
Sau khi Liên Xô sụp đổ, hệ thống XHCN ở Đông Âu tan rã, thế giới đã
có nhiều thay đổi với trọng tâm hướng vào hội nhập, toàn cầu hoá và pháttriển kinh tế thị trường Trong môi trường đó, viện trợ phát triển đã và đang
có những thay đổi sâu sắc về chính sách, cách ứng xử với viện trợ phát triểncũng như sự phối hợp chung trên bình diện khu vực và thế giới trong các hoạtđộng thu hút và sử dụng ODA từ cả hai phía là nước, tổ chức tài trợ và nướctiếp nhận viện trợ
Số lượng các nước tài trợ ODA gia tăng đáng kể, đặc biệt một số nướctrước đây đã từng là nước tiếp nhận ODA, nay đã trở thành nước tài trợ hàngđầu của thế giới như Nhật Bản Bên cạnh đó, một số nước trước đây tiếp nhậnODA với quy mô lớn, nay đã trở thành nước có thu nhập khá và hiện khôngthuộc diện các nước tiếp nhận ODA quy mô lớn như Thái Lan Có nhữngnước đã từng là nước tiếp nhận viện trợ phát triển quy mô lớn như TrungQuốc với cam kết lên đến 39 tỷ USD từ WB trong giai đoạn 1980 đến 2005thì nay đã trở thành một trong những nền kinh lớn của thế giới, có dự trữngoại tệ khá lớn và bắt đầu cung cấp viện trợ phát triển cho các nước khác,nhất là các nước Châu Phi Ngoài ra, một số quốc gia mới là thành viên củaLiên minh Châu Âu (EU) cũng là những nước cung cấp viên trợ phát triển.Các nước này được gọi chung là Nhóm các nước tài trợ “mới nổi lên”
So với nhiều thập kỷ trước, tổng nguồn ODA của thế giới đang trong
xu hướng gia tăng: từ 52 tỷ USD năm 2001 lên 68 tỷ USD năm 2003 vàkhoảng 90 tỷ USD năm 2005 [22]; song nhu cầu ODA của các nước nghèo
Trang 13vẫn đang tiếp tục tăng lên để hỗ trợ cho nhiệm vụ hoàn thành Mục tiêu pháttriển Thiên niên kỷ (MDGs).
Để đo lường sự đóng góp của các quốc gia phát triển vào nguồn QuỹODA của thế giới, người ta sử dụng chỉ tiêu về tỷ lệ phần trăm (%) Tổng thunhập quốc dân (GNI) của các quốc gia này dành để tài trợ trực tiếp cho cácnước tiếp nhận tài trợ hoặc đóng góp cho các quỹ của các tổ chức tài trợ quốc
tế Tổng vốn ODA của 10 quốc gia có quy mô cung cấp ODA lớn nhất thếgiới và tỷ lệ (%) ODA trên tổng thu nhập quốc dân (ODA/GNI) cao nhất của
10 quốc gia tài trợ ODA được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 1: Nguồn vốn ODA và ODA/GNI (%)
Quốc gia ODA (Tr USD) Quốc gia ODA/GNI (%)
là những nhà tài trợ có quy mô ODA lớn, song lại có tỷ lệ ODA/GNI cao nhấttrong số các nhà tài trợ Thực tế này cho thấy các nước đã đạt trình độ pháttriển cao và giàu có như Hoa Kỳ, Nhật Bản còn phải chia sẻ nhiều hơn, đónggóp nhiều hơn cho nguồn quỹ ODA của thế giới để đạt được mục tiêuODA/GNI là 0,70% như lời kêu gọi của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc
Trang 14Nguồn vốn ODA của thế giới được phân bổ chủ yếu cho các nước châuPhi, kế đến là châu Á, Mỹ Latinh và vùng Ca-ri-bê, và cuối cùng là châu Âu,bao gồm các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu.
Hiện tại, vốn ODA đang trong xu thế tăng cho châu Phi để giúp cho cácnước nghèo thuộc châu lục này thực hiện những Mục tiêu phát triển Thiênniên kỷ (MDGs), đặc biệt là xoá đói, giảm nghèo Hội nghị các nước G8 gồmAnh, Pháp, Nga, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Italia, Canada và Uỷ ban Châu Âu(EU) diễn ra vào tháng 7/2005 tại London, Anh đã quyết định tăng gấp đôiODA cho Châu Phi đến năm 2010 và trong tổng số 50 tỷ USD vốn ODA tăngthêm hàng năm sẽ dành ít nhất 25 tỷ USD để viện trợ cho châu lục này Ngoài
ra nhu cầu vốn ODA để hỗ trợ phát triển tái thiết I-rắc, Áp-ga-ni-xtan vàLibăng cũng đang tăng lên
2 Đặc điểm của ODA
a Vốn ODA mang tính ưu đãi
Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạndài (chỉ trả lãi, chưa trả nợ gốc) Đây chính là sự khác biệt lớn giữa vốn ODA
và vốn vay thương mại
Thông thường trong ODA có “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là
“thành tố hỗ trợ”) Thành tố hỗ trợ được xác định dựa vào độ dài thời giancho vay, thời gian ân hạn và so sánh mức lãi suất của khoản vốn ODA vớimức lãi suất tín dụng thương mại Sự ưu đãi của ODA thể hiện trong tươngquan so sánh với tín dụng thương mại trong tập quán quốc tế Cho vay ưu đãihay còn gọi là tín dụng ưu đãi (cho vay mềm) Các nhà tài trợ thường áp dụngnhiều hình thức khác nhau để làm “mềm” khoản vay, ví dụ như cung cấp mộtkhoản ODA không hoàn lại gắn với khoản tín dụng gần với điều kiện thươngmại tạo thành khoản tín dụng hỗn hợp (vay ưu đãi) có “thành tố hỗ trợ” thoảđáng mà phía bên vay có thể chấp nhận được
Trang 15Tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng chocác nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển Các nước đang vàchậm phát triển có thể nhận được ODA nếu đáp ứng hai điều kiện cơ bản nhấtlà:
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người thấp Nước có GDPbình quân đầu người càng thấp thường được tỷ lệ viện trợ không hoàn lại củaODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn.Khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất định qua ngưỡng nghèo đói thì
sự ưu đãi này sẽ giảm đi
Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách
và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bênnhận ODA
Thông thường các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưutiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khảnăng về kỹ thuật và tư vấn công nghệ, kinh nghiệm quản lý Đồng thời đốitượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từnggiai đoạn cụ thể Vì vậy nắm được hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước,các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lạimột phần Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong những điều kiện nhất định
Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luậnnước cung cấp cũng như tiếp nhận ODA
b Vốn ODA mang tính chất ràng buộc
ODA có thể ràng buộc (ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) đốivới nước tiếp nhận về địa điểm thực hiện, cách thức chi tiêu Ngoài ra mỗinước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác nhau và nhiều khicác ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước tiếp nhận Ví dụ như Nhật Bản
Trang 16quy định ODA của Nhật Bản (kể cả hoàn lại và không hoàn lại) được thựchiện bằng đồng Yên
Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận vàmang lại lợi ích cho nước cung cấp viện trợ Vốn ODA luôn mang yếu tốchính trị
Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích chomình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ
tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ Các nước Bỉ, Đức, Đan Mạch yêu cầukhoảng 50% giá trị viện trợ phải là hàng hoá và dịch vụ của các nước này.Đặc biêt Canada là nước yêu cầu cao nhất (tới 65%) Thuỵ Sỹ chỉ yêu cầu1,7% và Hà Lan 2,2% Đây là 2 nước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hànghoá dịch vụ của nhà tài trợ thấp Đặc biệt có New Zealand không đòi hỏi phảitiêu thụ hàng hoá dịch vụ của họ Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) yêu cầu22% giá trị viện trợ phải được sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của cácquốc gia viện trợ
Kể từ khi ra đời đến nay, viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồntại song song Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảmnghèo ở những nước đang phát triển Mục tiêu thứ hai là tăng cường vị thếchính trị của các nước tài trợ Các nước phát triển sử dụng ODA như mộtcông cụ chính trị, xác định vị trí và ảnh hưởng của mình tại các nước và khuvực tiếp nhận ODA Hoa Kỳ là một trong những nước dùng ODA làm công
cụ để thực hiện chính sách gây “ảnh hưởng chính trị trong thời gian ngắn”.Nhật Bản hiện là nhà tài trợ hàng đầu thế giới và cũng là nhà tài trợ đã sửdụng ODA như là một công cụ đa năng về chính trị và kinh tế Những nướccung cấp viện trợ đòi hỏi các nước tiếp nhận phải có những điều chỉnh hoặcthay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của bên tài trợ Chính vìvậy, khi có yêu cầu viện trợ hoặc được cung cấp viện trợ, các nước tiếp nhậnviện trợ cần cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện đưa ra từ các nhà tài trợ,
Trang 17không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài Quan hệ hỗtrợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn trọng vẹn toàn lãnh thổ của nhau,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi.
c ODA là nguồn vốn có khả năng để lại gánh nặng nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, do tính chất ưu đãi nên gánh nặng
nợ nần thường chưa xuất hiện Một số nước do sử dụng ODA có thể tạo nên
sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần dokhông có khả năng trả nợ Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn ODA không có khảnăng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợlại chủ yếu dựa vào xuất khẩu để thu ngoại tệ Do đó, trong khi hoạch địnhchính sách huy động và sử dụng nguồn vốn ODA phải cân nhắc phối hợpnguồn vốn ODA với các nguồn vốn khác để tăng cường sức mạnh kinh tế vàkhả năng xuất khẩu của đất nước
3 Phân loại ODA
ODA được phân loại theo các tiêu chí khác nhau:
a Theo tính chất tài trợ, ODA bao gồm:
+ ODA không hoàn lại: là các khoản cho không, nước nhận viện trợ không cónghĩa vụ hoàn trả lại
+ ODA có hoàn lại (ODA vốn vay): là các khoản vay ưu đãi (tín dụng ưu đãi).+ ODA hỗn hợp: gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hìnhthức tín dụng (có thể là tín dụng ưu đãi hoặc tín dụng thương mại)
b Theo mục đích sử dụng, ODA bao gồm:
+ Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế xã hội và môi trường Đây thường là những khoản vay ưu đãi.+ Hỗ trợ kỹ thuật: là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, côngnghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền
Trang 18đầu tư, phát triển thể chế và nguồn nhân lực Loại hỗ trợ này chủ yếu là việntrợ không hoàn lại.
c Theo điều kiện, ODA bao gồm:
+ ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràngbuộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng nào
+ ODA có ràng buộc nước nhận:
- Bởi nguồn sử dụng: việc mua sắm hàng hóa, trang thiết bị hay dịch vụ bằngnguồn vốn ODA chỉ giới hạn từ một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặckiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc từ các công ty của các nướcthành viên (đối với viện trợ đa phương)
- Bởi mục đích sử dụng: chỉ được sử dụng nguồn vốn ODA cho một số mụcđích nhất định hoặc một số dự án cụ thể
+ ODA có ràng buộc một phần: một phần chịu ràng buộc, phần còn lại khôngphải chịu bất kỳ ràng buộc nào
d Theo đối tượng sử dụng, ODA được chia thành:
+ Hỗ trợ Dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể
Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là viện trợ không hoànlại hoặc cho vay ưu đãi
+ Hỗ trợ phi dự án:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyểngiao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hóa, hỗ trợ qua nhập khẩu (ngoại tệ hoặchàng hóa được chuyển qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợngân sách)
- Hỗ trợ trả nợ: giúp thanh toán các khoản nợ quốc tế đến hạn
- Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quátvới thời gian nhất định mà không yêu cầu phải xác định một cách chínhxác nó sẽ được sử dụng như thế nào
e Theo nhà cung cấp, ODA được chia thành:
Trang 19+ ODA song phương: là ODA của một quốc gia (Chính phủ) tài trợ trực tiếpcho một quốc gia (Chính phủ) khác.
+ ODA đa phương: là ODA của nhiều quốc gia (Chính phủ) tài trợ cho mộtquốc gia (Chính phủ), thường được thực hiện thông qua các tổ chức quốc tế
và liên chính phủ (WB, IMF, ADB, Ủy ban Châu Âu EU, Các tổ chức thuộcLiên Hợp quốc, Quỹ OPEC )
4 Vai trò của ODA trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các nước đang và chậm phát triển.
a ODA là một nguồn vốn có vai trò quan trọng đối với các nước đang và chậm phát triển
Vốn đầu tư cùng với tài nguyên thiên nhiên, lao động và kỹ thuật tạothành bốn yếu tố vật chất xã hội cho sự phát triển nhanh và bền vững của mỗiquốc gia Tất cả các nước khi tiến hành công nghiệp hóa đều cần vốn đầu tưlớn Đó chính là trở ngại lớn nhất để thực hiện chương trình công nghiệp hóađối với các nước nghèo Trong điều kiện hiện nay, với những thành tựu mớicủa khoa học công nghệ, các nước có thể tiến nhanh không chỉ bằng khả năngtích lũy trong nước mà còn kết hợp với tận dụng khả năng của thời đại Bêncạnh nguồn vốn trong nước còn có thể huy động nguồn vốn nước ngoài
Đối với các nước đang phát triển, các khoản viện trợ và các khoản vốnvay theo điều kiện ODA là nguồn tài chính quan trọng để phát triển Nhiềunước đã tiếp thu được lượng vốn ODA khá lớn bổ sung cho nguồn lực trongnước để thực hiện các chương trình phát triển của mình
Trên thực tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở những nước đang pháttriển đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn, song tỷ suất lợi nhuận thu đựợcthường thấp, thời gian thu hồi vốn dài và thường gặp nhiều rủi ro Vì vậy,việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực này là điềuhết sức khó khăn Trong trường hợp này, tranh thủ được nguồn vốn ODA từ
Trang 20các nước giàu có là biện pháp tối ưu giúp các nước đang phát triển thực hiệncông cuộc công nghiệp hóa.
Do tính chất ưu đãi, vốn ODA thường dành cho đầu tư vào vào cơ sở
hạ tầng kinh tế xã hội như hệ thống đường giao thông, cầu cảng, công trìnhđiện, công trình cấp thoát nước và các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và pháttriển nguồn nhân lực Vào đầu những năm 1970, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hộicủa các nước trong khu vực Đông Nam Á còn hết sức lạc hậu Các nước này
đã sớm nhận thức được vai trò quan trọng của việc phát triển các hoạt độnggiao thông vận tải, thông tin liên lạc và bưu chính viễn thông Nhiều côngtrình hạ tầng kinh tế xã hội như sân bay, bến cảng, đường cao tốc, trường học,bệnh viện, trung tâm nghiên cứu khoa học mang tầm cỡ quốc tế ở Thái Lan,Sing-ga-po, In-đô-nê-sia, Phi-lip-pin đã được xây dựng bằng nguồn vốn ODAcủa Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu
Á (ADB)
b ODA giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Do dân số tăng nhanh, sản xuất tăng chậm và cung cách quản lý kinh
tế, tài chính kém hiệu quả, các nước đang phát triển đặc biệt là các nước ChâuPhi đang vấp phải nhiều khó khăn kinh tế như nợ nước ngoài và thâm hụt cáncân thanh toán quốc tế ngày càng tăng Để giải quyết vấn đề này, các quốc giađang cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng cách phối hợp với Ngân hàngThế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), các tổ chức quốc tế khác tiến hành chínhsách điều chỉnh cơ cấu quốc gia theo xu hướng chuyển chính sách kinh tế Nhànước đóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyến khích nền kinh tế pháttriển theo định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân Thế giới đã thừanhận sự cần thiết của loại hình viện trợ này đối với các nước đang phát triển
và Nhật Bản cũng chú trọng tới loại hình này Trong giai đoạn 3 năm
1993-1995, Nhật Bản đã dành một khoản viện trợ tổng cộng khoảng gần 700 triệuUSD để hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển
Trang 21c ODA giúp các nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực
Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước tiếp nhận tàitrợ là tiếp cận và dần từng bước làm chủ công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảochuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến Các nhà tài trợ còn ưu tiên đầu tưcho phát triển nguồn nhân lực vì họ tin tưởng rằng sự phát triển bền vững củamột quốc gia không thể thiếu sự phát triển nguồn nhân lực Đây chính lànhững lợi ích căn bản, lâu dài đối với nước nhận tài trợ ODA Tuy nhiênnhững lợi ích này khó có thể lượng hóa
Nhật Bản được biết đến là nước đứng đầu thế giới về cung cấp ODA.Hợp tác kỹ thuật Nhật Bản là một ví dụ minh họa điển hình về vai trò của hỗtrợ phát triển chính thức trong việc giúp các nước đang phát triển tiếp thunhững thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến và phát triểnnguồn nhân lực Hợp tác kỹ thuật được coi là một bộ phận quan trọng trongODA của Nhật Bản Các chương trình hợp tác kỹ thuật do Chính phủ NhậtBản thực hiện được tiến hành dưới các hình thức: tiếp công dân các nước tớihọc tập ở Nhật Bản, cung cấp các chuyên gia, các nhân viên tình nguyệnngười Nhật Bản cùng trang thiết bị, vật liệu cho các nước tiếp nhận ODA củanhật Bản Ngoài ra Nhật Bản còn thực hiện hợp tác kỹ thuật theo thể loại từng
dự án với mục đích chuyển giao công nghệ cho các kỹ sư, kỹ thuật viên vànhân viên y tế của các nước nhận viện trợ bằng cách cho họ tham gia vàocác dự án phát triển thuộc các lĩnh vực cụ thể và các hoạt động nghiên cứuliên quan đến lĩnh vực đó Gần đây hợp tác kỹ thuật theo thể loại này ngàycàng được áp dụng phổ biến hơn, toàn diện hơn
d ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang phát triển
Trang 22Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vàomột nước trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước
đó Họ luôn cảnh giác với những nguy cơ làm tăng các phí tổn của đầu tư
Nếu như một quốc gia, trên quy mô rộng, hay một địa phương cụ thể,
có cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh, phươngtiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng lượng(điện, nhiên liệu) không đủ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh sẽ làm nản lòngcác nhà đầu tư vì những phí tổn mà họ phải trả để sử dụng những tiện nghi hạtầng sẽ cao hơn rất nhiều, chưa kể đến thiệt hại như hoạt động của nhà máy,
xí nghiệp phải dừng vì các sự cố như mất điện, công trình xây dựng bỏ dở vìkhông có nước
Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do dẫn đến sự dè chừng củacác nhà đầu tư vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sựthiếu các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tư gia tăng,dẫn tới hiệu quả đầu tư giảm sút
Như vậy việc đầu tư của Chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xâydựng mới các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hếtsức cần thiết, nhằm làm cho môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn Nhưngvốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật rất lớn, bởi vậy nhiềunước đang phát triển cần phải dựa vào nguồn vốn ODA để bổ sung cho vốnđầu tư hạn hẹp từ ngân sách Nhà nước Một khi môi trường đầu tư được cảithiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI Nguồn vốn ODA của Hoa Kỳ, NhậtBản và một số nước khác chủ yếu được đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng củacác nước Đông Á Nhờ cơ sở hạ tầng phát triển mà các nước này có điều kiệnthuận lợi trong việc thu hút FDI của nước ngoài
Mặt khác, việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng kỹthuật sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư
Trang 23vào các chương trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ có khả năng mang lại lợinhuận.
Rõ ràng ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quantrọng cho các nước đang phát triển, nó còn có tác dụng làm tăng khả năng thuhút vốn từ nguồn FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trongnước, góp phần thực hiện thành công chiến lược hướng ngoại Tất cả cácnước theo đuổi chiến lược hướng ngoại đều có nhịp độ tăng trưởng cao vàchuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước mạnh mẽ trong một thời gian ngắn đểchuyển từ nước nông - công nghiệp thành những nước công - nông nghiệphiện đại, có mức thu nhập bình quân đầu người cao
II NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB) VÀ ODA CỦA WB
1 Lịch sử hình thành và chức năng hoạt động
Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (International Bank forRestruction and Development- IBRD) - được biết đến nhiều hơn với cái tênNgân hàng Thế giới (WB) được thành lập tháng 7 năm 1944 nhằm giúp đỡChâu Âu phục hồi sau Thế chiến thứ II Thành công trong tài trợ khôi phục vàphát triển các nước châu Âu đã khiến Ngân hàng, chỉ trong vòng vài năm đãchuyển hướng sang hỗ trợ các nước đang phát triển Đến những năm 1950,thế giới nhận thấy các quốc gia nghèo nhất cần có những điều khoản “mềm”hơn những điều khoản WB đưa ra để họ có thể vay vốn phục vụ tăng trưởng
và phát triển
Với sáng kiến khởi đầu của Hoa Kỳ, một nhóm các nước thành viêncủa WB quyết định thành lập một cơ quan chuyên cho vay các quốc gianghèo nhất dựa trên các điều kiện ưu đãi nhất có thể Cơ quan này có tên là
“Hiệp hội Phát triển Quốc tế” (International Development Association -IDA).Các nước sáng lập đã coi IDA là cơ quan mở đường cho những nước “có”
Trang 24giúp đỡ các nước “không có”, nhưng đồng thời họ cũng muốn IDA hoạt độngvới điều lệ của WB
2 Các tổ chức trong Nhóm Ngân hàng Thế giới (World Bank Group)
a Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế - IBRD
Ngân hàng Tái Thiết và Phát triển Quốc tế được thành lập nhằm hỗ trợcác nước có thu nhập trung bình và các nước nghèo có khả năng trả nợ thôngqua thúc đẩy phát triển bền vững bằng các khoản vay, bảo lãnh, quản lý rủi ro
và các dịch vụ phân tích và cố vấn Được thành lập tháng 7 năm 1944, có trụ
sở tại Washington DC- Thủ đô Hoa Kỳ, và là Tổ chức đầu tiên của NhómNgân hàng Thế giới, IBRD là một định chế tài chính quốc tế hoạt động vì lợiích của 185 nước thành viên
Nguồn vốn của IBRD chủ yếu là vốn cổ phần đóng góp của các nướcthành viên (tỷ trọng cổ phần lớn nhất thuộc về các nước có nền kinh tế pháttriển cao như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Đức,…) IBRD dành phần lớnnguồn tài chính của mình cho các thị trường tài chính thế giới và đã trở thànhmột bên vay uy tín nhất kể từ khi phát hành trái phiếu năm 1947 Thu nhậpcủa IBRD trong vòng những năm qua đã cấp vốn cho các hoạt động phát triển
và đảm bảo thế mạnh về tài chính giúp nó có thể vay vốn với mức chi phíthấp và cung cấp cho khách hàng (chủ yếu là các nước đang phát triển) thôngqua các khoản vay cho các chương trình, dự án phát triển với điều khoản ưuđãi hơn tín dụng thương mại (thường thời hạn hoàn vốn 15-20 năm, thời gian
ân hạn 5 năm; lãi suất gần sát với lãi suất thương mại) Tại Hội nghị Thườngniên tháng 9/2006, với sự khuyến khích của các Chính phủ các quốc gia thànhviên, WB đã cam kết cải thiện hơn nữa các dịch vụ dành cho các thành viên
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các nước có thu nhập trung bình,IBRD sức nỗ lực cải thiện các sản phẩm tài chính và quản lý rủi ro, mở rộng
Trang 25các dịch vụ tư vấn độc lập và tạo điều kiện cho các khách hàng làm việc vớiNgân hàng
b Hiệp hội Phát triển Quốc tế (International Development Association- IDA)
Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) thành lập năm 1960, cùng chung trụ
sở với IBRD, là một Tổ chức thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới IDAhiện có 168 nước hội viên Nguồn vốn hoạt động của IDA chủ yếu dựa vàovốn đóng góp của các nước công nghiệp phát triển và một phần lợi nhuận củaIBRD Mục đích hoạt động của IDA là tạo điều kiện thuận lợi cho sự pháttriển kinh tế của các nước hội viên thông qua việc huy động vốn và cung cấptín dụng theo các chương trình, dự án phát triển của các nước hội viên nhằmthúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tình trạng bất công bằng và cải thiện đờisống cho nhân dân
IDA là một trong trong số những tổ chức cung cấp ODA lớn nhất đốivới 78 nước nghèo nhất thế giới, trong đó có 39 nước Châu Phi Đây là nguồnvốn tài trợ duy nhất và lớn nhất hỗ trợ các dịch vụ xã hội cơ bản cho nhữngnước nghèo nhất
IDA cho vay (tín dụng) theo các điều khoản nhượng bộ có tính ưu đãicao Các khoản tín dụng của IDA không thay đổi về lãi suất (rất thấp) và thờigian hoàn trả kéo dài từ 35 đến 40 năm, trong dó có 10 năm ân hạn; phí dịch
vụ và phí cam kết thấp Trong một số trường hợp cụ thể, IDA cũng cung cấptín dụng cho các nước ở tình trạng không trả được nợ
Từ khi thành lập, tổng giá trị tín dụng và viện trợ không hoàn lại củaIDA là 182 tỷ USD, trung bình 10 tỷ USD/năm trong thời gian gần đây vàphần lớn nhất (khoảng 50%) là dành cho châu Phi
c Công ty Tài chính Quốc tế (International Finance Corporation -IFC)
Là một Tổ chức thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới, IFC đượcthành lập năm 1956, hiện có 181 quốc gia thành viên với mục đích hỗ trợ thúcđẩy đầu tư khu vực tư nhân tại các nước đang phát triển Các hình thức hỗ trợ
Trang 26của IFC là cấp vốn đầu tư khu vực tư nhân, huy động vốn tại những thị trườngtài chính quốc tế và cung cấp các dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp vàChính phủ.
IFC cũng giúp đỡ các công ty và thể chế tài chính tại các thị trường mới nổi
để tạo việc làm, doanh thu, cải thiện năng lực quản trị doanh nghiệp và bảo vệmôi trường, nhờ đó sẽ góp phần phát triển cộng đồng doanh nghiệp trongnước
d Công ty Bảo hiểm Đầu tư Đa phương (Multilateral Investment Guarantee Agency- MIGA)
Là một Tổ chức thành viên trong Nhóm Ngân hàng Thế giới, MIGA cónhiệm vụ thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các nước đang pháttriển nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và cải thiện đời sốngngười dân
Thấu hiểu được tầm quan trọng của FDI đối với sự phát triển của cácnước đang phát triển, cũng như những lo ngại về môi trường đầu tư và các rủi
ro do chính trị tác động bất lợi đối với các nhà đầu tư nước ngoài, MIGA đãđưa ra cách dịch vụ về bảo hiểm rủi ro chính trị cho đầu tư nước ngoài tại cácnước đang phát triển, hỗ trợ kỹ thuật nhằm cải tạo môi trường đầu tư và nângcao cơ hội đầu tư tại các nước đang phát triển và các hòa giải tranh chấpnhằm xóa bỏ rào cản cho đầu tư sau này
e Trung tâm Giải quyết Tranh chấp Đầu tư Quốc tế (International Center for Settlement of Investment Dispute -ICSID)
Là Tổ chức thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giói, đồng thời làmột thể chế quốc tế, ICSID được thành lập theo Hiệp ước Giải quyết Tranhchấp Đầu tư quốc tế với sự tham gia của hơn 140 thành viên Mục đích thànhlập thể chế này là đưa ra cơ chế hòa giải và trọng tài đối với các tranh chấp vềđầu tư quốc tế Hiện nay, ICSID được coi là cơ quan trọng tài quốc tế hàngđầu trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đầu tư
Trang 273 Cơ chế cho vay của Ngân hàng Thế giới
Thông thường khoản tiền WB cho các nước thành viên vay có nguồngốc từ các khoản WB đi vay từ các ngân hàng lớn ở các phát triển Sở dĩ WBnày có thể vay vốn dễ dàng như vậy là do có một nguồn dự trữ tài chính lớn
và được quản lý tốt Điều này có nghĩa là WB có thể vay vốn với lãi suất thấp
từ các thị trường tài chính và đưa tới các nước đang phát triển, thường ở mứclãi suất thấp hơn nhiều so với mức lãi suất của các quốc gia tự đi vay
WB thường cho vay dưới hai dạng: thứ nhất là các khoản vay đầu tưcho hàng hóa, công trình và các dịch vụ hỗ trợ dự án phát triển kinh tế và xãhội ở nhiều ngành; thứ hai là các khoản vay hỗ trợ đổi mới chính sách và thểchế
WB hỗ trợ tài chính cho các nước thành viên qua hai kênh chính: đó làNgân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD) và Hiệp hội Phát triểnQuốc tế (IDA)
Trong quá trình thương lượng các khoản vay, WB thống nhất với nước
đi vay về mục tiêu phát triển của dự án hoặc chương trình, kết quả, các chỉ sốhoạt động (để định lượng tác động và thành công của dự án) và kế hoạch thựchiện để có thể đưa tất cả các yếu tố đó thành hiện thực Khi một khoản vay đãđược phê duyệt và có hiệu lực, bên vay sẽ đưa dự án hoặc chương trình vàohoạt động theo điều khoản đã thống nhất với WB
WB sẽ giám sát cách sử dụng khoản vay và đánh giá kết quả thực hiện.Tất cả các khoản vay đều được sử dụng theo chính sách nhằm đảm bảo hoạtđộng có hiệu quả về mặt kinh tế, tài chính, an sinh xã hội và bảo vệ môitrường
Hai tổ chức này tuy có vai trò khác nhau nhưng đều cùng chung nhiệm
vụ hỗ trợ WB trong công cuộc xóa đói giảm nghèo toàn cầu và cải thiện mứcsống người dân Trong khi IBRD chủ yếu chú trọng vào các nước có thu nhậptrung bình thì IDA lại tập trung vào các nước nghèo nhất trên thế giới Cả hai
Trang 28Tổ chức này đều cung cấp những khoản tín dụng lãi suất thấp, hoặc khôngtính lãi và huy động viện trợ không hoàn lại cho các nước để đầu tư cho giáodục, y tế, cơ sở hạ tầng, truyền thông và các lĩnh vực khác
4 ODA của Ngân hàng Thế giới qua kênh IDA
Như đã trình bày ở trên, WB cung cấp ODA theo qua hai kênh là Ngânhàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD) và Hiệp hội Phát triển Quốc tế(IDA), tuy nhiên IBRD chỉ cho vay đối với những nước có thu nhập trungbình hoặc các nước bảo đảm khả năng trả nợ nên trong phần này xin tập trungvào ODA của IDA, bởi IDA là cơ quan cung cấp hỗ trợ phát triển chính thứccho những nước có thu nhập thấp nhất trên thế giới, trong đó có Việt Nam.Đến thời điểm hiện tại ODA của WB dành cho Việt Nam đều được thực hiệnqua IDA và khoảng thời gian không xa nữa bên cạnh việc tiếp cận với cácnguồn ODA kém ưu đãi hơn như vốn vay IBRD, Việt Nam vẫn được tiếp tụcvay ODA ưu đãi của WB từ IDA
a Các khoản vay ưu đãi của IDA
Các khoản vốn vay (tín dụng) của IDA có thời hạn hoàn trả ít nhất từ
20 đến 35 hoặc 40 năm, trong đó thời gian ân hạn là 10 năm (chưa phải trả nợgốc, chỉ phải trả phí dịch vụ) Nguồn vốn của IDA được phân bổ cho cácnước đi vay tuỳ theo mức độ thu nhập và kinh nghiệm thành công trong quản
lý nền kinh tế cũng như quản lý các dự án ODA của các nước này Hầu hết tất
cả các khoản tín dụng của IDA không có lãi suất, chỉ phải trả khoản phí dịch
vụ, hiện nay là 0,75%/năm đối với số tiền vay đã được giải ngân Trong một
số trường hợp cụ thể, IDA cũng cung cấp các khoản viện trợ không hoàn lạidưới hình thức hỗ trợ kỹ thuật để giúp bên vay chuẩn bị và thực hiện khoảnvay của IDA, hoặc huy động các khoản viện trợ không hoàn lại từ các nhà tàitrợ song phương để đồng tài trợ với khoản vay của IDA (thường để tài trợ chocác cấu phần, hạng mục của dự án không có khả năng thu hồi vốn để trả nợ)
Trang 29Trong năm tài khoá 2007 (bắt đầu từ ngày 01/7/2006, kết thúc vào ngày30/6/2007), IDA đã cam kết tài trợ ODA lên đến 11,9 tỷ USD, trong đó dành18% cho viện trợ không hoàn lại Cam kết mới trong năm tài khoá 2007 làmgia tăng thêm 189 hoạt động mới (hay là dự án hoặc khoản vay) Từ năm
1960, IDA đã cung cấp 182 tỷ USD cho 108 nước Cam kết hàng năm tăngđều đặn và trung bình mỗi năm khoảng 10 tỷ USD trong suốt ba năm qua[26]
Các lĩnh vực được IDA tài trợ vốn là giáo dục tiểu học, các dịch vụ y tế
cơ bản, nước sạch và vệ sinh, bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường kinhdoanh, cơ sở hạ tầng và đổi mới thể chế Những dự án này nhằm hướng tớităng trưởng kinh tế, tạo việc làm, thu nhập cao hơn và điều kiện sống tốt hơn
IDA chú trọng vào tăng trưởng trên diện rộng, bao gồm: các chính sáchkinh tế hợp lý, phát triển nông thôn, khu vực kinh doanh tư nhân và bảo vệbền vững môi trường; đầu tư vào con người, giáo dục và y tế, đặc biệt là trongcông cuộc phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và bệnh lao; nâng cao năng lựccho bên vay để cung cấp các dịch vụ cơ bản và đảm bảo trách nhiệm giải trìnhđối với các nguồn lực công; phục hồi sau tranh chấp nội bộ, xung đột vũ trang
và thiên tai; Thúc đẩy hòa nhập thương mại và khu vực
Ngoài ra, IDA cũng thực hiện cac nghiên cứu phân tích để xây dựngnền tảng kiến thức cho việc xây dựng chính sách giảm nghèo một cách sángsuốt IDA đã và đang tư vấn cho các chính phủ về cách mở rộng cơ sở chotăng trưởng kinh tế và bảo vệ người nghèo khỏi ảnh hưởng của các cú sốckinh tế, điều phối các khoản hỗ trợ để giảm gánh nặng cho các nước nghèokhông có khả năng trả nợ IDA đã xây dựng một hệ thống phân bổ viện trợtùy theo nguy cơ vỡ nợ của các nước nhằm giúp họ đảm bảo tính ổn định củacác khoản nợ
b Viện trợ không hoàn lại của IDA
IDA có các khoản viện trợ không hoàn lại hỗ trợ các dự án phát triển thôngqua khuyến khích các sáng kiến, hợp tác giữa các tổ chức và bên liên quan
Trang 30tham gia vào dự án Trong những năm gần đây, các khoản viện trợ của IDA,
dù dưới dạng cấp vốn trực tiếp hoặc quản lý qua đối tác đã được sử dụng để:
- Giảm gánh nặng nợ nần cho những nước nghèo đang mắc nợnghiêm trọng
- Cải thiện vệ sinh và cung cấp nước sạch
- Hỗ trợ các chương trình tiêm chủng để giảm số ca mắc bệnhtruyền nhiễm như sốt rét
- Đương đầu với nạn dịch HIV/AIDS
- Hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự
- Đưa ra sáng kiến giảm hiệu ứng nhà kính
c Các quốc gia hợp lệ đối với tín dụng IDA
Các quốc gia có hợp lệ (có đủ điều kiện) để vay vốn IDA hay khôngtrước hết phụ thuộc vào mức độ nghèo đói tương đối của quốc gia đó, đượctính dựa trên tổng thu nhập quốc dân trên đầu người dưới ngưỡng đã được đặt
ra và cập nhật hàng năm (áp dụng cho năm tài khóa 2009 là 1.095USD/người)
IDA cũng hỗ trợ cho một số quốc gia, bao gồm cả một số nền kinh tếlãnh thổ nhỏ có GNI nằm trên mức được phép vay từ IBRD nhưng chưa đủ uytín để nhận được tín dụng từ IBRD
Một số quốc gia như Ấn Độ, In-đô-nê-sia và Pa-ki-stan đều là nhữngquốc gia hợp lệ để nhận tín dụng từ IDA, nhưng cũng đủ uy tín để vay vốnIBRD Những nước này được gọi là các nước “hỗn hợp”
Hiện nay trên thế giới có 78 nước hợp lệ để nhận được các khoản tài trợcủa IDA Các nước này có số dân tổng cộng trên 2,5 tỷ người, chiếm một nửa
số dân của các nước đang phát triển Theo ước tính có 1,5 tỷ người tại nhữngnước này sống dưới mức thu nhập 2 USD/ngày
d Nguồn vốn của IDA
Trang 31Trong khi IBRD có được vốn chủ yếu từ các thị trường tài chính trênthế giới thì nguồn vốn của IDA chủ yếu có được nhờ sự đóng góp tự nguyệncủa các nước thành viên giàu có (chủ yếu là các nước phát triển) Một phầnvốn bổ sung cho IDA được lấy từ thu nhập của IBRD và từ phần trả nợ củacác nước đi vay trước đây.
Thông thường 3 năm 1 lần các nhà tài trợ họp đưa ra quyết định bổ sung vốncho quỹ của IDA Tại cuộc họp bổ sung vốn lần thứ 15 (cho giai đoạn 3 nămtài khoá 2009-2011), phần đóng góp của các nhà tài trợ chiếm tới 60% của27,3 tỷ SDR (41,6 tỷ USD) trong tổng số vốn bổ sung 45 nước đã đóng gópvốn trong lần thứ 15 bổ sung của IDA Các nước cam kết đóng góp nhiều nhất
là Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Canada, Italia và Tây Ban Nha[26]
Trong lần bổ sung vốn thứ 15 này, IDA đã huy động vốn cho các nướcnghèo trong khoảng thời gian 3 năm từ tháng 7/2008 đến tháng 6/2011 Đây
là thời gian thiết yếu để các nước cố gắng đạt tới các Mục tiêu Phát triểnThiên niên kỷ do Liên Hợp Quốc đặt ra, do các nước đi vay thường mất nhiềuthời gian để hoàn thành các dự án và cho ra được những kết quả có thể địnhlượng được
Trang 32CHƯƠNG II: THU HÚT VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) TỪ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB) PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (1993-2007)
I TỔNG QUAN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA Ở VIỆT NAM:
Quá trình thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam có thể chia thành 3giai đoạn:
1 Giai đoạn 1954 - 1979: Việt Nam thực hiện nhiệm vụ khôi phục, phát triển
kinh tế, chiến đấu giải phóng và bảo vệ Tổ quốc
Trong giai đoạn này, Việt Nam chủ yếu nhận viện trợ từ Liên Xô,Trung Quốc và một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu qua các hình thức:(i) Viện trợ không hoàn lại và vốn vay ưu đãi để nhập khẩu các công trình,thiết bị toàn bộ như Nhà máy Cơ khí Hà Nội, cầu Thăng Long, nhà máy thuỷđiện Hoà Bình, Nhà máy phân đạm Hà Bắc, Bệnh viện Việt - Tiệp Hải Phòng,Nhà máy động cơ điện Việt- Hung,
(ii) Viện trợ không hoàn lại và vay ưu đãi thông qua cung cấp hàng hóa để bùđắp nhập siêu của Việt Nam về thiết bị lẻ, xăng dầu, phân bón, lương thực,hàng tiêu dùng…trong quan hệ xuất - nhập khẩu với các nước XHCN Tronggiai đoạn này, chênh lệch cán cân thanh toán của Việt Nam rất lớn, bình quânxuất 1 nhập 3
(iii) Hỗ trợ kỹ thuật thông qua viện trợ không hoàn lại để đào tạo sinh viên vàthực tập sinh Việt Nam tại các nước XHCN, tài trợ cho các chuyến tham quan
và khảo sát về khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế
Trong giai đoạn này, một số nước phương Tây như Thuỵ Điển, PhầnLan… và một số tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợpquốc như UNDP, UNICEF… cũng có một số chương trình và dự án ODAdành cho Việt Nam, chủ yếu là hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cán bộ
Trang 33Có thể nói, trong thời kỳ tiếp nhận viện trợ nêu trên, viện trợ phát triểncủa Liên Xô, Trung Quốc và một số nước XHCN Đông Âu đã góp phần rấtquan trọng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, duy trì nền kinh tế thời chiến vàgiúp khắc phục một số khó khăn trong cuộc sống của người dân Điểm sángcủa viện trợ phát triển trong thời kỳ này chính là việc Liên Xô và một số nướcXHCN đã giúp đào tạo được một đội ngũ cán bộ đông đảo, rất nhiều ngườitrong số này đã có đóng góp xuất sắc cho quá trình phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước sau chiến tranh.
2 Giai đoạn 1979 - 1992:
Đây là giai đoạn Việt Nam chịu sức ép cấm vận của Hoa Kỳ Viện trợ
mà Việt Nam nhận được trong giai đoạn này vẫn chủ yếu từ Liên Xô, TrungQuốc và một số nước XHCN ở Đông Âu với những hình thức viện trợ nhưtrước đây nhưng quy mô đã giảm dần Trong những năm cuối của thập niên
80, những thay đổi trong chủ trương chính trị của Liên Xô đã dẫn tới sự sụp
đổ của nhà nước Xô Viết, các cuộc cách mạng “nhung” cũng làm thay đổi thểchế tại các nước XHCN Đông Âu Viện trợ phát triển từ Liên Xô và các nướcXHCN Đông Âu dành cho Việt Nam chấm dứt vào những năm 1989-1992
Chính sách bao vây và cấm vận của Hoa Kỳ đã ngăn cản các định chếtài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á(ADB) và nhiều nước tài trợ ODA chủ chốt cung cấp viện trợ phát triển choViệt Nam Thêm vào đó, do khủng hoảng kinh tế triền miên, Việt Nam đã mấtnăng lực thanh toán các khoản nợ cho nhiều tổ chức quốc tế cũng như cácnước chủ nợ khiến Việt Nam không thể tiếp tục tiếp cận được các khoản vaymới Trong giai đoạn này, vẫn có một số nước phương Tây bất chấp sự cấmvận của Hoa Kỳ và các Tổ chức quốc tế vẫn tiếp tục tài trợ cho Việt Nam,song chủ yếu là viện trợ nhân đạo, một số hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ phát triểnquy mô lớn hầu như không có
Trang 34Mặc dù trong giai đoạn này, Việt Nam không nhận được viện trợ pháttriển nước ngoài, song nhờ có đường lối “Đổi mới” mọi mặt đời sống kinh tế,
xã hội của đất nước và những cơ chế quản lý kinh tế mới, nên bắt đầu từ năm
1986, Việt Nam đã từng bước ra khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội và đạt nhịp
độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được cải thiện một bước quan trọng.Thực tế này khẳng định một luận điểm có tính nguyên tắc là viện trợ pháttriển có ý nghĩa quan trọng, song không có tính chất quyết định đối với sựphát triển của các nước tiếp nhận
3 Giai đoạn từ năm 1993 đến nay:
Sau những vướng mắc xung quanh sự kiện Campuchia được giải quyết,quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với một số nước, Tổ chức quốc tế được nốilại hoặc thiết lập mới Các khoản nợ của Việt Nam với một số Tổ chức tàichính quốc tế như WB, ADB được xử lý, nợ song phương với các nước chủ
nợ trong Câu lạc bộ Paris được tái cơ cấu đã tạo ra môi trường thuận lợi đểcác nước tài trợ và các tổ chức quốc tế nối lại hoặc thiết lập mới quan hệ hợptác phát triển với Việt Nam Hội nghị bàn tròn về viện trợ cho Việt Nam tổchức tại Paris, Pháp vào tháng 11/1993 đã đánh dấu thời kỳ mới về viện trợphát triển của Việt Nam Từ đó đến nay, cộng đồng các nhà tài trợ đã triểnkhai chương trình hỗ trợ phát triển chính thức tại Việt Nam đã mở rộng với 51nhà tài trợ gồm 28 nhà tài trợ song phương (Ai-xơ-len, Anh, Áo, Ba Lan,Canada, Cô-oét, Đan Mach, Đức, Ha Lan, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Hungari,Italia, Lúc-xăm-bua, Na-uy, Nhật Bản, Niu-di-lân, Ốtxtrâylia, Phần Lan,Pháp, Séc, Tây Ban Nha, Thái Lan, Thuỵ Điển, Thụy Sĩ, Trung Quốc,Singapo) và 22 nhà tài trợ đa phương, gồm các định chế tài chính quốc tế(WB, ADB, NIB, OPEC ) và các tổ chức quốc tế và liên chính phủ (EC,UNDP, UNIDO, UNESCO, UNICEF, IFAD, FAO, WHO, )
Trang 35Từ năm 1993 - 2007, cộng đồng tài trợ quốc tế đã cam kết cung cấp khoảng 42,5 tỷ USD vốn ODA cho Việt Nam, trong đó viện trợ không hoàn
lại chiếm khoảng 20% và vốn vay ưu đãi chiếm khoảng 80% Trong giaiđoạn này, bình quân vốn ODA cam kết đạt hơn 2,7 tỷ USD/năm Có nhữngnăm vốn ODA cam kết đạt con số kỷ lục, như năm 2006 với 4,457 tỷ USD vànăm 2007 đạt 5,426 tỷ USD[22]
Cam kết vốn ODA cho Việt Nam thường có hai loại: (i) Cam kết vốngắn với các chương trình, dự án đã được xác định và đang trong quá trìnhchuẩn bị hoặc đang thực hiện Cam kết này gọi là “Cam kết xác định” vì đã cócác địa chỉ được xác định cụ thể đằng sau cam kết vốn ODA; (ii) Cam kết vốnchưa có các chương trình, dự án xác định Cam kết loại này gọi là “Cam kếtchưa xác định”, được gắn với quá trình xác định và chuẩn bị dự án và thườngđược cam kết lại vào năm sau nếu không xác định và chuẩn bị kịp dự án WB,ADB, Nhật Bản, Đức thường đưa ra các cam kết xác định Tây Ban Nha vàmột số nhà tài trợ khác thường đưa ra các cam kết không xác định Trong cảhai trường hợp, có thể nhận thấy cam kết vốn ODA đều gắn với chương trình
và dự án Như vậy, cam kết vốn ODA thường được đưa ra hàng năm, nhưngviệc “tiêu tiền viện trợ” có thể diễn ra trong nhiều năm, gắn với tiến độ thựchiện chương trình dự án theo Điều ước quốc tế đã được ký với các nhà tài trợ
Để thực hiện vốn ODA cam kết, cần phải hợp thức hoá vốn này thôngqua việc ký kết giữa nhà tài trợ và Chính phủ các Điều ước quốc tế khunghoặc Điều ước quốc tế cụ thể về ODA dưới dạng các Hiệp định, Bản ghi nhớ,Nghị định thư, Văn kiện chương trình, Dự án Trong giai đoạn 1993-2007,vốn ODA được ký trong các Điều ước quốc tế cụ thể có giá trị 32,109 tỷUSD, chiếm 75% vốn ODA đã cam kết trong thời kỳ này 25% còn lại rơi vàocác cam kết vốn đã xác định hoặc không xác định để tài trợ cho các chươngtrình, dự án đang ở giai đoạn chuẩn bị
Trang 36II NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ODA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂNKINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM (1993-2007)
1 Tình hình cam kết, ký kết và giải ngân
Hội nghị các nhà tài trợ dành cho Việt Nam họp tại Paris diễn ra vàotháng 11/1993 đã đánh dấu quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và Cộngđồng tài trợ quốc tế được khôi phục hoàn toàn Trong thời gian qua, công tácvận động ODA luôn được chú trọng theo chủ trương đối ngoại của Đảng vàNhà nước : “Việt Nam sẵn sàng là đối tác tin cậy của các nước trong cộngđồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”
Cho đến nay, 15 Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho ViệtNam (Hội nghị CG) đã được tổ chức Sau 4 Hội nghị tổ chức tại Paris (Pháp)
và Tô-ky-ô (Nhật Bản), từ năm 1997 các Hội nghị đều được tổ chức tại HàNội Đây là diễn đàn quan trọng được tổ chức thường niên để trao đổi ý kiếngiữa Chính phủ và Cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế tại Việt Nam về quátrình phát triển của Việt Nam và hoạt động điều phối ODA để hỗ trợ quá trìnhnày Từ năm 1998, ngoài Hội nghị CG thường niên còn tổ chức Hội nghị CGgiữa kỳ không chính thức tại địa phương ở Việt Nam, tạo điều kiện cho cácnhà tài trợ nắm bắt nhu cầu phát triển ưu tiên, cũng như tiếp xúc với nhữngngười trực tiếp thụ hưởng viện trợ Công tác vận động ODA còn được thựchiện thông qua các hoạt động đối ngoại của các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng,Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương, các đoànthể chính trị, xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao nước ta ở nước ngoài
Từ năm 1993 trở lại đây, tại các Hội nghị CG hàng năm, cộng đồngcác nhà tài trợ thường cam kết tài trợ ODA với quy mô năm sau cao hơn nămtrước Trong thời kỳ 1993-2007, tổng giá trị ODA cam kết đạt 42,438 tỷUSD, trong đó những nhà tài trợ cam kết nhiều vốn ODA cho Việt Nam baogồm Nhật Bản, WB, ADB, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, Pháp,
Trang 37Đức Điều này thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng các nhà tài trợquốc tế đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam, hỗ trợ Việt Nam trong sựnghiệp phát triển kinh tế-xã hội và xoá đói giảm nghèo Tổng vốn ODA kýkết trong thời kỳ này đạt 32.109 triệu USD, tương đương 74,66% tổng lượngODA cam kết cùng kỳ; tổng vốn ODA giải ngân đạt 19.865 triệu USD, tươngđương 61,86% tổng lượng ODA đã ký kết
Bảng 2 ODA cam kết, ký kết và giải ngân thời kỳ 1993-2007
Đơn vị: Triệu USD
Năm Số vốn cam kết Vốn ký kết Vốn giải ngân
Trang 38tăng qua các giai đoạn, song tỷ lệ giải ngân lại chưa được ổn định Tỷ lệ giảingân giai đoạn 2001-2005 đã tăng hơn thời kỳ đầu rất nhiều (tỷ lệ giải ngântrong những năm đầu 1993-1995 chỉ ở mức 38,6%, giai đoạn 2001-2005 đãlên đến 71,29%) Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, cụ thể là năm 2007 tỷ lệgiải ngân đã giảm xuống 57% Những nhân tố tác động tới giải ngân sẽ được
đề cập trong phần sau
2 Tình hình sử dụng nguồn vốn ODA thời kỳ 1993-2007
Trong thời kỳ 1993-2007, nguồn vốn ODA đã bổ sung một nguồn lực quantrọng cho đầu tư phát triển ở Việt Nam Vốn ODA đã bổ sung khoảng 11%tổng vốn đầu tư toàn xã hội và khoảng 17% trong tổng vốn đầu tư từ ngânsách nhà nước
a Cơ cấu sử dụng vốn ODA thời kỳ 1993-2007 phân chia theo ngành, lĩnh vực: Chủ yếu được thể hiện trong trong Bảng 3 dưới đây:
Bảng 3: Cơ cấu sử dụng vốn ODA theo ngành, lĩnh vực thời kỳ 1993-2007
Đơn vị: Triệu USD
Ngành, lĩnh vực
Hiệp định ODA ký kết
1993 - 2007 Tổng Tỷ lệ %
1 Nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xoá
3 Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, cấp, thoát
nước và phát triển đô thị, trong đó: 11.286 35,15
- Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông 8.222 25,61
- Cấp, thoát nước và phát triển đô thị 3.063 9,54
4 Y tế, giáo dục đào tạo, môi trường, khoa học kỹ
(Nguồn: Bộ KH&ĐT)
Trang 39Số liệu trong Bảng 3 phản ánh ODA đã được đầu tư vào các ngành, lĩnhvực chủ yếu trong thời kỳ 1993-2007:
+ Lĩnh vực Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trong Nông nghiệp và phát triển nông thôn, có thể thấy rất rõ vốn ODA
đã góp phần đáng kể đối với sự phát triển hệ thống thủy lợi, lưới điện nôngthôn, trường học, trạm y tế, giao thông nông thôn, cấp nước sinh hoạt, tíndụng nông thôn quy mô nhỏ, phát triển nông thôn tổng hợp kết hợp xóa đói,giảm nghèo
Trước năm 1992, viện trợ song phương dành cho lĩnh vực này chủ yếu
từ hai nguồn là Liên Xô và Thuỵ Điển, hoặc từ các tổ chức đa phương nhưquỹ Cô-oét, Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) và Chương trình Pháttriển của Liên hợp quốc (UNDP)
Từ sau năm 1993 đến nay, nguồn vốn ODA dành cho nông nghiệp vàphát triển nông thôn đã có những biến đổi cả về quy mô và cơ cấu Vốn ODAdành cho lĩnh vực này trong giai đoạn 1993-2007 đã ký kết đạt tới 5,130 tỷUSD, chiếm 15,9% tổng số vốn ODA đã ký kết giữa Việt Nam và các nhà tàitrợ
Nguồn vốn ODA ưu đãi cho lĩnh vực này chủ yếu do WB và ADBcung cấp và được sử dụng cho các chương trình, dự án đầu tư ưu tiên như:Phục hồi nông nghiệp (WB), Chương trình nông nghiệp (ADB), Khôi phụcthuỷ lợi và chống lũ (ADB), Thuỷ lợi miền Trung (WB), Đa dạng hoá nôngnghiệp (WB), Giao thông nông thôn (WB), Cơ sở hạ tầng nông thôn (ADB),
Cơ sở hạ tầng nghề cá (ADB), Bảo vệ rừng và phát triển nông thôn (WB), Tíndụng nông thôn (ADB), Cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào Cộng đồng (WB), Vốn ODA không hoàn lại cho lĩnh vực này, trước đây chủ yếu do một
số nhà tài trợ song phương và các tổ chức Liên hiệp quốc cung cấp thì nay đãđược hàng chục nhà tài trợ song phương cùng với một số lượng đáng kể các
tổ chức quốc tế cung cấp
Trang 40+ Lĩnh vực Năng lượng và công nghiệp
Vốn ODA dành cho lĩnh vực năng lượng và công nghiệp cho đến năm
2007 đạt 7,376 tỷ USD, chiếm 22,97% của tổng số ODA dành cho tất cả cácngành
Trong lĩnh vực này vốn ODA đã ký kết được ưu tiên sử dụng chongành điện để cải tạo, nâng cấp và phát triển mới khoảng hơn 3400 MW côngsuất (nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2.1 công suất 288 MW; nhà máy nhiệt điệnPhả Lại II công suất 600 MW; nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 1 công suất 1090MW; nhà máy nhiệt điện Ô Môn công suất 600 MW, nhà máy thủy điện ĐạiNinh công suất 360MW ) cải tạo và phát triển lưới điện quốc gia, mạng phânphối truyền tải điện cho các thành phố, khu công nghiệp lớn, đáp ứng nhu cầuphụ tải, xây dựng các trạm biến áp, đường dây tải điện 500KV và thực hiệncác chương trình điện khí hóa nông thôn Một số dự án đã hoàn thành hiệnđang có tác dụng tích cực, góp phần phát triển các ngành cong nghiep, khaikhoáng, giao thông vận tải, nông nghiệp, dịch vụ và cải thiện đời sống củanhân dân
Trong công nghiệp, vốn ODA đã tạo lập được một số công trình côngnghiệp tương đối lớn, có vai trò hạt giống trong từng tiểu ngành về các mặtcông nghệ, quản lý và đào tạo Gắn với các chương trình, dự án ODA một sốcông nghệ khoa học tiên tiến đã được chuyển giao vào nền công nghiệp ViệtNam Việc thực hiện các chương trình, dự án điện đã nâng cao đáng kể tỷtrọng vốn ODA của ngành công nghiệp Đối với doanh nghiệp, một số cơ sởsản xuất công nghiệp được đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã góp phần tạocông ăn việc làm ở một số địa phương
+ Lĩnh vực Giao thông vận tải, Bưu chính viễn thông, Cấp thoát nước và phát triển đô thị:
Trong giai đoạn 1993-2007, ngành Giao thông vận tải - Bưu chính viễnthông được ưu tiên cao nhất với số vốn ODA khoảng 8,222 tỷ USD, trong đó