Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Liên quan đến việc nghiên cứu về vải có những đề tài như - “Giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ cho vải thiều Lục Ngạn”, 2007, của Lê Phươ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
- Họ và tên sinh viên:
1 Nguyễn Thúy Quỳnh (Nữ) - Dân tộc Kinh - Lớp Anh 3 - Khoá 47- Khoa Kinh
tế và kinh doanh quốc tế - Năm thứ 3/4 - Ngành học Kinh tế đối ngoại
2 Nguyễn Ngọc Ánh (Nữ) - Dân tộc Kinh - Lớp Anh 17 - Khoá 47 - Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế - Năm thứ 3/4 - Ngành học Kinh tế đối ngoại
3 Nguyễn Hữu Thọ (Nam) - Dân tộc Kinh - Lớp Anh 13 - Khoá 47- Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế - Năm thứ 3/4 - Ngành học Kinh tế đối ngoại
4 Nguyễn Thu Trang (Nữ) - Dân tộc Kinh - Lớp Trung - Khoá 47- Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế - Năm thứ 3/4 - Ngành học Kinh tế đối ngoại
5 Phạm Đức Anh (Nam) - Dân tộc Kinh - Lớp Anh 3 - Khoá 47- Khoa Quản trị kinh doanh - Năm thứ 3/4 - Ngành học Quản trị kinh doanh quốc tế
Người hướng dẫn : PGS, TS Nguyễn Hoàng Ánh
Hà Nội - 2011
Trang 2ii
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1
3.Mục tiêu nghiên cứu 2
4.Đối tượng nghiên cứu 2
5.Phạm vi nghiên cứu 2
6.Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ VẢI THANH HÀ 1 Lý luận chung về thị trường và vấn đề phát triển thị trường tiêu thụ 4
1.1 Lý luận chung về thị trường 4
1.2 Vấn đề phát triển thị trường tiêu thụ 8
2 Khái quát chung về vải Thanh Hà 12
2.1 Khái quát chung về vải Thanh Hà 12
2.2 Đánh giá khả năng phát triển của vải Thanh Hà 14
3 Sự cần thiết phải phát triển thị trường cho vải Thanh Hà 21
3.1 Giá trị kinh tế - văn hóa – xã hội của vải Thanh Hà 21
3.2 Tầm quan trọng của việc phát triển thị trường tiêu thụ vải Thanh Hà 23
Trang 3iii
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT
VÀ TIÊU THỤ VẢI THANH HÀ
1.Tình hình sản xuất 26
1.1 Diện tích trồng 26
1.2 Năng suất 27
1.3 Sản lượng 29
1.4 Quy trình sản xuất và các chi phí liên quan 30
1.5 Thu hoạch 34
1.6 Tình hình chế biến và bảo quản 35
1.7 Tình hình an toàn vệ sinh thực phẩm và môi trường 38
2 Tình hình tiêu thụ 40
2.1 Cơ cấu hàng hóa 40
2.2 Thị trường tiêu thụ 42
2.3 Kênh tiêu thụ 44
2.4 Giá cả tiêu thụ 50
3 Đánh giá thực trạng công tác phát triển thị trường tiêu thụ vải Thanh Hà 52
3.1 Kết quả đạt được 52
3.2 Những tồn tại và Nguyên nhân 53
Trang 4iv
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ VẢI THANH HÀ
1.Quan điểm phát triển thị trường xuất khẩu vải Thanh Hà 56
1.1 Quan điểm của Đảng và Chính phủ về việc phát triển nông sản Việt Nam 56
1.2 Quan điểm của chính quyền địa phương 57
2.Kinh nghiệm phát triển thị trường tiêu thụ Nhãn lồng Hưng Yên 58
2.1 Định hướng phát triển 58
2.2 Những biện pháp cụ thể 60
3 Một số giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu vải Thanh Hà 63
3.1 Đối với chính phủ 63
3.2 Đối với Sở, Ban, Ngành địa phương 67
3.3 Đối với Hiệp hội sản xuất và tiêu thụ vải Thanh Hà 70
3.4 Đối với các hộ sản xuất và kinh doanh vải 77
KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
A DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tỷ lệ lao động theo ngành kinh tế 23
Bảng 2.1: Diện tích cây trồng huyện Thanh Hà qua từng năm 26
Bảng 2.2: So sánh cây vải theo độ tuổi 28
Bảng 2.3: So sánh năng suất cây vải theo độ tuổi 31
Bảng 2.4: Đánh giá về các phương pháp bảo quản vải 37
B DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1: Cây vải tổ 12
Hình 1.2: Cấu tạo quả vải 18
Hình 1.3: Logo vải thiều Thanh Hà 20
Hình 2.1: Năng suất vải Thanh Hà qua các năm 27
Hình 2.2: So sánh sản lượng của một số cây trồng chính tại huyện Thanh Hà qua các năm 29
Hình 2.3: Cơ cấu Sản phẩm vải Thanh Hà qua các năm 40
Trang 61
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam tự hào là một quốc gia được thiên nhiên ban tặng nhiều ưu đãi Sự
ưu đãi đó được thể hiện qua sự phong phú về sản vật tự nhiên Là một trong số những đặc sản nổi tiếng của Việt Nam, vải Thanh Hà đã sớm khẳng định thương hiệu và chất lượng Vốn là vùng đất tổ của cây vải vải thiều Việt Nam, vải thiều Thanh Hà nhờ đó mà đó cũng có hương vị đặc trưng riêng, thơm ngọt, thanh mát Thương hiệu và chất lượng đó thực sự đã được khẳng định khi Cục Sở hữu trí tuệ trao bằng Chứng nhận Chỉ dẫn địa lý vào ngày 08/06/2007
Tuy nhiên, thương hiệu vải Thanh Hà nổi tiếng một thời đang đứng trước những nguy cơ, khó khăn và thách thức nghiêm trọng Nổi bật lên là vải Thanh
Hà không giữ được uy tín về chất lượng như xưa, công tác trồng trọt không đạt chuẩn, quy trình bảo quản không đảm bảo Hơn nữa, đầu ra của vải phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái Chính vì vậy vải Thanh Hà phải đối mặt với tình trạng giá cả giảm sút mạnh và thị trường tiêu thụ bị thu hẹp
Nhận thức tầm quan trọng của viêc phát triển thị tiêu thụ vải Thanh Hà,
nhóm nghiên cứu đã quyết định lựa chọn đề tài: “Giải pháp phát triển thị trường
tiêu thụ vải Thanh Hà giai đoạn 2011-2015”
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Liên quan đến việc nghiên cứu về vải có những đề tài như
- “Giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ cho vải thiều Lục Ngạn”, 2007, của
Lê Phương Chi
- “Nghiên cứu thực trạng tiêu dùng và cầu về vải quả tươi của thị trường Hà Nội”
- “Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện trồng trọt đến năng suất và chất lượng vải thiều trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”
Trang 7về phương pháp luận lẫn nội dung.
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của của đề tài là đánh giá đúng thực trạng sản xuất và tiêu thụ Vải Thanh Hà trên cơ sở đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khâu tiêu thụ, mang lại lợi ích thiết thực cho người nông dân và cho xã hội Mục tiêu cụ thể của đề tài là nghiên cứu tình hình thực tế nhằm rút ra những cơ hội, thách thức và điểm mạnh, điểm yếu trong việc phát triển thị trường tiêu thụ Vải Thanh Hà; tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động của việc tiêu thụ
và các tác nhân trong khâu tiêu thụ; đề suất một số giải pháp cho các chủ thể nhằm phát triển thị trường tiêu thụ, nâng cao giá bán
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình sản xuất và kinh doanh vải Thanh Hà
5 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu là thực trạng sản xuất và tiêu thụ Vải Thanh Hà; không gian nghiên cứu là địa bàn các xã trồng vải với diện tích khá trong Huyện Thanh Hà như: khu vực Hà Đông, xã Thanh Thủy, xã Thanh Sơn, Thanh Xá; thời gian nghiên cứu là thực trạng các năm 2008-2010 và định hướng giải pháp cho giai đoạn 2010-2015
Trang 83
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng; duy vật lịch sử; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp điều tra tại xã hội học; phương pháp phỏng vấn; phương pháp điều tra mẫu; và các phương pháp bảng biểu, đồ thị, thống kê
Trang 9đa dạng hơn thì việc trao đổi phân tán trở nên có những trục trặc nhất định Để giải quyết những mâu thuẫn trong trao đổi, đã xuất hiện “Thị trường” (Market) Bây giờ những người có sản phẩm để đưa sản phẩm của mình đến thị trường Ở
đó diễn ra cuộc trao đổi tự nguyện, phù hợp với nhu cầu và ước muốn của những người trao đổi Đây là hình thức trao đổi tập trung
Trong Kinh tế chính trị học, thị trường được định nghĩa là lĩnh vực lưu thông Ở đó hàng hóa thực hiện được giá trị của mình đã được tạo ra trong quá trình sản xuất Định nghĩa này khẳng định một điều là giá trị của hàng hóa chỉ có thể thực hiện thông qua hoạt động trao đổi, hoạt động trao đổi ấy được diễn ra trong quá trình lưu thông – một trong những khâu của quá trình sản xuất 1
Trong Marketing, khái niệm về thị trường cũng dựa trên nền tảng là sự trao đổi Theo Philip Kotler: “Thị trường là tập hợp tất cả những người mua thực sự hay những người mua tiềm tàng đối với một sản phẩm” 2
Tuy có nhiều quan niệm về thị trường, song trong đề tài nghiên cứu này, Nhóm nghiên cứu sử dụng khái niệm: thị trường là một phạm trù kinh tế hàng hóa, nó ra đời gắn liền với sản xuất và dịch vụ Thị trường chứa tổng cung và tổng
1
Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Đình Kháng, Lê Danh Tốn, Giáo trình Kinh tế chính trị Mác –
Lênin, NXB Chính trị quốc gia, 2010
2
Tập thể tác giả (2000), Giáo trình Marketing lý thuyết, NXB Giáo dục, trang 39
Trang 105
cầu Thị trường bao gồm không gian và thời gian, đó là nơi luôn diễn ra các hoạt động mua bán và quan hệ tiền tệ Thị trường là sản phẩm của sự phân công lao động xã hội, sự phân công xã hội ngày càng cao thì nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng lớn nên thị trường ngày càng mở rộng
Thị trường là một phạm trù gắn liền với nên sản xuất hàng hóa và khi sản xuất ngày càng phát triển thì phạm trù thị trường ngày càng được củng cố và hoàn thiện
1.1.2 Vai trò, chức năng của thị trường
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thị trường đóng vai trò vô cùng quan trọng Nó là môi trường, là điều kiện, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là một trong các yếu tố cấu thành hoạt động thương mại
- Thị trường là điểm khởi đầu của sản xuất đảm bảo đầu vào như nguyên
liệu máy móc, thiết bị, vốn cho sản xuất và cũng là điểm kết thúc của sản phẩm tức là tiêu thụ sản phẩm
- Thị trường đề ra nhu cầu cho sản xuất kinh doanh và tạo khả năng đảm bảo
điều kiện sản xuất ở đầu ra
Như vậy, thị trường là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng hóa, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là tấm gương để các doanh nghiệp nhận biết được nhu cầu xã hội và để đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh của chính mình
Mặc dù có nhiều loại, nhưng nhìn chung mọi thị trường đều có ba chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng thừa nhận công dụng xã hội của hàng hóa (giá trị sử dụng xã hội) và lao động đã chi phí để sản xuất ra nó, thông qua việc hàng hóa có bán được hay không, và bán với giá như thế nào Nếu hàng hóa bán được và bán với giá cả bằng giá trị, có nghĩa là xã hội không chỉ thừa nhận công dụng của nó, mà còn thừa nhận mức hao phí lao động để sản xuất ra nó là phù hợp với mức hao phí
Trang 116
lao động xã hội cần thiết, và giá trị hàng hóa được thực hiện Ngược lại, nếu hàng hóa không bán được, có nghĩa là, hoặc do công dụng của hàng hóa không được thừa nhận (có thể do chất lượng kém hoặc quy cách, mẫu mã không phù hợp ), hoặc do chi phí sản xuất cao hơn mức trung bình của xã hội (quá đắt) nên xã hội không chấp nhận Nếu hàng hóa bán được, nhưng với giá cả thấp hơn giá trị, cónghĩa là xã hội chỉ thừa nhận công dụng của nó và một phần chi phí sản xuất ra
nó
- Chức năng cung cấp thông tin cho người sản xuất và người tiêu dùng thông qua những biến động của nhu cầu xã hội về số lượng, chất lượng, chủng loại, cơ cấu các loại hàng hóa, giá cả, tình hình cung - cầu về các loại hàng hóa
- Chức năng kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng Trên cơ sởnhững thông tin thu được từ thị trường, người sản xuất và người tiêu dùng sẽ buộc phải có những ứng xử, điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với sự biến đổi của thị trường, nhờ đó sản xuất và tiêu dùng được kích thích hoặc hạn chế Ví dụ, khi giá cả hàng hóa nào đó tăng lên, người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, còn người tiêu dùng sẽ hạn chế nhu cầu và ngược lại 1
1.1.3 Các quy luật kinh tế của thị trường
Trên thị trường có nhiều quy luật kinh tế hoạt động đan xen nhau, có quan
hệ mật thiết với nhau, trong đó bốn quy luật kinh tế phổ biến của thị trường là: Quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật giá trị thặng dư, quy luật cạnh tranh
- Quy luật giá trị: Khi nào còn sản xuất và lưu thông hàng hoá thì quy luật
giá trị còn phát huy tác dụng Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị lao động xã hội cần thiết trung bình để sản xuất và lưu thông hàng hoá và trao đổi ngang giá
- Quy luật cung cầu: Cung cầu hàng hóa dịch vụ không tồn tại độc lập,
riêng rẽ mà thường xuyên tác động qua lại với nhau trên cùng một thời gian cụ
1
Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Đình Kháng, Lê Danh Tốn, Giáo trình Kinh tế chính trị Mác –
Lênin, NXB Chính trị quốc gia, 2010
Trang 127
thể Trong thị trường, quan hệ cung cầu là quan hệ cơ bản, thường xuyên lặp đi lặp lại, khi tăng khi giảm tạo thành quy luật trên thị trường Khi cung cầu gặp nhau, giá cả thị trường được xác lập Đó là giá cả bình quân
- Quy luật giá trị thặng dư: Yêu cầu hàng hoá bán ra phải bù đắp chi phí
sản xuất và lưu thông đồng thời phải có một khoản lơị nhuận để tái sản xuất sức lao động và tái sản suất mở rộng
- Quy luật cạnh tranh: Trong nền kinh tế có nhiều thành phần kinh tế, có
nhiều người mua, người bán với lợi ích kinh tế khác nhau thì việc cạnh tranh giữa người mua với người mua, người bán với người bán và cạnh tranh giữa người mua với người bán tạo nên sự vận động của thị trường và trật tự thị trường
Trong các quy luật trên, quy luật giá trị là quy luật cơ bản của sản xuất hàng hoá Quy luật giá trị được biểu hiện thông qua giá cả thị trường Quy luật giá trị muốn biểu hiện yêu cầu của mình bằng giá cả thị trường phải thông qua sự vận động của quy luật cung cầu Ngược lại quy luật này biểu hiện yêu cầu của mình thông qua sự vận động của quy luật giá trị là giá cả
Quy luật cạnh tranh biểu hiện sự cạnh tranh giữa người bán và người bán, giữa người mua với nhau và giữa người mua và người bán Cạnh tranh vì lợi ích kinh tế nhằm thực hiện hàng hoá, thực hiện giá trị hàng hoá Do đó quy luật giá trị cũng là cơ sở của quy luật cạnh tranh
1.1.4 Phân loại thị trường
Một trong những bí quyết quan trọng nhất để thành công là sự hiểu biết căn
kẽ tính chất của từng thị trường Phân loại thị trường là cần thiết là khách quan để nhận thức những đặc điểm chủ yếu của từng thị trường Mỗi cách phân loại có một ý nghĩa quan trọng riêng đối với quá trình kinh doanh
Căn cứ vào nguồn gốc sản xuất ra hàng hoá người ta phân chia thành: thị
trường hàng công nghiệp và thị trường hàng nông nghiệp (Bao gồm cả hàng lâm nghiệp và hàng ngư nghiệp)
Trang 138
Căn cứ vào nơi sản xuất, người ta phân ra thành thị trường hàng sản xuất
trong nước và thị trường hàng xuất nhập khẩu
Căn cứ vào khối lượng hàng hoá tiêu thụ trên thị trường người ta phân
chia thành thị trường chính, thị trường phụ, thị trường nhánh, thị trường mới
Căn cứ vào mặt hàng người ta chia thị trường thành thị trường mặt hàng
khác nhau: thị trường máy móc, còn gọi là thị trường đầu tư và thị trường hàng nguyên vật liệu: Còn gọi là thị trường hàng trung gian
Căn cứ vào vai trò của người mua và người bán trên thị trường có thị
trường người mua và thị trường người bán
Căn cứ vào sự phát triển của thị trường người ta chia thành: Thị trường
hiện thực và thị trường tiềm năng
Căn cứ vào phạm vi của thị trường người ta chia thành: Thị trường thế
giới, thị trường khu vực, thị trường toàn quốc, thị trường miền, thị trường địa phương, thị trường tại chỗ (xã, huyện) 1
1.2 Vấn đề phát triển thị trường tiêu thụ
1.2.1 Nội dung của việc phát triển thị trường
Theo quan điểm của người bán, thị trường của doanh nghiệp trước tiên là những khách hàng có tiềm năng tiêu thụ, có nhu cầu cụ thể về những hàng hóa dịch vụ trong một thời gian nhất định chưa được thỏa mãn Nhu cầu của khách hàng là yếu tố chi phối đầu tiên của thị trường Yếu tố thứ hai đối trọng với cầu trên thị trường của doanh nghiệp là cung hàng hóa dịch vụ cho các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế quốc dân tạo nên Yếu tố thứ ba là thành phần không thể thiếu được chính là hàng hóa và dịch vụ tham gia vào thị trường
Vậy vấn đề phát triển thị trường phải được xem xét đánh giá ở thành phần thị trường như đã nêu ở trên, bao gồm:
1
Tập thể tác giả (2000), Giáo trình Marketing lý thuyết, NXB Giáo dục, trang 39
Trang 149
- Ngày càng đưa thêm nhiều hàng hóa dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của
người tiêu dùng, đặc biệt là loại sản phẩm mới, sản phẩm chất lượng cao
- Mở rộng quy mô khách hàng về số lượng và chất lượng
- Mở rộng thị trường của doanh nghiệp về mặt không gian, làm tăng dung
lượng của thị trường Xây dựng chiến lược phù hợp với tình hình thực tế và điều kiện của bản thân doanh nghiệp nhằm xâm nhập vào những thị trường tiềm năng
- Phát triển thị trường bằng cách đa dạng hóa kinh doanh, tăng cường độ tiêu
thụ sản phẩm của khách hàng hiện tại Phương thức thường được sử dụng ở đây là phân chia thị trường thành những phân đoạn riêng biệt và tung ra những sản phẩm mới nhằm thỏa mãn nhu cầu của từng phân đoạn một cách tốt nhất, từ đó tạo ra lợi nhuận tối ưu cho doanh nghiệp
1.2.2 Một số biện pháp phát triển thị trường
Mục tiêu hoạt động của mọi doanh nghiệp trong kinh doanh suy cho cùng đều xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận Để có lợi nhuận, sản phẩm sản xuất ra phải phù hợp với thị hiếu của khách hàng, được khách hàng chấp nhận Câu hỏi đặt ra với mỗi doanh nghiệp là phải làm gì để có thể mở rộng và phát triển thị trường, thu hút khách hàng
Một số biện pháp mà các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có thể sử dụng
để mở rộng và phát triển thị trường là:
- Đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm: tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ, rút
ngắn thời gian luân chuyển một vòng đời sản phẩm, rút ngắn thời gian thực hiện giá trị của sản phẩm trên thị trường để bắt đầu chu kỳ mới của sản phẩm, rút ngắn thời gian hoàn vốn, giảm chi phí sử dụng vốn đồng thời tăng vòng quay của vốn
- Phát triển mặt hàng: đa dạng hóa sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng, nâng
cao chất lượng bao gói, đáp ứng ngày càng nhiều hơn những nhu cầu đa dạng của thị trường Trên cơ sở đó, việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cũng sẽ thuận lợi hơn
Trang 15- Chính sách giá cả hợp lý: nhu cầu trên thị trường vừa có tính đồng nhất,
vừa có tính độc lập nhất định Không thể có một mức giá chung áp dụng cho các chủng loại sản phẩm của cùng một mặt hàng Một chính sách giá cả hợp lý là tập hợp của nhiều phương pháp định giá với các mức linh hoạt sẽ khai thác, tận dụng được triệt để các nhu cầu đa dạng khác nhau trên thị trường, giúp doanh nghiệp thâm nhập được thị trường theo chiều sâu và chiều rộng
- Phải đảm bảo giữ được uy tín trên thị trường: thực tế trên thương
trường đã chứng minh: “chữ Tín quý hơn vàng” Mở rộng thị trường phải đi đôi với việc bảo vệ và nâng cao chất lượng hàng hóa thì việc phát triển, mở rộng thị trường mới bền vững
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng
- Quan hệ cung cầu:
Giá cả trên thị trường là nhân tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới mở rộng thị trường Các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động mạnh
mẽ của quy luật cung cầu và giá cả Trong cơ chế thị trường, giá cả là một nhân tố
có ảnh hưởng lớn tới việc tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, các doanh nghiệp muốn thắng đối thủ cạnh tranh của mình đều phải có chính sách giá linh hoạt phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường Việc định ra chính sách giá bán phù hợp với cung cầu trên thị trường sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh của mình Một chính sách giá phù hợp sẽ có tác dụng kích cầu, tăng doanh thu, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm
- Nhịp độ phát triển sản xuất kinh doanh
Nhịp độ phát triển sản xuất kinh doanh của các ngành trong nền kinh tế quốc dân là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến mở rộng thị trường, đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn như: Công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, ngoại thương Đây là tiền đề để các doanh nghiệp tổ chức việc mở rộng thị trường của mình Ngoài ra, nhịp độ phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật, văn hóa – nghệ thuật cũng tác động đến thị trường Khi khoa học phát triển tạo ra thiết bị
Trang 16công nghệ mới, chất lượng cao, hạ giá thành sản phẩm, hàng hóa sản xuất ra sẽ đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng, đáp ứng được khả năng thanh toán của họ, làm tăng sức mua trên thị trường và kết quả là thị trường được mở rộng
- Nhịp độ tăng dân số và mức thu nhập bình quân của dân cư
Đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc mởi rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Yếu tố này là rất quan trọng trong việc giúp xác định thị trường trọng điểm của doanh nghiệp Nó phản ánh quy mô và dung lượng thị trường để doanh nghiệp có chính sách giá phù hợp Thu nhập tăng hay giảm ảnh hưởng tới sức mua của người lao động Khi thu nhập tăng, khả năng thanh toán của người dân được đảm bảo, thị trường tiêu thụ có cơ hội được mở rộng
- Nhân tố kỹ thuật công nghệ
Thực tế trên thế giới đã chứng minh sự biến đổi công nghệ có tác động to lớn đến việc mở rộng thị trường của doanh nghiệp Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của kỹ thuật, công nghệ, không một doanh nghiệp nào có thể đứng ngoài cuộc chạy đua đó
- Chủ trương, chính sách của Nhà nước về quản lý vĩ mô
Chính sách của nhà nước là tiền đề cho sự phát triển của nền kinh tế Trong từng thời kỳ nhất định, một sự thay đổi các chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách lưu thông tiền tệ… của nhà nước có thể ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp nói chung và việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp nói riêng
2 Khái quát chung về vải Thanh Hà
2.1 Khái quát chung về cây vải Thanh Hà
2.1.1 Nguồn gốc
Vải Thiều Thanh Hà là một trong những giống vải được ưa chuộng nhất Việt Nam Theo thông tin từ các cụ cao niên địa phương, cây vải tổ hiện được
Trang 17trồng tại làng Thúy Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà do ông Hoàng Văn Cơm mang giống về từ hàng trăm năm trước Từ cây vải tổ này, nhân dân địa phương đã nhân giống ra khắp các vùng miền trong huyện và sang các địa phương lân cận Như vậy, Thanh Hà chính là vùng đất phát tích và khởi nguồn của giống vải Thiều nổi tiếng trên cả nước
- Nhóm giống vải chín sớm: Nhóm này bao gồm 2 giống U trứng và Lãng
Xuyên, chiếm khoảng 4% diện tích trồng vải Thời gian quả chín và cho thu hoạch quả cuối tháng 3 đầu tháng 4 (âm lịch)
- Nhóm giống vải chín trung bình: Gồm có các giống vải Uhồng, Uthâm,
Tàu lai hoa trắng, Tàu lai hoa đen, Thiều Phú hộ, chiếm 16% diện tích trồng vải
Trang 18Uhồng và Uthâm là các giống vải có kích thước quả lớn nhất chiều cao quả 4,3 – 4,6 cm, chiều rộng quả 3,8 – 4,0 cm Tỷ lệ chiều cao quả/chiều rộng quả 1,1 – 1,15 Quả có dạng hình bầu dục Thơì gian chín và cho thu hoạch trong tháng 4 (âm lịch)
- Nhóm giống vải chín muộn - Vải Thiều: Nhóm này có duy nhất một
giống mà ta vẫn thường được nghe đến: vải Thiều Đây là giống vải chính vụ, với diện tích chiếm khoảng 80% diện tích trồng vải toàn huyện Thời gian chín và cho thu hoạch từ đầu tháng 5 đến đầu tháng 6 (âm lịch) Năm 2011, do thời tiết muộn nên vải Thiều cho thu hoạch bắt đầu từ 20/5, thu hoạch rộ từ 26/5 đến 7/6 (âm lịch) 1
2.1.3 Đặc điểm vải Thanh Hà
Đặc điểm của quả vải: vải Thanh Hà có những đặc điểm riêng biệt và loại
vải được trồng nhiều nhất là vải Thiều, loại vải này có những đặc điểm như quả hình cầu, khi chín sắc vỏ tươi, gai vỏ dãn đều làm cho vỏ quả phẳng hơn, vỏ mỏng, khi bóc thấy dóc, cùi trắng trong, độ dầy cùi lớn thịt cùi giòn ngọt không chua, chát đặc biệt có mùi rất thơm, hạt quả nhỏ và hơn nhăn; theo nghiên cứu của một số nhà khoa học cho thấy cùi vải có hàm lượng đường tổng số và đường khử cao, a xít tổng hợp thấp nên khi ăn có vị ngọt thanh, mát đây là điểm khác biệt cơ bản để phân biệt vải Thiều Thanh Hà với các loại vải khác và vải Thiều di thực Vải ra hoa vào tháng 2 và chín vào tháng 5 âm lịch Với những đặc trưng riêng đó, vải Thiều Thanh Hà được coi là đặc sản của nước ta gắn với vùng địa lý
là huyện Thanh Hà
Đặc điểm của cây vải Thanh Hà: Đây là cây ăn quả vùng nhiệt đới, quả
chín vào cuối tháng 5 âm lịch Cây vải khá dễ trồng và dễ chăm sóc nhưng chất lượng quả lại phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, đất đai Người trồng vải đòi hỏi phải tỷ mỷ, cần mẫn theo dõi quá trình phát triển của cây vải, đặc biệt là thời
1
Nguyễn Duy,“Các giống vải tại Thanh Hà”, 2010, haiduongdost.gov.vn, …
Trang 19điểm vải ra hoa và kết trái Trong mỗi tháng của năm, cây vải đòi hỏi những kỹ thuật chăm sóc riêng để có thể đạt năng suất và chất lượng cao nhất
Năng suất: vải Thanh Hà có năng suất khá cao so với các vùng khác nếu
được chăm sóc đúng kĩ thuật Theo số liệu thống kê của Huyện, năm 2008 năng suất vải đạt 58,74 tạ/ha cao nhất trong vài năm trở lại đây 1
2.2 Đánh giá khả năng phát triển của vải Thanh Hà
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
Địa lý: Huyện Thanh Hà nằm ở phía Đông Nam tỉnh Hải Dương, phía Bắc giáp huyện Nam Sách, phía Đông giáp huyện Kim Thành, phía Nam giáp thành phố Hải Phòng, phía Tây giáp thành phố Hải Dương Huyện có 24 xã và 1 thị trấn Huyện được chia làm 4 khu là Hà Nam, Hà Đông, Hà Tây và Hà Bắc
Đất đai-khí hậu: đất đai Huyện Thanh Hà do phù sa bồi tụ, sông ngòi nhiều
nên rất màu mỡ, phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp, nổi tiếng với đặc sản vải Thiểu Độ cao so với mực nước biển trung bình là 0,60 m Tuy nhiên, do phù sa bồi tụ không đều nên địa hình thổ nhưỡng của Thanh Hà không bằng phẳng và phần lớn vẫn ở dạng phù sa non Riêng 6 xã khu Hà Đông trũng hơn, có nhiều đầm, hồ, ruộng bãi rất thấp Khí hậu ở Thanh Hà mang rõ nét tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, hội tụ đầy đủ điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện
Nguồn nước - sông ngòi: Thanh Hà có các con sông lớn như Thái Bình (ở
phía Tây Nam), sông Rạng, sông Văn Úc (ở phía Đông Bắc) bao bọc Ngoài các con sông lớn bao quanh, trong địa phận Thanh Hà còn có sông Gùa nối sông Thái Bình với sông Văn Úc, tách khu vực Hà Đông (gồm 6 xã) như một hòn đảo nằm giữa các con sông lớn Từ con sông lớn, có các sông, ngòi nhỏ chạy len lỏi vào tận các thôn, xã trong huyện, tạo thuận lợi cho việc tưới tiêu nước cho đồng ruộng
và là hệ thống giao thông thuỷ quan trọng trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá,
1
Niên giám thống kê UBND huyện Thanh Hà -2010
Trang 20- Điều kiện kinh tế: Trong những năm qua, điều kiện kinh tế của Thanh Hà
đã có rất nhiều chuyển biến Tổng sản phẩm trong huyện tăng trưởng bình quân 7,0%/năm, trong đó giá trị tăng thêm ngành Nông nghiệp đạt bình quân 4,1%/năm, ngành Công nghiệp – Xây dựng đạt 10 % /năm, dịch vụ đạt 9,2%/năm
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng Nông nghiệp - CNXD - Dịch vụ, từ 49 - 16,4 -34,6 % năm 2005 sang 42,6 - 21,2 - 36,2 % năm 2010; GDP bình quân đầu người tăng khá, năm 2010 đạt 8,9 triệu đồng 2 Sự phát triển của các ngành CN-XD và dịch vụ chắc chắn sẽ thúc đẩy và mở ra những hướng đi mới cho ngành nông nghiệp địa phương
- Nông nghiệp: phát triển khá, an ninh lương thực được đảm bảo, giá trị sản
xuất ngành nông nghiệp tăng bình quân 10,3%/năm Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng trồng trọt – chăn nuôi, thủy sản – dịch
vụ, từ 62%-35%-3% năm 2005 sang 52,4%-43,3%-4,3% năm 2010; gắn chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi với thế mạnh từng vùng sản xuất: vải chính vụ (khu Hà Nam), vải sớm (khu Hà Đông), ổi (Liên Mạc, Thanh Xuân), quất (Cẩm Chế), vùng chuyên canh lúa (khu Hà Tây, Hà Bắc)…
- Công nghiệp, xây dựng, hạ tầng cơ sở, thương mại dịch vụ và tài chính ngân hàng: có bước phát triển mới, đạt được nhiều thành tựu Giá trị sản xuất
công nghiệp-xây dựng năm 2010 đạt 388,9 tỷ đồng, mức tăng bình quân 10,3%/năm Các loại hình dịch vụ mới được triển khai, giá trị ngành dịch vụ năm
2010 đạt 369,8 tỷ đồng Hạ tầng cơ sở từng bước được nâng cấp và hoàn thiện, 99,9% số hộ gia đình được dùng điện thắp sáng, giá trị sản xuất ngành vận tải; thông tin liên lạc, kho bãi đạt 67,3 tỷ đồng, tăng 59,8% Hệ thống thông tin liên
Trang 21lạc, mạng Internet phát triển nhanh đạt 60 máy điện thoại bàn/100 dân, 20% dân
số được tiếp cận với mạng Internet3 Những con số trên cho thấy cuộc sống của người dân Thanh Hà đang dần được cải thiện, dân trí được nâng cao, và tất cả những yếu tố đó tạo ra điều kiện thuận lợi để phát triển cây vải trên địa bàn Huyện
- Giao thông: Hệ thống sông ngòi chằng chịt tạo nên các tuyến giao thông
đường thuỷ rất quan trọng với thành phố Hải Dương các huyện bạn như Tứ Kỳ, Kim Thành và giữa Hải Dương với Hải Phòng, Quảng Ninh Giao thông bộ có đường 390A chạy từ Ngã Ba Hàng (đường 5 cũ) qua địa phận xã Tiền Tiến về huyện lỵ xuôi xuống bến Gùa, kéo dài đến phà Quang Thanh; đường 390B nối từ đường 5 (đầu cầu Lai Vu) qua các xã Hồng Lạc, Việt Hồng, Cẩm Chế về huyện Hai con đường này là huyết mạch giao thông của huyện, ngoài ra trong nội hạt còn có các con đường nhỏ liên huyện, liên xã, liên thôn tạo thành hệ thống giao thông sinh hoạt, giao lưu kinh tế, văn hoá của nhân dân địa phương Mạng lưới giao thông của Thanh Hà khá thuận lợi cho việc vận chuyển và tiêu thụ vải bằng
cả đường bộ lẫn đường thủy.1
Lĩnh vực văn hóa - xã hội
- Giáo dục đào tạo và dạy nghề: chất lượng nguồn nhân lực được chú
trọng, tỷ lệ tuyển sinh vào các cấp học đều vượt chỉ tiêu Tỷ lệ học sinh thi tốt nghiệp hàng năm đạt từ 97,5%-99,2%; học sinh đỗ đại học năm 2009 đạt 519 học sinh, chiếm tỷ lệ 20% số thi sinh dự thi Nhưng vậy trình độ học vấn cũng như khả năng nhận thức của người dân Thanh Hà ngày một nâng cao, điều này góp phần tạo thuận lợi cho việc tuyên truyền, phổ biến các chính sách và tổ chức những lớp khuyến nông cho các hộ nông dân trồng vải trong huyện
- Các chính sách xã hội như: giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đền
ơn đáp nghĩa, chính sách với người có công, hoạt động từ thiện nhân đạo được quan tâm đúng mức và đạt hiệu quả thiết thực Tỷ lệ hộ nghèo từ 17% năm 2005 giảm xuống 6% năm 2010; hàng năm giải quyết việc làm cho 2700 lao động, 5
1
http://www.haiduong.gov.vn/vn/thongtin/Pages/Huy%E1%BB%87nThanhH%C3%A0.aspx
Trang 222.2.3 Chất lượng vải Thanh Hà so với các vùng khác
Chất lượng vải Thiều Thanh Hà được quyết định bởi tính đặc thù của đất đai
và những bí quyết canh tác truyền thống của người dân Thanh Hà
Quả vải Thanh Hà: quả vải Thanh Hà hạt nhỏ, vỏ mỏng; cùi ráo, ròn, vị
ngọt, hương thơm không một vùng vải nào có được Trái vải Thiều lớn cỡ ngón chân cái, tạo thành chùm, vỏ màu đỏ sậm hơi sần sùi Bóc vỏ ra, bên trong là một lớp cùi trắng nõn, mọng nước; vị ngọt dịu mát, hương vị thơm của nước vải ngấm tận chân răng, đây là nét đặc biệt riêng của vải Thanh Hà Nhìn chung quả vải ở đây khá đều và phụ thuộc theo từng cây, những cây được chăm sóc đúng kỹ thuật
tỷ lệ quả nhỏ thường dưới 5% Vải Thiều Thanh Hà chính gốc hột nhỏ, màu nâu đen, cây vải tuổi càng cao thì hạt càng nhỏ, có nhiều trái gần như không có hạt và lớp cùi dày ngọt lịm, đầy nước.2
Trang 23Hình 1.2: Cấu tạo quả vải
(Nguồn: blog.yume.vn/xem-blog/doi-dieu-ve-cay-vai-thieu.trinhvietsong.35d35968.html)
Quy trình kiểm soát chất lượng vải Thiều Thanh Hà: ngày 04/08/2010,
Hiệp hội sản xuất và tiêu thụ vải Thiều Thanh Hà đã ban hành “ Quy trình kiểm soát chất lượng vải Thiều Thanh Hà mang chỉ dẫn địa lý” Mục tiêu của quy trình
nhằm ổn định, giữ vững và nâng cao chất lượng sản phẩm vải quả Thanh Hà để duy trì, phát triển thương hiệu sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý Thanh Hà Nội dung của quy trình bao gồm những quy định, nguyên tắc, nội dung kiểm soát các khâu từ sản xuất đến thu hoạch, sơ chế và đóng gói sản phẩm thành phẩm vải Thiều Thanh
Hà Nhờ quy trình này, chất lượng vải Thiều Thanh Hà được đảm bảo khi tới tay người tiêu dùng, hình ảnh của vải Thanh Hà được củng cố trên cả thị trường trong
và ngoài nước
Vải sấy Thanh Hà: vải sấy Thanh Hà cũng có điểm đặc biệt riêng Vải sấy
khô cùi đen lại, dẻo quánh, rất ngọt Khi ăn, ta có cảm giác như ăn một quả táo Tàu thường có vị thuốc Bắc Theo người dân địa phương, vải sấy đạt tiêu chuẩn
có thể cất trữ khoảng 2 đến 3 tháng mà vẫn giữ nguyên được mùi vị
Nhìn chung, trên toàn đất nước Việt Nam có khá nhiều nơi có thể trồng được vải như: Lục Ngạn - Bắc Giang, Hưng Yên, vùng trung du ở các tỉnh Thanh Hóa, Vĩnh Phúc… Mỗi vùng có một ưu điểm riêng như Lục Ngạn có diện tích và sản lượng vải rất lớn hay ở Thanh Hóa thì giá vải chính là lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên do không hợp chất đất và khí hậu nên không một địa phương nào quả vải lại
Trang 24đạt được chất lượng như vải Thanh Hà Quả vải các vùng này cùi thường không giòn, hạt lớn, vỏ không nhẵn nhiều gai và đặc biệt có vị hơi chát
1.2.4 So sánh quả vải với các loại quả cạnh tranh khác
Khi vải bắt đầu vào vụ thu hoạch thì trên thị trường cũng xuất hiện một số các loại hoa quả khác cạnh tranh trực tiếp như : dứa, dưa hấu, mận, đào, ổi… Các mặt hàng này đều có những ưu và nhược điểm riêng, vì vậy ta cần tập trung khai thác những điểm mạnh của vải Thanh Hà để tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường
- Ưu điểm của vải:
Vải có vị ngọt lịm hấp dẫn, chất lượng đảm bảo, hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt vải Thanh Hà đã được cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý và đã đi vào tiềm thức của người dân Việt Nam
Về sản xuất, vải là cây lâu năm dễ trồng dễ chăm sóc, phù hợp với nhiều loại đất; Quả vải dễ bảo quản trong thời gian ngắn có thể bảo quản bằng phương pháp ướp lạnh hoặc ngâm ozone
Khâu vận chuyển cũng đơn giản chỉ cần đóng vải vào thùng xốp là có thể vận chuyển bằng nhiều phương thức khác nhau
Giá trị kinh tế của quả vải rất to lớn, các hộ dân ở Thanh Hà cho biết vào những năm 90 của thế kỷ trước vải chính là cây xóa đói giảm nghèo cho người dân nơi đây, và hiện nay vẫn có nhiều hộ gia đình vươn lên làm giàu từ cây vải
- Nhược điểm của vải so với các loại quả cạnh tranh khác:
Quả vải có tính nóng, không thích hợp với thể trạng của một bộ phận người tiêu dùng Điều này làm thu hẹp thị trường tiềm năng của quả vải
Vườn vải không được chăm sóc đúng cách có tỷ lệ quả sâu khá lớn; vụ thu hoạch của vải khá ngắn, tập trung vào một khoảng thời gian ngắn
Quả vải chỉ dễ bảo quản trong thời gian ngắn, còn trong khoảng thời gian dài thì rất khó để có thể giữ được hương vị và chất lượng vải
Riêng đối với vải Thanh Hà, hiện nay uy tín vải Thanh Hà đang bị ảnh hưởng bởi các loại vải kém chất lượng khác, điều này làm giảm giá bán và giá trị của quả vải Quả vải Thanh Hà bị đánh đồng với nhiều loại vải khác
Trang 251.2.5 Vải Thiều Thanh Hà được bảo hộ chỉ dẫn địa lý Ngày 08/06/2007, Cục Sở hữu Trí tuệ đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho vải Thiều Thanh Hà Nghĩa là từ nay "Thanh Hà" trong cụm từ
"Vải Thiều Thanh Hà" không thuần tuý là một địa danh, mà đã là một nhãn hiệu
sản phẩm và được bảo hộ trên phạm vi toàn quốc Ðây là cơ sở để làm tăng giá trị kinh tế cho người dân trồng vải, góp phần tăng giá trị tích luỹ cho thương hiệu vải Thiều Thanh Hà, giữ gìn và phát triển một sản vật truyền thống của địa phương và cả nước Tuy nhiên, khi đã có thương hiệu, thì việc tổ chức sản xuất
và tiêu thụ quả vải Thiều như thế nào cho xứng tầm với sản phẩm đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý và đem lại lợi ích cho người sản xuất vải là vấn đề được đặt ra Ý nghĩa của việc xác lập bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho vải Thiều Thanh Hà được thể hiện qua hai khía cạnh:
- Khía cạnh kinh tế: Giấy chứng nhận đăng lý chỉ dẫn địa lý cho vải Thiều
Thanh Hà khẳng định nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm, chỉ rõ tính chất và chất lượng đặc thù của quả vải Thiều được trồng trên đồng đất Thanh Hà, tạo ra sự khác biệt với tất cả các loại vải Thiều trồng ở các địa phương khác Đây là cơ hội thuận lợi làm tăng giá trị kinh tế cho người dân trồng vải Thiều ở huyện Thanh
Hà Mặt khác, đây cũng là cơ hội đẩy mạnh sự phát triển các ngành kinh tế khác như công nghiệp chế biến, du lịch sinh thái miệt vườn ven sông, giải quyết công
ăn việc làm cho người lao động và làm tăng thu nhập cho nhân dân địa phương
Hình 1.3: Logo vải thiều Thanh Hà
Nguồn: phuhung-jsc.com.vn/html/images/products/upload/image/logo20vai20thanh20ha.jpg
Trang 26- Khía cạnh văn hoá - xã hội: Giấy chứng nhận đăng lý chỉ dẫn địa lý cho
vải Thiều Thanh Hà góp phần tăng giá trị tích luỹ cho thương hiệu vải Thiều Thanh Hà Đồng thời, giữ gìn và phát triển một sản vật truyền thống, bảo tồn và tôn vinh nét văn hoá truyền thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Bắc Bộ, kết hợp với bản sắc riêng của Thanh Hà xứ Đông Mặt khác, sự bảo hộ này còn đóng góp vào việc nâng cao hình ảnh quốc gia Việt Nam trong quá trình hội nhập1
Việc vải Thiều Thanh Hà được cấp Chứng nhận sẽ là bước đệm để quả vải Thanh Hà vươn xa hơn nữa ra tầm quốc tế Hơn thế nữa, từ nay uy tín của quả vải nơi đây sẽ được pháp luật bảo vệ, vải Thanh Hà sẽ không bị người tiêu dùng đánh đồng với sản phẩm tương tự ở những vùng khác
3 Sự cần thiết phải phát triển thị trường cho vải Thanh Hà
Ảnh hưởng của cây vải Thanh Hà đến người dân ở đây được thể hiện trên tất
cả các mặt từ kinh tế, văn hóa đến xã hội, và phạm vi tác động của nó là rất lớn
3.1 Giá trị kinh tế - văn hóa – xã hội của vải Thanh Hà
3.1.1 Giá trị kinh tế
Theo số liệu của Huyện Thanh Hà, năm 2010 giá trị sản xuất ngành trồng trọt đạt 677 tỷ đồng trong tổng số 1129 tỷ đồng giá trị sản xuất nông nghiệp (59,9%); giá trị sản xuất cây ăn quả đạt 38,39 triệu đồng/ha; diện tích cây vải chiếm 4750 ha trong tổng số 6819 ha cây ăn quả (69,7%); năng suất vải trung bình đạt 21,3 tạ/ha; và sản lượng vải toàn Huyện là 10119 tấn 2 Theo khảo sát của nhóm, tỷ trọng thu nhập từ vải có sự biến động khá lớn giữa các xã trồng vải trong Huyện Cụ thể, 6 xã trong khu vực Hà Đông trung bình thu nhập từ vải chiếm 80% tổng thu nhập của các hộ gia đình, còn đối với những xã khác như: Thanh Thủy, Thanh Xá, Thanh Sơn…tỷ trọng thu nhập từ cây vải đã có phần giảm xuống trong vài năm trở lại đây
UBND huyện Thanh Hà, Báo cáo diện tích năng suất và sản lượng một số cây lâu năm chủ
yếu giai đoạn 2005-2010, năm 2010
Trang 27Giá trị kinh tế còn được thể hiện ở chỗ sự phát triển của cây vải đã kéo theo rất nhiều dịch vụ đi kèm như: dịch vụ vận tải, du lịch, bán lẻ…
Nhìn chung, mặc dù trong vài năm vừa qua tỷ trọng thu nhập từ vải đang có
xu hướng giảm xuống nhưng vải vẫn là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình tại những xã có tỷ lệ diện tích trồng vải lớn
3.1.2 Giá trị văn hóa
Giá trị truyền thống: thương hiệu vải Thiều Thanh Hà đã từng nổi tíếng
hàng trăm năm nay, đó là niềm tự hào không chỉ của người dân Thanh Hà – Hải Dương mà còn là của cả đất nước Việt Nam Hình ảnh quả vải cũng như những nét ứng xử đẹp của dân xứ vải đã được lưu truyền từ đời này sang đời khác tạo nên nét độc đáo riêng biệt của vùng đất này Thêm vào đó, ngày tết Đoan Ngọ mùng 05 tháng 05 Âm lịch chính là ngày những người con đất vải tưởng nhớ về cây vải tổ, người dân ở rất nhiều nơi trong vùng đều cố gắng đến bày tỏ tấm lòng thành đối với cây vải tổ ở Làng Thúy Lâm, đây chính là một nét đẹp mà không vùng trồng vải nào trên đất Việt Nam có được
Tâm huyết của người dân đối với cây vải: khi nhóm thực hiện xuống
huyện Thanh Hà, rất nhiều bác nông dân đã bày tỏ sự tiếc nuối đối với một loại cây mà họ đã từng gắn bó, một loại cây đã từng cứu họ khỏi những ngày đói kém trước đây Bác Dương Văn Bằng ( Đội 8 – Xóm Chùa – Thôn Đại Xá – Xã Thanh
Thủy ) cho biết “vào những năm 1994 nếu nhà nào có lấy 10 gốc vải thì giàu to, giá vải có lúc lên tới 25.000đ đến 30.000đ một kg, tiền thời đó so với bây giờ thì cháu biết rồi đó” Khi được hỏi về thực trạng giá vải bây giờ, bác Bằng chỉ biết
lắc đầu ngao ngán Như vậy chúng ta có thể thấy được nỗi lòng, tình cảm và sự trăn chở của người dân nơi đây đối với cây vải Thiều
3.1.3 Giá trị đối với xã hội
Cây xóa đói giảm nghèo: trong khoảng thời gian trước năm 1995, cây vải
Thiều đã được coi là cây xóa đói giảm nghèo của Huyện, chính vì thế vào năm
1993 Chính quyền Huyện đã quyết định mở rộng diện tích trồng vải để biến vải
Trang 28thành cây trồng chủ lực của Huyện, là động lực để xóa đói giảm nghèo, ổn định
xã hội và phát triển kinh tế
Tạo việc làm: Nông nghiệp vẫn là lĩnh vực quan trọng của Huyện Thanh
Hà, mặc dù tốc độ công nghiệp hóa đã có bước nhảy vọt trong vài năm trở lại đây nhưng phần lớn người dân Thanh Hà vẫn đang sống nhờ vào nông nghiệp Cơ cấu phân bổ lao động trong Huyện được thể hiện theo bảng dưới đây:
Bảng 1.1: Tỷ lệ lao động theo ngành Kinh tế
Nguồn:Báo cáo kết quả huy động và sử dụng nguồn nhân lực giai đoạn 2005-2010
Trong 4 năm, từ năm 2007 đến năm 2010, tỷ trọng lao động của Huyện trong ngành nông nghiệp đã giảm từ 78,4% xuống còn 72,7%, đây là mức giảm không lớn so với mức trung bình của cả nước Con số 72,7% cho thấy nông nghiệp vẫn là ngành rất quan trọng của Huyện Thanh Hà, và việc tìm kiếm những cách thức để nâng cao hiệu quả ngành nông nghiệp nói chung và của cây vải nói riêng vẫn là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Huyện trong một vài năm tới
3.2 Tầm quan trọng của việc phát triển thị trường tiêu thụ vải Thanh Hà
3.2.1 Đối với người nông dân
- Phát triển thị trường tiêu thụ vải Thanh Hà sẽ đảm bảo đời sống ổn định
cho người nông dân, giải quyết công ăn việc làm nhiều người
- Tăng thu nhập cho người dân địa phương
Trang 293.2.2 Đối với huyện Thanh Hà
- Góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho người dân huyện
Thanh Hà Điều này có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của cả huyện
- Thứ hai, vải Thiều Thanh Hà đã chính thức được Cục Sở hữu trí tuệ trao
bằng Chứng nhận Chỉ dẫn địa lý vào ngày 08/06/2007 Nghĩa là từ đó, "Thanh Hà" trong cụm từ "Vải Thiều Thanh Hà" không thuần tuý là một địa danh, mà đã
là một thương hiệu sản phẩm, giống như "Nước mắm Phú Quốc", "Vang Đà Lạt",… mở rộng thị trường tiêu thụ vải, sẽ mang cái tên “Huyện Thanh Hà” đến với mọi người và nhiều cơ hội hợp tác kinh tế sẽ đến với huyện
- Thứ ba, việc phát triển thị trường tiêu thụ đòi hỏi kỹ thuật bảo quản phải
cao Muốn vậy, ngay từ khâu chăm bón, thu hoạch đã yêu cầu áp dụng khoa học
kỹ thuật để đạt hiệu quả tốt nhất Như vậy, nói chung việc phát triển thị trường tiêu thụ sẽ giúp huyện nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm trồng vải
để giúp đỡ người dân
- Thứ tư, Thanh Hà là đất có truyền thống trồng vải, nơi đây có cây Vải Tổ
đã 200 năm tuổi Phát triển thị trường tiêu thụ vải sẽ thu hút người dân trong huyện tham gia trồng vải, từ đó bảo tồn và phát huy nét đẹp truyền thống văn hóa này
- Tạo tiền đề cho du lịch phát triển Rất nhiều người từ các nơi khác muốn
đến thăm cây vải tổ và mua vải về làm quà Đây là một dịch vụ kinh doanh hay nếu biết khai thác
3.2.3 Đối với Quốc gia
- Củng cố thương hiệu vải Việt Nam trên thị trường quốc tế Trên thế giới,
rất ít nước có điều kiện tự nhiên có thể trồng được vải như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia, Malaisia, Philippin, Inđônêxia, Austraylia… tuy nhiên không phải vải nơi nào cũng ngon như trái vải Việt Nam, đặc biệt là vải Thiều Thanh Hà – Việt Nam
Trang 30- Quảng bá thương hiệu quốc gia: một ý nghĩa hết sức to lớn đối với quốc
gia là mang tên Việt Nam đến với đông đảo bạn bè thế giới Nếu đảm bảo được
về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và kỹ thuật bảo quản vải để xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản thì lợi nhuận thu được là rất lớn
- Góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế
Tóm lại, việc nghiên cứu phát triển thị trường vải Thanh Hà là rất cần thiết đối với người dân huyện Thanh Hà – Hải Dương nói riêng và quả vải Việt Nam nói chung Để mở rộng thị trường tiêu thụ, vải Thanh Hà cần được nâng cao
về chất lượng, kỹ thuật bảo quản và mạng lưới kênh tiêu thụ ổn định cho sản phẩm trong và ngoài nước
Trang 31Chương II: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ VẢI THANH HÀ
1 Tình hình sản xuất
1.1 Diện tích trồng
Đối với toàn huyện Thanh Hà –Hải Dương, có thể khẳng định rằng vải chính
là loại cây trồng được ưu đãi bậc nhất tại đây Trong 3 năm trở lại đây, diện tích dành cho trồng vải ở huyện này đạt ngưỡng trên dưới 5.000 ha, chiếm đến ¾ tổng Diện tích cây trồng toàn huyện Rõ ràng, cây vải đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của người dân
Bảng 2.1: Diện tích cây trồng huyện Thanh Hà qua từng năm
Cây trồng
DT (ha) Tỷ trọng DT (ha) Tỷ trọng DT (ha) Tỷ trọng DT (ha) Tỷ trọng
Cam, Quýt 115 1,7% 102 1,5% 97 1,4% 98 1,4% Chuối 166 2,4% 165 2,4% 178 2,6% 195 2,9%
Nhãn 132 1,9% 135 2,0% 152 2,2% 154 2,3% Táo 98 1,4% 105 1,5% 113 1,7% 119 1,7% Dứa 0 0,0% 0 0,0% 3 0,0% 3 0,0%
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Thanh Hà 2010
Tính trên toàn bộ diện tích đất trồng trọt ở huyện này, diện tích trồng cây vải chiếm tỷ lệ cao nhất, vượt xa các loại cây trồng khác
Qua bảng biểu thống kê, chúng ta có thể nhận thấy một điều rằng, mặc dù trong vòng 5 năm trở lại đây, diện tích dành cho trồng vải tuy chiếm ưu thế rất lớn (từ 70 – 80%), nhưng càng về các năm sau, tỷ lệ này có hướng giảm dần – Mỗi năm giảm 2%
Trang 321.2 Năng suất
Với những điều kiện thuận lợi về đất đai, khí hậu, nguồn nước dồi dào, cùng
sự cần cù, chịu thương chịu khó của con người, nhìn chung cây vải Thanh Hà cho
ra năng suất khá cao so với bình quân chung các cây vải của vùng khác Bàn về
xu hướng biến động năng suất của vải
Hình 2.1: Năng suất vải Thanh Hà qua các năm
Tạ /ha
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Thanh Hà - 2010
Giai đoạn đầu từ 2005 – 2008, năng suất trồng vải tăng liên tục và chạm ngưỡng cao nhất 58,74 Tạ/ha vào thời điểm năm 2008 Năng suất tăng từ 24,4 tạ/ha (năm 2005) lên đến 58,74 tạ/ha (năm 2008), tức là tăng đến gần 2,5 lần chỉ sau có 3 năm Thế nhưng, kể từ sau năm 2008 tới nay, năng suất trồng vải đã giảm đi mạnh Cụ thể vào năm 2008 năng suất đạt 28,47 tạ/ha, sau đó 1 năm năng suất giảm còn 40 tạ/ha (2009), và theo số liệu mới nhất, năm 2010, năng suất vải chỉ đạt 21,3 tạ/ha, chỉ bằng một nửa mức năng suất của năm 2009
Nếu xét theo độ tuổi của cây: Đối với những cây vải độ tuổi dưới 15 năm,
sản lượng đạt 150 tạ/ha Đối với những cây vải “lâu năm”, có độ tuổi trên 15 năm,
Trang 33mức sản lượng có thể đạt từ 300 tạ/ha Rõ ràng, độ tuổi của cây vải là một yếu tố quan trọng quyết định mức năng suất Hiện tại, tổng diện tích đất trồng vải đạt 4.950 ha, vậy nhưng độ tuổi của cây phân bố không đồng đều Theo số liệu mới nhất từ UBND huyện Thanh Hà:
Bảng 2.2: So sánh cây vải theo độ tuổi
(trên 15 năm tuổi)
Cây vải dưới 15 tuổi
Nguồn: Niên giám thống kê Huyện Thanh Hà, năm 2010
Theo báo cáo trên, tại Thanh Hà, chiếm phần lớn diện tích đất trồng vẫn là cây vải lâu năm (3.794 ha, tương đương 74 %) Bàn về Năng suất, cây vải lâu năm vẫn cho thấy sự vượt trội hơn hẳn so với các cây vải dưới 15 tuổi, khi 1 ha đất trồng vải lâu năm cho ra 300 tạ vải, nhiều gấp đôi so với 1 ha đất trồng cây vải
dưới 15 năm Rõ ràng, đối với những ưu thế đó: Sản lượng vải trong năm của
huyện Thanh Hà chủ yếu được quyết định bởi cây vải lâu năm
Tuy nhiên, quan sát kỹ chúng ta có thể nhận thấy một tiềm năng lớn từ 1.356
ha trồng cây vải dưới 15 năm tuổi Nếu không có những thay đổi bất thường nào xảy ra, thì có lẽ chỉ 5-7 năm nữa, những cây vải này sẽ phát triển, lớn lên thành những cây vải lâu năm Mà chúng ta đã biết: Một cây vải lâu năm tạo ra mức sản lượng gần gấp đôi cây vải dưới 15 năm tuổi Với đà này, sản lượng vải Thanh Hà
sẽ còn lớn hơn nữa trong những năm sắp tới Điều này cũng sẽ dẫn đến một bài toán hóc búa đối với chính quyền địa phương và những hộ trồng vải: Làm thế nào chúng ta có thể đảm bảo bao tiêu số lượng vải lớn đến thế, và làm thế nào để giá bán mỗi kg vải giữ ở mức ổn định nhất, đảm bảo cho quyền lợi và cuộc sống người nông dân Thanh Hà?
Trang 341.3 Sản lượng
So với các loại cây trồng khác ở huyện Thanh Hà, sản lượng cây vải ở đây
tỏ ra vượt trội hơn hẳn Điều này cũng là dễ hiểu, bởi đã từ rất lâu, vải là cây trồng được đặc biệt quan tâm chăm sóc, phát triển, nhân rộng Hơn nữa, đây lại là loại cây trồng chủ đạo tại huyện Thanh Hà, là bộ mặt và cũng là thương hiệu của huyện
Hình 2.2: So sánh sản lượng của một số cây trồng chính
tại huyện Thanh Hà qua các năm
0 10000 20000 30000 40000
Tấn
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Thanh Hà, 2010
Qua Biểu đồ, ta có thể thấy trong 3 năm từ 2008 – 2010, mức sản lượng vải đang có chiều dốc giảm sút rất mạnh Thời điểm sản lượng vải đạt mức cao nhất
đã cách đây hơn 3 năm, đó là năm 2008 với cột mốc gần 29.000 tấn /năm Sau đó
1 năm, sản lượng giảm mất gần 1/3, chỉ còn chưa tới 20.000 tấn vào năm 2009 Đến năm 2010, sản lượng tiếp tục thể hiện đà tụt dốc, ở mức chỉ còn bằng một nửa (10.119 tấn) so với năm 2009 Trong khi, nếu để ý 1 số loại cây trồng khác trong giai đoạn này, sản lượng của chúng không có sự biến động lớn, mà chỉ dao
Trang 35động quanh một mức sản lượng nhất định: cụ thể như cam, quýt sản lượng chỉ dao động quanh mốc 1000 tấn, sản lượng chuối dao động quanh mốc 5000 tấn hay mức sản lượng táo chỉ dao động ở mức 2000 tấn …
Vải từ lâu đã là loại cây trồng quan trọng ở Thanh Hà, với diện tích trồng khoảng 75 % tổng diện tích đất trồng Thế nhưng, cái điệp khúc
“Được mùa – Mất giá, Được giá – Mất mùa”
đã được “ca đi ca lại” trong rất nhiều năm Do vậy, giá trị kinh tế của cây vải càng ngày càng giảm, hàng năm cả huyện chỉ thu được bình quân 65 tỷ đồng từ vải (chỉ chiếm có 15% giá trị sản xuất nông nghiệp) Đời sống dân trồng vải thì vất vả, khó khăn, gian khổ, hôm nay chỉ biết trồng, mà chẳng biết được ngày mai, thành quả của họ sẽ ra sao Ngay từ lúc này, chúng ta cần phải tìm ra một hướng đi đúng đắn và thích hợp nhằm giải cho kỳ được bài toán của vải Thiều Thanh Hà
1.4 Quy trình sản xuất
1.4.1 Quy trình trồng vải
Cây vải vốn là một trong những loại cây ăn quả có chi phí trồng và chăm sóc thấp nhất nhưng lại cho giá trị kinh tế khá cao Chi phí trung bình một cây vải từ khi trồng đến khi cây bắt đầu cho thu hoạch quả với một sản lượng và chất lượng đều đặn chỉ ở mức 100.000 đồng/cây Việc chăm sóc vải cũng không tốn nhiều công sức , theo như nhà anh Trịnh Văn Biển, gia đình có 2 lao động chính nhưng chỉ có anh Biển ở nhà chăm sóc một vườn vải 2 mẫu rưỡi Việc trồng vải vất nhất
là lúc thu hoạch vì vải chỉ chín rộ trong khoảng 15-20 ngày và việc thu hái cũng khá công phu Tuy nhiên, theo người dân ở đây cho biết do giá vải quá thấp không đủ bù chi phí nên họ thường tự hái thay vì thuê người, nếu không hái được hết thì đành để vải rụng
Cây vải được trồng mới từ một cây vải giống (nhờ chiết cành) nhằm giữ được những đặc tính tốt của cây mẹ Cây vải phát triển phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết Cây vải sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ từ 24-29 độ C Hàng năm, phải có từ 300-350 giờ rét thì cây vải mới có thể ra quả Một năm có 2 lượt
Trang 36bón phân Lần thứ nhất, sau khi bẻ vải đến cuối tháng 7 đầu tháng 8 đợi cho ra lộc, nửa tháng sau bắt đầu bón phân, phun thuốc sâu đợt 1, đợt 2 theo định kỳ Tùy theo loại giống vải chín sớm hay chín muộn mà cuốc lật gốc để lưu thông khí, kích thích hoa Cuối tháng 10, đầu tháng 11 thì khoanh gốc, sau đó đến Tết Đại Hàn thì bón phân NPK (30% lượng cả năm) Khoảng tháng 2 Dương lịch sau khi cây ra hoa, rụng quả sinh lý thì bón phân, đến lúc thu hoạch (đầu tháng Năm
Âm lịch) chỉ cần phu thuốc trừ sâu Tuy thời gian và quy trình là như nhau, nhưng
độ tuổi của cây vải khác nhau sẽ dẫn đến chi phí khác nhau trong quá trình chăm sóc là khác nhau Thanh Hà là vùng tập trung những cây vải lâu năm, có số ít cây
có độ tuổi dưới 15 năm Chi phí chăm sóc cho những cây vải này trung bình là 50.000 đồng/cây Ở Thanh Hà có vườn cây vải tổ của gia đình cụ Hoàng Văn Cơm, nay do ông Hoàng Văn Lượm là cháu 5 đời chăm sóc và trông năm Cây vải tổ ở đây có độ tuổi là 260 năm, Nhà nước phải cử cán bộ kĩ thuật của phòng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn trực tiếp về chăm sóc Khi hỏi người dân ở đây là trồng vải bao nhiêu năm rồi thì mọi người đều trả lời rằng từ bé sinh ra thấy ông cha đã trồng mà có cụ năm nay đã ngoài 70 Những cây vải lâu đời như vậy chi phí chăm sóc có khi lên đến 100.000 đồng/ cây Tất nhiên, sản lượng của các cây có sự khác nhau rõ rệt được thể hiện trong bảng so sánh dưới đây:
Bảng 2.3: So sánh năng suất cây vải theo độ tuổi
“ Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc vây vải ở độ tuổi đang thu hoạch”
Vụ Khoa học công nghệ - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Tuy nhiên, ngày nay giá trị kinh tế của cây vải không còn được như xưa, người nông dân bỏ vải đi làm thuê, không mặn mà với việc chăm sóc cây vải
Trang 37Hơn nữa theo như bác Đỗ Văn Thế ở đây cho biết, nếu trồng theo quy trình được khuyến cáo của phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì năng suất vải rất cao nhưng vải mà thu hoạch được càng nhiều, giá vải càng thấp nên người dân cũng không trồng theo đúng quy trình Do vậy, năng suất trung bình chỉ vào khoảng 112 tạ/ha, thậm chí có nhà còn chỉ được 28–56 tạ/ha
1.4.3 Giãn vụ
Một đặc điểm của cây vải Thanh Hà là thời gian chín rộ rất ngắn, tập trung chủ yếu vào trong 2 tuần cuối tháng Năm âm lịch, lên gây khó khăn rất lớn trong khâu thu hoạch, bảo quản và đặc biệt là tiêu thụ Vì thế người dân ở đây đã tìm cách kéo dài vụ vải Qua tìm hiểu, người viết đã tổng hợp có 3 cách sau:
- Đẩy sớm thời gian chín của vải
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở rút ngắn quá trình ra hoa của cây vải, bằng cách tăng lượng nước tưới, tăng phân bón… Chi phí cho một hecta khoảng 3 – 5 triệu đồng Phương pháp này có thể làm cho vải Thiều chín cùng thời gian với vải Lai U, tức là chín sớm nửa tháng Tuy nhiên, theo đánh giá của người dân, phương pháp này không phù hợp, vì khi thúc vải chín sớm, chất lượng vải thấp hơn so với quả chín đúng vụ Quả vải chín sớm thường chua và chát hơn,
vì vậy, nông dân ở đây không thúc vải chín sớm
Trang 38Ở Lục Ngạn cũng là một vùng trồng vải nổi tiếng của nước ta, người dân ngoài việc việc bón thúc để vải chín sớm thì người ta còn sử dụng một phương pháp là phun thuốc hồng làm cho quả vải bề ngoài có màu đỏ hồng như vải chín, nhưng bên trong vẫn còn xanh và ăn có vị chát để đem bán sớm Việc làm này không những đảm bảo chất lượng của vải mà còn gây độc hại cho người tiêu dùng Thêm vào đó, khi sử dụng nếu thấy phẩm chất không được như mong muốn thì họ sẽ không tiếp tục tiêu dùng nữa, tạo ra một hiệu ứng xấu khi người tiêu dùng vẫn có thói quen mua hàng tại chợ nơi mà nguồn gốc, xuất xứ vải không rõ ràng Hành động trên của những người dân Lục Ngạn sẽ chẳng khác nào “con sâu làm rầu nồi canh” khiến cho vải ở những vùng khác cũng sẽ trở nên khó tiêu thụ
- Đẩy lùi thời gian chín của vải
Phương pháp này dựa trên cơ sở khống chế về mặt sinh học quá trình chín của quả vải và ngăn chặn các sinh vật khác thúc đẩy quá trình này, bằng cách bấm tỉa, tách chùm và phun thuốc bảo vệ thực vật để tránh ong, bướm làm hỏng quả vải Làm như vậy có thể kéo giãn vụ một tháng Chi phí cho một hecta là 10-15 triệu đồng Như vậy với tình hình giá vải thấp như hiện nay, phương pháp này không kinh tế Đó là chưa kể đến việc điều kiện thời tiết trong thời gian giãn vụ
có thể làm ảnh hưởng tới chất lượng của quả vải, làm cho vải bị nứt vỏ, rám vỏ,
do đó ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm Vì vậy, phương án này không khả thi
- Trồng xen các giống vải sớm và các giống vải muộn
Đây là phương án được áp dụng rất phổ biến ở Thanh Hà, đặc biệt là tại khu vực 6 xã thuộc khu vực Hà Đông bao gồm xã Hợp Đức, Trường Thành, Thanh Cường, Thanh Bính, Thanh Hồng, Vĩnh Lập Phương án này được thực hiện bằng cách mở rộng diện tích vải Lai U hiện có, giảm tương đối diên tích trồng vải Thiều, để làm cho thời gian thu hoạch được kéo dài Tuy nhiên, phương pháp này dẫn đến sự phân hóa chất lượng rõ ràng giữa các loại vải: vải thu hoạch sớm (vải Lai U) cho chất lượng quả không tốt, có vị chua hơn nhiều so với vải Thiều, và vải thu hoạch muộn (vải Thiều) cho chất lượng quả vải tốt như chúng ta đã biết Điều này tuy gây ảnh hưởng xấu tới thương hiệu vải Thanh Hà Tuy nhiên, việc
Trang 39Vì vậy, bài toán giãn vụ vẫn là một bài toán hóc búa cần các nhà kĩ sư nông nghiệp, những nhà khoa học vào cuộc Trong thời gian đó, nhà nước cần có những biện pháp nâng cao năng lực tiêu thụ cho vải Thanh Hà nói riêng và vải Việt Nam nói chung
1.5 Thu hoạch
1.5.1 Thời gian thu hoạch
Vải là cây ăn quả thường chín tập trung, thời gian thu hoạch chỉ trong khoảng 3 - 4 tuần Đối với cây vải sớm thì thời gian thu hoạch thường bắt đầu từ
20 tháng 4 âm lịch và kéo dài đến đầu tháng năm, kế đó là thời gian thu hoạch vải Thiều từ 5 tháng 5 âm lịch đến hết tháng Thông thường, vải chín đến đâu thì người dân thu hoạch đến đó
1.5.2 Nhân công và chi phí
Với diện tích vải hiện có, các hộ gia đình ở Thanh Hà thường tự thực hiện việc thu hoạch để tiết kiệm chi phí Thường khi vào mùa vải thì tất cả các thành viên trong gia đình kể cả người già và trẻ em thường tập trung để thu hoạch và bó vải Việc thuê nhân công khá đắt khoảng 200.000 đồng/ngày so với tương quan giá vải hoặc có khi gia chủ phải chia nửa số vải thu hoạch được với người làm
Trang 40thuê Hơn thế, việc thuê người cũng không phải là dễ vì gia đình nào cũng có vải cần phải thu hoạch
1.6 Tình hình chế biến và bảo quản
1.6.1 Bảo quản đối với sản phẩm vải tươi
Đối với vải tươi có 2 phương pháp bảo quản: Bảo quản bằng nhiệt độ thấp
và bảo quản bằng nước Ozone
Bảo quản bằng nhiệt độ thấp
Đây là phương pháp truyền thống để bảo quả hoa qura nói chung Nguyên tắc chung là giảm nhiệt độ của đối tượng bảo quản xuống càng thấp càng tốt Có thể sử dụng bằng nhiều cách: sử dụng kho lạnh để giữ hàng, sử dụng xe lạnh để chuyên chở hàng, hay sử dụng nước đá để bảo quản Sử dụng 2 phương pháp đầu
có nhược điểm rất lớn là chí chi phí cao, đặc biệt là sử dụng kho lạnh vì không phải ở đâu cũng có kho lạnh để bảo quảng hàng hóa Phương pháo dùng nước đá
để bảo quản trong quá trình chuyên chở đang là phương pháp được sử dụng phổ biến do chi phí thấp, xe chuyên chở có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau phù hợp với nhu cầu của thương lái nhỏ lẻ Phương pháp này được thực hiện như sau:
- Từng chùm vải được loại bỏ quả hỏng, quả sâu thối
- Các chùm vải từ công đoạn trên được ngâm trong một bể nước đá trong
vòng 2 phút
- Sau khi ra khỏi bể nước đá, cứ 30kg vải được xếp trong một thùng xốp
bên trong có bọc túi ni lon cỡ lớn, phía dưới đáy để một túi đá 7-8 kg để giữ nhiệt
- Các thùng xốp được đậy kín nắp, dán băng dính thật chặt và xếp lên xe tải
- Bảo quản trên đường vận chuyển:
Đối với xe tải có khoang làm lạnh: các thùng xốp đựng vải được xếp thẳng vào thùng xe chở đi Nhiệt độ trong xe duy trì ở mức 0-20C