1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHÍNH TRỊ LÀ Ý CHÍ THẮNG TRỊ CỦA MỘT GIAI CẤP NÀY ĐỐIVỚI MỘT GIAI CẤP KHÁC

30 202 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 115,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT VÀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊĐăng Huy Trinh Giáo viên Khoa Hành chính - Nhà nước Trường Đại học Luật Hà Nội - 1993 CHÍNH TRỊ LÀ Ý CHÍ THẮNG TRỊ CỦA MỘT GIAI CẤP NÀY ĐỐI Th

Trang 1

LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT VÀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

Đăng Huy Trinh

Giáo viên Khoa Hành chính - Nhà nước Trường Đại học Luật Hà Nội - 1993

CHÍNH TRỊ LÀ Ý CHÍ THẮNG TRỊ CỦA MỘT GIAI CẤP NÀY ĐỐI

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, các học thuyết chính trị

là sự thể hiện cô đọng những lợi ích kinh tế của giai cấp này hoặc giai cấpkhác Những lợi ích kinh tế ấy của các giai cấp cần có quyền lực chính trịbảo vệ và vì vậy nó thúc đẩy các giai cấp này phải nghiên cứu và chứngminh những tư tưởng chính trị của mình Lợi ích kinh tế của các giai cấpkhác nhau thì khác nhau Chính vì thế nảy sinh những cuộc đấu tranh giaicấp quyết liệt Phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp đó trên bình diện tư tưởng

là sự đối chọi của các học thuyết xung đột tư tưởng Sự thắng thế của một

Trang 2

học thuyết thời lưu tư tưởng này hay khác đều có tác dụng quan trọng đốivới khuynh hướng phát triển xã hội.

-Những tư tưởng chính trị phục vụ các lực lượng lỗi thời trong xãhội, bảo vệ chế độ kinh tế - xã hội và kiến trúc thượng tầng chính trị củachế độ đang suy tàn Các tác dụng cản trở sự phát triển xã hội và vì vậychúng là những học thuyết, tư phản động

Những tư tưởng và những quan điểm chính trị mới tiến bộ phục vụlợi ích của các lực lượng tiên tiến trong xã hội, phản ánh những lợi ích củacác giai cấp tiến bộ trong xã hội nảy sinh trên cơ sở phát triển đầy đủnhững nhu cầu về vật chất và tinh thần của đời sống xã hội

Những tư tưởng và học thuyết ấy tạo điều kiện xoá bỏ chế độ chínhtrị xã hội cũ và sản sinh củng cổ chế độ chính trị xã hội mới

Chính do tính chất đối khàng nhau nưh vậy mà các tư tưởng và họcthuyết chính trị tiến bộ luôn xuất hiện và phát triển trong cuộc đấu tranhvới các học thuyết phản động Lênin đã chỉ rõ: “lịch sử tư tưởng chính trị làlịch sử của quá trình thay thế của tư tưởng, do đó là lịch sử đấu tranh tưtưởng” (LN Toàn tập T25, tr.131)

-Sau khi ra đời các học thuyết tiến bộ trở thành tài sản của quầnchúng nhân dân, động viên, tổ chức quần chúng đấu tranh chống lại các lựclượng phản động trong xã hội Vai trò tổ chức của các tư tưởng và họcthuyết đặc biệt trong thời gian diễn ra các cuộc cách mạng xã hội Không

có học thuyết, không có tư tưởng chỉ đạo thì không thể có sự biến đổi cáchmạng Trong những hoàn cảnh ấy, những tư tưởng và học thuyết tiên tiếnkêu gọi quần chúng lao động đoàn kết và phát động họ tham gia cuộc đấutranh vì một chế độ chính trị xã hội mới mới, một một thiết chế nhà nước

và pháp quyền mới Cách mạng mới mà nhiệm vụ chính trị của nó là xoá

Trang 3

bỏ dưới hình thức này hoặc hình thức khác các mối quan hệ sản xuất đã lỗithời làm cho chúng phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lựclượng sản xuất.

-Mỗi giai cấp đều đưa ra những học thuyết và tư tưởng chính trị củamình Những học thuyết và tư tưởng thống trị trong xã hội, là những tưtưởng, học thuyết giai cấp thống trị, giai cấp cầm quyền Những tư tưởng

và học thuyết khác tồn tại trong xã hội là những học thuyết và tư tưởng củagiai cấp không giữ địa vị thống trị, nó được đưa ra để bảo vệ và chứngminh cho những đòi hỏi thống trị về kinh tế và xã hội của giai cấp ấy Nóthúc đẩy quá trình làm tan rã những điều kiện vật chất cũ và làm phát sinhnhững nhân tố cách mạng mới

-Giữa các học thuyết và tư tưởng không có sự tách rời riêng biệttuyệt đối mà chúng chịu tác động, ảnh hưởng qua lại của nhau Người takhông thể giới thiệu một khuynh hướng tư tưởng này hay khác bằng một sựvay mượn trần trụi, bằng một sự chuyển dịch máy móc các tư tưởng từhoàn cảnh lịch sử này sang hoàn cảnh lịch sử khác Song người ta cũngkhông thể giải thích cặn kẽ thấu đáo một hệ tư tưởng nếu cô lập tuyệt đối

Chính vì thế nghiên cứu các học thuyết chính trị là cơ sở nền tảng đểtìm hiểu về Nhà nước và pháp luật Cuộc đấu tranh và sự thay thế cáckhuynh hướng chính trị chủ yếu đã làm bộc lệ sâu sắc bản chất giai cấp củacác thiết chế nhà nước và pháp luật, những thiết đã hình thành và phát triểnphù hợp với các tư tưởng chính trị pháp luật

II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của môn khoa học lịch

sử các học thuyết và tư tưởng chính trị

Trang 4

Môn lịch sử các học thuyết và tư tưởng chính trị nghiên cứu các tưtưởng và học thuyết chính trị pháp luật trong lịch sử, có nghĩa là nghiêncứu chúng trong quá trình phát sinh và phát triển trong những điều kiệnkinh tế - xã hội nhất định.

-Có những quan niệm cho rằng đối tượng nghiên cứu của môn khoahọc này là những vấn đề thuần thuý lý luận trừu tượng, không liên quan gìtới các giai cấp trong xã hội Bằng cách đó đã tách các hình thái kinh tế - xãhội cụ thể, biến chúng thành một cái gì đó nằm ngoài lịch sử và phi giaicấp

-Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong bất kỳ một sựnghiên cứu lý luận nào không nên chỉ xác nhận những hiện tượng đangnghiên cứu mà cần đi sâu tìm hiểu bản chất khám phá nguyên nhân củachúng Không chỉ cần giải thích máy móc các tư tưởng và học thuyết chínhtrị mà còn cần phải hiểu được nghĩa thực tế của chúng trong sự phát triểnvai trò của chúng trong quá trình thay thế hợp quy luật hình thái kinh tế -

xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác, kiểu nhà nước này bằngkiểu nhà nước khác trong lịch sử

-Lênin đã chỉ rõ: “Mjốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn baoquát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và quan hệ giántiếp” của sự vật đó… Toàn bộ thực tiễn của con người, thực tiễn này vừavới tính cách là tiêu chuẩn của chân lý, vừa với tính cách là kẻ xác địnhmột cách thực tế sự liên hệ giữa sự vật với những điều kiện cần thiết đốivới con người, cần phải được bao hàm trong “định nghĩa” đầy đủ của sựvật”

-M<ôn lịch sử các học thuyết chính trị không nghiên cứu các tưtưởng và học thuyết chung một cách mà đi sâu nghiên cứu toàn bộ những

tư tưởng và học thuyết chính trị pháp quyền mà sự phát sinh, phát triển của

Trang 5

hình thái này nó liên quan chặt chẽ tới sự tồn tại nhà nước, tới lịch sử pháttriển cụ thể của nhà nước và pháp quyền.

Nội dung, đối tượng nghiên cứu của môn khoa học này là hệ thốngcác tư tưởng và học thuyết chính trị pháp lý của tất cả các hình thái kinh tế

- xã hội có giai cấp

-Hệ tư tưởng chính trị là một trong những lĩnh vực ý thức xã hộiphưc tạp nhất Khi nghiên cứu nó qua các tuyên bố và luận thuyết khácnhau cần tìm ra lợi ích khách quan, lợi ích Đảng nào đó, qua đó phát hiện

ra được ý nghĩa xã hội (tiến bộ nhay phản động) của học thuyết chính trịnày

-Lịch sử các học thuyết chính trị không chỉ nghiên cứu quan điểmcủa các giai cấp, các đảng phái đối với quyền lực nhà nước với các tưtưởng chính trị mà còn nghiên cứu những tư tưởng pháp quyền quan trọngnhất liên quan trực tiếp đến nhà nước, Pháp luật như dưới góc độ của lịch

sử các học thuyết chính trị là hình thức chính trị của các giai cấp thống trịđược đưa vào hoạt động thực tế của chính quyền nhà nước Nếu các tưtưởng, chính trị và pháp luật Như vậy là trọng tâ,m là trực tiếp môn lịch sửcác học thuyết chính trị nó được nghiên cứu như là những bộ phận liênquan một cách hữu cơ trong một chỉnh thể thống nhất nhằm chỉ ra lịch sửcác học thuyết chính trị là quá trình tích luỹ hợp quy luật những kiến thức

về nhà nhà nước và pháp quyền diễn ra trong cuộc đấu tranh giai cấp giữacác khuynh hướng thể hiện lợi ích chính trị của các giai cấp khác nhau

Từ những điểm phân tích ở trên chúng ta thấy: “Đối tượng nghiêncứu của môn khoa học lịch sử các học thuyết chính trị là những tư tưởng vàhọc thuyết chính trị pháp luật xuất hiện và phát triển hợp quy luật trongsuốt lịch sử xã hội có tổ chức nhà nước Những tư tưởng và học thuyết này

Trang 6

xét cho cùng là do các mối quan hệ kinh tế quy định và chúng phản ánh lợiích của các giai cấp tranh đấu trong xã hội”.

-Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu lịch sử - cụ thểcho phép nhận định và đánh giá đúng các tư tưởng và học thuyết (Dựa trênphép biện chứng duy vật)

Phê phán các phương pháp: (xuyên tạc, hiện đại hoá, so sánh bềmặt)

Thực chất của phương pháp này là như thế nào/

Lịch sử các học thuyết chính trị là một môn khoa học không chỉ làm

rõ tính giai cấp của các tư tưởng và học thuyết chính trị và pháp luật mà nócòn làm rõ phát triển hệ tư tưởng chính trị trong lịch sử giúp cho sự thâmnhập dần dần của tư duy con người vào bản chất thực sự của các chế độ nh

- pháp luật buộc đối tượng nghiên cứu cũng phải trở thành đối tượng nhậnthức luạn trong lịch sử các học thuyết và tư tưởng chính trị Đây cũng làmột khía cạnh của phương pháp tiếp cận này

Lênin nói rằng, mục đích của mọi môn khoa học là ở chỗ nó đưa rađược bức tranh thật về thế giới Điều đó có nghĩa là cần phải xác định mộtcách khách quan khoa học, cụ thể trong lịch sử chế độ đúng của các tưtưởng chính trị và pháp luật, xác định vai trò và ý nghĩa của chúng trong sựphát triển xã hội, trong cuộc đấu tranh giữa các giai cấp

Một nguyên tắc mang tính chất phương pháp luận hết sức quan trọngcủa môn lịch sử các học thuyết chính trị là tính Đảng của nó Theo quanniệm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì nguyên tắc Đảng la cơ sở để nghiêncứu mọi môn Khoa học xã hội Theo đó tính Đảng trong Khoa học xã hội là

sự thừa nhận bản chất và nội dung giai cấp của Khoa học xã hội

Trang 7

Lênin đã viết: “Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi íchcủa giai cấp này hay của giai cấp khác ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói,những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôngiáo, chính trị và xã hội thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốcnghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị” LN toàn tập,T23, tr 57.

Yêu cầu về tính Đảng Cộng sản loại trừ mọi sự chủ quan và xu thờitrong khi nghiên cứu lịch sử các học thuyết chính trị Thực chất nó đòi hỏiphải phân tích chính xác ý nghĩa thực của mỗi yếu tố trong hệ tư tưởng củanhững giai cấp khác nhau Từ đó tìm ra các quy luật phát triển khách quan,xác định những chân lý khách quan, giải quyết các mâu thuẫn khách quan

Một cách cụ thể hơn khi nghiên cứu lịch sử các học thuyết chính trịphải chú ý trước tiên đến các điều kiện kinh tế - xã hội của thời đại, tớinhững hoàn cảnh cụ thể của xã hội ấy

Chúng ta đều biết rằng những quan điểm chính trị là tiến bộ trongthời kỳ lịch sử này có thể lại là những quan điểm phản động trong thời kỳkhác (quan điểm của giai cấp tư sản trong thời kỳ cách mạng tư sản là tiến

bộ, đến thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa lại trở nền lỗi thời lạc hậu) Vìthế khi nghiên cứu lịch sử các học thuyết chính trị, khi đánh giá giá trị củacác quan điểm chính trị cần phải xem nó đóng góp, giải quyết được nhữngvấn đề gì so với đòi hỏi đương đại Những sự xem xét, phân tích và giảiquyết vấn đề một cách rõ ràng triệt để như vậy làm nên cách tiếp cận lịch

sử cụ thể trong môn khoa học lịch sử các học thuyết chính trị

III Các khái niệm và thuật ngữ cơ bản.

1 Quyền lực và những yếu tố cấu thành quyền lực.

Trang 8

-Hiện còn tranh cãi nhiều về khái niệm “chính trị”, song hầu như đềuthống nhất ở chỗ vấn đề quyền lực có vai trò rất quan trọng Phân tíchquyền lực xã hội người ta thấy nó gồm 2 mặt cấu thành cơ bản:

+ Mặt vũ lực (hay sức mạnh vật chất)

Quyền lực là sức mạnh cưỡng chế dựa vào những lực lượng vật chất

Xã hội muốn tồn tại và đứng vững cần có những cơ quan như Công an,quân đội, nhà tù, nó thể hiện sức mạnh bạo lực của quyền lực

+ Mặt tinh thần: chỉ bạo lực không thường không đủ để giữ vững trật

tự xã hội Quyền lực xã hội còn có khía cạnh thứ hai là khái cạnh lòng tin.Lòng tin tưởng là nền tảng của quyền lực (ngay từ thời cổ đại Khổng Tử đãnói: “Dân vô tín bất lập” - Không có lòng tin tưởng thì không thể xây dựngđược một xã hội ổn định, phát triển

-Một cách phân chia khác, người ta phân chia quyền lực thành nhiềuloại khác nhau tuỳ theo lĩnh vực mà nó chi phối

+ Quyền lực chính trị (lực lượng chính trị)

+ Quyền lực kinh tế (lực lượng kinh tế, lao động kinh tế)

+ Quản lý tinh thần… (giáo hội, nhà thờ)

Quyền lực nói chung là khả năng cưỡng chế hướng theo một mụctiêu nhất định dựa vào những lực lượng vật chất và tinh thần nhất định

Trang 9

-Lý thuyết được áp dụng tỏng hoạt động thực tiễn ta có một họcthuyết (học thuyết Mác-Lênin).

Nếu học thuyết nào hướng tơi việc lôi kéo nhiều người tin tưởng vàtham gia dựa vào nó trong hoạt động chính trị tạo nên sự cải biến xã hộisâu sắc thì nó trở thành chủ nghĩa

Một hệ thống tư tưởng hay lý thuyết bao quát được hết cả mọi khíacạnh của đời sống xã hội, định chiều hướng cho sự suy nghĩa, lý luận, hànhđộng, sinh sống của hầu hết mọi thành viên trong xã hội thì được gọi là ýthức hệ Mỗi xã hội đều có ý thức hệ riêng của mình (ý thức hệ phong kiến,

ý thức hệ tư bản, ý thức hệ xã hội chủ nghĩa)

3 Nền tảng triết lý của các học thuyết chính trị.

+ Bản thể luận, vũ trụ quan:

x Duy vật

x Duy tâm

x Ng luận+ Nhận thức luận: Phương pháp biện chứng hây siêu hình, lực lượngphản ánh

+ Nhân sinh quan:

x Phái chủ trương tính thiện

Trang 10

*Hình thức dân quyền: Quyền quyết định nằm trong tay toàn dân.

4 Các nguyên tắc cơ bản hướng dẫn sự tổ chức xã hội.

a Nguyên tắc thiên trị: được áp dụng rộng rãi trong những xã hội

thần quyền Đặc điểm cơ bản của nguyên tắc này là thiết lập tin tưởngmãnh liệt nơi trời, nơi thần linh Theo nguyên tắc này sự cai trị phải noitheo ý muốn của trời của thần linh Nhà cầm quyền được xem là đại diệncủa trời của thần linh

(Hy lạp Cổ đại, tuyển chọn người cầm quyền bằng cách rút thăm hợpvới ý thần linh)

b Nguyên tắc Nhân trị (Đức trị): Đặt nền tảng sự cai trị trên giá trị

của người cầm quyền Những người theo nguyên tắc này cho rằng sự hưngsuy của xã hội do đức độ, tài năng của người cầm quyền mà ra, tất cả vấn

đề ở chỗ là làm sao cho xã hội có người cai trị giỏi (các khả năng và đứctính của người cai trị ở mỗi giai đoạn khác nhau vô cùng Hồ Chủ Tịch:Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư)

Trang 11

c Nguyên tắc pháp trị: Lấy pháp luật làm căn bản, những người theo

phái này chủ tửơng con người rất yếu hèn dễ sai lầm nên phải dựa vào phápluật là những quy tắc khái quát áp dụng cho mọi người một cách bình đẳng

d Nguyên tắc, chủ trương vô trị: Chop rằng việc cai trị phiền nhiễu

mọi người  tốt hơn hết không cần có sự cai trị hay cai trị càng ít càngtốt Đây là lập trường của phái Đạo gia Trung Quốc và của các nhóm vôchính phủ phương Tây

quyền lực là tổng hợp mọi sức mạnh vật chất và tinh thần, nhằm thựchiện những mục tiêu nhất định trong việc lãnh đạo và quản lý xã hội Quan

hệ bao giờ cũng có chủ thể xã hội của nó

Trang 12

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

I Tư tưởng chính trị Lê Quý Đôn.

Lê Quý Đôn sinh 1726 mất 1784 thọ 58 tuổi, năm 18 tuổi đi thi đậugiải nguyên Năm 27 tuổi thi hội và thi đình đều đỗ đầu (Bảng nhãn - TrạngNguyên) Ông đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy quan lại củaVua Lê, Chúa Trịnh

Năm 1764 Lê Quý Đôn dâng sớ đề nghị xây dựng Pháp chế làm nềntảng cho việc cai trị quốc gia song không được nhà Trịnh chấp nhận lại còn

bị đẩy ra ngoài làm đốc đồng Kinh Bắc, (Hải Dương ngày nay) Ông tỏ ýbất mãn và lui về làm sách

Năm 1773 đã giữ chức Bồi trung tương đương với Phó Thủ tướng

Lê Quý Đôn là một học giả uyên bác nhất trong lịch sử chế độ phong kiếnViệt Nam Tác phẩm của ông đề cập nhiều lĩnh vực Về chính trị xã hội cócác tác phẩm như: Thư kinh diễn nghĩa, Quần thư khảo biện, Vân đài loạingữ, Kiến văn tiểu học v.v…

Lê Quý Đôn là nhà tư tưởng có cách lý giải độc đáo và độc lập Ôngnghiên cứu, phân tích cái hay, cái dở trong hàng loạt chính sách của ChúaTrịnh lúc bấy giờ cũng như phân tích cái hay và cái dở của các nhân vậtlịch sử trong Bắc Sử như Tần Thuỷ Hoàng, Tào Tháo v.v…

Tuy nhiên Lê Quý Đôn không thoát ra khỏi hệ tư tưởng của thời đạimình đó là hệ tư tưởng phong kiến Ông là phần tử trí thức đứng trên lậptrường của giai cấp phong kiến suy tàn Tư tưởng chính trị của ông thể hiệnmong muốn củng cố chế độ phong kiến đang lung lay Biện pháp của ông

có tính chất cải cách song cải cách là để duy trì và ổn định Nhà nước phongkiến, luật lệ phong kiến chứ không phải là để thay thế nó Chính vì thế nóvẫn mang tính chất lạc hậu Lê Quý Đôn chủ trương duy trì đức trị đồng

Trang 13

thời không xem nhẹ pháp trị Tuy nhiên ông không hoàn toàn theo lậptrường của phái Pháp gia mà trước sau vẫn trung thành với Nho giáo bảo vệđạo đức và lễ nghi phong kiến.

Đường lối cai trị quốc gia trong tư tưởng Lê Quý Đôn là kết hợp Đứctrị với Pháp trị Xã hội chính trị, lý tưởng của Lê Quý Đôn là một xã hộiphong kiến ổn định, có phân biệt đẳng cấp (giàu, nghèo, thân sơ v.v… ảnhhưởng của Khổng Tử) Song trong xã hội đó không được tồn tại một sự bóclột quá mức

Trong xã hội đó bộ máy cai trị được xây dựng một cách hợp lý dựatrên nền tảng là một tầng lớp những người tài năn và đức độ Lê Quý Đônviết trong “Quần thư khảo biên” như sau:

“Trị nước có gốc ở việc kính sư yêu dân dùng người hềin, bỏ kẻ gianthì lòng người thường qui phục kỷ cương không rối loạn, khi đó rõ việc vănchi đem ra xếp đặt mà thôi”

Bên cạnh việc đề cao trọng dụng người hiền Lê Quý Đôn cũngkhẳng định: “đường lối chính trị phải có pháp luật, điều lệ Vua quan khôngthể tuỳ ý xét xử tội hình hay ban thưởng công trạng”

Lê Quý Đôn cho rằng làm chính trị phải giữ lẽ công bằng mới đứngvững được, ông viết: “Pháp độ là của chung của cả thiên hạ, cốt phải quyđịnh từng điều, từng luật, nặng nhẹ lớn nhỏ đều phải cho xứng đáng, công

bố minh bạch cho thiên hạ biết Sau mới căn cứ vào đó mà quyết định”

(Tư tưởng này có thể tìm thấy trong tuyên ngôn nhân quyền và dânquyền Pháp)

Pháp luật phải thống nhất rõ ràng và công bố cho mọi người đều biết

Trang 14

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NGUYỄN TRÃI

Nguyễn Trãi là một trong những nhà tư tưởng yêu nước xuất sắcnhất nửa đầu thế kỷ XV Tư tưởng của ông đã vươn lên ngang tầm thời đạilúc bấy giờ

Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai sinh năm 1380 là con của quan tư đồ TrầnNguyên Hãn Năm 20 tuổi đã thi đậu Tiến sĩ dưới triều Hồ (hai cha concùng một triều vua) Năm 1442 Lê Thái Tông chết đột ngột, ông bị vu oan

và bất khả xâm phạm Quốc gia đó có chủ thể của nó Chủ thể đó là nhữngchủ nhân thực sự của Đại Việt, đó là những bậc hiền nhân quân tử, nhữngbậc tối mưu, hành động hợp với đạo Trời (ảnh hưởng Nho giáo - phân tầngđẳng cấp)

Tư tưởng về việc xây dựng giải quyết Việt Nam độc lập, tự do đãđược Nguyễn Trãi đề cập tới nhiều nơi, nhiều chỗ Cô đọng và tập trungnhất đó là trong Đại cáo Bình Ngô:

Xét như nước Đại Việt ta

Thật là một nước văn hiến

Mà hào kiệt không bao giờ thiếu

Trang 15

Đại cáo Bình ngô đã thể hiện như một bản tuyên ngôn độc lập hàohùng của dân tộc vào thế kỷ XV Trong đó nó khẳng định chủ quyền quốcgia của dân tộc Đó là lĩnh vực thiêng liêng và bất khả xâm pham (Đây làbản tuyên ngôn xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh giải phóngdân tộc trong lịch sử tư tưởng chính trị thế giới.

Về đường lối trị nước tư tưởng của Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởngnhiều của Nho giáo và có thể nói ông đã xây dựng một phương pháp tổnghợp trong đó nhấn mạnh

1 Dân là gốc nước, an dân là điều kiện để an xã hội, để chính

nghĩa dành được thắng lợi và triều đại được củng cố

2 Lấy nhân nghĩa làm cơ sở làm gốc của sức mạnh của quyền

lực

“Lấy yêu chống mạnh

Lấy trí nhân để thay cường bạo v.v…”

Xây dựng một quốc gia phong kiến ổn định Vua sáng tôi hiền

Ngày đăng: 11/01/2016, 17:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w