1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái

116 439 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 664,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và chất lượng chè búp tươi của chè shan Suối Giàng ..... Mặt khác cây chè Shan có nhiệm kỳ kinh tế dài, việc thu hái thường xuyên từ năm n

Trang 1

NGUYỄN THÀNH LONG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT, ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CHÈ SHAN TẠI XÃ SUỐI GIÀNG, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

NGUYỄN THÀNH LONG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM TĂNG NĂNG SUẤT, ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CHÈ SHAN TẠI XÃ SUỐI GIÀNG, HUYỆN

VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số ngành: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Thành Long

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Nông học, Phòng

Đào tạo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi

trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn Tôi xin cảm ơn sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn

Tác giả

Nguyễn Thành Long

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1: TỒNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam 5

1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 5

1.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam 6

1.3 Những nghiên cứu về giống chè shan 9

1.4 Những nghiên cứu về đốn chè 11

1.4.1 Cở sở khoa học của kỹ thuật đốn chè 11

1.4.2 Những nghiên cứu về kỹ thuật đốn chè 14

1.5 Những nghiên cứu về dinh dưỡng, phân bón và phân bón hữu cơ 14

1.5.1 Dinh dưỡng đối với cây chè 14

1.5.2 Phân bón hữu cơ cho chè 17

1.6 Nghiên cứu về phân hữu cơ vi sinh và bón phân hữu cơ vi sinh cho chè 18

1.6.1 Vai trò, thành phần của vi sinh vật 18

1.6.2 Nghiên cứu về các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xelluloza 20

Trang 6

1.6.3 Tình hình nghiên cứu về phân bón vi sinh vật trên thế giới và

Việt Nam 22

1.6.2 Các nghiên cứu về bón phân hữu cơ vi sinh cho chè 26

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 28

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 28

2.1.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 30

2.2 Nội dung nghiên cứu 31

2.2.1 Đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố hạn chế đến sản xuất chè shan Suối Giàng 31

2.2.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan Suối Giàng 31

2.3 Phương pháp nghiên cứu 31

2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 31

2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng 32

2.3.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 34

2.3.4 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng cho thí nghiệm 37

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 38

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 Đánh giá thực trạng và những yếu tố hạn chế đến phát triển sản xuất chè shan tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 39

3.1.1 Thực trạng sản xuất chè shan tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái 39

3.1.2 Đánh giá những yếu tố hạn chế đến phát triển sản xuất chè Shan tại xã Suối Giàng 42

3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan Suối Giàng - Văn Chấn - Yên Bái 44

3.2.1 Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất chè, hiệu quả kinh tế và chất lượng cảm quang chè shan 44

Trang 7

3.2.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến năng suất và chất lượng chè

búp tươi của chè shan Suối Giàng 55

3.2.3 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và chất lượng chè búp tươi của chè shan Suối Giàng 65

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Đề nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 8

QCVN : Quy chuẩn Việt Nam VSV : Vi sinh vật

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam TCN : Tiêu chuẩn ngành

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu về đất làm thí nghiệm II

và III 28Bảng 2.2 Hàm lượng các chất chính trong các loại phân hữu cơ bón

cho thí nghiệm II 29Bảng 3.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè Shan Suối Giàng qua

các năm 40Bảng 3.2 Đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho chè shan 41Bảng 3.3 : Đánh giá việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất

chè shan Suối Giàng 42Bảng 3.4 Các yếu tố hạn chế đến sản xuất và phát triển sản xuất 43Bảng 3.5 Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến thời gian bật mầm sau đốn

và thời gian từ đốn đến hái và số lứa hái của chè shan Suối Giàng 44Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến thành phần cơ giới búp và

phẩm cấp nguyên liệu chè búp tươi của chè shan Suối Giàng 45Bảng 3.7: Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến năng suất và các yếu tố cấu

thành năng suất của chè shan tuyết Suối Giàng 48Bảng 3.8 Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến sự phát sinh, gây hại của

một số sâu hại chính trên chè shan Suối Giàng 51Bảng 3.9 Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến sự phát sinh, gây hại của

một số bệnh hại chính trên chè shan Suối Giàng hại 53Bảng 3.10: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của các công thức trong

thí nghiệm thời vụ đốn 54Bảng 3.11 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến thời gian bật mầm sau

đốn, và thời gian từ đốn đến hái của chè shan Suối Giàng 55

Bảng 3.12: Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến năng suất và các yếu tố

cấu thành năng suất của chè shan Suối Giàng 55

Trang 10

Bảng 3.13 Ảnh hưởng của các mức bón phân hữu cơ đến sự phát

sinh, gây hại của một số loài sâu hại chính trên chè shan Suối Giàng 59Bảng 3.14 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến sự phát sinh, gây hại của

một số bệnh hại chính trên chè shan Suối Giàng 60Bảng 3.15 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến chất lượng búp Chè tươi

shan Suối Giàng qua một số chỉ tiêu sinh hóa 62Bảng 3.16: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của chè shan Suối Giàng

thí nghiệm bón phân hữu cơ 64Bảng 3.17 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến thời gian bật mầm

sau đốn, thời gian hái và số lứa hái của chè shan Suối Giàng 65Bảng 3.18: Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và các

yếu tố cấu thành năng suất của chè shan Suối Giàng 66Bảng 3.19 Ảnh hưởng phân hữa cơ vi sinh đến sự phát sinh, gây hại

của một số loài sâu hại chính trên chè shan Suối Giàng 68Bảng 3.20 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến sự phát sinh, gây

hại của một số bệnh hại chính trên chè shan Suối Giàng 69Bảng 3.21 Ảnh hưởng của hữu cơ vi sinh đến chất lượng búp tươi chè shan

Suối Giàng qua một số chỉ tiêu sinh hóa 70Bảng 3.22: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của chè shan Suối Giàng

ở các công thác bón phân hữu cơ vi sinh 71

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các công thức

thí nghiệm thời vụ đốn 50Hình 3.2 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của chè shan Suối

Giàng ở thí nghiệm bón phân hữu cơ 58Hình 3.3 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của chè shan Suối

Giàng ở thí nghiệm bón phân hữu cơ vi sinh 67

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cây chè Shan có tên khoa học là Camellia sinensis var Shan, là dòng

chè có tuổi đời hàng trăm năm, cây thân gỗ, cao từ 10 - 15m Cây chè Shan thường mọc phổ biến ở vùng núi cao như Hà Giang, Yên Bái , Mộc Châu, nơi

có độ cao trên 1000m so với mặt nước biển, mây mù bao phủ quanh năm, chịu được độ ẩm cao, giá lạnh và sương muối

Chè Shan là dòng chè cổ thụ mọc hoang dại ở vùng núi phía Bắc nước

ta, búp chè có nhiều lông tơ, trắng và mịn trông như tuyết nên còn gọi là chè tuyết Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, ngoài tác dụng giải nhiệt, mát gan, trong chè Shan có chứa nhiều tanin có tác dụng phòng chống các bệnh ung thư, tốt cho tim mạch, tăng cường trí nhớ và giúp giải tỏa căng thẳng Bên cạnh đó chè Shan còn được đánh giá cao bởi vị ngọt, ngậy, hương thơm đặc trưng và đặc biệt, do mọc trên núi cao cây chè Shan cho phẩm chất thuộc loại tốt nhất

Xã Suối Giàng có hàng vạn cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi nằm trên dãy núi Hoàng Liên Sơn ở độ cao gần 1400m so với mặt nước biển, cây chè Shan Suối Giàng hoàn toàn phát triển tự nhiên, chắt lọc những tinh túy của đất trời và không hề có sự can thiệp của con người do đó sản phẩm chè xanh Suối Giàng có hương vị thơm ngon đặc biệt Tổng diện tích chè tại xã Suối Giàng năm 2010 đạt gần 400 ha, trong đó diện tích chè có tuổi thọ hàng trăm năm lên đến gần 300 ha, còn lại là diện tích được người dân trồng trong những năm gần đây

Tuy nhiên, qua điều tra đánh giá thấy rằng năng suất chè shan Suối Giàng rất thấp, đặc biệt trong những năm gần đây, năng suất chè búp tươi tại xã Suối Giàng

có chiều hướng giảm, năm 2010 năng suất trung bình 12,18 tạ/ha, năm 2011 là 13,45 tạ/ha, nhưng đến năm 2012 năng suất giảm còn 12,69 tạ/ha [35] Từ kết quả

điều tra thực tế cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến năng suất chè Suối Giàng

có xu hướng giảm như việc đốn chè thường được người dân thực hiện vào tháng 4,

Trang 13

kỹ thuật đốn chưa đúng kỹ thuật gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và ra búp của cây chè, kỹ thuật hái chè cũng còn nhiều bất cập Đây là vùng chè sạch của tỉnh chính vì vậy, người dân thường không sử dụng bất cứ loại phân bón và thuốc bảo

vệ thực vật nào cho cây chè Mặt khác cây chè Shan có nhiệm kỳ kinh tế dài, việc thu hái thường xuyên từ năm này sang năm khác nếu không được chăm sóc, đốn, tỉa, bón phân đúng yêu cầu kỹ thuật thì sức sinh trưởng của cây sẽ giảm theo thời gian từ đó ảnh hưởng đến năng suất của cây chè

Từ những cơ sở trên, việc nghiên cứu thời vụ đốn và sử dụng phân hữu cơ để nâng cao năng suất, đảm bảo chất lượng, phát triển bền vững chè Shan tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết Chính vì vậy,

chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng

năng suất, đảm bảo chất lượng chè Shan tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Xác định được ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật (Biện pháp thời vụ

đốn, bón phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh) đến sinh trưởng, phát triển, năng suất

và chất lượng chè Shan tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”

Trang 14

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học xác định được thời vụ

đốn, lượng phân và loại phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh phù hợp với cây

chè shan tại xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài xuất phát từ yêu cầu giải quyết yếu tố hạn chế đến phát triển sản

xuất và vấn đề giữa tăng năng suất và đảm bảo chất lượng chè shan ở xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn

Kết quả của đề tài góp phần bổ sung quy trình kỹ thuật đốn và bón phân hữu cơ cho chè shan tại xã Suối Giàng phù hợp với điều kiện sinh thái, trình

độ canh tác và điều kiện kinh tế xã hội tại xã Suối Giàng

Trang 15

Chương 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Cây chè là một loại cây trồng mà đối tượng thu hoạch là búp (cơ quan sinh dưỡng) do vậy để có năng suất trong canh tác chè cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật ức chế sinh trưởng sinh thực (ra hoa, quả) và kích thích quá trình sinh trưởng tạo búp mới Trong canh tác chè, những biện pháp kỹ thuật

cơ bản nhất thường được nghiên cứu và áp dụng là các biện pháp đốn tỉa và các biện pháp bón phân

Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinh

trưởng phát triển của cây mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè Với kỹ thuật đốn chè cần chú trọng dạng hình đốn và thao tác đốn Trong điều kiện sinh thái nhất định cần đặt kỹ thuật đốn chè trong mỗi hoạt

động sinh lý hút nước, tổng hợp và vận chuyển nhựa trong cây, ở mỗi vùng

sinh thái thì kỹ thuật đốn, thời điểm đốn cũng khác nhau Đốn chè phá vỡ cân bằng giữa thân, lá và rễ, thúc đẩy hình thành một cân bằng mới sau đốn Nếu

ta không tạo cho cây chè một cân bằng mới sau đốn thì cây chè sẽ cho búp kém Tuy nhiên việc đốn chè thường tiến hành vào giai đoạn cuối năm (tháng 12), tháng có nhiệt độ thấp, để cây chè vào chu kỳ ngủ nghỉ sau đó bắt đầu một đợt sinh trưởng mới vào vụ xuân Tuy nhiên tại xã Suối Giàng, người dân

đốn chè theo cách truyền thống là đốn vào tháng 4 trong năm vì vậy việc

nghiên cứu thời vụ đốn trên cây chè Shan tại xã Suối Giàng cần thiết nhằm tìm ra thời vụ đốn hợp lý nhất cho cây chè shan tại xã Suối Giàng

Phân bón có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất chè Hàng năm lượng vật chất hữu cơ lấy lấy đi từ sản phẩm thu hoạch là búp chè là khá lớn việc bón phân sẽ trả lại cho đất lượng chất dinh dưỡng đã bị cây trồng lấy đi từ

đất, tuy nhiên theo phương pháp canh tác cổ truyền người dân ở xã Suối Giàng

Trang 16

huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái chưa biết bón phân cho cây chè Shan, mà hàng năm chỉ thu hoạch sản phẩm Bên cạnh đó, để đảm bảo giữ vững được chất lượng chè shan thì việc sử dụng phân vô cơ trên chè shan là rất hạn chế, nhằm giữ được chất lượng chè

Từ những cơ sở trên đòi hỏi phải có những nghiên cứu về thời vụ đốn và nghiên cứu về bón phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh cho chè shan tại xã Suối Giàng, trên cơ sở đó đưa ra thời vụ đốn thích hợp nhất và quy trình bón phân hữu

cơ, phân hữu cơ vi sinh cho chè shan tại xã Suối Giàng giúp bà con nhân dân tăng năng suất chè mà vẫn đảm bảo được chất lượng vốn có của chè Shan Suối Giàng

và tăng hiệu quả kinh tế trong canh tác chè

1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình sản xuất chè

Chè là cây trồng có giá trị lịch sử lâu đời (trên 4000 năm) Ngày nay chè

là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến trên thế giới với những sản phẩm chế biến đa dạng và phong phú Những công trình nghiên cứu gần đây cho thấy uống nước chè có tác dụng làm giảm quá trình viêm ở người bệnh thấp khớp, viêm gan mãn tính, làm tăng tính đàn hồi của thành mạch máu Nước chè

được dùng điều trị có kết quả các bệnh như lị, xuất huyết dạ dày, xuất huyết

não và suy yếu mao mạch do tuổi già, làm giảm tác hại của phóng xạ [15] Theo FAO (2012) [38] thì tình hình sản xuất chè, tiêu thụ chè trên thế giới tính đến năm 2012 như sau: Diện tích chè toàn thế giới là 3.275991 ha, Trong đó Trung Quốc vẫn là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với diện tích đạt 1.513.000 ha, chiếm 46,1% diện tích chè toàn thế giới Thấp nhất là Nhật Bản với 45.900 ha, chiếm 1.4% diện tích chè toàn thế giới Diện tích chè của Việt Nam chỉ chiếm 3.53% diện tích chè của thế giới

* Về năng suất: Năng suất chè khô trung bình toàn thế giới năm 2012 đạt

14,707 tạ/ha Các nước đạt năng suất cao như Kenya 19,38 ta/ha, Nhật Bản:

18,715 tạ/ha, Ấn Độ: 16,529 ta/ha [38]

Trang 17

*Về sản lượng: Sản lượng chè trung bình toàn thế giới năm 2012 đạt

4.818118 tấn Đứng đầu về sản lượng là Trung Quốc đạt 1.714.902 tấn, chiếm 35,59% so với tổng sản lượng toàn thế giới Sản lượng thấp nhất là Myanmar đạt 32.000 tấn, chiếm 0,66% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới Sản lượng chè của Việt Nam chiếm tỷ lệ là 4,59% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới [38]

1.2.1.2 Tình hình tiêu thụ chè

* Về tiêu thụ: Năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thế giới là

6,609 tỉ USD, 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới đạt 2,18 tỉ đô la Mỹ, chiếm trên 50% tổng kim ngạch nhập khẩu chè toàn thế giới Năm nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2011 là Nga (625,18 triệu đô la),

Anh (462 triệu đô la), Mỹ (440 triệu đô la), Nhật Bản (207 triệu đô la) [38]

1.2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam

Với hai phần ba diện tích đất đồi núi, Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây chè sinh trưởng, phát triển Tuy nhiên ở Việt Nam sản xuất chè chỉ thực sự bắt đầu sau những năm 1925

Cây chè Việt Nam được một số nhà khoa học nghiên cứu tìm hiểu Djemukhaze cho rằng miền bắc Việt Nam là một trong những nơi xác định là nguồn gốc của cây chè Cây chè Việt Nam được chính thức nghiên cứu khảo sát vào năm 1885 do người Pháp tiến hành, sau đó vào các năm 1890 - 1891 người Pháp tiếp tục điều tra và thành lập đồn điền trồng chè đầu tiên ở Việt Nam năm 1890 ở Tĩnh Cương - Phú Thọ và thành lập các trạm nghiên cứu chè ở Phú Hộ (1918), Pleicu (1927) và Bảo Lộc (1931) [8]

Cây chè được trồng chủ yếu ở vùng trung du miền núi phía bắc và Tây Nguyên Người trồng chè chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, nông dân nghèo từ miền xuôi lên khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới Việc phát triển cây chè cùng với việc xây dựng cơ sở công nghiệp chế biến đã giải quyết việc làm cho hơn 20 vạn lao động, ổn định đời sống cho gần 10 vạn hộ gia đình, góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo ra

Trang 18

một số trung tâm công nghiệp - dịch vụ gắn liền với nông nghiệp Góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào miền núi và Tây Nguyên [8] Trong thời gian qua do có chính sách chủ trương phát triển chè đúng đắn của Nhà nước, các chính sách phát triển chè riêng của từng tỉnh, đặc biệt có

sự hỗ trợ trực tiếp từ vốn, các hoạt động khuyến nông như tham quan, tập huấn kỹ thuật của dự án phát triển đã thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng chè nội tiêu và xuất khẩu, tình hình sản xuất chè của Việt Nam như sau: Tính hết năm 2012 diện tích chè đạt 115.964 Năng suất đạt 18,704 tạ khô/ha, sản lượng chè đạt 216.900 tấn 2000 [38]

1.2.2.2 Tình hình sản xuất chè của tỉnh Yên Bái

Thực hiện quy hoạch và định hướng của tỉnh, với những biện pháp chỉ

đạo cụ thể, ngành chè Yên Bái đã phát triển toàn diện cả ba lĩnh vực: Trồng,

chăm sóc, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Sản xuất chè đã thu được kết quả nhất

định, đời sống người làm chè từng bước ổn định và phát triển Đến nay, diện

tích chè được phân thành 2 vùng nguyên liệu cho chế biến chè đen và cho chế biến chè xanh Năm 2012 tổng diện tích chè toàn tỉnh là: 11.158 ha, diện tích cho thu hoạch là: 10.723 Năng suất chè của Yên Bái không ngừng tăng lên do người dân được nâng cao về kiến thức trồng và chăm sóc chè Năm 2000 năng suất chè chỉ đạt 50,8 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi là 40.000 tấn

* Về cơ cấu giống chè: Cơ cấu giống: Chè Shan 2.850 ha chiếm 22,5% tổng diện tích chè toàn tỉnh; Chè lai LDP 1.555 ha chiếm 12,3% tổng diện tích chè toàn tỉnh; Chè nhập nội 1.630 ha chiếm 12,8 % tổng diện tích chè của tỉnh; Chè trung du 6.000 ha chiếm 47,5% tổng diện tích chè của tỉnh Từ năm

2006 - 2010 đã tổ chức giâm ươm 53 triệu bầu giống chè các loại, trồng mới, trồng thay thế chè cũ đạt 2.326,3 ha

1.2.2.3 Tình hình sản xuất chè của xã Suối Giàng huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Diện tích chè Shan Suối Giàng năm 2010 đạt 394 ha, năng suất trung bình 12,18 tạ/ha, tổng sản lượng năm 2010 đạt: 480 tấn chè búp tươi Năm

Trang 19

2011, diện tích không tăng lên, vẫn giữ nguyên 394 ha, năng suất tăng so với năm 2010, đạt 13,45 tạ/ha, sản lượng đạt 530 tấn búp tươi [35]

Năm 2012, diện tích chè shan là: 394,0 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh là 394,0 ha, năng suất giảm so với năm 2011, chỉ đạt 12,69 tạ/ha Đến năm 2013, toàn xã Suối Giàng đã trồng mới được 12,72 ha, nâng tổng số diện tích chè toàn xã lên 406,72 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh vẫn là 394

ha, năng suất có cao hơn so với năm 2012, đạt 12, 75 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 502,2 tấn, năm 2014 tổng diện tích chè toàn xã là 409,8 ha, năng suất bình quân đạt 1,31 tấn/ha [35]

Diện tích chè Shan tại xã Suối Giàng hiện nay chủ yếu tập trung tại các thôn như: Pang Cáng, Bản Mới, Giàng B, Giàng A, Cang Kỷ nơi có độ cao trung bình từ 800 đến 1.100 m so với mặt nước biển, cá biệt có nơi có độ cao trên 1.100 m Các thôn Tập Lăng 1, Tập Lăng 2, Suối Lóp diện tích chè ít, chất lượng theo đánh giá không ngon bằng các thôn tập trung nhiều chè Các thôn có diện tích chè ít có độ cao dưới 800 m so với mực nước biển, nhiệt độ cao hơn và ít sương mù hơn các thôn có diện tích nhiều chè tại xã Đây sẽ là

cơ sở khoa học thực tế cho việc mở rộng diện tích chè Shan trong tương lai và cũng là cơ sở cho việc nâng cao chất lượng chè shan Suối Giàng [35]

1.2.2.4 Đánh giá tình hình chung về sản xuất chè ở Việt Nam

* Những thành tựu:

Chè Việt nam phát triển theo hướng tăng dần cả về diện tích và sản lượng, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, đã hình thành những vùng sản xuất tâp trung, duy trì được những vùng chè đặc sản Chất lượng chè nguyên liệu không ngừng được nâng cao, tỷ lệ giống mới chất lượng cao trong cơ cấu giống chè Việt Nam ngày càng tăng

Công nghiệp chế biến đã có những chuyển biến khá mạnh Các công ty liên doanh và hợp tác với nước ngoài đã thu hút được hàng triệu USD vốn đầu

tư, trang bị được những thiết bị kỹ thuật công nghệ mới và hiện đại, đã có

Trang 20

được những giống chè mới chất lượng cao góp phần mở rộng thị trường, thúc đẩy ngành chè Việt Nam phát triển cải thiện đời sống người lao động như liên

doanh chè Phú Bền tại Phú Thọ (với Bỉ), Mộc Châu - Sơn La, Sông Cầu - Thái Nguyên, Hà Tây, Lâm Đồng, Yên Bái… với Đài Loan và Nhật Bản, với Iraq tại Thanh Sơn - Phú Thọ

Quá trình canh tác thiếu phân bón hữu cơ đặc biệt là phân bón qua lá và bón quá nhiều phân hóa học dẫn đến tình trạng đất đai bị nghèo kiệt dinh dưỡng và chai cứng, độ pH trong đất tăng cao

1.3 Những nghiên cứu về giống chè shan

Chè Shan (Camellia Sinensis var Shan) có thân gỗ, trong điều kiện tự nhiên có thể cao 6 - 10m, lá to dài (15 -18cm) lá màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ, dày và đều, có 10 đôi gân chính, búp to, tôm chè có nhiều lông

tơ trắng mịn trông như tuyết, nên chè shan còn được gọi là chè tuyết Chè shan có thể cho năng suất khá, thích hợp cho chất lượng tốt cho chế biến chè

đen Chè Shan ít hoa, quả hơn chè Trung quốc lá to, chè Trung quốc là nhỏ,

Chè shan có thể thích ứng trong điều kiện thời tiết nóng ấm, ẩm, địa bình cao [16]

Trang 21

Năm 1918 người Pháp đã tiến hành điều tra chè ở một số tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam và đã mô tả: Những cây chè cổ thụ phân bố chủ yếu ở vùng cao phía Bắc Việt Nam, thân cây cao lớn, đường kính có cây tới 2-3 người

ôm Lá dài và rộng, mép lá có răng cưa sắc nhọn, búp non có nhiều lông tuyết màu trắng Phân bố rải rác dọc theo các con suối chảy ra 2 tuyến sông Lô và sông Đà Vùng có nhiều chè cổ thụ là Hà Giang và các tỉnh lân cận như: Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu Trong nhiều khu rừng tự nhiên có cây chè Shan hỗn giao với các loại cây rừng khác Trong quá trình du canh du cư của đồng bào các dân tộc thiểu số tại Bắc Việt Nam phá bỏ rừng trồng cây lương thực, lúa nương, ngô, sắn Một số nơi có tập quán giữ lại cây chè Shan, tiếp tục khai thác Cao hơn nữa còn biết trồng bổ xung (bằng hạt) tạo nên những nương chè Shan hỗn giao theo dạng chè rừng mật độ trồng không đồng đều, thường biến

động từ 1500 - 4000 cây/ha, xác xuất tập trung nhiều ở mật độ 2500-3000

cây/ha Đó chính là thứ chè shan núi cao có sức sinh trưởng khoẻ, năng suất khá, hương thơm vị ngon có thể chế biến sản phẩm chè chất lượng cao Đặc

điểm canh tác chè Shan núi cao nhìn chung còn khá đơn giản, hầu hết các cây

chè được khống chế ở độ cao 2,5 - 3,5m, tán rộng tuỳ theo sức sinh trưởng và tuổi của cây (2 - 3 m) [17]

Đối với cây chè Shan, từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu

về điều tra, khảo sát, thu thập giống Song phải kể đến chương trình điều tra, tuyển chọn cây chè Shan núi cao trong phạm vi cả nước của Viện Khoa học

kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, bắt đầu từ năm 1995 Các nghiên cứu đã liên quan đến điều tra và tuyển chọn cây chè Shan đầu dòng ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang và Lạng Sơn Những cây đầu dòng ưu tú của các tỉnh đã lựa chọn được hiện nay vẫn tiếp tục được theo dõi và bảo tồn [25]

Trong các năm 1994 - 1996, nhóm tác giả Đỗ Văn Ngọc và cộng sự (Viện nghiên cứu chè) đã phối hợp với Sở khoa học Hà Giang tiến hành điều

Trang 22

tra và tuyển chọn cây chè shan tại các huyện Vị Xuyên, Hoàng Sù Phì và

Đồng Văn Tiếp đó, từ 2001 - 2005, đề tài “Nghiên cứu chọn tạo và nhân

giống chè chất lượng cao” có nội dung: “Điều tra tuyển chọn cây chè shan núi cao” Kết quả các đợt điều tra đã tuyển chọn được 13 cây chè shan đầu dòng cho tỉnh Hà Giang Các cây đầu dòng tiếp tục được nghiên cứu, nhân giống bằng giâm cành và trồng bảo quản tại xã Cao Bồ - Vị Xuyên và xã Phó Bảng -

Đồng Văn của tỉnh Hà Giang Đề tài kết luận đặc điểm cây chè shan Hà

Giang sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, chất lượng tốt Do sống trong điều kiện sinh thái đặc biệt, gắn với tập quán canh tác của người Dao, người H’mông với kiểu trồng trọt phân tán, quảng canh và để hỗn giao với hệ sinh thái tự nhiên, không bón phân hoặc sử dụng thuốc hoá học, chỉ thu hái tự nhiên, năng suất bình quân thấp từ 1,0 - 2,5 tấn/ha, nhưng có thể sản xuất sản phẩm chè có ưu thế cạnh tranh trên thị trường thế giới [19]

Các nghiên cứu về bón phân cho chè shan tập trung đã chỉ ra rằng Khi bón bổ sung phân hữu cơ, vi sinh cho chè Shan tập trung năng suất chè tăng lên đáng kể [18] Bón bổ sung thêm N làm mật độ búp và năng suất búp chè tăng tương ứng so với đối chứng là 5,5%, 7,5% và 10,5 %, đồng thời làm giảm chất chát trong chè (tannin, đạm) cải thiện chất lượng chè đen Tại Phú

Hộ - Phú Thọ, tỷ lệ N:P2O5:K2O tốt nhất cho giống chè shan (Tuổi 4) Shan Chất Tiền là 3:2:1 để sản xuất chè đen [16]

1.4 Những nghiên cứu về đốn chè

1.4.1 Cở sở khoa học của kỹ thuật đốn chè

Chè là cây lâu năm, có hai chu kỳ phát triển là chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ

Chu kỳ phát triển nhỏ là chu kỳ phát triển hàng năm của cây chè Hàng năm vào mùa đông, khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi như nhiệt độ thấp, khô hạn… cây chè sinh trưởng và phát triển chậm dần và ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ thấp hơn 100C Cây chè sinh trưởng trở lại khi nhiệt độ và ẩm độ tăng dần

Trang 23

Chu kỳ phát triển lớn hay còn gọi là chu kỳ phát dục cá thể của cây, bao gồm cả đời sống cây chè, được tính từ khi ra hoa chè được thụ phấn, hình thành hạt, mọc thành cây, qua nhiều năm sinh trưởng phát triển đến khi già cỗi và chết Chu kỳ này thường kéo dài 30- 50 năm, có khi tới hàng trăm năm Các tác giả đã chia chu kỳ phát triển của cây chè ra làm 5 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Giai đoạn phôi thai (giai đoạn hạt) được tính từ khi hoa

đất đai và điều kiện canh tác

- Giai đoạn 5: Giai đoạn chè già, giai đoạn này cây chè đã trải qua thời kỳ kinh doanh sản xuất, cây chè có biểu hiện già cỗi, năng suất giảm nhanh chóng Căn cứ vào đặc điểm của từng giai đoạn người ta xây dựng các biện pháp kỹ thuật khác nhau nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, phát huy hết tiềm năng của giống Do đó việc đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển của các giống chè trong vùng sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng

- Nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng của cây chè M.A.Alidatde (1964) cho rằng: Khi trên búp chè có 5 lá thì ở nách các lá thứ nhất, thứ hai đã có những mầm nách; khi lá thứ 6 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách thứ ba, khi lá thứ 7 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách thứ tư…, ông cho rằng khi mầm chè qua đông hai lá đầu tiên bao bọc mầm chè là

lá vảy ốc, tiếp theo là lá cá Các mầm nách của lá thứ tư và lá thứ năm của đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh trưởng thứ hai (theo Djemukhatde- 1976) [8]

Trang 24

- Nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè trong điều kiện có đốn và không đốn Djemukhatde (1976) đã chỉ ra rằng: Trong điều kiện để giống không

đốn thì các mầm chè phân hóa trong vụ thu, vụ đông sẽ hình thành búp trong vụ

xuân Trong khi đó ở nương chè có đốn thì sự phân hóa mầm chè chủ yếu được tiến hành trong vụ xuân

- Nghiên cứu quan hệ giữa búp chè và năng suất, K.E.Bakhơtatde (1948) cho thấy: Tương quan giữa số lượng búp trên một đơn vị diện tích và năng suất là tương quan chặt: r = 0,965 ± 0,004 Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979), búp chè hoạt động sinh trưởng theo một quy luật nhất định và hình thành nên các đợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian [12]

- Cũng theo Nguyễn Ngọc Kính, [12] trong một năm nếu để chè sinh trưởng tự nhiên thì cây chè có từ 3 - 5 đợt sinh trưởng, gọi là đợt sinh trưởng

tự nhiên Nếu hái búp liên tục thì một năm có 6 - 7 đợt sinh trưởng, gọi là sinh trưởng nhân tạo hay còn gọi là sinh trưởng trong điều kiện thu hái búp Thời gian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổi cây chè, đất đai, khí hậu và điều kiện canh tác

- Nghiên cứu về sinh trưởng búp chè và sản lượng các tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994) [26] cho rằng sản lượng cây chè có hai yếu tố quyết định: Số lượng búp trên cây và khối lượng búp, trong đó số búp trên cây có tương quan thuận chặt với sản lượng, còn yếu tố khối lượng có tương quan không chặt với sản lượng, số búp trên cây là yếu tố nhạy cảm còn khối lượng búp là yếu tố ổn định

và vì thế số búp trên cây có ý nghĩa lớn đối với sản lượng

- Ngiên cứu về cấu trúc lá chè, các tác giả Trịnh Văn Loan, Nguyễn Văn Toàn (1994) cho rằng: Các giống chè có sản lượng cao thường có góc lá 40- 600, khoảng cách giữa hai lá lớn Các tác giả cũng cho rằng khoảng cách giữa hai lá có tương quan thuận với sản lượng và số lượng búp trên cây (r = 0,624 + 0,034) [27] Nghiên cứu hệ số diện tích lá và quan hệ giữa hệ số diện tích lá với năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất, tác giả Đỗ Văn Ngọc (1991) cho rằng:

Hệ số diện tích lá có quan hệ thuận với mật độ búp từ tháng 5 đến tháng 12

Hệ số tương quan giữa hệ số diện tích lá và khối lượng rễ là 0,934; tác giả còn cho rằng hệ số diện tích lá có tương quan thuận, chặt với năng suất [19]

Trang 25

Theo Nguyễn Văn Toàn (1994) thì đặc điểm của cây chè có sản lượng cao ít nhất phải có hệ số diện tích lá lớn (tạo ra số búp nhiều) và có kích thước

lá lớn (tạo ra khối lượng búp lớn) [26]

1.4.2 Những nghiên cứu về kỹ thuật đốn chè

Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinh trưởng

phát triển của cây mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè Do vậy kỹ thuật đốn chè đã được nhiều nhà khoa học chú ý nghiên cứu

- Với kỹ thuật đốn chè cần chú trọng dạng hình đốn và thao tác đốn Để xác định dạng hình đốn cần hiểu kỹ hoạt động sinh lý của cây chè Trong điều kiện sinh thái nhất định cần đánh giá kỹ thuật đốn chè trong mỗi hoạt động sinh lý hút nước, tổng hợp và vận chuyển nhựa trong cây Tác giả còn cho rằng không thể cùng áp dụng một dạng đốn hay cùng một thời vụ đốn cho cây chè ở những vùng sinh thái khác nhau [20]

- Nghiên cứu ảnh hưởng của đốn đến cân bằng giữa các bộ phận trên mặt đất

và dưới mặt đất của cây chè các tác giả J.J.B.Deus (1931), Eden (1958) đều cho rằng: Đốn chè là phá vỡ cân bằng giữa thân, lá và rễ, thúc đẩy hình thành một cân bằng mới sau đốn Nếu ta không tạo cho cây chè một cần bằng mới sau đốn thì cây chè sẽ cho búp kém [20]

- Các kết quả nghiên cứu về loại hình đốn cho thấy: Ở Liên Xô cũ, Trung Quốc trong điều kiện lạnh thường đốn dạng mâm xôi; ở các nước sứ nóng như Ấn Độ, Srilanca, Châu Phi thường sử dụng dạng đốn xiên Ở Zaia khi

đốn người ta thường để lại một cành vượt giữ cho cây chè không bị chết [21]

1.5 Những nghiên cứu về dinh dưỡng, phân bón và phân bón hữu cơ

1.5.1 Dinh dưỡng đối với cây chè

1.5.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng

Cây chè thích hợp trồng trên đất chua vừa đến ít chua, độ dày tầng đất càng sâu thì cây chè sinh trưởng, phát triển càng tốt và tuổi thọ của cây chè càng kéo dài So với các cây trồng khác thì cây chè có khả năng sống ở những

Trang 26

nơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt dinh dưỡng mà vẫn cho thu nhập Tuy nhiên muốn cây chè cho năng suất cao, chất lượng tốt có nhiệm kỳ kinh tế dài thì cần phải bón phân đầy đủ sao cho đất trồng chè cần phải đạt những yêu cầu sau:

pHKCL từ 4,5 – 6,0; Đất có độ phì tốt; Đất sâu, tầng đất từ 60 – 100 cm

Mối quan hệ giữa đất đến năng suất, phẩm chất chè rất phức tạp, chất lượng chè do nhiều yếu tố quyết định Điều kiện dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, phẩm chất chè, do vậy ngoài việc sử dụng nguồn dinh dưỡng sẵn có ở trong đất thì việc bón phân cho chè là một biện pháp

có hiệu quả

Phân bón có vai trò quan trọng đối sinh trưởng và năng suất chè Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho thấy: Hiệu quả của phân bón cho chè chiếm từ 50 - 60% tổng hiệu quả của các biện pháp nông học đối với năng suất chè

1.5.1.2 Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng

Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó Đối tượng thu hoạch chè là búp và lá non Mỗi năm thu hoạch một lượng lớn búp tươi, vì thế lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp cho đất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp

*Dinh dưỡng đạm đối với chè

Những kết quả nghiên cứu về nhu cầu phân bón và các thực nghiệm về hiệu lực phân bón đã chứng minh: Đạm là yếu tố chủ yếu đối với cây chè, có

tương quan chặt chẽ với năng suất

Đối với cây lấy lá nói chung và cây chè nói riêng thì dinh dưỡng đạm là

yếu tố quan trọng có tương quan chặt chẽ đến năng suất, bón đạm thúc đẩy sự phát triển của cây, giúp cho búp, lá phát triển, lá to xanh, quang hợp tốt dẫn

đến năng suất, sản lượng chè tăng Các thí nghiệm tại Trại thí nghiệm chè Phú

Hộ cho thấy: Bón đạm làm tăng năng suất từ 2 – 2,5 lần so với đối chứng không bón [13]

Trang 27

Về phẩm chất: Các tài liệu Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằng bón N không hợp lý (bón quá nhiều hoặc bón đơn độc) làm giảm phẩm chất chè, đặc biệt là sản xuất chè đen Bón quá nhiều N làm cho hàm lượng tanin, cafein giảm, protein tăng, hàm lượng ancaloit tăng, chè có vị đắng [13]

Theo M.L.Bziava (1973) liều lượng bón đạm tăng, sản lượng búp sẽ tăng, song để đạt được năng suất 10 tấn/ha thì bón 200 kg N là hiệu quả nhất [13]

* Dinh dưỡng kali đối với cây chè

Kali có trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân, cành và các bộ phận đang sinh trưởng Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây làm tăng khả năng hoạt động của các men, tăng sự tích lũy gluxit, các axitamin và khả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng suất, chất lượng búp chè, làm tăng khả năng chống bệnh, chịu rét cho chè

Về chất lượng chè, kali lại ảnh hưởng rất rõ đến chất lượng chè, theo AD.Makharobitze (1948) cho thấy: Phẩm chất trong các công thức được xếp theo thứ tự P, K, N Quy trình bón phân cho chè của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam năm 1988 quy định: Năng suất đạt 60 - 100 tạ/ha, bón 80 - 100 kg

K2O/ha, năng suất > 100 tạ/ha bón 100 - 120 K2O/ha [13]

* Dinh dưỡng lân đối với cây chè

Theo Enden (1958), trong búp non của chè có 1,5% P205 Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng trong việc tích luỹ năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét và chống hạn cho chè Thiếu lân lá chè xanh thẫm và có vết nâu hai bên gân chính, búp nhỏ, năng suất thấp [13]

Kết quả thí nghiệm 10 năm bón N,P,K cho chè của trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: Trên cơ sở bón 100 N/ha, 50 P2O5/ha trong từng năm không

có chênh lệch đáng kể về năng suất nhưng từ năm thứ 7 trở đi thì bội thu do phân bón là rất rõ rệt và chắc chắn, bình quân 10 năm 1 kg P2O5 làm tăng

được 3,5 kg chè búp tươi [13]

Trang 28

Trong đất nếu hàm lượng P2O5 là 30 - 32 mg/100g đất thì cây chè sinh trưởng bình thường, nếu là 10 - 12 mg/100g đất thì thiếu lân Quy trình bón

P2O5 của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam 1988 quy định 5 năm bón P2O5 1 lần với liều lượng 100 kg/ha bón kết hợp với phân chuồng sau khi đốn, bón sâu khoảng 20 - 30 cm [13]

1.5.2 Phân bón hữu cơ cho chè

Chất hữu cơ trong đất được hình thành do sự phân hủy xác thực vật như thân rễ, lá, v.v…cơ thể vi sinh vật (VSV) và động vật đất VSV phân giải chất hữu cơ tạo ra nhóm chất mùn không đặc trưng chiếm 10- 20% tổng số, gồm các hợp chất các bon Hidrocacbon, axit hữu cơ, rượu este, andehit, nhựa…cung cấp thức ăn cho thực vật; kích thích, ức chế tăng trưởng, cung cấp khánh sinh và Vitamin Nhóm chất mùn điển hình gồm những chất hữu

cơ cao phân tử, phức tạp được tạo ra do quá trình mùn hóa xác thực vật, VSV,

động vật Axit humic, axit funvic, humin, unmin chiếm khoảng 80 - 90% tổng

số Chất hữu cơ là một chỉ tiêu quan trọng của độ phì nhiêu đất và liên quan tới thành phần lý hóa, sinh học đất.[11]

Đối với chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung

cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật học trong đất, làm tăng các thành phần dinh dưỡng N, P, K và các nguyên tố vi lượng khác trong đất

Tuy vậy việc sử dụng phân hữu cơ cho chè ít được quan tâm, nhất là đối với vùng miền núi do địa hình khó vận chuyển, nguồn phân hữu cơ còn hạn chế, người dân không biết kỹ thuật chế biến phân xanh ủ phân hữu cơ tại chỗ Bón phân hữu cơ cho chè có hiệu quả và cần thiết nhất là khi cây chè còn nhỏ và khi gieo trồng Do đó khi gieo trồng chè nhất thiết phải bón đầy đủ lượng phân hữu

cơ hoặc trồng xen với các loại cây họ đậu làm tăng lượng chất hữu cơ cho đất Theo kết quả nghiên cứu của Viện chè Phú Hộ cho thấy việc bón phân hữu cơ kết hợp với phân vô cơ thì năng suất chè sẽ tăng 30 - 32% so với sử dụng riêng rẽ phân vô cơ [8]

Trang 29

Theo quy trình bón phân hữu cơ cho chè của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam quy định: Đối với chè kinh doanh 3 năm bón một lần với lượng 20 – 30 tấn/ha kết hợp với phân lân [14]

Bón phân trả lại cho đất các chất dinh dưỡng mà cây đã lấy đi là rất quan trọng và cần thiết Muốn bón phân hiệu quả thì phải bón phân đúng nguyên tắc như: Bón theo tuổi và năng suất cây; Bón cân đối các yếu tố N, P, K, bón

bổ sung phân trung lượng và vi lượng khi cần thiết; Bón đúng lúc và đúng cách, đúng đối tượng, bón lót đầy đủ, bón thúc kịp thời; tùy theo điều kiện đất

đai, khí hậu mà quy định lượng phân, tỷ lệ bón cho thích hợp

Năm 1960 - 1964 kết quả nghiên cứu ở Phú Hộ cho thấy, phân hữu cơ (phân ủ, cành lá chè già đốn hàng năm) đều có hiệu lực tăng năng suất chè

đáng kể và cải thiện lý hóa tính của đất Cành lá chè đốn tốt hơn cây phân

xanh trồng xen giữa hàng chè [20] Năm 1966 - 1969 ở Phú Hộ, nghiên cứu tác dụng của phân ủ 3 năm bón phân một lần (phân ủ gồm: phân bò, rác thải

và cỏ tế), với lượng bón 20 - 25 tấn/ha Kết quả cho năng suất chè búp tươi là 5- 6 tấn/ha, so với không bón chỉ có 1,8 - 2 tấn/ha [20]

Năm 1970- 1971 kết quả nghiên cứu ở Phú Hộ cho thấy, trên nền phân bón 100 kg N + 50 kg K20, bón ép xanh 13 tấn lá chè đốn cuối năm + lá muồng dùi đục, năng suất chè tăng 6- 12% [20] Năm 1988 Viện nghiên cứu chè Phú Hộ bón phân Komix 3.000 kg/ha cho chè trung du năng suất chè tăng 13,4- 16,9%; đối với chè PH1 tăng 5,0- 6,0% tỷ lệ búp chè A, B; đồi chè có

bộ lá xanh đậm, lá dày, tán dày, mật độ búp tăng 9,5% [20]

1.6 Nghiên cứu về phân hữu cơ vi sinh và bón phân hữu cơ vi sinh cho chè

1.6.1 Vai trò, thành phần của vi sinh vật

1.6.1.1 Vai trò vi sinh vật đất trong hệ sinh thái nông nghiệp bền vững

Vi sinh vật sống trong đất và nước tham gia tích cực vào quá trình phân giải các xác hữu cơ biến chúng thành CO2 và các hợp chất vô cơ khác cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng

Vi sinh vật có khả năng phân giải các hợp chất khó tan chứa P, K, S và tạo ra các vòng tuần hoàn trong tự nhiên

Trang 30

Tăng cường sự phân giải các hợp chất hữu cơ trong đất góp phần hình thành chất mùn trong đất để tăng độ phì trong đất

Vi sinh vật tham gia tích cực vào việc phân giải các phế phẩm công nghiệp, phế thải đô thị, phế thải công nghiệp cho nên có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường [5], [6]

1.6.1.2 Thành phần

Trong đất có rất nhiều vi sinh vật Chúng được xếp vào 5 nhóm chính: nấm, xạ khuẩn, vi khuẩn, tảo và nguyên sinh động vật ( protozoa) [9]

* Nhóm nấm: Thường gặp các chi penicillium, Aspergillus,

Trichoderma, Chaetomium, Alternaria, Rhizoctonia, Verticillium

* Nhóm xạ khuẩn: thường gặp là các Streptomyces, có nhiều loại có khả năng tiết ra kháng sinh chống lại sự phát triển của các loài vi sinh vật khác

* Nhóm vi khuẩn: nhóm này rất đa dạng và giữ những vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa vật chất trong đất Tùy theo vai trò của chúng có thể phân chia ra làm các tiểu nhóm:

- Vi khuẩn hiếu khí (aerobic bacteria): có nhiều ở những nơi đất cao

ráo, thoáng khí

- Vi khuẩn kỵ khí hay yếm khí (anaerobic bacteria): thường xuất hiện

nhiều trong đất ngập nước

- Vi khuẩn phân hủy xelluloza: thường gặp là Clostridium,

Myrothecium, Cellulomonas

- Vi khuẩn hóa ammon: (ammonifer): phân hủy N hữu cơ thành

ammonium (CH4) như: Pseudomonas, Bacillus, Clostridium, Serratia,

+ Vi khuẩn oxid hóa ammon ( ammonia oxidizer): chuyển biến NH4

thành NO2 (nitrite) gồm có các chi Nitrosomonas, Nitrosococcus,

Nitrosospira, Nitrosocystic và Nitrospgloea

Trang 31

+ Vi khuẩn oxi hóa ntrite (nitrite oxidizer): oxi hóa NO2 (nitrite) thành

NO3 (nitrate), gồm có 2 khí Nitrobacter và Nitrocystis

- Vi khuẩn khử N (denitrifier): giữ vai trò khử oxy của NO3 để chuyển thành N2

- Vi khuẩn cố định N (nitrogen fxer): cố định N của khí quyển có thể là

vi khuẩn cộng sinh như: Rhizobium hoặc không cộng sinh như: Nitrobacter, Clostridium, Azospirillum

1.6.2 Nghiên cứu về các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xelluloza

1.6.2.1 Sự phân giải xelluloza

* Xelluloza trong tự nhiên

Xelluloza là thành phần chủ yếu của màng tế bào thực vật Ở cây bông Xelluloza chiếm tới 90% trọng lượng khô, ở các cây gỗ nói chung Xelluloza chiếm 40 - 50% [31] Hằng ngày, hàng giờ một lượng lớn Xelluloza được tích lũy lại trong đất do các sản phẩm tổng hợp của thực vật thải ra, cây cối chết

đi, cành lá rụng xuống Một phần không nhỏ do con người thải ra dưới dạng

rác, giấy vụn, phôi bào, mùn cưa Nếu không có quá trình phân giải của vi sinh vật thì lượng chất hữu cơ khổng lồ này sẽ tràn ngập trái đất

Xelluloza có cấu tạo dạng sợi, có cấu trúc phân tử là 1 polimer mạch thẳng mỗi đơn vị là một disaccarrit gọi là xellobioza Xellobioza có cấu trúc

từ 2 phân từ D-glucoza Cấu trúc bậc 2 và bậc 3 rất phức tạp thành cấu trúc dạng lớp gắn với nhau bằng lực liên kết hydto Lực liên kết hydro trùng hợp nhiều lần nên rất bền vững, bởi vậy xelluloza là hợp chất khó phân giải [24]

* Cơ chế của quá trình phân giải Xelluoza nhờ vi sinh vật

Xelluloza là một cơ chất không hòa tan khó phân giải bởi vậy vi sinh vật phân hủy xelluloza phải có một hệ enzym xellulaza bao gồm 4 enzym khác nhau Enzym thứ nhất có tác dụng cắt đứt liên kết hydro biến dạng xelluloza

tự nhiên có cấu hình không gian thành dạng xelluloza vô định hình, enzym này gọi là xenlobiohydrolaza

Trang 32

Enzym thứ hai là Endoglucanaza có khả năng cắt đứt các liên kết β-1,4 bên trong phân tử tạo thành chuỗi dài Enzym thứ 3 là Exo-gluconaza tiến hành phân giải các chuỗi trên thành disaccarit gọi là xellobioza [9]

1.6.2.2 Một số chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xelluloza

Một số nhóm vi khuẩn có khả năng phân giải Xelluloza: Pseudomonas;

Bacillus; Cellulomonas; Vibrio; Cellvibro; Rumicocus falvefeciens

Trong thực tế người ta thấy chi Pseudomonas và Bacillus thuộc nhóm hiếu khí là có các chi có tần suất phân lập được cao nhất Ngoài ra còn có các chi kị khí phân lập được trong dạ cỏ của động vật nhai lại như rumicocus falvefeciens, R.albus

* Nhóm xạ khuẩn

Xạ khuẩn là một nhóm vi khuẩn đặc biệt tế bào đặc trưng bởi sự phân nhánh, hệ sợi chia thành khuẩn ty cơ chất và khuẩn ty khí sinh, bào tử bắn, thường có mặt quanh năm trong các loại đất [4]

Một số nhóm xạ khuẩn phân giải xelluloza là: Actinomyces;

Streptomyces; Thremoactinomyces; Micromonospora; Proactinomyces;

* Nhóm nấm

Có nhiều loài nấm phân giải xelluloza mạnh nhưng phần lớn chúng thường phân hủy xelluloza khi nhiệt độ cao và ở nhiệt độ 20 -300C, pH trong khoảng từ 3,5 -6,6 vì vậy chúng thường phân hủy xelluloza ở giai đoạn cuối của bể ủ, khi nhiệt độ bể ủ lạnh đi

Trang 33

Một số nhóm nấm có khả năng phân giải xelluloza là: Trichoderma

viride; Pennicillium pinophium; T.Reesei; Fusarium solani

Thông thường trong các nhóm vi sinh vật chuyển hóa xelluloza và

Ligno xelluloza là các loài Aspegillus Niger, Trichoderma reesei,

Aspegillussp, penicillium sp, Paeceilomyces sp, Trichurus spiralis, Chetomium sp

1.6.3 Tình hình nghiên cứu về phân bón vi sinh vật trên thế giới và Việt Nam

Vi sinh vật là một thành phần của hệ thống sinh học đất Cùng với chất hữu cơ, vi sinh vật sống trong đất, nước và vùng rễ cây có vai trò quan trọng trong các mối quan hệ gữa cây và đất trồng Hầu như mọi quá trình xảy ra trong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của vi sinh vật Vi sinh vật là một yếu tố sinh học có ý nghĩa của hệ thống dinh dưỡng cây trồng [29] Theo tiêu chuẩn Việt Nam năm 1996: “Phân VSV là sản phẩm chứa các vi sinh vật sống, đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được hay các chất sinh học, góp phần nâng cao năng suất (hoặc) chất lượng nông sản Phân VSV phải đảm bảo không gây ảnh hưởng xấu

đến người, động, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản”

Theo công nghệ sản suất có thể chia phân vi sinh thành hai loại như sau: Phân vi sinh chất nền mang khử trùng có mật độ vi sinh hữu ích >109 CFU/g (ml) và mật độ VSV tạp nhiễm thấp hơn 1/1.000 so với VSV hữu ích Phân vi sinh trên nền chất mang không khử trùng được sản xuất bằng cách tẩm nhiễm trực tiếp sinh khối vi sinh vật sống đã qua tuyển chọn vào

cơ chất không thông qua công đoạn khử trùng Phân bón dạng này có mật

điều hòa sinh trưởng thực vật và phân VSV chức năng [30]

Trang 34

* Phân vi sinh vật cố định nito

Có nhiều loài vi sinh vật có khả năng cố định N từ không khí Đáng chú

ý có loài: Tảo lam (Cyanobacterium), Atozobacter, Rhyzobium, xạ khuẩn Actinomyces, Klebsiella…

* Phân vi sinh hòa tan lân

Trong đất thường tồn tại một nhóm vi sinh vật có khả năng hòa tan lân Nhóm vi sinh vật này được các nhà khoa học đặt tên cho là nhóm hòa tan lân, nhóm hòa tan lân bao gồm : Aspergillus niger, một số loài thuộc các chi vi khuẩn Pseudomonas, Bacillus, Micrococens Nhóm vi sinh vật này dễ dàng nuôi cấy trên môi trường nhân tạo Sử dụng các chế phẩm vi sinh hòa tan lân

đem lại hiệu quả cao ở những vùng đất cây bị thiếu lân [30]

* Phân chứa vi sinh vật kích thích tăng trưởng cây : Gồm một nhóm

nhiều loài vi sinh vật khác nhau, trong đó có vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn…nhóm này được các nhà khoa học phân lập ra từ tập đoàn vi sinh vật đất

* Chế phẩm EM

Chế phẩm EM do Giáo sư Teuro Higa, Trường đại học tổng hợp Ryukyus, OkiNaWa sáng chế và được áp dụng vào thực tiễn từ năm 1980 [40] Chế phẩm

được chính thức đưa vào Việt Nam từ tháng 4 năm 1997 Tại Nhật Bản, EM

(Effective Microorganisms) được áp dụng thực tiễn vào đầu năm 1980 sau 15 năm nghiên cứu Chế phẩm đẩu tiên ở dạng dung dịch bao gồm 80 loài vi khuẩn từ 10 loại được phân lập từ Okinawa và các vùng khác nhau của Nhật Bản sau đó EM

được sản xuất và sử dụng ở trên 40 nước trên thế giới [39]

Các nghiên cứu áp dụng công nghệ EM đã đạt được kết quả tốt trong các lĩnh vực xử lý môi trường, chế biến thức ăn chăn nuôi, chế biến phân bón vi sinh cho cây trồng Qua các báo cáo khoa học tại các Hội nghị Quốc tế về công nghệ

EM cho thấy công nghệ EM có thể gia tăng cân bằng sinh quyển, tính đa dạng của đất nông nghiệp, tăng chất lượng đất khả năng sinh trưởng, chất lượng sản phẩm nông nghiệp Vì thế các nước trên thế giới đón nhận EM như một giải pháp để đảm bảo cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Nhiều nhà máy, xưởng sản xuất EM đã được xây dựng ở nhiều nước trên thế giới và đã sản xuất được hàng ngàn tấn EM mỗi năm như: Trung Quốc, Thái

Trang 35

Lan ( hơn 1000 tấn/năm), Myanma, Nhật Bản, Brazil ( khoảng 1.200 tấn/năm), Srilanca, Indonesia( khoảng 50 -60 tấn/năm) [39], [40], [41]

Theo Ahmad R.T và cộng sự (1993) [38] sử dụng EM cho các cây trồng như lúa, lúa mì, bông, ngô và rau ở Pakistan làm tăng năng suất các cây trồng Năng suất lúa tăng 9,5%, bông tăng 27,7% Đặc biệt bón kết hợp EM-2 và EM-4 cho ngô làm tăng năng suất lên rõ rệt Bón EM- 4 cho lúa, mía và rau

đã làm tăng hàm lượng chất dễ tiêu ở trong đất Hàm lượng đạm dễ tiêu tăng

2,2% khi bón kết hợp NPK + EM-4 ( ZaaachariaP.P, 1993) [40]

* Thu thập, phân lập, tuyển chọn chủng vi sinh vật

Các nhóm VSV chính được sử dụng làm phân bón sinh học bao gồm: VSV cố định nitơ, VSV phân giải hợp chất phospho khó tan, VSV tổng hợp kích thích sinh trưởng thực vật, VSV đối kháng VSV gây bệnh vùng rễ cây trồng và VSV chuyển hóa chất hữu cơ

Các bước phân lập tuyển chọn chủng VSV bao gồm:

Lấy mẫu và xử lý mẫu đất, rễ cây

Phân lập

Làm thuần

Xác định hoạt tính

Đánh giá ảnh hưởng đối với cây trồng

Xác định điều kiện sinh trưởng phát triển và bảo quản

Lập lý lịch khoa học

Lưu giữ, bảo quản

Trang 36

Phạm Văn Toản, Phạm Bích Hiên (2003) đã nghiên cứu tuyển chon một

số chủng Azotobacter đa hoạt tính sinh học sử dụng cho sản xuất phân bón vi sinh vật chức năng Kết quả đã xác định được 9 chủng Azotobactet có khả năng cố định nito, sinh tổng hợp IAA và ức chế vi khuẩn héo xanh Hầu hết các chủng Azotobacter đều có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt

độ thích hợp là 25 300

C và pH từ 5,5 - 8,0 Đồng thời cũng tuyển chọn được 3 chủng Azotobacter vừa có hoạt tính sinh học cao, vừa đa hoạt tính có các điều kiện sinh trưởng và phát triển thích hợp với điều kiện sản xuất và ứng dụng phân bón vi sinh vật ở nước ta [30]

Cũng theo tác giả Phạm Văn Toản (2005) [32] khi nghiên cứu sử dụng phân bón vi sinh vật đa chủng nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh héo xanh do

vi khuẩn đối với một số cây trồng cạn ở miền Bắc kết quả cho thấy: phân vi sinh vật cố định nitơ có tác dụng nâng cao năng suất khoai tây, lạc, cà chua, đồng thời hạn chế bệnh héo xanh vi khuẩn ở các cây trồng được thử nghiệm

Phế phụ phẩm nông nghiệp ở nước ta chủ yếu bao gồm: vỏ trấu, lõi ngô,

bã mía, mùn cưa, vỏ dừa, bã thải nhà máy đường, nhà máy sắn, tổng sản lượng phế thải sinh khối hàng năm ở nước ta có thể đạt 8-11 triệu tấn, trong

đó riêng công nghiệp mía đường khoảng 2,5-3 triệu tấn bã mía, 0,25-0,3 triệu

tấn mùn mía Công nghiệp cà phê mỗi năm tạo ra khoảng 0,2 - 0,25 triệu tấn

vỏ cà phê Vùng Tây Bắc có tới 55.000-60.000 tấn mùn cưa từ việc khai thác

và chế biến gỗ Tính riêng vỏ sắn thải ra từ các nhà máy sắn đóng trên địa bàn

3 tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang mỗi năm lần lượt là: 4.500; 11.000 và 2.200 tấn Ngoài ra còn có một số cây tạo nguồn phân xanh tốt như: đậu mèo (năng suất 20 tấn/ha đến lúc ra hoa tạo lớp thảm dày đạt trên 35 tấn/ha), Muồng hoa vàng lá tròn ( năng suất 30 - 40 tấn/ha), Keo giậu, cỏ Lào, các loại

cỏ sinh khối lớn và các phế thải nông nghiệp như rơm rạ, cỏ và các cây hoang dại khác nhau như: tế, guột, cỏ Lào, cúc quỳ là nguồn nguyên liệu sạch

Trang 37

Phân bón VSV mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu, song do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nên mức độ ứng dụng trong sản xuất hiện nay còn hạn chế Chế phâm vi sinh vật (Phân bón vi sinh) chỉ được triển khai ứng dụng chủ yếu trong các đề tài dự án Do người dân không quen sử dụng các loại phân hóa học và hiệu lực của phân VSV không thể đánh giá bằng mắt thường nên việc đưa vào áp dụng đại trà cũng gặp nhiều khó khăn

1.6.2 Các nghiên cứu về bón phân hữu cơ vi sinh cho chè

Các thí nghiệm bón bổ sung phân vi sinh cho chè Shan tập trung và chè shan phân tán CT1: Nền + 20 tấn phân hữu cơ CT2: Nền + 2 tấn phân vi sinh CT3: Nền + 3 tấn phân vi sinh CT4: Nền + 4 tấn phân vi sinh CT5: Nền bón N + P + K = 300kg cho 1ha (Đ/C) Đối tượng nghiên cứu là giống chè Shan ở Nậm Búng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Chủng loại phân bón vi sinh là Phân bón Sông Gianh - Thí nghiệm bón

bổ sung phân vi sinh cho chè Shan phân tán: Thí nghiệm gồm 5 công thức, 3 lần nhắc lại Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) CT1: Nền + 20 tấn phân hữu cơ CT2: Nền + 2 tấn phân vi sinh CT3: Nền + 3 tấn phân vi sinh CT4: Nền + 4 tấn phân vi sinh CT5: Nền bón N + P +

K = 300kg cho 1ha (Đ/C) đối tượng nghiên cứu là giống chè Shan ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Chủng loại phân bón vi sinh là Phân bón Sông Gianh đã chỉ ra: - Khi bón bổ sung phân hữu cơ, vi sinh cho chè Shan tập trung năng suất chè tăng lên đáng kể, ở CT4 (nền + phân vi sinh 4 tấn/ha) và CT1 (nền + 20 tấn phân hữu cơ) cho năng suất đạt 17,50 - 17,60 tấn/ha tăng từ 16,66 - 17,33% so với đối chứng; CT3 năng suất tăng 15,00% so với đối chứng và công thức CT2 (nền + phân vi sinh 2 tấn/ha) cho năng suất 16,00 tấn/ha, chỉ tăng 6,66% so với

đối chứng Chất lượng chè qua thử Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng

lần thứ nhất 887 nếm cảm quan đều đạt điểm thử nếm cao hơn công thức đối chứng [19]

Trang 38

Bón phân hữu cơ vi sinh đã nâng cao năng suất, chất lượng búp chè và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón vô cơ Sử dụng phân HCVS sản xuất từ bã sắn có thể sử dụng thay thế một phần lượng đạm vô cơ cho các giống chè LDP1 và LDP2 [11] Theo Hà Thị Thanh Đoàn (2014) bổ sung các loại phân hữu cơ sinh học thay thế một phần phân khoáng làm tăng năng suất, chất lượng cũng như cải thiện độ pH, tính chất đất Bổ sung các loại phân hữu cơ sinh học thay thế một phần phân khoáng năng suất từ 2,7 – 16,6% Trong đó bón bổ sung phân hữu

cơ sinh học Sông gianh cho năng suất và sản lượng cao nhất, cao đơn đối chứng 16,6% Sau 3 năm độ xốp đất tăng từ 58,85 (Phân HCVS Quế lâm) đến 60,07% (phân HCSH Sông Gianh) [10]

Trang 39

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chè Shan 42 năm tuổi: Chè shan được trồng năm 1972, trồng trên đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, chè được trồng theo phương pháp phân tán, mật độ: 1600 cây/ha, cây chè cao trung bình 1,8 - 2m, năng suất chè 1,25 tấn/ha

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu

2.1.2.1 Đất trồng chè nơi thí nghiệm:

- Đất trồng chè nơi thí nghiệm: Đất ferarit, có dộ dốc 10% Tiến hành phân tích một số chỉ tiêu cơ bản về thành phân dinh dưỡng trong đất trước khi tiến hành thí nghiệm Mẫu đất được lấy theo theo tiểu chuẩn: TCVN 5297:1995

- Cách lấy mẫu phân tích: Trên mỗi loại đất thí nghiệm của lô thí nghiệm lấy 5

điểm theo đường chéo góc, mỗi điểm lấy 0,5 kg đất, ở tầng canh tác từ 0-30cm, sau

đó đem trộn và dải mỏng, đều trên nền ximăng với diện tích 0,5 m2

, sau đó nhặt sạch rễ cây, tạp chất, lấy 5 điểm đường chéo với số lượng 1kg (1000g) Sau khi lấy xong mẫu đất đem về phòng thí nghiệm tại Trung tâm kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng đất và vật tư nông nghiệp - Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc (mẫu được lấy trước khi tiến hành thí nghiệm), tiến hành phân tích các chỉ tiêu về đất Kết quả phân tích mẫu đất làm thí nghiệm II và thí nghiệm III được trình này ở Bảng 2.1

Bảng 2.1 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu về đất làm thí nghiệm II và III

Tên mẫu đất Chỉ tiêu và phương pháp phân tích

Đất làm thí nghiệm II

Đất làm thí nghiệm III

Trang 40

2.1.2.2 Phân hữu cơ:

- Phân hữu cơ gồm: Phân chuồng, phân xanh, phân xanh tổng hợp

+ Phân chuồng: là loại phân trâu bò sẵn có tại địa phương

+ Phân xanh: Là thân, cành lá cây cốt khí 8 tháng tuổi, tiến hành ép xanh

kết hợp phun xử lý chế phẩm Compost Maker (tùy theo từng công thức) vùi kín

+ Phân xanh tổng hợp: Là thân, cành, lá, của các loại thực bì trên nương chè: Các loại cây hòa thảo, chó đẻ, cỏ lào, cỏ dại tổng hợp, cành lá chè

đốn…được băm nhỏ 20 - 30cm, sau đó được ép xanh, phun xử lý Chế phẩm

Compost Maker (tùy theo từng công thức), vùi kín đất;

Phân tích thành phần chất dinh dưỡng chính có trong phân hữu cơ khi tiến hành thí nghiệm II, thí nghiệm bón phân hữu cơ, theo tiêu chuẩn: 10TCN 301 -

2005, Phương pháp lấy mẫu phân bón và chuẩn bị mẫu Lấy mẫu phân chuồng, phân xanh, phân xanh tổng hợp để phân tích các chỉ tiêu về thành phần dinh dưỡng chính có trong các loại phân trên Mẫu được lấy và đem về phòng thí nghiệm Trung tâm Kiểm nghiệm, Chứng nhận Chất lượng đất và Vật tư nông nghiệp - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc để phân tích Kết quả phân tích các loại phân hữu cơ sử dụng bón cho thí nghiệm II được trình bày ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Hàm lượng các chất chính trong các loại phân hữu cơ

Ngày đăng: 11/01/2016, 17:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Xuân Ái, Đinh Thị Ngọ, Lê Văn Đức (1998), “Kết quả 10 năm nghiên cứu về phân bón đối với cây chè”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu về chè (1988 – 1997), Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả 10 năm nghiên cứu về phân bón đối với cây chè
Tác giả: Chu Xuân Ái, Đinh Thị Ngọ, Lê Văn Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
2. Nguyễn Ngọc Bình (2009), “Báo cáo điều tra khối lượng phế phụ phẩm nông nghiệp và tình hình sử dụng phế phụ phẩm”, Đề tài nghiên cứu chuyển giao kỹ thuật chế biến phân vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp phục vụ sản xuất chè an toàn, dự án Khoa học công nghệ nông nghiệp vay vốn ADB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra khối lượng phế phụ phẩm nông nghiệp và tình hình sử dụng phế phụ phẩm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Năm: 2009
4. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Phùng Tiến, Đặng Đức Trạch, Phạm Văn Ty (1972), Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật học, tập I, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Phùng Tiến, Đặng Đức Trạch, Phạm Văn Ty (1972), "Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật học
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Phùng Tiến, Đặng Đức Trạch, Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
Năm: 1972
5. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty (1997), Vi sinh vật học, tập II, Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1997
6. Nguyễn Lân Dũng, Phạm Văn Ty, Nguyễn Đình Quyến (1997), Vi sinh vật học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Phạm Văn Ty, Nguyễn Đình Quyến
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1997
7. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Nữ Kim Thảo (2006), Các nhóm vi khuẩn chủ yếu, Vietsciences, 15/2/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhóm vi khuẩn chủ yếu
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Nữ Kim Thảo
Năm: 2006
8. Djemukhatze K. M (1982), Giáo trình cây chè miền bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây chè miền bắc Việt Nam
Tác giả: Djemukhatze K. M
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1982
9. Nguyễn Thành Đạt (2000), Sinh học vi sinh vật, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học vi sinh vật
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
10. Hà Thị Thanh Đoàn, “Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn”, Luận án tiến sỹ nông nghiệp&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
11. Bùi Huy Hiền, "Phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp bền vững ở Việt Nam", Hội thảo Quốc gia về nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng phân bón tại Việt Nam, Nhà Xuất bản nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp bền vững ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà Xuất bản nông nghiệp
12. Nguyễn Ngọc Kính (1979), Giáo trình cây chè, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây chè
Tác giả: Nguyễn Ngọc Kính
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1979
13. Lê Tất Khương, Đỗ Ngọc Quỹ (2000), Giáo trình cây chè, trồng trọt, chế biến, tiêu thụ, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây chè, trồng trọt, chế biến, tiêu thụ
Tác giả: Lê Tất Khương, Đỗ Ngọc Quỹ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2000
14. Lê Tất Khương, Hoàng Văn Chung, Đỗ ngọc Oanh, Giáo trình cây chè, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây chè
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
15. Nguyễn Hanh Khôi (1983), Chè và công dụng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chè và công dụng
Tác giả: Nguyễn Hanh Khôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1983
16. Nguyễn Hữu La, (2013), Kết quả nghiên cứu bón phân cho một số giống chè mới giai đoạn 2000 – 2012, “Hội thảo Quốc gia về nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng phân bón tại Việt Nam”. Nhà Xuất bản nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu bón phân cho một số giống chè mới giai đoạn 2000 – 2012, “Hội thảo Quốc gia về nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng phân bón tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu La
Nhà XB: Nhà Xuất bản nông nghiệp
Năm: 2013
17. Nguyễn Hữu La, “Báo cáo kết quả nghiên cứu trồng phân tán chè shan vùng cao”, Báo cáo kết quả đề tài “Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất và chế biến chè Shan tạo sản phẩm an toàn phục vụ nội tiêu và xuất khẩu” thuộc chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước KC.06/06-10, Phú Thọ 10/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nghiên cứu trồng phân tán chè shan vùng cao"”, Báo cáo kết quả đề tài “Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất và chế biến chè Shan tạo sản phẩm an toàn phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
18. Nguyễn Hữu La, TS. Nguyễn Thị Hồng Lam, ThS. Nguyễn Thị Kiều Ngọc, KS. Chử Ngọc Oánh , “ Sản xuất thử, phát triển và chế biến sản phẩm chè shan mới cho vùng miền núi phía Bắc” Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc, Hội thảo Quốc gia về Khoa học cây trồng lần thứ nhất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất thử, phát triển và chế biến sản phẩm chè shan mới cho vùng miền núi phía Bắc
19. Đỗ văn Ngọc, Nguyễn Hữu La và CTV “Nghiên cứu tuyển chọn chè shan vùng cao giai đoạn 2001- 2005”. Kết quả nghiên cứu khoa học của Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc – Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà nội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu tuyển chọn chè shan vùng cao giai đoạn 2001- 2005
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
20. Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (1997), Cây chè Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây chè Việt Nam
Tác giả: Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1997
22. Đỗ Ngọc Quỹ (1980), Kết quả nghiên cứu 10 năm về chè 1969 – 1978, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật (1969 – 1979), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu 10 năm về chè 1969 – 1978
Tác giả: Đỗ Ngọc Quỹ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1980

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3 : Đánh giá việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.3 Đánh giá việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật (Trang 53)
Bảng 3.4. Các yếu tố hạn chế đến sản xuất và phát triển sản xuất - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.4. Các yếu tố hạn chế đến sản xuất và phát triển sản xuất (Trang 54)
Hình 3.1. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các công thức thí - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Hình 3.1. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các công thức thí (Trang 61)
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến sự phát sinh, gây hại của một - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến sự phát sinh, gây hại của một (Trang 62)
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến sự phát sinh, gây hại của một - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của thời vụ đốn đến sự phát sinh, gây hại của một (Trang 64)
Bảng 3.10: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của các công thức - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.10 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của các công thức (Trang 65)
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến thời gian bật mầm sau đốn, - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến thời gian bật mầm sau đốn, (Trang 66)
Hình 3.2. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của chè shan Suối - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Hình 3.2. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của chè shan Suối (Trang 69)
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến chất lượng búp - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến chất lượng búp (Trang 73)
Bảng 3.16: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của chè shan - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.16 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của chè shan (Trang 75)
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến thời gian bật mầm sau - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến thời gian bật mầm sau (Trang 76)
Hình 3.3. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của chè shan Suối - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Hình 3.3. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của chè shan Suối (Trang 78)
Bảng 3.19. Ảnh hưởng phân hữa cơ vi sinh đến sự phát sinh, gây hại của một số loài - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.19. Ảnh hưởng phân hữa cơ vi sinh đến sự phát sinh, gây hại của một số loài (Trang 79)
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến sự phát sinh, gây hại - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến sự phát sinh, gây hại (Trang 80)
Bảng 3.21. Ảnh hưởng của hữu cơ vi sinh đến chất lượng búp tươi chè shan - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng chè shan tại xã suối giàng, huyện văn chấn, tỉnh yên bái
Bảng 3.21. Ảnh hưởng của hữu cơ vi sinh đến chất lượng búp tươi chè shan (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm