TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN HỒNG PHÚC NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT SỬ DỤNG PHỤ PHẨM TRONG SẢN XUẤT DẦU HẠT CHÈ LÀM THUỐC TRỪ SÂU VÀTUYẾN TRÙNG HẠI BẮP CẢI TẠI HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA H
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỒNG PHÚC
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT SỬ DỤNG PHỤ PHẨM TRONG SẢN XUẤT DẦU HẠT CHÈ LÀM THUỐC TRỪ SÂU VÀTUYẾN TRÙNG HẠI BẮP CẢI
TẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỒNG PHÚC
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT SỬ DỤNG PHỤ PHẨM TRONG SẢN XUẤT DẦU HẠT CHÈ LÀM THUỐC TRỪ SÂU VÀ TUYẾN TRÙNG HẠI BẮP CẢI
TẠI HÀ NỘI
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: 1.TS TRẦN MINH QUÂN
2.PGS.TS NGUYỄN ĐỨC THẠNH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên
Nguyễn Hồng Phúc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
Ban chủ nhiệm khoa Nông học và phòng đào tạo, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu kỹ thuật sử dụng phụ phẩm trong sản xuất dầu hạt chè làm thuốc trừ sâu và tuyến trùng hại bắp cải tại Hà Nội ”
Trước hết tôi, xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy, cô giáo đã giảng dạy trong chương trình Thạc sĩ Khoa học cây trồng, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến hai thầy giáo TS Trần Minh Quân và PGS.TS Nguyễn Đức Thạnh - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian thực
hiện đề tài và viết luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ban lãnh đạo Viện Môi trường Nông nghiệp, Trung tâm Phân tích và Chuyển giao Công nghệ Môi trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để Luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 11 năm 2015
Học viên
Nguyễn Hồng Phúc
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU .1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiến của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .3
1.1 Một số kết quả nghiên cứu về việc ứng dụng thuốc BVTV trừ sâu thảo mộc trên thế giới 3
1.2 Một số kết quả nghiên cứu về việc ứng dụng thuốc BVTV trừ sâu thảo mộc ở Việt Nam 9
1.2.1 Sự phát triển của ngành chè Việt Nam 9
1.2.2 Vị trí của ngành chè trong nền kinh tế quốc dân 10
1.2.3 Vai trò của xuất khẩu chè 11
Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Vật liệu nghiên cứu 19
2.2 Nội dung nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật sơ chế và xác định kích thước hạt chè phù hợp để đạt hiệu quả trừ sâu tối đa 19
Trang 62.3.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả và kỹ thuật sử dụng bã hạt chè có hàm lượng 15% Saponin để trừ sâu hại trong đất trồng cây
Bắp cải 21
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu xác định kỹ thuật xử lý 25
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 27
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Kết quả nghiên cứu xác định kích thước hạt phù hợp để đạt hiệu quả trừ sâu và tuyến trùng tối đa 28
3.2 Đánh giá hiệu quả trừ sâu của sản phẩm bã hạt chè ở các lượng dùng khác nhau 34
Bã hạt chè được sử dụng với đường kính hạt 0,5-1mm, xử lý ở độ sâu 10cm 34
3.3 Kết quả nghiên cứu các kỹ thuật sử dụng sản phẩm bã hạt chè 39
3.3.1 Để xác định độ sâu xử lý bã hạt chè trước khi trồng 39
3.3.2 Kỹ thuật tưới nước sau khi xử lý thuốc 42
3.4 Ảnh hưởng của sản phẩm bã hạt chè đến sinh trưởng của cây Bắp cải 43
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Hiệu quả trừ tuyến trùng (Meloidogyne spp) của sản phẩm bã
hạt chè chứa 15% Saponin ở các kích thước hạt khác nhau trên bắp cải 29
Bảng 3.2: Hiệu quả trừ sâu xám (Agrotis ypsilon Rott) hại bắp cải của
sản phẩm bã hạt chè chứa 15% saponin ở các kích thước hạt khác nhau 31 Bảng 3.3: Hiệu quả trừ bọ nhảy (Phyllotreta striolata Fabricius) hại bắp
cải của sản phẩm bã hạt chè chứa 15% saponin ở các kích thước hạt khác nhau 42
Bảng 3.4: Hiệu quả trừ tuyến trùng (Meloidogyne spp) của sản phẩm bã
hạt chè chứa 15% Saponin ở các lượng dùng khác nhau trên bắp cải 35
Bảng 3.5: Hiệu quả trừ sâu xám (Agrotis ypsilon Rott) của sản phẩm bã
hạt chè chứa 15% saponin ở các lượng dùng khác nhau trên bắp cải 36
Bảng 3.6: Hiệu quả trừ bọ nhảy (Phyllotreta striolata Fabricius) của
sản phẩm bã hạt chè chứa 15% saponin ở các lượng dùng khác nhau trên bắp cải 37
Bảng 3.7: Hiệu quả trừ tuyến trùng (Meloidogyne spp) hại bắp cải khi
xử lý đất bằng bã hạt chè ở độ sâu khác nhau 40
Bảng 3.8: Hiệu quả trừ bọ nhảy (Phyllotreta striolata Fabricius) hại
bắp cải khi xử lý đất bằng bã hạt chè ở độ sâu khác nhau 41 Bảng 3.9: Ảnh hướng của chu kỳ tưới nước đến hiệu quả trừ tuyến trùng
khi xử lý bã hạt chè trên bắp cải 42
Trang 9Bảng 3.10: Mức độ tổn thương của các loài rau ăn lá do sản phẩm bã
hạt chè gây ra khi sử dụng ở các lượng khác nhau 43 Bảng 3.11: Mức độ tổn thương của các loài rau ăn củ và ăn quả do sản
phẩm bã hạt chè gây ra khi sử dụng ở các lượng khác nhau 44 Bảng 3.12: Ảnh hưởng của lượng dùng bã hạt chè đến năng suất của cải
bắp 44
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Xử lý đất phòng trừ tuyến trùng trên bắp cải 30
Hình 3.2 Phòng trừ tuyến trùng ở kích thước hạt > 5mm và 3-5mm 30
Hình 3.3 Phòng trừ tuyến trùng ở kích thước hạt 1-3 mm và 0,5-1 mm 30
Hình 3.4 Phòng trừ tuyến trùng ở kích thước hạt < 0,5 mm và đối chứng không xử lý 31
Hình 3.5 Hiệu quả trừ sâu xám ở các kích thước hạt khác nhau 32
Hình 3.6 Đồ thị hiệu lực trừ sâu của các kích thước bã hạt chè 34
Hình 3.7 Hiệu quả trừ bọ nhảy ở các lượng dùng 15kg/ha 37
Hình 3.8 Hiệu quả trừ bọ nhảy ở các lượng dùng 25kg/ha và 30kg/ha 38
Hình 3.9 Hiệu quả trừ bọ nhảy ở các lượng dùng 35kg/ha 38
Hình 3.10 Đối chứng trừ bọ nhảy sản phẩm bã hạt chè chứa 15% Saponin 38
Hình 3.11 Hiệu quả trừ sâu, bệnh ở các lượng dùng khác nhau sau 7 ngày 39
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau là loại thực phẩm rất cần thiết trong đời sống hàng ngày và không thể thay thế được, vì rau có vị trí quan trọng đối với sức khoẻ con người Nó
là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, giá trị sản xuất của rau gấp 2 - 3 lần
so với cây lúa [1] Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học,có độ thời gian tồn lưu dài trên sản phẩm đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người tiêu dùng, người sản xuất và môi trường sinh thái Do đó việc nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc thảo mộc là hướng đi đúng nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường, phù hợp với xu hướng sản xuất nông nghiệp sạch , bền vững hiện nay, thúc đẩy gia nhập TPP (TTP: Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement - Hiệp định đối tác kinh
tế xuyên Thái Bình Dương)
Trong khi đó chè với diện tích vào khoảng 135 nghìn ha (FAOSTAT) [21] Hằng năm cây chè cho thu hoạch một lứa quả chè, trước kia hạt chè chủ yếu được
sử dụng để nhân giống mới Tuy nhiên trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật, việc nhân giống chè từ cành đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, chất lượng tốt hơn do vậy hạt chủ yếu bỏ lại không thu hoạch, gây ra lãng phí nguồn tài nguyên từ phụ phảm sản xuất chè
Trong hạt chè có chứa một lượng lớn dầu thực vật có giá trị dinh dưỡng cao như: 1) Saturated fatty acid: 12 - 18%; 2) Oleic acid: 57 - 62%; 3) Linoleic acid: 21
- 25%; 4) Linolenic acid: 1 - 3%; 5) Vitamin E: 159 - 200mg Vì vậy, trên thế giới nguồn nguyên liệu hạt chè đang được chú ý bởi hạt chè được sử dụng để chiết xuất dầu ăn và sử dụng bả sau sản xuất dầu vừa làm phân bón lại có tác dụng làm thuốc trừ sâu thảo mộc
Phần bã hạt chè còn lại sau ép dầu có chứa tới 14- 16% hoạt chất Saponin (C57H90O26) là một chất ít độc cho người và động vật máu nóng nhưng có hiệu quả rất cao hiện đang được ứng dụng rộng rãi ở các nước châu Á để trừ ốc bươu vàng trong ruộng lúa, tuyến trùng và sâu hại trong đất, cá dữ trong các hồ nuôi tôm (Sino Việt Nam 2006) )[14]
Trang 12Hiện nay trong nước đã có một số công trình nghiên cứu tách chiết saponin từ một số cây trồng như đinh lăng, cây ruốc cá và ứng dụng của nó trong phòng trừ dịch hại đặc biệt là ốc bươu vàng đang được nghiên cứu rộng rãi ở đồng bằng sông Cửu Long, tuy nhiên việc nghiên cứu ứng dụng phòng trừ của saponin trên các đối tượng dịch hại cây trồng còn hạn chế chưa nhiều, nên việc khuyến cáo cho nông dân
sử dụng còn hạn chế)[15]
Vì những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu kỹ
thuật sử dụng phụ phẩm trong sản xuất dầu hạt chè làm thuốc trừ sâu và tuyến trùng hại bắp cải tại Hà Nội ” góp phần quan trọng trong việc đề xuất định hướng
ứng dụng bã hạt chè trừ các đối tượng sâu hại khó trừ trên bắp cải và trong đất
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Xác định được kỹ thuật sử dụng bã hạt chè để trừ và giảm thiểu các đối tượng
sâu hại trên cây bắp cải tại Hà Nội nhằm tăng năng suất, chất lượng bắp cải
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả này tạo ra hướng đi mới trong việc ứng dụng nhiều nguồn phụ phẩm khác làm thuốc thảo mộc để trừ một số đối tượng sâu hại khó trừ trên bắp cải và trong đất mà ngay cả các thuốc hóa học cũng khó hạn chế, từ đó góp phần bảo vệ năng suất cây trồng và môi trường ở các vùng sản xuất
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số kết quả nghiên cứu về việc ứng dụng thuốc BVTV trừ sâu thảo mộc trên thế giới
Từ xa xưa, nông dân ở nhiều nước trên thế giới đã biết sử dụng một số loài thực vật chứa chất độc để trừ một số loại côn trùng gây hại trên cây trồng và gia súc bằng cách phun lên cây hay dùng nước chiết để tắm cho gia súc Trên thế giới có khoảng 2000 loài cây có chất độc, trong đó có 10-12 loài cây được dùng phổ biến
Ở Việt Nam, đã phát hiện khoảng 335 loài cây độc, gần 40 loài cây độc có khả
năng trừ sâu (trong đó có 10 loài có khả năng diệt sâu tốt) [7] Những hợp chất trừ
sâu thảo mộc thông dụng như Rotenon và Rotenoit, Arteminisinin, Azadirachtin, Cnidiadin, Matrine, Pyrethrin và Nicotin đều là những loại Ancaloit, Este, Glucozit
v.v có trong một số bộ phận của một số loài cây
Hàm lượng chất độc phụ thuộc loài cây, bộ phận cây, điều kiện sống và thời gian thu hái chúng Nói chung, các chất này rất dễ bị phân huỷ dưới tác động của oxy hoá, ánh sáng (đặc biệt các tia cực tím), ẩm độ , nhiệt độ và pH môi trường, nên chúng ít gây độc cho môi sinh môi trường Nhưng cũng vì đặc tính này, nên điều kiện thu hái, bảo quản và kỹ thuật chế biến ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của sản
phẩm Trừ Nicotin, còn các thuốc thảo mộc khác đang được nghiên cứu sử dụng
Thuốc trừ sâu thảo mộc diệt côn trùng bằng con đường tiếp xúc, vị độc hoặc xông hơi Phổ tác động thường không rộng Một số loại còn có khả năng diệt cả nhện hại cây Sau khi xâm nhập, thuốc nhanh chóng tác động đến hệ thần kinh, gây tê liệt và
làm chết côn trùng Trừ Nicotin (thuốc rất độc với động vật máu nóng, có thể gây ung thư, nên đã bị cấm ở nhiều nước, trong đó có Việt nam), Ryania và Sabadilla,
các thuốc thảo mộc nói chung ít độc đối với người và động vật máu nóng, các sinh vật có ích và động vật hoang dã
Do thuốc trừ sâu thảo mộc nhanh bị phân huỷ, nên chúng không tích luỹ trong
cơ thể sinh vật, trong môi trường và không gây hiện tượng sâu chống thuốc Thuốc
Trang 14thảo mộc rất an toàn đối với thực vật, thậm chí trong một số trường hợp chúng còn kích thích cây phát triển
Do việc thu hái bảo quản khó khăn, giá thành đắt, nên trong một thời gian dài, các thuốc trừ sâu thảo mộc đã bị các thuốc trừ sâu hoá học lấn át
Ngày nay, với yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng được nâng cao, cộng với
kỹ thuật gia công được phát triển, nên nhiều thuốc trừ sâu thảo mộc được dùng trở lại, đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần bảo vệ môi trường Nhiều chất mới
được phát hiện dùng làm thuốc trừ sâu như tinh dàu chàm, tinh dàu bạch đàn, tinh
dầu tỏi v.v Một số hoạt chất thảo mộc được dùng làm thuốc trừ sâu có mặt ở Việt
nam: -Pyrethrin: có trong hoa cây cúc sát trùng Chrysanthemum leucanthemum và các cây Chrysanthemum khác Tác động mạnh đến côn trùng bằng con đường tiếp
xúc; tác động yếu hơn đến các loài nhện, bằng cách bịt kênh vận chuyển ion Na+ , kéo dài giai đoạn mở, vì thế, côn trùng bị quật ngã và chết nhanh Thuốc được dùng trừ côn trùng và nhện trên rau, chè, nhiều cây trồng, cây cảnh; côn trùng ký sinh trên gia súc và động vật trong nhà Có độ độc rất thấp với người, động vật máu
nóng và môi trường Ngày nay, bắt chước các pyrethrin tự nhiên, người ta đã tổng hợp ra vài chục hợp chất pyrethroid khác, trở thành một nhóm thuốc trừ sâu lớn, có nhiều ưu điểm hơn pyrethrin tự nhiên
Rotenon và các rotenoit: là các alkaloid có trong rễ, thân lá, hạt của một số loài cây thuộc họ Papilionaceae ( đặc biệt có nhiều trong rễ cây Derris spp., nhất là Derris eliptica) Gây độc bằng cách ức chế sự chuyển hoá trong hô hấp, gây rối chuyển hoá điện tử của NADH và dehydrogenaza, tách và vận chuyển hydro từ cơ
chất đến ubiquinon; men citorom b, CX1, C và men oxydaza có tác dụng xúc tác vận chuyển điện tử đến oxy, hoạt hoá oxy phân tử và coenzym Q, làm giảm nghiêm trọng tiêu thụ oxi, ức chế hô hấp trong ty thể Rotenon và các rotenoit tác động đến côn trùng (rệp muội, bọ trĩ, ngài, các bọ cánh cứng) và nhện bằng con đường tiếp xúc mạnh và vị độc Ngoài ra còn dùng để trừ kiến lửa, muỗi ở đầm lầy; trừ ve bét, dòi ký sinh trên động vật; trừ côn trùng trong nhà và trừ cá dữ trong ruộng nuôi
Trang 15tôm Triệu chứng trúng độc thể hiện nhanh Thuốc ít độc với động vật có vú ngoại
trừ thuốc xâm nhập vào cơ thể qua hô hấp và nhiễm độc máu Rotenon và các rotenoit ít độc với các động vật khác, nhưng rất độc với cá
Ở đồng bằng sông Cửu Long rễ cây Derris elliptica được băm nhỏ rải xuống ruộng để trừ cá dữ trong ruộng nuôi tôm rất hiệu quả và an toàn -Azadirachtin là
một trong 4 chất chính có tác dụng diệt sâu của dịch chiết hạt (chủ yếu) và lá cây neem, một loài cây có nguồn gốc ở Ân độ, Myanma, sau được trồng ở Tây Phi Ở Việt nam, cây neem cũng mọc rải rác trong toàn quốc; đặc biệt mọc thành rừng hàng trăm ha ở Nam Trung bộ Dịch chiết cây neem được dùng rộng rãi ở Ân độ,
Trung quốc và nhiều quốc gia khác Cấu trúc của Azadirachtin tương tự ecdyson (
một homon lột xác của côn trùng); có thể là chất đối kháng của ecdyson, ngăn cản quá trình lột xác của côn trùng qua các tác động: làm giảm hay ức chế hoàn toàn khả năng sinh sản, hoặc làm giảm khả năng trứng nở; rút ngắn thời gian sống của trưởng thành, ngăn con cái đẻ trứng, trực tiếp diệt trứng; gây ngán cho ấu trùng, trưởng thành; làm sâu non không biến thái, tác động tới sự lột xác giữa các tuổi sâu, tiền nhộng và gây tê liệt ấu trùng - nhộng, ấu trùng – trưởng thành, nhộng - trưởng
thành và trưởng thành Ngoài ra Azadirachtin còn có tác dụng gây ngán và xua
đuổi Bên cạnh tác dụng diệt côn trùng, Azadirachtin còn diệt được cả tuyến trùng
và trừ nấm Thuốc hầu như không độc với cá, động vật thuỷ sinh; ong mật, chim và
động vật hoang dã khác
Matrine: hoạt chất có hiệu lực diệt sâu mạnh nhất trong dịch chiết cây khổ sâm Matrine có phổ tác động rộng, diệt được nhiều loài côn trùng chích hút và miệng nhai ; ngòai ra còn diệt được cả nhện hại cây Matrine gây độc bằng cách làm
tê liệt hệ thần kinh trung ương, bịt lỗ thở côn trùng làm cho côn trùng không hô hấp
được và bị chết nhanh chóng Ngoài ra, nhờ tác động gây ngán và xua đuổi, nên
thuốc có hiệu lực dài Matrine không có tác dụng nội hấp và xông hơi Thuốc ít gây
độc với người, động vật máu nóng và các loài sinh vật khác Bị phân huỷ nhanh
trong môi trường
Trang 16Artemisinin: Có khoảng 0.3 - 0.5% trong thân lá khô của cây thanh hao hoa vàng (Artemisia annua L.) Artemisinin được dùng chủ yếu trừ bệnh sốt rét cho người Gần đây Artemisinin được dùng để trừ sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang hại rau;
rầy xanh hại chè; rệp muội , bọ trĩ hại cam chanh Thuốc hầu như không ảnh hưởng
đến cá và động vật thuỷ sinh; ong mật, chim và động vật hoang dã Không gây độc
cho cây
Cnidiadin: Thuốc có phổ tác động rộng, trừ được nhiều loài sâu hại thuộc bộ
cánh phấn và nhện đỏ Triệu chứng ngộ độc thể hiện nhanh Thuốc ít độc với người
và động vật máu nóng cũng như các loài sinh vật khác
Eucalyptol: Có trong cây bạch đàn Phổ tác động rất rộng; trừ được nhiều loài
sâu và nhện Thuốc ít gây độc với người, động vật máu nóng và các loài sinh vật khác Bị phân huỷ nhanh trong môi trường
Các thuốc thảo mộc khác dùng để trừ sâu: Anabazin: có trong cây Anabasis aphylla ở hàm lượng 0.11-0.50%; tác động đến côn trùng như nicotin, được dùng
trừ sâu dưới dạng muối sulfat Helebo trắng ( Protoveratin): có trong cây Veratrum album với hàm lượng 0.5 - 1%, để trừ sâu ở Pháp, Ý, Bỉ Helebo đen ( Heleborin):
có trong cây Heleborus niger Ryani ( Rianodin): có trong cây Ryana speciosa có hiệu lực trừ sâu cao, bằng con đường tiếp xúc và vị độc được dùng nhiều ở Mỹ Sabadilla: là các chất Cevadine, Veratridine và các Alcaloid có quan hệ với Cevadine, có trong hạt cây Schoeocaulon officinaleo được dùng nhiều để trừ bọ trĩ
ở Ân độ, Trung và Nam Mỹ Cơ chế tác động tương tự Pyrethrin, hoạt hoá độ mẫn
cảm điện áp của kênh truyền dẫn ion Na+ trong hệ thần kinh và màng tế bào cơ
xương và cơ giữa Pellitorine: có trong rễ cây Pellitory anacylus Spilanthol: có trong hoa cây Spilanthes oleraceae và Spilant
Theo kết quả phân tích của các nước trên thế giới, trong bã hạt chè có chứa 14% Saponin là hoạt chất có khả năng ứng dụng để trừ nhiều đối tượng sâu hại đặc biệt là các loài sâu hại trong đất như nhuyễn thể, tuyến trùng, sùng, rệp sáp v.v hay tiêu diệt cá tạp trong hồ nuôi tôm [3, 4, 5]
Trang 17Saponin có công thức phân tử C57H90O26, công thức cấu tạo:
Saponin còn gọi là saponosid là một nhóm glycosid lớn, gặp rộng rãi trong
thực vật Saponin cũng có trong một số động vật như hải sâm, cá sao Saponin có một số tính chất đặc biệt:
- Làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ hoá và tẩy sạch
- Làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng
- Ðộc với cá vì saponin làm tăng tính thấm của biểu mô đường hô hấp nên làm mất các chất điện giải cần thiết, ngoài ra có tác dụng diệt các loài thân mềm như giun, sán, ốc sên
- Kích ứng niêm mạc gây hắt hơi, đỏ mắt, có tác dụng long đờm, lợi tiểu; liều cao gây nôn mửa, đi lỏng
- Có thể tạo phức với cholesterol hoặc với các chất 3-b-hydroxysteroid khác Saponin còn gọi là saponosid do chữ latin sapo = xà phòng (vì tạo bọt như xà phòng) Tuy vậy một vài tính chất trên không thể hiện ở một vài saponin.Ví dụ: sarsaparillosid thì không có tính phá huyết cũng như tính tạo phức với cholesterol., Saponin đa số có vị đắng trừ một số như glycyrrhizin có trong cam thảo bắc, abrusosid trong cam thảo dây, oslandin trong cây Polypodium vulgare có vị ngọt Saponin tan trong nước, alcol, rất ít tan trong aceton, ether, hexan do đó người ta dùng 3 dung môi này để tủa saponin Saponin có thể bị tủa bởi chì acetat, bari hydroxyd, ammoni sulfat Saponin khó bị thẩm tích, người ta dựa vào tính chất này
để tinh chế saponin trong quá trình chiết xuất
O
HO
COOHH
Trang 18
Phần genin tức là sapogenin và dẫn chất acetyl sapogenin thường dễ kết tinh hơn saponin Saponin triterpenoid thì có loại trung tính và loại acid, saponin steroid thì có loại trung tính và loại kiềm
Về mặt phân loại, dựa theo cấu trúc hoá học có thể chia ra: saponin iterpenoid
và saponin steroid
Ngoài cây chè, Saponin còn được chiết suất từ một số hạt của cây thuộc họ Camelia như trẩu, sở v.v Saponin thường có dạng bột mầu nâu, không tan trong nước,
bay hơi ở nhiệt độ 223 – 2240C, không bắt sáng và không ăn mòn kim loại, không gây
nổ và bốc lửa ở điều kiện bình thường Bền ở trạng thái bình thường trong 2 năm, có khả năng oxy hóa mạnh
Hoạt chất Saponin có thể xâm nhập bằng con đường tiếp xúc hay vị độc để tiêu diệt nhiều loài côn trùng Ngoài ra, do Saponin thuộc nhóm Triterpenoid có thể thấm sâu qua những bộ phận mềm như chân hay qua miệng của các loài động vật nhuyễn thể, sau đó tác động nhanh chóng lên hệ hô hấp và tiêu hóa gây ra hiện tượng ốc chảy nhớt, không di chuyển và ăn được sau đó sẽ bị chết Độ độc thấp,
được xếp vào nhóm độc IV, ít độc với người, LD50 qua miệng và qua da:
>5.000mg/ kg
Trong cơ thể động và thực vật, Saponin thường tồn tại ở dạng phức chất cùng với các Glycosid có quan hệ gần gũi với chúng có chứa một hay một vài Triterpenoid Các chất Glycosid và đường thực vật tan nhanh trong nước và sau
đó bị hydro hoá thành đơn chất Do đó chúng thường không để lại dư lượng dạng
Saponin trong nước Một số vi sinh vật cũng có thể phân huỷ Glycosid và sử dụng đường làm thức ăn Do đó nó cũng không để lại dư lượng trong đất ẩm và ngập nước
Phân huỷ nhanh sau xử lý 3 - 4 ngày
Do tính chất Oxi hóa mạnh, Có thể trộn Saponin với phân bón để rải cho lúa
Do có tác dụng tốt trong phòng trừ dịch hại, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng Saponin Tại Malaysia, sản phẩm bột hạt chè chứa tới 5,2 – 7,8 % Saponin được sử dụng trừ Ốc bươu vàng (OBV) với liều lượng khá cao 51kg/ ha, còn sản phẩm của bột lá khô của cây Sisal dại chứa tới 10,2 % Saponin
được sử dụng với liều lượng thấp hơn là 45kg/ ha
Trang 19Tại Đài Loan, cả bột thuốc lá và hạt chè đều được sử dụng trừ OBV có hiệu quả Tuy nhiên, các chế phẩm nói trên đều độc cao với cá và một điều quan trọng là chất lượng của sản phẩm hay hiệu quả của chúng đều phụ thuộc vào nhiều giống cây và
điều kiện bảo quản
Tại Indonexia, 4 loại thuốc thảo mộc là Saponin, Relax (Sapindius rerak), Tobaco và hạt Pinang (Areca catechu ) được thử nghiệm và thuốc Saponin cho hiệu
quả khá cao (trên 80%)
Gần đây, khá nhiều công ty hoặc các Viện nghiên cứu ở Trung Quốc có sản xuất thuốc thảo mộc trừ OBV có hoạt chất Saponin Hiện có tới 18 loại thuốc trừ OBV có hoạt chất từ Saponin được sản xuất chủ yếu từ Trung Quốc song với lượng dùng rất cao (30-50 kg/ ha) Tuy nhiên, các thuốc này là đơn chất (Saponin), độc cao với cá do đó chỉ sử dụng ở nơi không gần ao cá
Về kỹ thuật sản xuất thuốc thảo mộc: hầu hết sản phẩm thuốc thảo mộc
chứa hoạt chất saponin đều được sản xuất từ các loại bả sở, bả trẩu hay bả chè sau
ép dầu Sau khi ép dầu có thể sử dụng trực tiếp các loại bả này để bón vào đất trừ sâu Tuy nhiên, để giảm độ ẩm, tạo điều kiện cho công tác bảo quản thuốc, phần bả sau ép dầu thường được sấy khô và bảo quản kín, tránh tiếp xúc với nhiệt độ cao và sánh sáng Tùy theo mục đích sử dụng người ta cũng có thể áp dụng nghiền nhỏ bả sau sấy để tạo kích thước tối ưu, tăng khả năng hấp thụ trong đất, khả năng tiếp xúc với sâu hại và tránh thất thoát khi sử dụng
Ở các nước Đông Nam Á, nông dân sản xuất thuốc thảo mộc từ bả sau ép dầu
bằng phương pháp sấy thủ công trên lò củi để giảm chi phí Sau khi sấy họ có thể sử dụng trực tiếp sản phẩm để bón vào gốc hoặc nghiền nhỏ để phun lên lé tùy theo mục đích sử dụng
1.2 Một số kết quả nghiên cứu về việc ứng dụng thuốc BVTV trừ sâu thảo mộc
ở Việt Nam
1.2.1 Sự phát triển của ngành chè Việt Nam
Chè là cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao, được trồng phổ biến ở các tỉnh trung du và miền núi nước ta Trong những năm gần đây, do sự gia tăng về
Trang 20nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, diện tích trồng chè không ngừng tăng lên
Đến hết năm 2014, diện tích trồng chè của cả nước là 115.964 ha (theo FAOSTAT
2014) Hạt chè là sản phẩm phụ có giá trị nhưng chưa được quan tâm khai thác sử dụng Trước đây, nông dân vùng trồng chè thường thu hoạch hạt để nhân giống, nhưng gần đây do áp dụng kỹ thuật nhân giống bằng cành được ứng dụng phổ biến nên nguồn hạt chè đều bỏ lại tại ruộng
Các vùng trồng chè phía Bắc là vùng trọng điểm chè của cả nước Tính đến năm 2007 diện tích trồng chè của cả tỉnh là 4.381ha đang trong diện kinh doanh
Do hạn chế về trình độ canh tác và điều kiện đầu tư thâm canh và hơn một nửa diện tích được trồng từ những năm 60-70 nên năng suất chè còn thấp, chỉ đạt
5,82 tấn/ha, thu nhập của người dân trồng chè còn hạn chế Với năng suất búp
chè hiện tại là 5.820kg/ha, giá bán trung bình khoảng 4000đ/kg thì thu nhập của nông dân chỉ vào khoảng 23.280.000đ/ha (Nguồn: Viện Khoa học Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc và ICARD – 2007) [17] Do đó, tuy cây chè là cây trồng lợi thế song cũng chưa mang lại hiệu quả rõ rệt trong công cuộc xoá đói giảm nghèo cho người dân địa phương
1.2.2 Vị trí của ngành chè trong nền kinh tế quốc dân
Chè là cây công nghiệp dài ngày, trồng một lần cho thu hoạch nhiều năm Tuổi thọ của chè kéo dài 50 - 70 năm, cá biệt nếu chăm sóc tốt có thể tới hàng trăm năm Chè đã có ở Việt Nam từ hàng ngàn năm nay, một số cây chè ở Suối Giàng (Nghĩa Lộ) có tuổi thọ 300 - 400 năm Nhiều nhà khoa học cho rằng Việt Nam là một trong những cái nôi của cây chè
Chè là thứ nước uống có nhiều công cụ, vừa giải khát, vừa chữa bệnh Người
ta tìm thấy trong chè có tới 20 yếu tố vi lượng có lợi cho sức khoẻ, ví dụ cafein kích thích hệ thần kinh trung ương, tamin trị các bệnh đường ruột và một số axit amin cần thiết co cơ thể
Chè được trồng chủ yếu ở trung du, miền núi và có giá trị kinh doanh tương
đối cao Một ha chè thu được 5 - 6 tấn chè búp tươi (nhiều năm nay có giá tương đương thóc), có giá trị ngang với một ha lúa ở đồng bằng và gấp 3 - 4 lần một ha lúa
Trang 21nương Vì vậy có thể nói cây chè là cây "xoá đói giảm nghèo, điều hoà lao động từ
đồng bằng lên các vùng xa xôi hẻo lánh, góp phần phát triển kinh tế miền núi bảo vệ
an ninh biên giới
Chè là một sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao và tiềm năng xuất khẩu lớn Một ha chè thâm canh thu hoạch được 10 tấn búp tươi chế biến được hơn 2 tấn chè khô, đem xuất khẩu sẽ thu được một lượng ngoại tệ tương đương với khi xuất khẩu 200 tấn than và đủ để nhập khẩu 46 tấn phân hoá học
Trên thế giới có khoảng 30 nước trồng chè nhưng có tới 100 nước uống chè Như vậy tiềm năng về thị trường của chè Việt Nam rất dồi dào Tuy nhiên, tốc độ phát triển cây chè của ta so với thế giới còn chậm Năm 1939, Việt Nam xuất khẩu
2400 tấn chè - đứng hàng thứ 6 trên thế giới, đến nay, Việt Nam xuất khẩu được hơn 20.000 tấn chè - đứng hàng thứ 17 Có thể thấy, trong vòng 60 năm, sản lượng xuất khẩu của ta tăng 8 lần những vị trí của ta đã tụt đến 10 bậc
1.2.3 Vai trò của xuất khẩu chè
Chè là một cây công nghiệp dài ngày,thích hợp với khí hậu và đất đai ở miền núi phía bắc và trung du của nước ta Cây chè còn đem lại nhiều nguồn lợi cho chúng ta việc xuất khẩu đã có một số vai trò rất quan trọng như:
Để phục vụ cho việc xất khẩu chè thì trước hết chúng ta phải có các vùng
chuyên trồng cây chè, như đồi núi ở trên thì cây chè thường phân bố ở trung du và miền núi Đây là những nơi mà việc trồng lúa rất khó khăn Do vậy cây chè đã trở thàng một trong những cây chủ lực ở những khu vực này để xoá đói giảm nghèo,tạo
ra nhiều công ăn việc làm cho những người sống ở khu vưc này, chánh được hiện tượng nông nhàn trong nộng nghiệp và nó còn tạo ra một lượng thu nhập đáng kể cho những người trồng chè, góp phần nâng cao mức sống cho nhân dân ở vùng miền núi vốn rất khó khăn và cuộc sống rất cực nhọc Do vậy việc xuất khẩu chè có một vai trò to lớn trong việc tạo ra công ăn việc làm cho người lao động Không những nó có vai trò về kinh tế mà nó còn có vai trò về an ninh quốc phòng, việc
định canh định cư của các người trồng chè trên những vùng cao và hẻo lánh đã đảm
bảo được an ninh biên giới của nước ta Việc trồng chè để xuất khẩu cung có một vai trò to lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái Như chúng ta đã biết hiện nay
Trang 22lạm chặt phá rừng ngày càng diễn ra mạnh mẽ công với việc du canh du cư chặt lương phá dãy của một số các đồng bài dân tộc đã hủy hoại môi trường sống của chúng ta Việc trồng chè để phục vụ xuất khẩu đã phủ xanh đất trống đồi núi trọc, còn góp phần điều hoà không khí, ngoài ra cây chè còn một số tác dung trong nghành y học
Xuất khẩu chè tạo ra một nguồn vốn đáng kể cho đất nước, góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.Chè là một trong những mặt hàng nông sản xuát khẩu chủ lực của nước ta, hàng năm mang về cho đất nước rất nhiều ngoại
tệ để thúc đẩy công nghiệp háo hiện đại hoá đất nước như: Năm 2000 đã xuất khẩu
được 45 ngàn tấn mang về cho đất nước khoảng 56 triệu USD, năm 2001 đã xuất
khẩu được 40000 tấn tăng 9,94% só với năm 2000 đạt kim ngạch xuất khẩu 70triệu USD, 5 tháng đầu năm 2002 đã xuất khẩu được 25000 tấn đạt giá trị 28 triệu USD [17] Tuy những con số này vẫn chưa thực cao trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của chúng ta những xuất khẩu chè cũng đã đóng góp một nguồn vốn dáng kể cho đất nước thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
Trong khi đó, nguồn phụ phẩm từ cây chè như hạt chè hầu như chưa được quan tâm khai thác Trước đây, hạt chè được sử dụng một phần để ươm giống nhưng gần đây việc ươm giồng chủ yếu được thực hiện bằng con đường nhân vô tính nên phần lớn hạt chè bị bỏ lại trên ruộng Trong khi đó, các công nghệ ép dầu
và sao chế đơn giản bã sau ép dầu hoàn toàn phù hợp với năng lực đầu tư và trình
độ của người dân địa phương, thị trường đầu ra của sản phẩm cũng rộng mở
Nguyên nhân cản trở việc ứng dụng hạt chè là do chúng ta còn thiếu những nghiên cứu bước đầu về khả năng ứng dụng hạt chè làm dầu ăn và thuốc thảo mộc trừ sâu
1.2.4 Nghiên cứu phát triển và sử dụng bã hạt chè làm thuốc trừ sâu
Hiện nay, trong nước đã có một số công trình nghiên cứu về khả năng ứng dụng Saponin trừ ốc bươu vàng và các đối tượng sâu hại trong đất, các nghiên cứu
đều khẳng định Saponin là chất ít độc, có hiệu quả cao trong phòng trừ dịch hại
[16] Kết quả nghiên cứu của các tác giả Viện Bảo vệ thực vật cũng đã khẳng định Saponin có hiệu quả cao đối với ốc bươu vàng, các tác giả cũng đã tạo ra 2 sản phẩm trừ ốc bươu vàng là: CE-02 và CB-03 từ các nguồn nguyên liệu có chứa
Trang 23Saponin như bã trẩu, bã sở hay hạt chè có hiệu lực trừ ốc bươu vàng trên 90%[16] Mặt khác, một số kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật cũng đã chỉ ra rằng Saponin còn có hiệu quả cao đối với tuyến trùng và một số loài sâu hại trong đất như rệp sáp hay các sâu ăn lá như sâu tơ, sâu khoang hại rau Tuy nhiên, do khi phun lên lá, Saponin cùng với các dầu thực vật còn lại thường tạo ra lớp sáp trên bề mặt lá, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng nên các hướng nghiên cứu ứng dụng thường tập trung vào các đối tượng sâu hại trong đất
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng mới đưa ra được quy trình sử dụng Saponin trừ ốc bươu vàng hại lúa, còn các đối tượng dịch hại khác chưa đánh giá được phạm vi ứng dụng, lượng dùng v.v nên chưa có khuyến cáo sử dụng rộng rãi
Tồn tại lớn nhất của các đề tài nghiên cứu trong nước là mới đánh giá được khả năng ứng dụng của Saponin là chưa đề cập hoặc có đề cập nhưng chưa hoàn chỉnh được công nghệ sản xuất thuốc BVTV (bảo vệ thực vật) từ các nguồn phụ phẩm như hạt chè, hạt sở hay hạt trẩu Do không có công nghệ tách dầu trong hạt chè nên khi sản xuất thuốc trực tiếp từ hạt chè gặp rất nhiều khó khăn do:
1) Hạt vẫn còn chứa nước và dầu nên khó nghiền nhỏ
2) Thường bị kết dính, không giảm được độ ẩm của sản phẩm, khó bảo quản, thường phải sử dụng Sunphat đồng để chống mốc, tăng chi phí và gây ô nhiễm môi trường
3) Lượng dùng phải cao gấp 3 lần lượng bã hạt chè sau khi tách dầu mới cho hiệu quả trừ ốc cao
Bên cạnh đó, do không tận dụng được dầu chè nên giá thành của sản phẩm thuốc trừ sâu cũng cao gấp 2 lần so với giá thuốc nhập nội từ Trung Quốc, giá thành bình quân là 7000-8000đ/kg, trong khi đó nếu nhập từ Trung Quốc chỉ từ 3500- 4000đ/ kg
Do những hạn chế về công nghệ nên chúng ta hoàn toàn chưa có khả năng sản xuất thuốc BVTV trong nước từ hạt chè, trong khi đây là sản phẩm được nông dân
đánh giá rất cao, do đó đã có nhiều công ty thuốc BVTV phải nhập thuốc từ Thái
Trang 24Lan và Trung Quốc về để bán cho nông dân trừ ốc bươu vàng và cá tạp trong hồ nuôi tôm
Theo danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam, đến hết năm
2008 đã có tới 26 sản phẩm thương mại chứa Sapopin được đăng ký trừ ốc bươu vàng như Abuna 5G, Ocsanin 15G, Saponusa 15H, Sitonin 15BR, Dibonin super 5WP, 15WP… và 5 sản phẩm hỗn hợp giữa Saponin với Rotenon để trừ các đối tượng sâu hại khác [4]
Có thể nói, việc sử dụng bã còn lại sau ép dầu có chứa tới 9-16% hoạt chất Saponin (C57H90O26) là một chất ít độc cho người và động vật máu nóng nhưng có hiệu quả rất cao hiện đang được ứng dụng rộng rãi để trừ ốc bươu vàng trong ruộng lúa và cá dữ trong các hồ nuôi tôm ở nhiều địa phương các tỉnh phía Nam So sánh với các loại thuốc hoá học hiện đang sử dụng thì chế phẩm phân bón hữu cơ sinh học đa chức năng Saponin không những ít độc hại hơn đối với môi trường mà còn
có thể cung cấp cho ruộng lúa một lượng dinh dưỡng đáng kể từ chất hữu cơ trong
bã hạt chè và xác ốc chết, giúp cho sinh trưởng phát triển của cây lúa tốt hơn nên
được nông dân đồng bằng sông Cửu Long rất ưa chuộng Nguyên nhân là do các
thuốc hoá học thường làm cho ốc nhanh chóng bị mất nước, gây chết nhanh và khi chết cơ thể bị khô tóp nhưng Saponin có thể thấm sâu qua những bộ phận mềm như chân của ốc hay qua miệng, sau đó tác động nhanh chóng lên hệ hô hấp và tiêu hoá, gây hiện tượng chảy nhớt làm cho ốc không di chuyển và không ăn được, do đó thuốc thường gây chết chậm, khi chết xác ốc không bị khô tóp, được phân giải từ từ, cung cấp cho cây lúa một lượng dinh dưỡng đáng kể Bên cạnh tác dụng trừ ốc bươu vàng và
cá dốn saponin cũng đã được nghiên cứu và xác định là có khả năng trừ nhiều đối tượng sâu hại và tuyến trùng trong đất [15]
Theo ước tính, mỗi năm chỉ riêng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long phải cần
đến 60 nghìn tấn bã hạt chè để trừ ốc bươu vàng (tương đương với chi phí là 660 tỷ đồng), trong khi đó nguồn cung ứng hiện tại hoàn toàn dựa vào nhập khẩu từ nước
ngoài, chủ yếu từ Trung Quốc và Thái Lan nhưng cũng không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ của nông dân
Trang 251.3 Những sâu hại chính trên bắp cải và ứng dụng thuốc trừ sâu sinh học ở Việt Nam
1.3.1 Một số sâu và tuyến trùng hại bắp cải
Sâu tơ: Sâu non có màu xanh nhạt, mỗi đốt đều có lông nhỏ Sâu non mới nở
đục lỗ ăn biểu bì dưới và thịt lá, chừa lại biểu bì trên; từ cuối tuổi 2 gặm thủng lá, bị
hại nặng chỉ còn trơ gân lá Sâu thường tập hợp ở mặt dưới lá, đẫy sức nhả tơ kết kén ngay trên lá để hóa nhộng
Sâu xám: Trưởng thành là loài bướm có thân dài 20-25mm Cánh trước có
màu xám đen, gần phía góc mép ngoài có 3 vệt đen nhỏ hình tam giác Cánh sau màu trắng, mép ngoài màu nâu xám nhạt Cơ thể có nhiều lông màu xám.Trứng
có hình cầu hơi dẹt, có sọc nổi, đường kính khoảng 0,5mm, lúc đầu có màu nhạt sau chuyển sang màu kem đến nâu Sâu non màu đen nâu, có đường xẻ màu nâu nhạt ở giữa và 2 sọc hai bên Đầu rất đen, có 2 điểm trắng, nhộng có màu nâu
cánh gián, cuối bụng có một đôi gai ngắn Bướm hoạt động giao phối và đẻ trứng
ban đêm, thích mùi vị chua ngọt Đẻ trứng rời rạc thành từng quả trêm mặt đất, một bướm cái đẻ 800-1000 trứng Sâu non mới nở gặm lấm tấm biểu bì lá cây, sâu lớn tuổi sống dưới đất, ban đêm bò lên cắn đứt gốc cây Sâu đẫy sức hoá nhộng trong đất Sâu xám phát sinh trong điều kiện thời tiết lạnh, ẩm độ cao, chủ yếu phá hại khi cây còn nhỏ
Bọ nhảy: Trưởng thành có kích thước cơ thể dài 1.8-2.4mm, hình bầu dục,
toàn thân màu đen và lấp lánh ánh kim Mặt lưng đốt ngực trước và trên cánh cứng
có các chấm xếp thành hàng dọc Mỗi cánh ở giữa có vân thẳng màu vàng, phía cạnh ngoài của vân lõm vào, phía trong của vân thẳng hay cong về phía trong hình
củ lạc Trứng hình trứng, dài 0.3mm, màu vàng nhạt Sâu non hình ống tròn phần cuối nhỏ, đầu màu nâu nhạt, lưng và bụng màu vàng nhạt Nhộng hình bầu dục, dài khoảng 2mm, màu trắng sữa Bọ trưởng thành hoạt động vào lúc sáng sớm và chiều mát Trời mưa ít hoạt động Bọ trưởng thành ăn lá và giao phối trên cây Đẻ trứng chủ yếu trong đất, cách rễ chính khoảng 3cm, đẻ nhiều vào sau buổi trưa Một con cái đẻ 25-200 trứng Sâu non có 3 tuổi, sống trong đất, ăn rễ cây, làm cho cây bị còi cọc, héo hoặc bị thối Hoá nhộng ngay trong đất
Trang 26Dòi đục rễ bắp cải: Trưởng thành trông giống như ruồi nhà nhỏ Chúng có
màu đen, dài khoảng 1mm, trên lưng có các sọc đen và lông cứng ngắn màu đen Dòi màu trắng, dài khoảng 1cm và không có chân Con trưởng thành đẻ trứng vào khe đất nứt hoặc trên thân cây giáp mặt đất Hoá nhộng trong đất Dòi phá huỷ rễ,
đặc biệt là rễ cây non bằng cách đục vào rễ hoặc ăn trên bề mặt của rễ Cây bị hại
trở nên hơi vàng, đỏ tía hoặc xanh xám, cây còi cọc
Sâu xanh đục bắp cải: Sâu trưởng thành có các cánh trước lốm đốm, cơ thể
màu xám, xanh lá cây hoặc màu đen Cánh sau thường có màu sáng hơn cánh trước Trên cánh trước có vân hình quả thận viền trắng, hướng vào giữa cánh trước Sâu non có màu xanh, tuổi lớn có màu đen hơi nâu Bụng màu vàng xanh Sâu cuộn lại khi bị động Trứng có màu trắng sau chuyển sang màu hồng , nhộng màu nâu bóng Sâu trưởng thành lên mặt đất và giao phối ngay sau đó Con cái đẻ trứng dưới mặt lá và đẻ rải rác từng quả nhưng đủ gần để tạo thành từng nhóm, mỗi nhóm khoảng 50 trứng Sâu non ăn lá cây, khi mật độ cao phá trụi các lá ngoài, chỉ chừa lại những bộ khung lá Một số sâu đục vào bên trong bắp làm giảm giá trị thương phẩm
Rệp: Rệp trưởng thành dài 1.6-2.6 mm, màu xanh hơi xám, đầu màu đen và
có các vạch màu đen trên thân Có 2 dạng, có cánh và không có cánh Rệp có cánh dài hơn rệp không cánh một chút, đầu và thân màu đen, vân cánh màu nâu Rệp có
ống bụng nhỏ ở cuối thân Rệp sinh sản đơn tính Cả rệp non và trưởng thành đều
sinh sống bằng hút nhựa cây, làm búp và lá bị xoăn lại, lá nhạt màu hoặc vàng, héo
rũ Ngoài gây hại trực tiếp cho cây trồng, rệp còn là môi giới truyền bệnh vi rút cho rau Thời tiết nóng khô thuận lợi cho rệp phát triển [15]
1.3.2 Nghiên cứu và ứng dụng thuốc trừ sâu sinh học trên rau và bắp cải
Nghiên cứu, sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học đã
được thực hiện ở nước ta trong nhiều năm qua Tuy nhiên, việc sử dụng trong sản
xuất đại trà còn hạn chế Ðể góp phần ổn định chất lượng nông sản, bảo đảm an toàn thực phẩm, chúng ta cần có các giải pháp đồng bộ đẩy mạnh việc sản xuất và
ứng dụng thuốc BVTV sinh học
Nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng các sản phẩm thuốc
Trang 27BVTV sinh học trong sản xuất nông sản an toàn, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hỗ trợ các viện nghiên cứu thực hiện nhiều đề tài, dự án phát triển thuốc BVTV sinh học Qua đó, đã tạo được nhiều sản phẩm sinh học tiên tiến, có khả năng sử dụng như một giải pháp thay thế hiệu quả
để ứng dụng trong sản xuất nông sản an toàn
Các sản phẩm có thể tạo ra bằng nhiều con đường khác nhau như chế phẩm sản xuất từ vi-rút (NPV), vi khuẩn (Bacillus thuringiensis), các loại nấm côn trùng (Metarhizum, Beauvenia), nấm đối kháng (Trichoderma), tuyến trùng cũng như các độc tố được chiết xuất từ các loài thực vật có hoạt tính trừ sâu như xoan Ấn
Ðộ, Deris, cây thanh hao Tuy nhiên, mức độ thành công trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các sản phẩm sinh học còn tùy thuộc vào từng tác nhân sinh học
được ứng dụng trong công tác BVTV
Từ năm 1990 trở lại đây, việc nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm sinh học trong BVTV đã được Nhà nước và các cơ quan khoa học quan tâm đầu tư và
đã đạt được những kết quả bước đầu Tuy nhiên, việc triển khai sản xuất và ứng
dụng trong thực tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn Cho đến nay, tỷ trọng thuốc BVTV sinh học vẫn chỉ chiếm khoảng 5% so với tổng lượng thuốc BVTV sử dụng trong sản xuất
Khắc phục những nhược điểm của các thuốc sinh học truyền thống (sản xuất
từ dây chuyền lên men vi sinh vật sống), gần đây trên thế giới đã nghiên cứu và phát triển thành công một số thuốc sinh học thế hệ mới được sản xuất theo quy trình chiết xuất các độc tố của vi sinh vật như nấm, xạ khuẩn hay hoạt chất độc của các loài cây độc Công nghệ này cho phép tạo ra sản phẩm có phổ tác động rộng hơn, hiệu lực cao và ổn định hơn, cũng như giá thành hạ do có thể sản xuất ở quy mô hàng hóa lớn
Do nhận thức được ưu điểm nổi bật của thuốc trừ sâu sinh học là ít độc, an toàn trước hết cho người sử dụng, góp phần đáng kể tạo ra sản phẩm an toàn nên hiện nay việc sử dụng chúng trong sản xuất rau đã được nhiều nông dân quan tâm Tuy nhiên, do vẫn còn nhiều trở ngại về hiệu quả trừ sâu, giá thành và thói quen
Trang 28trong sử dụng, tỷ lệ thuốc BVTV sinh học được ứng dụng trong sản xuất vẫn còn rất thấp
Ðể đẩy nhanh việc ứng dụng các sản phẩm sinh học vào sản xuất nông sản
an toàn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như Bộ Khoa học và Công nghệ đã hỗ trợ các địa phương thực hiện một số dự án chuyển giao KTTB
và ứng dụng sản phẩm sinh học phục vụ sản xuất nông sản an toàn như: Dự án sản xuất thử nghiệm: "Xây dựng mô hình ứng dụng thuốc BVTV sinh học để xây dựng vùng sản xuất rau an toàn tại Vĩnh Phúc" do Chương trình nông thôn
và miền núi hỗ trợ Kết quả bước đầu cho thấy các dự án đã thu được nhiều kết quả quan trọng như:
Lựa chọn các sản phẩm phù hợp, có hiệu quả kỹ thuật cao cho từng đối tượng dịch hại và từng loại cây trồng Ðánh giá được các yếu tố tác động đến hiệu quả của các sản phẩm sinh học và giải pháp khắc phục, từ đó góp phần hoàn thiện quy trình ứng dụng đồng bộ các sản phẩm sinh học để có thể nhân rộng sử dụng một cách bền vững
Xây dựng được các mô hình ứng dụng sản phẩm sinh học để sản xuất rau an toàn theo chu trình khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ Qua các mô hình đã khẳng
định các thuốc BVTV sinh học có thể thay thế từ 60 đến 70% thuốc hóa học, điều
này đặc biệt có ý nghĩa trong việc phòng trừ dịch hại ở giai đoạn cận thu hoạch và
đang trong chu kỳ thu hoạch (với các loại rau gối lứa) Từ đó, tạo điều kiện thuận
lợi cho công tác giám sát, cấp chứng chỉ sản phẩm, nâng cao được uy tín, giá trị của sản phẩm trên thị trường, tăng thêm thu nhập cho người sản xuất [16]
Trang 29Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- KK CROSS (Giống bắp cải hay được trồng nhiều tại các địa phương)
- Bã hạt chè sau ép dầu
- Các dụng cụ thí nghiệm trong nhà lưới như chậu vại, dụng cụ xử lý thuốc và
đo đếm mật độ sâu hại
- Làm thí nghiệm nhà lưới tại Viện Môi Trường Nông Nghiệp, thí nghiệp đồng ruộng được bố trí tại Song Phương Hoài Đức, Hà Nội
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu kỹ thuật sơ chế và xác định kích thước hạt phù hợp để đạt hiệu quả trừ sâu tối đa từ bã hạt chè trên cây bắp cải
- Nghiên cứu xác định liều lượng sử dụng Saponin được sản xuất từ bã hạt chè
để trừ sâu hại trên bắp cải
- Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến hiệu lực của bã hạt chè
đối với cây bắp cải
+ Độ sâu sử lý và che phủ nilon
+ Chế độ tưới nước, độ sâu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật sơ chế và xác định kích thước hạt chè phù hợp để đạt hiệu quả trừ sâu tối đa
1 Đập thô thành hạt có kích thước lớn, đường kính >5mm;
2 Đập thô thành hạt có kích thước lớn, đường kính 3-5 mm;
3 Đập thô thành hạt có kích thước lớn, đường kính 1-3mm;
Trang 304 Đập thô thành hạt có kích thước lớn, đường kính 0,5 – 1mm;
5 Nghiền nhỏ thành bột có đường kính < 0,5 mm
Xác định hiệu quả của các công thức trên thông qua việc đánh giá hiệu quả trừ tuyến trùng, bọ nhảy và sâu xám
Sử dụng nguồn nhiễm tự nhiên tiến hành xáo đất chộn với bã hạt chè (xử lý
đất) với lượng 30kg/ ha (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin) và
công thức đối chứng không xử lý
Đánh giá hiệu quả trừ sâu sau xử lý thuốc 3 và 7 ngày thông qua xác định mật
độ tuyến trùng, bọ nhảy và sâu xám trước xử lý thuốc và sau xử lý 3 và 7 ngày
Hiệu đính hiệu lực của thuốc bằng công thức Abbot (với bọ nhảy và sâu xám) và Henderson Tilton (với tuyến trùng)
- Chỉ tiêu theo dõi:
Xác định hiệu quả trừ sâu xám và bọ nhảy thông qua điều tra mật độ sâu còn sống trước xử lý và sau xử lý thuốc 3, và 7 ngày Hiệu đính hiệu lực của thuốc bằng công thức Abbot:
Trong đó:
H(%): Hiệu lực của thuốc tính theo %;
Ca: là số lượng cá thể sống ở công thức đối chứng sau xử lý;
Ta là số lượng cá thể sống ở công thức thí nghiệm sau xử lý
Xác định hiệu quả trừ tuyến trùng thông qua điều tra mật độ sâu còn sống trước xử lý và sau xử lý thuốc 3, và 7 ngày Hiệu đính hiệu lực của thuốc bằng công thức Henderson Tilton:
Hiệu lực của thuốc (%) =(1 - x ) x100
Trong đó:
Ta: là mật độ ở công thức thí nghiệm sau xử lý đất;
Tb:là mật độ ở công thức thí nghiệm trước xử lý đất;
Ca:là mật độ ở công thức đối chứng sau xử lý đất;
Cb:là mật độ ở công thức đối chứng trước xử lý đất
- Phương pháp điều tra, theo dõi (Cục bảo vệ thực vật – 1995) [3]
Trang 31- Phương pháp xác định mật độ tuyến trùng:
Mỗi ô điều tra 10 điểm, mỗi điểm điều tra tuyến trùng xung quanh 2 gốc bắp cải Tại các điểm điều tra, lấy mẫu đất ở độ sâu 15 – 20cm xung quanh vũng rễ cây, mỗi mẫu 500g
Đưa mẫu về phòng, phơi khô, đập nhỏ, sau đó trộn đều và lấy mỗi mẫu 1g đất
để đếm số lượng tuyến trùng
Dùng phương pháp phễu học Baermann để tách tuyến trùng ra khỏi mẫu đất Cho 1g đất vào 10ml nước cho tan đều, sau đó lấy mỗi lần 1ml nước đưa lên lam kính để đếm số lượng tuyến trùng qua kính hiểm vi Đếm số lượng tuyến trùng trên quang trường Lấy mẫu nước lặp lại cho đến khi hết 10ml và cộng lượng tuyến trùng đã đếm được
- Phương pháp xác định mật độ sâu xám: đếm số sâu sống tại các chậu thí nghiệm sau 3,7 ngày
- Phương pháp xác định bọ nhảy: đếm số sâu sống trong ô thí nghiệm tại 3
điểm, mỗi điểm 3 cây Đếm số bỏ nhảy trưởng thánh trong ô thí nghiệm tại 3 , 7
Thí nghiệm 2 : Nghiên cứu xác định lượng dùng bã hạt chè
+ Thí nghiệm trong chậu vại: được tiến hành với tuyến trùng và sâu xám, mỗi
công thức nhắc lại 5 lần Sử dụng nguồn đất đã bị nhiễm tuyến trùng nốt sưng để đổ vào các chậu với chiều sâu 30cm sau đó tiến hành xử lý đất bằng sản phẩm bã hạt chè ở các lượng 15; 20; 25; 30; 35; 40 kg/ ha (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin) và công thức đối chứng không xử lý Sau khi xử lý đất xong, tiến hành trồng bắp cải Mỗi chậu 3 cây , 10 chậu trên một lần nhắc lại Sử dụng nguồn
đất đã nhiễm tuyến trùng nốt sưng (lấy từ viện BVTV) để đổ vào các chậu với chiều
sâu 30cm sau đó tiến hành trồng cây bắp cải (25 - 30 ngày tuổi) Sau khi cây hồi xanh trở lại, thả vào mỗi chậu 10 sâu xám tuổi 1
Trang 32+ Thí nghiệm đồng ruộng: Đối với bọ nhảy được tiến hành với 3 lần nhắc
lại, kích thước ô 10m2 Đánh giá hiệu quả phòng trừ với đối tượng sâu non trong đất thông qua nguồn nhiễm tự nhiên Xử lý thuốc trước khi trồng bắp cải bằng sản phẩm bã hạt chè ở các lượng 15; 20; 25; 30; 35; 40 kg/ ha (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin) và công thức đối chứng không xử lý Giữa các ô thí nghiệm có ngăn cách bằng nilon cao 1,2m để ngăn cản sự di chuyển của bọ nhảy trưởng thành Đánh giá hiệu quả trừ sâu non bọ nhảy thông qua mật độ sâu trưởng thành trên mặt đất
Phương pháp bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
1 Xử lý với lượng 15 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
2 Xử lý với lượng 20 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
3 Xử lý với lượng 25 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
4 Xử lý với lượng 30 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
5 Xử lý với lượng 35 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
6 Xử lý với lượng 40 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
7 Đối chứng không xử lý
Giữa các ô thí nghiệm có ngăn cách bằng nilon cao 1,2m để ngăn cản sự di chuyển của bọ nhảy trưởng thành Đánh giá hiệu quả trừ sâu non bọ nhảy thông qua mật độ sâu trưởng thành trên mặt đất
Thả vào mỗi ô 100 bọ nhảy trưởng thành Sau đó 3 ngày tiến hành xáo đất chộn với bã hạt chè (xử lý đất) với lượng 30kg/ ha (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin) và công thức đối chứng không xử lý
Đánh giá hiệu quả trừ sâu sau xử lý thuốc 3, 7 ngày thông qua xác định mật
độ tuyến trùng, bọ nhảy và sâu xám trước xử lý thuốc và sau xử lý 3, 7 ngày Hiệu
Trang 33đính hiệu lực của thuốc bằng công thức Abbot (với bọ nhảy và sâu xám) và
Henderson Tilton (với tuyến trùng)
- Chỉ tiêu theo dõi:
Xác định hiệu quả trừ sâu xám và bọ nhảy thông qua điều tra mật độ sâu còn sống trước xử lý và sau xử lý thuốc 3, và 7 ngày Hiệu đính hiệu lực của thuốc bằng công thức Abbot:
Trong đó:
H(%): Hiệu lực của thuốc tính theo %;
Ca: là số lượng cá thể sống ở công thức đối chứng sau xử lý;
Ta là số lượng cá thể sống ở công thức thí nghiệm sau xử lý
Xác định hiệu quả trừ tuyến trùng thông qua điều tra mật độ sâu còn sống trước xử lý và sau xử lý thuốc 3, và 7 ngày Hiệu đính hiệu lực của thuốc bằng công thức Henderson Tilton:
Hiệu lực của thuốc (%) = (1 - x ) x100
Trong đó:
Ta: là mật độ ở công thức thí nghiệm sau xử lý đất;
Tb:là mật độ ở công thức thí nghiệm trước xử lý đất;
Ca:là mật độ ở công thức đối chứng sau xử lý đất;
Cb:là mật độ ở công thức đối chứng trước xử lý đất
- Phương pháp điều tra, theo dõi (Cục bảo vệ thực vật – 1995) [3]
- Phương pháp xác định mật độ tuyến trùng:
Mỗi ô điều tra 10 điểm, mỗi điểm điều tra tuyến trùng xung quanh 2 gốc bắp cải Tại các điểm điều tra, lấy mẫu đất ở độ sâu 15 – 20cm xung quanh vũng rễ cây, mỗi mẫu 500g
Đưa mẫu về phòng, phơi khô, đập nhỏ, sau đó trộn đều và lấy mỗi mẫu 1g đất
để đếm số lượng tuyến trùng
Dùng phương pháp phễu học Baermann để tách tuyến trùng ra khỏi mẫu đất Cho 1g đất vào 10ml nước cho tan đều, sau đó lấy mỗi lần 1ml nước đưa lên lam kính để đếm số lượng tuyến trùng qua kính hiểm vi Đếm số lượng tuyến trùng trên
Trang 34quang trường Lấy mẫu nước lặp lại cho đến khi hết 10ml và cộng lượng tuyến trùng đã đếm được
- Phương pháp xác định mật độ sâu xám: đếm số sâu sống trong ô thí nghiệm tại 3 điểm, mỗi điểm 3 cây Đếm số sâu sống tại các ô thí nghiệm sau khi thả 3,7 ngày
- Phương pháp xác định bọ nhảy: đếm số bọ nhảy trưởng thành trong ô thí nghiệm tại 3 điểm, mỗi điểm 3 cây Đếm số bỏ nhảy trưởng thánh trong ô thí nghiệm tại 3, 7 ngày sau trồng
Từ thí nghiệm 1 và 2 ta sẽ chọn ra được kích thước hạt và lượng bón cho thí nghiệm tiếp theo
Thí nghiệm 3: Đánh giá ảnh hưởng của bã hạt chè đến sinh trưởng của
bắp cải
Được tiến hành với thí nghiệm đồng ruộng, diện hẹp, nhắc lại 3 lần, diện tích
ô 10m2 , sử dụng kết quả của thí nghiệm 1,2
Phương pháp bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với cây bắp cải, cải xanh, cà chua
1 Xử lý với lượng 15 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
2 Xử lý với lượng 20 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
3 Xử lý với lượng 25 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
4 Xử lý với lượng 30 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
5 Xử lý với lượng 35 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
6 Xử lý với lượng 40 kg/ ha kích thước hạt 0,5-1mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin);
7 Đối chứng không xử lý
Trang 35Đánh giá mức độ tổn thương của bã hạt chè đối với cây trồng; quan sát các
triệu chứng hại của cây trồng do thuốc gây ra như vàng lá, biến màu, chùn cây v.v… vào 1,3,7,14 ngày sau sử lý (Đánh giá theo thang 9 cấp của FAO (1990)[18] Cấp 1: không có triệu chứng bị hại, cây khỏe mạnh bình thường;
Cấp 2: có triệu chứng bị hại rất nhẹ, cây hơi cằn;
Cấp 3: bị hại ở mức nhẹ nhưng các triệu chứng có thể dễ dàng nhận thấy được; Cấp 4: xuất hiện các triệu chứng hại điển hình như: mất diệp lục, biến vàng, trùn cây;
Cấp 5: giảm mật độ, cây bị mất diệp lục, biến vàng hoặc trùn nặng;
Cấp 6,7,8,9: cây bị hại rất nặng cho đến chết hoàn toàn
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu xác định kỹ thuật xử lý
Được tiến hành trên đổng ruộng đối với cây bắp cải
Nội dung nghiên cứu bao gồm:
Thí nghiệm 4: Xác định độ sâu xử lý thuốc
Bao gồm các công thức thí nghiệm:
1 Xử lý trên mặt đất có che phủ nilon;
2 Xử lý ở độ sâu 10cm có che phủ nilon;
3 Xử lý ở độ sâu 20cm có che phủ nilon;
4 Xử lý trên mặt đất không che phủ nilon;
5 Xử lý ở độ sâu 10cm không che phủ nilon;
6 Xử lý ở độ sâu 20cm không che phủ nilon;
7 Đối chứng không xử lý
Chỉ tiến hành được với tuyến trùng và bọ nhảy
Lượng sử dụng được áp dụng đồng đều ở tất cả các công thức là 30kg/ ha , kích thước hạt từ 0,5-1 mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin) Đối tượng cây trồng là bắp cải, với nguồn nhiễm tự nhiên
Phương pháp bố trí và chỉ tiêu theo dõi tương tự phương pháp thí nghiệm
đồng ruộng đánh giá khả năng phòng trừ trên đây
Đánh giá hiệu quả trừ sâu sau xử lý thuốc 3, 7 ngày thông qua xác định mật
độ tuyến trùng, bọ nhảy và sâu xám trước xử lý thuốc và sau xử lý 3, 7 ngày Hiệu
Trang 36đính hiệu lực của thuốc bằng công thức Abbot (với bọ nhảy và sâu xám) và
Henderson Tilton (với tuyến trùng)
- Chỉ tiêu theo dõi:
Xác định hiệu quả trừ sâu xám và bọ nhảy thông qua điều tra mật độ sâu còn sống trước xử lý và sau xử lý thuốc 3, và 7 ngày Hiệu đính hiệu lực của thuốc bằng công thức Abbot:
Trong đó:
H(%): Hiệu lực của thuốc tính theo %;
Ca: là số lượng cá thể sống ở công thức đối chứng sau xử lý;
Ta là số lượng cá thể sống ở công thức thí nghiệm sau xử lý
Xác định hiệu quả trừ tuyến trùng thông qua điều tra mật độ sâu còn sống trước xử lý và sau xử lý thuốc 3, và 7 ngày Hiệu đính hiệu lực của thuốc bằng công thức Henderson Tilton:
Hiệu lực của thuốc (%) =(1 - x ) x100
Trong đó:
Ta: là mật độ ở công thức thí nghiệm sau xử lý đất;
Tb:là mật độ ở công thức thí nghiệm trước xử lý đất;
Ca:là mật độ ở công thức đối chứng sau xử lý đất;
Cb:là mật độ ở công thức đối chứng trước xử lý đất
- Phương pháp điều tra, theo dõi (Cục bảo vệ thực vật – 1995) [3]
- Phương pháp xác định mật độ tuyến trùng:
Mỗi ô điều tra 10 điểm, mỗi điểm điều tra tuyến trùng xung quanh 2 gốc bắp cải Tại các điểm điều tra, lấy mẫu đất ở độ sâu 15 – 20cm xung quanh vũng rễ cây, mỗi mẫu 500g
Đưa mẫu về phòng, phơi khô, đập nhỏ, sau đó trộn đều và lấy mỗi mẫu 1g đất
để đếm số lượng tuyến trùng
Dùng phương pháp phễu học Baermann để tách tuyến trùng ra khỏi mẫu đất Cho 1g đất vào 10ml nước cho tan đều, sau đó lấy mỗi lần 1ml nước đưa lên lam kính để đếm số lượng tuyến trùng qua kính hiểm vi Đếm số lượng tuyến trùng trên
Trang 37quang trường Lấy mẫu nước lặp lại cho đến khi hết 10ml và cộng lượng tuyến trùng đã đếm được
- Phương pháp xác định mật độ sâu xám: đếm số sâu sống trong ô thí nghiệm tại 3 điểm, mỗi điểm 3 cây Đếm số sâu sống tại các ô thí nghiệm sau khi thả 3,7 ngày
- Phương pháp xác định bọ nhảy: đếm số bọ nhảy trưởng thành trong ô thí nghiệm tại 3 điểm, mỗi điểm 3 cây Đếm số bỏ nhảy trưởng thánh trong ô thí nghiệm tại 3, 7 ngày sau trồng
Thí nghiệm 5: Xác định thời gian tưới nước hợp lý để nâng cao hiệu lực của thuốc:
Được tiến hành trên đổng ruộng đối với cây bắp cải Các công thức thí
nghiệm:
1 Duy trì tưới sau xử lý 1 ngày/ lần;
2 Duy trì tưới sau xử lý 2 ngày/ lần
3 Duy trì tưới sau xử lý 3 ngày/ lần;
4 Duy trì tưới sau xử lý 4 ngày/ lần;
5 Duy trì tưới sau xử lý 5 ngày/ lần;
Chỉ tiến hành được với bọ nhảy
Lượng sử dụng được áp dụng đồng đều ở tất cả các công thức là 30kg/ ha, kích thước hạt từ 0,5-1 mm (tính theo sản phẩm tương đương chứa 15% Saponin)
Đối tượng cây trồng là bắp cải, với nguồn nhiễm tự nhiên
Phương pháp bố trí và chỉ tiêu theo dõi tương tự phương pháp thí nghiệm
đồng ruộng đánh giá khả năng phòng trừ trên đây
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê trên phần mềm IRRISTAT 4.0 và chương trình Excell
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả nghiên cứu xác định kích thước hạt phù hợp để đạt hiệu quả trừ sâu và tuyến trùng tối đa
Kích thước hạt bã chè không ảnh hưởng tới hàm lượng saponin trong sản
phẩm nhưng có ảnh hưởng tới khả năng tiếp xúc của chúng với sâu hại cũng như
khả năng liên kết với keo đất khi sử dụng để trừ các đối tượng sâu hại trong đất Khi kích thước quá lớn, khả năng tiếp xúc của chúng với sâu hại thấp, nhưng khi kích thước quá bé sẽ dễ bị keo đất giữ hoặc bị mất đi do rửa trôi, phát tán qua
không khí v.v…
Để xác định kích thước tối ưu, chúng tôi đã đánh giá thông qua hiệu quả trừ
sâu trên đồng ruộng với hai đối tượng dịch hại điển hình trong đất là tuyến trùng và sâu xám Kết quả thí nghiệm trong chậu vại ở lượng dùng 30kg thương phẩm/ ha (tính theo sản phẩm chứa 15% hoạt chất)
Đánh giá hiệu quả trừ sâu sau xử lý thuốc 3 và 7 ngày thông qua xác định mật
độ tuyến trùng trước xử lý thuốc và sau xử lý 3 và 7 ngày; mật độ bọ nhảy 3 và 7
ngày; mật độ sâu xám 3 và 7 ngày
- Đối với tuyến trùng: Kích thước hạt của bã hạt chè dùng trong thí nghiệm
có đường kính hạt từ 0 –> 5mm kết quả bảng 3.1 cho thấy kích thước hạt càng nhỏ thì hiệu quả trừ tuyến trùng càng cao
Sau 3 ngày xử lý bã hạt chè đã có hiệu lực phòng trừ đối với tuyến trùng Mật
độ tuyến trùng khi xử lý bã hạt chè ở các đường kính <3mm giảm rất nhiều so với đối chứng không xử lý, hiệu lực phòng trừ tuyến trùng đạt hiệu quả cao (81,5 –
83,9%) sau 7 ngày xử lý Ở đường kính hạt >5mm, mật độ tuyến trùng cao hơn (>
13 con/g đất), hiệu lực phòng trừ thấp hơn so với kích thước bã hạt chè <3mm (hiệu lực sau 7 ngày 62,9%) – bảng 3.1:
Trang 39Bảng 3.1: Hiệu quả trừ tuyến trùng (Meloidogyne spp) của sản phẩm bã hạt chè
chứa 15% Saponin ở các kích thước hạt khác nhau trên bắp cải
Trước xử
lý đất
Sau xử lý đất 3 ngày đất 7 ngày Sau xử lý đất 3 ngày Sau xử lý đất 7 ngày Sau xử lý
(Thí nghiệm đồng ruộng tại Song Phương Hoài Đức Hà Nội – năm 2014)
Ghi chú: Lượng dùng là 30kg thương phẩm/ ha
Trang 40(Thí nghiệm nhà lưới tại Viện môi trường nông nghiệp – năm 2014)
Hình 3.1 Xử lý đất phòng trừ tuyến trùng trên bắp cải
Hình 3.2 Phòng trừ tuyến trùng ở kích thước hạt > 5mm và 3-5mm
Hình 3.3 Phòng trừ tuyến trùng ở kích thước hạt 1-3 mm và 0,5-1 mm