ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG CÁC LOÀI THỰC VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ HIẾM VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG CÁC LOÀI THỰC VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ HIẾM VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÀ HẨU,
HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG CÁC LOÀI THỰC VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ HIẾM VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÀ HẨU,
HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi cùng với sự hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn PGS.TS Trần Thị Thu Hà Các nội dung nghiên cứu
và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực Các số liệu, các bảng biểu phục
vụ cho việc phân tích, nhận xét đánh giá được chính tác giả điều tra từ hiện trường và thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Các thông tin, tài liệu trích dẫn trình bày trong luận văn này đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Việt Phương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các nhà khoa học cùng các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Cô giáo Trần Thị Thu
Hà, đã hết sức tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới: Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Tỉnh Yên Bái, Lãnh
đạo Hạt Kiểm lâm huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên
nhiên Nà Hẩu, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian tiến hành
điều tra, nghiên cứu ngoài thực địa và cung cấp cho tôi những số liệu quan trọng
Xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên, Khoa Lâm học, Khoa Sau đại học và các thầy cô giáo trong khoa đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Đồng thời xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Yên Bái;
Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Yên Bái đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi yên tâm học tập và công tác
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về thời gian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu xót Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè
và đồng nghiệp để luận văn của tôi đực hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 9 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Việt Phương
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN v
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
3.2.1 Phạm vi không gian 3
3.2.2 Phạm vi thời gian 3
4 Ý nghĩa nghiên cứu 3
4.2.Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học về nghiên cứu thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.2.1 Những nghiên cứu về thực vật 7
1.2.2 Nghiên cứu về thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm 8
1.2.3 Hệ thống bảo tồn trên thế giới 9
1 3 Ở Việt Nam 10
1.3.2 Nghiên cứu về thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm 13
1.3.3 Hệ thống văn bản chính sách 14
1.3.4 Vấn đề bảo tồn thực vật quý hiếm ở Việt Nam 16
1.3.5 Hoạt động khai thác buôn bán thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm ở Việt Nam 20
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu [5] 22
1.4.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 30
Trang 7Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Nội dung nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 36
2.2.1.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu cơ bản 36
2.2.1.3 Thu thập số liệu ngoài thực địa 36
2.2.2 Phân tích số liệu 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 42
3.1.1 Thực trạng về bộ máy tổ chức và năng lực của ban quản lý 42
3.1.2 Thực trạng về quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng 45
3.1.3 Thực trạng về khai thác, sử dụng rừng và đất rừng 50
3 2 Đánh giá hiện trạng các loài thực vật quý hiếm trong KBTTN Nà Hẩu, huyện Văn Yên, Yên Bái 55
3.2.1 Danh lục và cấp bảo tồn các loài thực vật quý hiếm trong khu bảo tồn 55
3.2.2 Giá trị sử dụng của các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm trong khu bảo tồn 63
3.2.3 Phân bố của các loài thực vật quý hiếm theo tuyến 66
3.2.4 Phân bố của các loài thực vật quý hiếm theo trạng thái rừng 68
3.2.5 Phân bố của các loài thực vật quý hiếm theo độ cao 70
3.2.6 Tái sinh các loài quý hiếm trong khu bảo tồn 73
3.3 Đánh giá những yếu tố tác động tới việc bảo tồn các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm trong KBTTN Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 74
3.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn chủ yếu trong KBTTN Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQL : Ban quản lý
BTTN : Bảo tồn thiên nhiên
CITES : Convention on International Trade in Endangered Species of Wild
Fauna and Flora - Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực
vật hoang dã, nguy cấp
CR : Cực kì nguy cấp (Critically Endangered)
DD : Thiếu dẫn liệu (Data Deficient)
D1.3 : Đường kính thân cây tịa vị trí 1,3m
IUCN : International Union for Conservation of Nature and Natural
Resources - Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên
Thiên nhiên KBT : Khu bảo tồn
KBTTN : Khu Bảo tồn thiên nhiên
NE : Không được đánh giá (Not Evaluated)
ÔDB : Ô dạng bản
ÔTC : Ô tiêu chuẩn
VQG : Vườn quốc gia
VU : Sắp nguy cấp (Vulnerable)
WWF : Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế
Trang 9
* Viết tắt các công dụng của cây:
DTC: Đồ thủ công mỹ nghệ AND: Ăn được
TAN: Cho tanin, thuốc nhuộm
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên thế giới 9
Bảng 1.2 Số lượng loài thực vật nguy cấp quý hiếm tại một số khu rừng đặc dụng 17
Bảng 1.3: Số liệu về các chỉ tiêu khí hậu cơ bản 26
Bảng 1.4: Dân số và thành phần dân tộc xã toàn vùng quy hoạch 28
Bảng 1.5: Hiện trạng sử dụng đất đai các xã thuộc KBT (đvt: ha) 29
Bảng 1.6: Thành phần thực vật bậc cao ở Khu bảo tồn Nà Hẩu 30
Bảng 1.7: Dân số và thành phần dân tộc của các xã trong KBT 31
Bảng 3.1: Thống kê vi phạm công tác QLBVR tại KBTTN Nà Hẩu 46
Bảng 3.2: Kết quả giao khoán bảo vệ rừng, Khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 47
Bảng 3.3: Kết quả công tác tuyên truyền, tập huấn từ 2009-2014 49
Bảng 3.4 Phương thức quản lý đối với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 52
Bảng 3.5 Các loại lâm sản thường được sử dụng 53
Bảng 3.6 Phương thức quản lý đối với phân khu phục hồi sinh thái 54
Bảng 3.7: Danh sách thực vật quý hiếm ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 55
Bảng 3.8: Phân loại thực vật theo giá trị sử dụng của HTV Nà Hẩu 63
Bảng 3.9: Danh mục các loài cây quý hiếm được người dân sử dụng 65
Bảng 3.10: Số lượng loài thực vật quý hiếm phân bố theo tuyến 66
Bảng 3.11 : Bảng phân bố các loài thực vật quý hiếm theo các trạng thái rừng 69
Bảng 3.12: Bảng số lượng loài thực vật quý hiếm phân bố theo trạng thái rừng 73
Bảng 3.13: Mức độ tái sinh của các loài quý hiếm (Đvt: cây) 74
Bảng 3.14: Mức độ tái sinh của các loài quý hiếm (Đvt: cây) 75
Bảng 3.15 Phân hạng các tác động đến thực vật quý hiếm 79
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Hình 1.1: Bản đồ quy hoạch phát triển bền vững Khu BTTN Nà Hẩu giai đoạn
2013 – 2020 23
Hình 3.1: Cơ cấu Ban quản lý Khu BTTN Nà Hẩu (kiêm nhiệm) 42
Hình 3.2: Tổ chức bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng địa phương 44
Hình 3.3 Biểu đồ số vụ vi phạm qua các năm 46
Hình 3.4 Hình thái cây Pơ mu - Fokienia hodginsii (Dunn) A.Henry &H.H Thomas 58
Hình 3.5 Hình thái cây Sồi phảng Lithocarpus cerebrinus (Hickel et A Camus) A Camus 58
Hình 3.7 Hình thái cây Chò chỉ - Parashorea chinensis Wang Hsie 59
Hình 3.8 Lan Kim tuyến - Anectochilus setaceu Blumse 60
Hình 3.9 Lá khôi tím - Ardisia silvestris Pit 60
Hình 3.10: Biểu đồ tỷ lệ các loài thực vật quý hiếm ở các ngành 61
Hình 3.11: Củ cốt toái bổ - Drynaria fortunei (L) J.Sm 64
Hình 3.12: Rễ cây ba kích - Morinda officinalis How 64
Hình 3.13 : Biểu đồ phân bố loài thực vật quý hiếm theo tuyến 67
Hình 3.14: Biểu đồ phân bố loài thực vật quy hiếm theo trạng thái rừng 70
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam được ghi nhận là một trong những nước có đa dạng sinh học cao của thế giới, với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật và nguồn gen phong phú và đặc hữu [14] Đa dạng sinh học (ĐDSH) ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn, các hệ sinh thái với nguồn tài nguyên sinh vật phong phú đã mang lại những lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp to lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp vật liệu cho xây dựng và các nguồn dược liệu, thực phẩm… Ngoài ra, các hệ sinh thái còn đóng vai trò quan trọng trong điều tiết khí hậu và bảo vệ môi trường
Nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng, đem lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội nhưng cũng gây suy giảm đa dạng sinh học nghiêm trọng Theo thống kê hiện nước ta có khoảng 2,2 triệu ha rừng, trong đó có 2/3 diện tích rừng
tự nhiên được coi là rừng nghèo và tái sinh Mất rừng làm cho diện tích các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng liên tục bị thu hẹp, số lượng cá thể của các loài hoang dã đang bị suy giảm mạnh, nguồn gen hoang dã và nhiều loài hoang dã
đang có nguy cơ bị tuyệt chủng
Đứng trước những hiểm họa đó, những năm gần đây Đảng và Nhà nước
ta đã có những giải pháp nhằm bảo vệ rừng nói riêng và đa dạng sinh học nói chung Một trong những giải pháp quan trọng là việc thành lập hệ thống các khu rừng đặc dụng trên phạm vi toàn quốc Ngày 08 tháng 9 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành Chỉ thị số 194-CT về việc thành lập hệ thống rừng đặc dụng với 73 khu và được chia làm 03 loại, bao gồm: Vườn Quốc gia, Khu BTTN và khu rừng văn hóa lịch sử và môi trường
Ngày 07 tháng 02 năm 2014 Chính phủ đã ban hành Quyết định TTg phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt nam đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030 Hiện nay, hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh
Trang 13218/QĐ-quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc biệt trọng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển [36].
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu được UBND tỉnh Yên Bái phê duyệt tại Quyết định số 512/QĐ-UB ngày 09/10/2006 với tổng diện tích 16.950 ha nằm trên địa phận 4 xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và Phong Dụ thượng thuộc huyện Văn Yên Đây là khu vực có điều kiện tự nhiên đặc thù, nguồn tài nguyên động vật, thực vật phong phú, có nhiều cảnh quan đẹp, nơi hội tụ của nhiều luồng thực vật càng làm cho hệ sinh vật, đặc biệt là hệ thực vật ở đây thêm đa dạng, phong phú, nhiều loài, trong khu vực còn sự xuất hiện của nhiều loài quí hiếm [5], [6] Các hệ sinh thái tự nhiên mang tính điển hình của vùng núi phía Bắc nước ta, không chỉ có giá trị cao về đa dạng sinh học, về sinh thái, môi trường mà còn có
ý nghĩa về du lịch sinh thái, phục vụ tham quan, học tập, nghiên cứu
Mặc dù khu BTTN Nà Hẩu đã và đang được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng một số hoạt động như: khai thác gỗ củi, lâm sản và lâm sản ngoài gỗ trái phép vẫn diễn ra, đe dọa tới đa dạng sinh học đặc biệt là các loài quý hiếm và loài có vai trò quan trọng đối với các hệ sinh thái trong khu bảo tồn Nhằm mục tiêu
đánh giá nhanh hiện trạng tài nguyên thực vật rừng phục vụ cho phân loại các
kiểu rừng, đặc biệt là hiện trạng thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm để đề xuất ý kiến cho công tác phục hồi rừng, trồng rừng, bảo vệ rừng, cũng như bảo tồn thực vật
và cảnh quan trong khu vực nghiên cứu, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm và đề xuất một số giải pháp bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Góp phần nghiên cứu tính đa dạng thực vật nguy cấp, quý hiếm làm cơ sở cho việc bảo tồn nguồn gen thực vật và bảo vệ cảnh quan tại Khu BTTN Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt các mục tiêu cụ thể:
Trang 14- Xác định danh lục các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm của Khu BTTN Nà Hẩu
- Đánh giá các yếu tố tác động đến các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm
- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn có hiệu quả những loài cây quý hiếm và các loài cây có nguy cơ bị đe doạ cao tại Khu BTTN Nà Hẩu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài: các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm
trong Khu BTTN Nà Hẩu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi không gian
Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
3.2.2 Phạm vi thời gian
Đề tài được thực hiện từ tháng 6 năm 2014 đến 8 năm 2015
4 Ý nghĩa nghiên cứu
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học về nghiên cứu thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm
Như vậy thực vật mới chỉ là khái niệm chung, chưa rõ đặc trưng hay phạm
vi không gian của một đối tượng cụ thể, nó chỉ có nội hàm cụ thể khi có tính ngữ
đi kèm theo như “Thảm thực vật Yên Bái”, “Thảm thực vật cây gỗ”, hay “Thảm
thực vật cây bụi”,… Thành phần chủ yếu của thảm thực vật là cá thể của các loài cây cỏ, nhưng đối tượng nghiên cứu của thảm thực vật lại là những quần thể thực vật được hình thành do một số lượng lớn hay nhỏ những cá thể của các loài tập hợp [20]
- Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng,
vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre, nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng >0,1 Rừng gồm có rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ,
đất rừng đặc dụng (quy định trước đây được ghi trong văn bản tiêu chuẩn kĩ thuật
lâm sinh rừng phải có độ tàn che của cây gỗ từ K=0.3 trở lên) [25]
Đa dạng sinh học
Năm 1989, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã định nghĩa:
“ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật,
động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST
vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” [18] ĐDSH bao gồm 3 cấp độ:
Đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng HST Trong đó, đa dạng loài bao
gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên Trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động
Trang 16vật, thực vật và các loài nấm Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt
về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, và cả sự khác biệt của mối tương tác giữa chúng với nhau [18]
Theo Công ước đa dạng sinh học thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống gồm các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, các hệ sinh thái nước ngọt,
và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng hệ sinh thái (đa dạng HST) Nói cách khác
ĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ hợp [4]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998), đã định nghĩa “ĐDSH là toàn bộ các dạng sống khác nhau của cơ thể sống trên trái đất, gồm các sinh vật phân cắt đến động
- thực vật trên cạn cũng như dưới nước Khoa học nghiên cứu về tính đa dạng gọi
là “ĐDSH”, theo đó ĐDSH được hiểu theo 3 khía cạnh: Đa dạng ở mức độ di truyền, đa dạng ở mức độ loài, đa dạng ở mức độ sinh thái [33]
1.1.2 Cơ sở khoa học về nghiên cứu thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm
Hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đa dạng sinh học
đang ngày càng suy thoái nghiêm trọng làm cho số lượng các loài động thực vật
giảm từng ngày từng giờ, đặc biệt là các loài động, thực vật quý hiếm Chính vì vậy việc phân cấp đánh giá các loài động, thực vật để từ đó có thể đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn chúng một cách có hiệu quả là nhiệm vụ hết sức cần thiết Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của sách đỏ thế giới [42], Chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam (2007) [2], để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên Đây cũng là tài liệu khoa học được sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các qui định, luật pháp của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái Các loài được xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ
đe dọa tuyệt chủng như: tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể
(population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution) và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution
Trang 17fragmentation)
+ Tuyệt chủng (EX): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật được quy định trong Sách đỏ IUCN Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng khi có những bằng chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết
+ Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát kỹ lưỡng ở sinh cảnh đã biết và hoặc sinh cảnh dự đoán, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa năm) xuyên suốt vùng phân bố lịch sử của loài đều không ghi nhận được cá thể nào Các khảo sát nên vượt khung thời gian thích hợp cho vòng sống và dạng sống của đơn vị phân loại đó Các cá thể của loài này chỉ còn được tìm thấy với số lượng rất ít trong sinh cảnh nhân tạo và phụ thuộc hoàn toàn vào chăm sóc của con người
+ Cực kì nguy cấp (CR): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật Một loài
hoặc nòi được coi là cực kỳ nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng
trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần
+ Nguy cấp (EN): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật Một loài bị coi
là Nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần nhưng kém hơn mức cực kỳ nguy cấp
+ Sắp nguy cấp (VU): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật Một loài
hoặc nòi bị đánh giá là Sắp nguy cấp khi nó không nằm trong 2 bậc CR và Nguy
cấp (EN) nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong
một tương lai không xa
+ Sắp bị đe dọa (Near Threatened) - NT: Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật Một loài hoặc nòi bị đánh giá là Sắp bị đe dọa khi nó sắp phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa
+ Ít lo ngại (Least Concern) – LC: Bao gồm các taxon không được coi là phụ thuộc bảo tồn hoặc sắp bị đe dọa
+ Thiếu dẫn liệu (Data Deficient) - DD: Một taxon được coi là thiếu dẫn liệu khi chưa đủ thông tin để có thể đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp về nguy cơ tuyệt chủng, căn cứ trên sự phân bố và tình trạng quần thể
Trang 18+ Không được đánh giá (Not Evaluated) - NE: Một taxon được coi là không đánh giá khi chưa được đối chiếu với các tiêu chuẩn phân hạng
Dựa vào tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN và các tài liệu
kế thừa của khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu cho thấy: tại đây tồn tại rất nhiều loài
giữ nguồn gen quý giá cho đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung Cho nên việc nghiên cứu hiện trạng một số loài thực vật quý hiếm và đề xuất các phương thức bảo tồn, nhằm tránh khỏi sự mai một của các loài thực vật quý hiếm và nguồn gen của chúng là điều hết sức cần thiết
1.2 Trên thế giới
1.2.1 Những nghiên cứu về thực vật
Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần
hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm (Dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thủy) [31]
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng Trung gian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [43]
Năm 1962, G.N.Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt kín phân
bố ở các châu lục như sau (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngần) [22]:
Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài; Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam cực: 1.000 loài Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài; Nam Âu, vùng Bancăng và Capcasơ: 10.000 loài Khu vực Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.500 loài; Madagasca: 7.000 loài; Nam Phi: 6.500 loài; Bắc Phi, Angieri, Ma Rốc và các vùng phụ cận khác: 4.500 loài; Abitxini: 4.000 loài; Tuynidi và Ai cập: 2.000 loài; Xomali và Eritrea: 1.000 loài Ở Châu Á có khoảng 125.000 loài trong đó Đông Nam Á: 80.000 loài; các khu vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Tiểu Á: 8.000 loài; Viễn
Trang 19đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài;
Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài Khu vực Châu
Úc có khoảng 21.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây Nam Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan: 4.500 loài [14]
Năm 1965, Al.A.Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 - 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 - 10.000 loài quyết thực vật; 14.000 - 18.000 loài rêu; 19.000 - 40.000 loài tảo; 15.000 - 20.000 loài địa y; 85.000 - 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngần) [22]
Lecointre và Guyader (2001) (Dẫn theo giáo trình Đa dạng sinh học của
Đại học Huế, 2008 [27]) đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật bậc cao được
mô tả trên toàn thế giới như sau:
Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên thế giới
Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài mô tả % số loài được mô tả
1.2.2 Nghiên cứu về thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, do những nguyên nhân khác nhau, nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng, các nguồn tài nguyên sinh học không ngừng bị suy giảm Nhằm nâng cao nhận thức trong
xã hội và cộng đồng về tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học và tạo cứ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn, năm 1964 Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới
đã xuất bản các Bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống
danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật đang
có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới
Trang 20Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe doạ trên thế giới Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hoá như sau: loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU),…Năm 2004 Sách đỏ IUCN công bố văn bản đánh giá các loài động thực vật gọi là (Sách đỏ 2004) vào ngày
17 tháng 11 năm 2004 Văn bản này đã đánh giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài, giống, chi và quần thể Trong đó, 15.503 loài nằm trong tình trạng nguy cơ tuyệt chủng gồm 7.180 loài động vật, 8.321 loài thực vật, và 2 loài nấm Danh sách cũng công bố 784 loài tuyệt chủng được ghi nhận từ năm 1500
Như vậy so với bản danh sách năm 2000, năm 2004 đã có thêm 18 loài tuyệt chủng Mỗi năm một số ít các loài tuyệt chủng lại được phát hiện và sắp xếp vào nhóm DD Ví dụ, trong năm 2002 danh sách tuyệt chủng đã giảm xuống 759 trước khi tăng lên như hiện nay
1.2.3 Hệ thống bảo tồn trên thế giới
Trên thế giới công tác bảo tồn đã được chú trọng từ rất lâu, đặc biệt
là các nước phát triển, các vườn quốc gia khu bảo tồn đã được thành lập từ rất sớm [12], [13]
Ở Mĩ: Vườn quốc gia Yellowstone được thành lập ngày 01 tháng 3 năm
1872, là vườn quốc gia đầu tiên và xưa nhất thế giới, nổi tiếng với các loài động, thực vật hoang dã quý hiếm Với diện tích 8.980 km², bao gồm các hồ, vực, sông
và các dãy núi Khu vực này tồn tại hàng trăm loài động vật có vú, chim, cá và rùa Một số loài nguy cấp như: Sói xá; các loài bị đe dọa như: Linh miêu, Gấu xám, bò Bizon, Gấu đen, Nai sừng tấm, Nai anxet, Huơu đuôi đen, Dê núi, Linh dương sừng tỏa, Cừu sừng to và Sư tử núi Hệ thực vật ở đây cũng đa dạng và phong phú, trong vườn có 1.700 loài cây gỗ và các dạng thực vật có mạch khác là cây bản địa, khoảng 170 loài khác là loài xâm lấn không bản địa Các rừng thông chiếm 80% tổng diện tích, các loài cây lá kim như: Linh sam cận núi cao, Vân sam Engelmann, Linh sam Douglas núi Rocky và Thông vỏ trắng tồn tại thưa thớt Tại đây còn có loài Cỏ roi ngựa cát Yellowstone là loài hiếm chỉ tìm thấy tại Yellowstone Nó có quan hệ họ hàng gần với các loài sinh sống trong khu vực
Trang 21có khí hậu nóng hơn, làm cho nó trở thành kỳ dị tại đây Khoảng 8.000 cụm loài hoa hiếm này sống trên các vùng đất cát ven bờ hồ Yellowstone, ngay phía trên mực nước
Công viên quốc gia lịch sử Olympic thuộc Hoa Kỳ được thành lập vào năm
1938 Năm 1981, Công viên này đã được trang web Di sản Thế giới công nhận vẻ
đẹp tự nhiên của nó và sự đa dạng đặc biệt xuất sắc của thực vật và động vật,…
Nước Nga cũng nổi tiếng với các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, nơi lưu trữ và bảo tồn hàng ngàn các loài động thực vật quý hiếm trên thế giới như:
Vườn quốc gia Taiga chủ yếu là cây lá kim, với các loài chiếm đa số là thông rụng lá, vân sam, linh sam và thông Mặc dù rừng Taiga chủ yếu là cây lá kim, nhưng một số cây lá rộng (thực vật có hoa) cũng tồn tại, đáng chú ý là các loài
cây quý hiếm như bạch dương, dương rung, liễu và thanh hương trà (chi
Sorbus)… Bên cạnh đó một loạt các loài động vật hoang dã đang bị đe dọa hay
đang nguy cấp cũng có thể được tìm thấy trong các rừng phương bắc của Canada,
bao gồm Tuần lộc (Rangifer tarandus), Gấu nâu Bắc Mỹ (Ursus arctos horribilis), Chồn gulô (Gulo gulo) Nguyên nhân chính dẫn tới sự suy giảm của các loài này là
do bị mất môi trường sinh sống vì sự phát triển mang tính phá hủy, chủ yếu là chặt
đốn gỗ
Vườn thú bò sát Tula là một trong những cơ sở lớn nhất ở Nga mở cửa vào tháng 9/1987 Hiện tại đây có khoảng 600 loài rắn, thằn lằn, rùa, cá sấu, bò cạp, loài lưỡng cư và động vật quý hiếm đang sinh sống,…
1 3 Ở Việt Nam
1.3.1 Những nghiên cứu về thực vật
Một số công trình nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam phải kể đến đó
là Chevalier (1918) là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt
đới Châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc
Việt Nam được chia thành 10 kiểu [41]
Trang 22Năm 1953 ở Miền nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng miền Nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960)[3]
Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm
Phan Nguyên Hồng (1970) [16], phân chia kiểu thảm thực vật ven bờ biển miền Bắc Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gỗ ven biển và thực vật bãi cát trống
Trần Ngũ Phương (1970) [28] đưa ra bảng phân loại rừng ở miền Bắc Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Còn Thái Văn Trừng (1978) [37] đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân gỗ kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam theo quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay [38]
Trang 23Dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, Phan Kế Lộc (1985) [19] cũng đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần
hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau
Thái Văn Trừng (1998) [39] khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông
từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Ở nước ta, trong thực vật chí đại cương Đông Dương và các tập bổ sung
tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch [39]
Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật dự đoán con số đó có thể lên tới 10.000 đến 12.000 loài Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, năm 1997, Nguyễn Tiến Bân đã giới thiệu khái quát những đặc điểm
cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta [11]; Phan
Kế Lộc (1998) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và
291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngần) [22]
Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới
ẩm Indonesia - Malaisia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới
nam Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á [21]
Tuy nhiên, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả hầu hết chỉ tập trung nghiên cứu ở một vùng cụ thể và phần lớn các tác giả đều dựa vào khung phân loại của UNESCO (1973) trong nghiên cứu của mình (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngần) [22] Về hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam: Hầu hết các
Trang 24tác giả đều mới chỉ đưa ra con số dự đoán về hệ thực vật ở một châu lục, một quốc gia, hoặc một khu vực cụ thể Những số liệu này chưa được nghiên cứu và
điều tra đầy đủ Vì vậy, số loài thực vật hiện có chắc chắn còn dao động và cao
hơn nhiều
1.3.2 Nghiên cứu về thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm
Tuyển tập "Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)" [2] là tài liệu duy nhất công bố
một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Cuốn sách được xuất bản vào các năm 1992, 1996 dựa trên thang bậc phân hạng mức đe
doạ của IUCN 1978 và 1994 và mới nhất là năm 2007 Trong "Sách đỏ Việt Nam
(phần thực vật)" năm 2007, đã công bố 847 loài (trong 201 họ) quý, hiếm có nguy cơ
tuyệt chủng cần được gây trồng và bảo vệ
Theo công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Cơ quan quản lý CITES Việt Nam [7]) Thì các loài động thực vật hoang dã nguy cấp được sắp xếp vào phụ lục I, II, III Thuộc các phần:
Phần A Ngành động vật có dây sống (Phylumchordata)
Phần B Ngành da gai (Phylum echinodermata)
Phần C Ngành chân khớp (Phylum arthropoda)
Phần D Ngành giun đốt (Phylum annlida)
Phần E Ngành thân mềm (Phylum mollusca)
Phần G Ngành Ruột khoang (Cnidaria)
Phần H Thực vật (Plants/Flora)
Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý như là:
Nguyễn Duy Tùng (2013) [32] nghiên cứu hiện trạng các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm và đề cuất một số giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa
- Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên có 60 loài thực vật quý hiếm thuộc 38 họ, và nằm trong 2 ngành là ngành hạt Dương xỉ và ngành Hạt kín Ngành Dương xỉ xỉ có 2 loài chiếm 3,3% so với tổng số loài thực vật quý hiếm trong khu vực nghiên cứu, nghành hạt kín có 58 loài chiếm 96,7% (trong đó lớp
2 lá mầm có 44 loài chiếm 75%, lớp 1 lá mầm có 14 loài chiếm 21,7%)
Tại khu BTTN Nà Hẩu, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu (2009),
Trang 25Báo cáo điều tra hệ thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái [1] nghiên cứu hiện trạng hệ thực vật ở KBTTN Nà Hẩu đã thống kê và lập
danh mục số loài thực vật quý hiếm gồm có 27 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007)
Tóm lại, những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam còn rất ít Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà số lượng loài thực vật có giá trị đang bị giảm sút, bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn để đánh giá số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng cụ thể và cần đánh giá thường xuyên nhằm xác định được các diễn biến bất lợi theo thời gian, để đưa ra các giải pháp bảo tồn phù hợp với những loài thực vật quý hiếm có giá trị ở nước ta
1.3.3 Hệ thống văn bản chính sách
Việt Nam đã có những cam kết và hành động cụ thể để quản lý, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên động thực vật hoang dã Điều này được thể hiện bằng một loạt các văn bản, chính sách đã ra đời Các mốc quan trọng nhất trong lĩnh vực bảo tồn của Việt Nam là sự ra đời của Nghị định 18/HĐBT (1992) [15]; Nghị định 48/2002/NĐ-CP (2002) [7]; Nghị định 32/2006/NĐ - CP (2006) [8] và Nghị định 160/2013/NĐ-CP [9]
Nghị định 18/HĐBT nhằm thực hiện Điều 19 của Luật bảo vệ rừng năm
1991 [30] Nghị định này quy định danh mục các loài động thực vật rừng quý hiếm cần được bảo vệ Đây là nghị định đầu tiên có định nghĩa về các loài quý, hiếm và các loài động, thực vật hoang dã thông thường ở Việt Nam
Năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 48/2002/NĐ- CP để sửa đổi,
bổ sung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành theo Nghị định 18/HĐBT và chế độ quản lý bảo vệ Việc ban hành và thực hiện Nghị định này đã
đem lại nhiều cơ hội tồn tại cho nhiều loài động thực vật hoang dã Ví dụ, trước năm
1992, nhiều loài cây lấy gỗ bị khai thác kiệt, do không có chính sách và cơ chế quản lý, bảo vệ Sau 1992, rất nhiều các vụ việc liên quan đến việc khai thác, buôn bán và sử dụng các loài quí hiếm được quy định trong Nghị định đã bị xử phạt, truy tố theo đúng quy định Tuy nhiên, Nghị định này cũng còn một số vấn
Trang 26đề tồn tại Ví dụ, việc điều tra giám sát các loài quy định trong Nghị định (Điều 5;
6) cũng chỉ được thực hiện một phần ở các khu rừng đặc dụng mà không được thực hiện ở các khu rừng khác, nơi có các loài đó phân bố Do thiếu các tư liệu và thông tin cần thiết, việc thực thi Nghị định cũng gặp nhiều khó khăn: việc nhận dạng các loài thực vật quý hiếm, đặc biệt các sản phẩm của chúng, vi phạm đối với các loài động vật thường được quan tâm hơn là đối với các loài thực vật, mặc dù chúng đều có tên trong cùng một nhóm của Nghị định
- Nhóm II: Hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng Thực vật rừng thuộc nhóm IIA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành: ngành Thông với 10 loài và ngành Ngọc lan với 27 loài
Về cơ bản, Nghị định 32/2006/NĐ-CP đã được soạn thảo kỹ lưỡng hơn, các quy định đã được nêu rõ ràng, đặc biệt các quy định để thực thi Tuy nhiên, việc thực thi Nghị định cũng gặp các vấn đề tương tự như Nghị định 18/HĐBT Ví dụ, không có hướng dẫn nhận dạng các loài được quy định trong Nghị định, đặc biệt là các sản phẩm Việc tiến hành xử phạt các vụ vi phạm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP cũng gặp khó khăn vì khó định giá được các loài quý hiếm, do đó không áp dụng được mức độ xử phạt hoặc truy cứu trách nhiệm thích hợp
Ngày 01 tháng 7 năm 2009 Luật Đa dạng sinh học của Việt Nam chính thức có hiệu lực, danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, lưu giữ
Trang 27và bảo quản lâu dài Luật Đa dạng sinh học là một bước tiến quan trọng, tạo cơ
sở pháp lý vững chắc cho các hoạt động bảo tồn và phát triển giá trị đa dạng sinh học của Việt Nam [10]
Nhằm cụ thể hóa việc quản lý và bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm
được ưu tiên bảo vệ theo quy định của Luật Đa dạng sinh học (2008) cũng như
phù hợp với sự sửa đổi Điều 190 Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật Hình sự (2009), ngày 12 tháng 11 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ [9] Theo đó, loài thuộc Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ phải đáp ứng hai tiêu chí: (i) số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng; (ii) là loài đặc hữu hoặc có một trong các giá trị
đặc biệt về khoa học; y tế; kinh tế; sinh thái, cảnh quan, môi trường và văn hóa –
lịch sử theo quy định Dựa trên các tiêu chí này, Nghị định xác định Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ gồm 17 loài thực vật, 83 loài động vật, 15 giống cây trồng, 6 giống vật nuôi
1.3.4 Vấn đề bảo tồn thực vật quý hiếm ở Việt Nam
a Bảo tồn nguyên vị (insitu)
Việt Nam đã và đang quan tâm nhiều đến vấn đề bảo tồn loài và giá trị đa dạng sinh học [23], [24] Năm 1986, Chính phủ Việt Nam đã ra quyết định thành lập một hệ thống 87 khu bảo tồn được gọi là các khu rừng đặc dụng, trong đó có
56 VQG và KBTTN, 31 khu rừng văn hoá, lịch sử, môi trường với tổng diện tích khoảng 1.169.000ha chiếm 5,7% diện tích đất rừng Từ đó đến nay, hệ thống các khu rừng đặc dụng được bổ sung thêm cả về số lượng và diện tích Hiện nay, hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam có tổng diện tích gần 2,5 triệu hécta chiếm khoảng 7% diện tích tự nhiên toàn quốc với 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan
đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập
nước và trên biển
Theo kết quả điều tra của Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp
Trang 28Viện Điều tra Quy hoạch Rừng [36] tại 39 khu rừng đặc dụng, các trạm thực nghiệm, các khu rừng giống, các vườn cây liệu và các điểm nóng về khai thác, chế biến, buôn bán lâm sản trên toàn quốc, số lượng các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm bước đầu được thống kê cho từng khu được thể hiện tại bảng 1.2 dưới đây:
Bảng 1.2 Số lượng loài thực vật nguy cấp quý hiếm tại một số khu
rừng đặc dụng
Trang 29Trong số các khu rừng đặc dụng, nhiều nơi được thành lập với mục đích
để bảo tồn loài thực vật nguy cấp, quý hiếm như: VQG Ba Bể (Bắc Kạn) để bảo
tồn loài Nghiến, Đinh; VQG Ba Vì (Hà Nội) bảo tồn loài Bách xanh, Mỡ Hải nam; VQG Bến En (Thanh Hóa) để bảo tồn Lim xanh; VQG Hoàng Liên (Lào Cai) để bảo tồn các loài cây thuốc và Pơ mu; VQG Pù Mát (Nghệ An) bảo tồn loài Sa mộc dầu, Pơ mu; KBT Earal và Trấp Ksơ (Đắc Lắc) để bảo tồn loài Thông nước và VQG York Đôn (Đắc Lắc) để bảo tồn các loài cây họ dầu Nhìn chung, những loài thực vật được bảo tồn tương đối tốt trong hệ thống các khu đặc dụng Tuy nhiên, hiện tượng khai thác đơn lẻ (từng cây), bất hợp pháp vẫn xảy ra ở một số nơi, vào một thời điểm nhất định, đặc biệt đối với một số loài có giá trị kinh tế cao (Sưa, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Sâm ngọc linh và Gõ đỏ)
b Bảo tồn chuyển vị (Ex situ)
Trang 30Bảo tồn chuyển vị là cách thức di chuyển đối tượng bảo tồn khỏi vị trí mà chúng tồn tại Thường cách thức này được áp dụng đối với những đối tượng có nguy cơ bị
đe dọa và tuyệt chủng cao, những loài đặc biệt quý hiếm trong tự nhiên Với hình thức
này, đối tượng bảo tồn có thể được lưu giữ trong ngân hàng gien, bảo tàng hoặc cũng có thể di chuyển đối tượng cần bảo tồn đến vị trí, địa điểm phù hợp hơn Việt Nam đã xây dựng được hệ thống các Vườn thực vật, lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng, vườn cây thuốc để bảo tồn các loài quý hiếm Có nhiều loài cây rừng bản địa đã được nghiên cứu
và đưa vào gây trồng thành công Bảo tồn chuyển vị đã đóng góp đáng kể cho cho hoạt
động bảo tồn các loài thực vật đã và đang bị diệt chủng ngoài tự nhiên [17]
(1) Các khu rừng thực nghiệm
Các khu rừng thực nghiệm bao gồm các vườn cây gỗ, vườn thực vật, vườn sưu tập cây rừng và các lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng Theo hệ thống phân hiện hành, rừng thực nghiệm, nghiên cứu khoa học được xếp trong hệ thống các khu rừng đặc dụng Theo kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng năm 2006, Việt Nam
có 17 khu rừng thực nghiệm với tổng diện tích là 8.516 ha Một số khu rừng thực nghiệm điển hình như: Vườn cây gỗ Trảng Bom (huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai) có 155 loài thực vật, Thảo cẩm viên Sài gòn với hơn 100 loài cây, vườn cây gỗ của Trạm thí nghiệm Lâm sinh Lang Hanh (huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng), vườn cây gỗ Mang Lin (thành phố Đà Lạt), vườn Bách Thảo Hà Nội cũng là nơi lưu giữ hàng trăm loài cây, trong đó có nhiều loài cây quý hiếm
(2) Vườn cây thuốc
Ngoài hệ thống các vườn cây thuốc của các hộ gia đình làm nghề thuốc nam
và thuốc bắc hiện nay có một số vườn cây thuốc đã được thành lập, trở thành nơi lưu giữ, bảo tồn và phát triển những loài cây có giá trị trong đó có nhiều loài trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP:
Trạm cây thuốc Sa Pa (Viện Dược liệu - Bộ Y tế) đã sưu tập được khoảng
63 loài ở độ cao 1.500 m, trong đó có nhiều loài quý hiếm như: Hoàng liên gai (Berberis julianae), Hoàng liên bắc (Coptis chinensis), Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus) và Tam thất hoang (Panax stipuleanatus)
Trạm cây thuốc Tam Đảo đã có khoảng 175 loài, ở độ cao 900m Trạm cây
Trang 31thuốc Văn Điển (Hà Nội) có 294 loài
Vườn trường Đại học Dược Hà Nội có 134 loài
Vườn Học viện Quân Y có 95 loài
Trung tâm giống cây thuộc Đà Lạt có 88 loài ở độ cao 1500 m
Trung tâm Sâm Việt Nam có 6 loài (trong đó có sâm ngọc linh)
Tuy nhiên, hoạt động bảo tồn ngoại vi ở Việt Nam còn một số tồn tại như:
- Thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết Hệ thống các vườn thực vật, vườn cây gỗ, lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng hiện có thường được quy hoạch, thiết kế chưa có hệ thống, chưa có tính chất chuyên đề, chuyên sâu hay
đại diện cho từng vùng sinh thái và trên phạm vi toàn quốc
- Hoạt động sưu tập chưa chú ý tới các loài quý hiếm; chưa có vườn thực vật nào lưu trữ được hơn 500 loài (không kể các loài thực vật tự nhiên có sẵn trong quá trình quy hoạch)
- Năng lực chuyên môn của cán bộ làm công tác bảo tồn còn hạn chế
- Vấn đề bảo tồn exsitu chưa được quan tâm đúng mức trong các chủ trương chính sách về bảo tồn thiên nhiên Cho đến nay mới chỉ có một số văn bản như: Quyết định 225/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp có nói đến vườn thực vật [34]; Quyết
định 86/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quy hoạch tổng thể hệ
thống bảo tàng tự nhiên Việt Nam đến năm 2020 [35] Chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện các hoạt động bảo tồn ngoại vi
- Các loài thực vật nguy cấp quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam [2] và Nghị
định 32/2006/NĐ-CP [8] chưa được quan tâm bảo tồn đúng mức trong hệ thống bảo
tồn chuyển vị Một số nơi do thiếu kinh phí hoạt động nên các hoạt động bảo tồn và phát triển các loài thực vật nguy cấp quý hiếm bị lãng quên
1.3.5 Hoạt động khai thác buôn bán thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm ở Việt Nam
Thực trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển bất hợp pháp thực vật hoang dã
ở Việt Nam là vấn đề phức tạp Trong giai đoạn từ năm 2006, mỗi năm có gần 50.000
tấn thực vật hoang dã bị khai thác và buôn bán bất hợp pháp (Theo Cục Kiểm lâm -
Trang 32Việt báo số 28/2/2006) Hiện nay, Việt Nam có 5 điểm nóng về buôn bán động thực vật hoang dã, gồm Nghệ An, Hà Nội, TP.HCM, Quảng Ninh và Lạng Sơn (TRAFFIC
- 2010) Đây là những khu vực trọng điểm tập kết động thực vật hoang dã để vận chuyển sang Trung Quốc tiêu thụ Nếu chỉ đề cập đến thực vật, tình trạng các loài bị nguy cấp ngày càng tăng về số lượng và mức độ đe dọa trong khoảng 15 năm trở lại
đây Trong Sách Đỏ Việt Nam 1996, Việt Nam có 24 loài thực vật thuộc diện nguy
cấp thì đến Sách Đỏ 2004, Việt Nam có 191 loài, và Sách Đỏ 2007 đã liệt kê 196 loài (trong đó có 45 loài rất nguy cấp) Ngoài việc số lượng loài bị đe dọa đã tăng lên đáng
kể, mức độ bị đe dọa ở cấp cao nhất cũng tăng thêm Một số lượng lớn các loài trước
đây còn được xếp trong thứ hạng sắp nguy cấp thì nay đã phải chuyển sang thứ hạng
nguy cấp Các mối đe dọa chính đối với các loài thực vật nguy cấp quý hiếm vẫn là: khai thác ráo riết, mất môi trường sống và một số loài có khả năng tái sinh thấp
Theo mục đích và mức độ khai thác, buôn bán sử dụng, các loài thực vật nguy cấp quý hiếm được phân chia thành các nhóm sau:
- Những loài cho giá trị kinh tế đặc biệt, đã bị săn lùng ráo riết trong những năm 2006, 2007, 2009, 2010 (hiện nay tạm lắng xuống) như: Sưa (khoảng 8 tỷ
), Hoàng đàn, Thủy tùng (khoảng 300 triệu đồng/m2)
- Những loài cho gỗ, có giá trị cao đang bị săn lùng bào gồm các loài: Gõ đỏ, Trắc, Cẩm lai, Lim xanh, Nghiến, Mun Trong 6 tháng đầu năm 2010, lực lượng Kiểm lâm Lạng Sơn đã thu giữ được 9.386 cục thớt nghiến Trong năm 2008, lực lượng Kiểm lâm của VQG Yok Đôn (Đắc Lắc) phát hiện hơn 250 vụ khai thác gỗ trái phép với gần 650 cây gỗ thuộc nhóm quý hiếm như Cẩm lai, Giáng hương Trong quý I và quý II năm 2010, lực lượng kiểm lâm VQG Bù Gia Mập đã phát hiện khối lượng gỗ gõ đỏ và cẩm lai bị khai thác trộm ước tính hơn 200 m2
- Những loài cho sản phẩm dược liệu có giá trị cao trên thị trường, có vùng phân bố hẹp đang bị săn lùng ráo riết: Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Hoàng liên gai, Lan một lá, Lan kim tuyến So với các loài cây gỗ, những vụ khai thác vận chuyển những loài này ít bị bắt giữ và xử lý trước pháp luật do quy
mô khai thác và số lượng bị bắt giữ ít Bên cạnh đó các lực lượng chức năng cũng ít chú ý tới nhóm loài phi gỗ này Tình trạng người dân vào rừng thu hái các loài
Trang 33trên vẫn xảy ra, ngay cả trong các khu rừng đặc dụng Các hoạt động vào rừng khai thác Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Hoàng liên gai… diễn ra ngoài tầm kiểm soát của cơ quan chức năng Ngày 23/10/2010, Vườn Sâm ngọc linh ở xã Măng Rí (Tu
Mơ Rông, Kon Tum) đã bị mất trộm hơn 1300 cây Sâm ngọc linh
- Những loài bị săn lùng với mục đích làm cảnh: các loài lan hài, lan kim tuyến, thạch hộc bách xanh, đỉnh tùng và các loài tuế Tuy các loài này bị khai thác chỉ ở một số địa phương nhất định, nhưng số lượng cá thể bị lấy ra khỏi rừng cũng tương
đối lớn Ví dụ, xung quanh vùng đệm VQG Ba Vì (Hà Nội) số lượng cây bách xanh được xuất bán ở các vườn ươm cũng đến hàng vạn cây Các loài lan hài rất dễ tìm mua
ở các chợ cây cảnh lớn của Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn khác
- Những loài khác trong danh mục Sách đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định
số 32/2006/NĐ-CP tuy không bị khai thác rầm rộ và buôn bán trên quy mô rộng lớn nhưng vẫn bị khai thác đơn lẻ ở từng địa phương Theo đánh giá của TRAFFIC, số vụ buôn bán trái phép bị phát hiện, bắt giữ chỉ chiếm 10% tổng số vụ trên thực tế Nếu tình trạng này không được ngăn chặn Việt Nam sẽ có nguy cơ mất mát không thể thay thế
về đa dạng sinh học, về nguồn gien; một số loài thực vật hoang dã sẽ biến mất khỏi tự nhiên
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu [5]
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý, diện tích và ranh giới
Khu BTTN Nà Hẩu thuộc địa phận của bốn xã phía Nam của huyện Văn Yên: xã Nà Hẩu, xã Đại Sơn, xã Mỏ Vàng và xã Phong Dụ Thượng, cách trung tâm thị trấn Mậu A, Huyện Văn Yên 30 km
Trang 34Hình 1.1: Bản đồ quy hoạch phát triển bền vững Khu BTTN Nà Hẩu
- Phía Bắc giáp các xã Xuân Tầm, Tân Hợp, Đại Phác huyện Văn Yên
- Phía Đông giáp xã Viễn Sơn huyện Văn Yên
- Phía Đông – Nam giáp huyện Trấn Yên
- Phía Nam giáp huyện Văn Chấn
Trang 35- Phía Tây và Tây – Nam giáp huyện Mù Cang Chải
- Phía Tây Bắc giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai
Tổng diện tích tự nhiên khu vực 4 xã là 43.850ha, chiếm 31,6% tổng diện tích (27 xã) toàn huyện
b) Địa hình - địa thế
Khu BTTN Nà Hẩu nằm trong vùng địa hình đồi núi trung bình và cao thuộc lưu vực sông Hồng của dãy Hoàng Liên Sơn Nhìn toàn cảnh, các dãy núi cao phổ biến từ 1000-1400m, chạy theo hướng từ Tây – Bắc đến Đông – Nam và thoải dần về phía Đông – Bắc Cao nhất trong khu vực là đỉnh núi ở phía Nam, là
điểm tiếp giáp ranh giới giữa Nà Hẩu – Phong Dụ Thượng và Văn Chấn, cao
khoảng 1783m Tiếp đến là đỉnh phía Bắc thuộc Núi Khe Vàng cao 1412m, là
điểm tiếp giáp ranh giới của ba xã Xuân Tầm, Đại Sơn và Phong Dụ Thượng
Khu BTTN Nà Hẩu là đầu nguồn của hai lưu vực suối lớn chảy theo hướng Bắc đổ ra sông Hồng, đó là lưu vực Ngòi Thia trên địa phận ba xã Nà Hẩu,
Đại Sơn và Mỏ Vàng, lưu vực thứ hai trên địa phận xã Phong Dụ Thượng thuộc
Ngòi Hút Phân chia giữa hai lưu vực này chính là dãy núi cao 1000m nối 2 đỉnh cao nhất kể trên, là ranh giới giữa Phong Dụ Thượng với Nà Hẩu và Đại Sơn
Khu vực có các kiểu địa hình chính sau đây:
- Kiểu địa hình núi cao (N1);
- Kiểu địa hình Núi trung bình (N2);
- Kiểu địa hình Núi thấp (N3);
- Kiểu địa hình Đồi (Đ);
- Kiểu địa hình thung lũng và địa (T)
Trang 36c) Địa chất, thổ nhưỡng
KBT có quá trình hình thành và phát triển địa chất rất phức tạp với nhiều kiểu dạng địa hình và đá mẹ khác nhau, nên có nhiều loại đất được hình thành trong khu vực Chủ yếu gồm các loại đất Feralit với tầng đất được phong hoá từ
đá trầm tích, đá mác ma và đá vôi Những nhóm loại đất chính có trong khu vực
gồm:
Đất alít có mùn trên núi cao, được hình thành trong điều kiện mát ẩm, độ
dốc lớn, không đọng nước, tầng mùn nhiều, phân bố trên các đỉnh núi cao trên 1400m, chủ yếu tập trung ở phía Nam của Khu bảo tồn
Đất feralit có mùn trên núi cao và núi trung bình, được hình thành trong điều kiện ẩm mát, không có kết von và nhiều mùn Nhóm loại đất này phân bố
tập trung ở các đai độ cao từ 700m đến 1400m
Đất feralit đỏ vàng phát triển trên vùng đồi và núi thấp, được hình thành
với quá trình feralitic rất mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào đá mẹ và độ
ẩm Nhóm loại đất này phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 700m
Đất dốc tụ chân đồi và ven suối, là loại đất tốt, thích hợp với việc canh tác
nông nghiệp, phân bố chủ yếu ở vùng thấp dưới 400m hoặc vùng thung lũng và bồn địa Đất có tầng dày, màu mỡ
Đất biến đổi do trồng lúa, là loại đất bị biến đổi do canh tác lúa nước, đất
chua, quá trình glây hoá mạnh
d) Khí hậu, thủy văn
Khí hậu đặc trưng của khí hậu nhiệt đới núi cao, hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng tư đến tháng 10, thời tiết nóng và ẩm; Mùa khô từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh và khô
Trang 37Bảng 1.3: Số liệu về các chỉ tiêu khí hậu cơ bản năm 2013
Chỉ tiêu/Trạm Văn Chấn Lục Yên
Trang 38Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 220C đến 230C Tổng bức xạ 147 Kcl/cm2 (nằm trong vành đai nhiệt đới)
Mùa lạnh chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông – Bắc, nhiệt độ trung bình các tháng này thường dưới 200C, nhiệt độ thường thấp nhất vào thàng 1 hàng năm với trung bình là 15,10C
Mùa nóng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, thời tiết luôn nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình trên 250C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7, với nhiệt độ trung bình tháng bảy từ 27,6 đến 280C
Chế độ mưa ẩm:
Lượng mưa trung bình năm từ 1547mm đến 2126mm, tập trung gần 90% lượng mưa vào mùa mưa, hai tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7 và tháng 8 hàng năm
Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm hơn 10% tổng lượng mưa cả năm Hạn hán
ít khi xảy ra
Độ ẩm không khí bình quân năm khoảng 84 – 86%
Với lượng mưa tương đối cao và số ngày sương mù trong năm khoảng 40 ngày cho nên nguồn nước trong khu vực tương đối dồi dào Các con suối chính thường có nước quanh năm Lượng nước đảm bảo cho sinh hoạt cũng như sản xuất nông nghiệp ở các xã Tuy nhiên, vùng thượng nguồn các con ngòi, suối thường dốc nên vào mùa mưa có thể xảy ra lũ quét
e) Hiện trạng tài nguyên rừng và sử dụng đất
Khu BTTN Nà Hẩu được thành lập theo Quyết định số 512/QĐ-UB ngày 09/10/2006 của UBND tỉnh Yên Bái với diện tích 16.950 ha nằm trên địa bàn các
xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Phong Dụ Thượng, Mỏ Vàng
Hiện trạng sử dụng đất các xã trong vùng được thống kê ở bảng 1.4
Trang 39Bảng 1.4: Hiện trạng sử dụng đất đai các xã thuộc KBT (đvt: ha)
Xã
Các loại đất đai
Nà Hẩu
Đại
Sơn
Mỏ Vàng
Dụ Thượng Tổng
(Nguồn: Số liệu Ban quản lý Khu BTTN Nà Hẩu tháng 11 năm 2013)
Trong diện tích được xác định là khu bảo tồn có 470,04ha đất nông nghiệp (chiếm 2,9%) Đất lâm nghiệp, đất đồi chưa sử dụng và núi đá là 16.452,64ha (chiếm 97,1%) Đất ở nông thôn 27,32ha (chiếm 0,2%) Sau rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Yên Bái, theo Quyết định số 325/QĐ-UBND ngày 15/3/2007 của UBND tỉnh Yên Bái, diện tích vùng lõi Khu bảo tồn là 16.950 ha và vùng
Trang 40(Nguồn: Số liệu Ban quản lý Khu BTTN Nà Hẩu tháng 11 năm 2013)
- Tính đa dạng phân loại cao, bình quân 1 bộ có 3,18 họ, 1 họ có 2,39 loài
- Có nhiều nguồn gen quí hiếm có giá trị bảo tồn cao không chỉ trong nước mà cả trên phạm vi quốc tế Trong đó, có 28 loài có tên trong Sách đỏ
Tính đa dạng thành phần động vật ở Nà Hẩu rất cao, không thua kém các Khu bảo tồn thiên nhiên và các Vườn quốc gia khác về số lượng loài và họ, bộ
Hệ thực vật tại vùng lõi của KBT hiện nay có 516 loài thuộc 332 chi và 126 họ thuộc 5 ngành là ngành Thông đất (Lycopodiophyta), ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta), ngành Dương xỉ (Polyopodiophyta), ngành Hạt trần (Gymnospermoc) và ngành Hạt kín (Angiospermac)