1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu

92 521 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 9,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của một số chế phẩm điều hoà sinh trưởng đến sự đậu hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng cam Đường Canh .... Đề cập các nguyên nhân ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng s

Trang 1

HOÀNG ĐÌNH QUÂN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG CAM ĐƯỜNG CANH TẠI HUYỆN TAM ĐƯỜNG,

TỈNH LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

HOÀNG ĐÌNH QUÂN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG CAM ĐƯỜNG CANH TẠI HUYỆN TAM ĐƯỜNG,

TỈNH LAI CHÂU

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số ngành: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THẾ HUẤN

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được các thông tin trích dẫn và chỉ rõ nguồn gốc

Thái nguyên, tháng 11 năm /2015

Tác giả luận văn

Hoàng Đình Quân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp của mình, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Ủy ban nhân dân huyện Tam Đường; Ủy ban nhân dân

xã Bản Giang; các hộ dân và các đồng nghiệp

Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thế Huấn thầy là

người trực tiếp hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn khoa Sau đại học, khoa Nông học và các thầy cô

đã tham gia giảng dạy chương trình cao học của Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, đã giúp đỡ và tham gia các ý kiến quý báu cho luận văn Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn đến các đồng chí, đồng nghiệp đã giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái nguyên, tháng 11 năm /2015

Tác giả luận văn

Hoàng Đình Quân

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Yêu cầu của đề tài 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tế của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học 4

1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón và chất điều tiết sinh trưởng 4

1.1.3 Cơ sở khoa học của việc sử dụng biện pháp cắt tỉa 5

1.2 Nguồn gốc cam quýt 5

1.3 Tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ cam trên thế giới 6

1.4 Tình hình sản xuất và các vùng trồng cam, quýt ở Việt nam 8

1.4.1 Tình hình sản xuất cam quýt 8

1.4.2 Các vùng trồng cam quýt chính ở Việt Nam 9

1.5 Đặc điểm thực vật học, yêu cầu sinh thái, giá trị sử dụng, kinh tế của cây cam 12

1.5.1 Đặc điểm thực vật học của cây cam 12

1.5.2 Yêu cầu sinh thái của cây cam 13

1.5.3 Giá trị kinh tế của cây cam, quýt 17

1.5.4 Đặc điểm ra hoa đậu quả của cam quýt 18

1.6 Một số nghiên cứu về cây cam quýt 21

1.6.1 Các nghiên cứu trong nước 21

1.6.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài 24

1.7 Giới thiệu khái quát về cây cam Đường Canh 26

Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng, vật liệu, đại điểm và thời gian nghiên cứu, 27

2.1.1 Đối tượng 27

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 27

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 27

Trang 6

2.1.4 Thời gian nghiên cứu 27

2.2 Nội dung nghiên cứu 27

2.3 phương pháp nghiên cứu 28

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học 28

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam Đường Canh 29

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu và tính toán 33

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Điều kiện tự nhiên, hiện trạng sử dụng đất, kêt quả phân tích đất của vùng nghiên cứu 34

3.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 34

3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất tại xã bản Giang 36

3.1.3 Kết quả đánh giá về các phẫu diện thổ nhưỡng chính tại xã Bản Giang 38

3.2 Nghiên cứu, đánh giá các đặc điểm nông sinh học của cây cam Đường Canh và tình hình sâu bệnh hại 40

3.2.1 Khả năng sinh trưởng các đợt lộc của cây cam Đường Canh 40

3.2.2 Đặc điểm hình thái lá cây cam Đường Canh 42

3.2.3 Đặc điểm hình thái cây cam Đường Canh 43

3.2.4 Tình hình sâu bệnh hại trên cây cam ĐườngCanh 43

3.3 Ảnh hưởng của một số chế phẩm điều hoà sinh trưởng đến sự đậu hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng cam Đường Canh 45

3.4 Ảnh hưởng của một số Phân bón qua lá đến sự đậu hoa, đậu quả, năng suất, cam Đường Canh 50

3.5 Ảnh hưởng của một số biện pháp cắt tỉa đến động thái sinh trưởng của quả và năng suất cam Đường Canh 54

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

I Kết luận 58

II Kiến Nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới đến năm 2012 6

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng cây có múi năm 2005- 2011 8

Bảng 1.3: Một số yêu cầu ngoại cảnh của cam 15

Bảng 3.1 Số liệu khí tượng trung bình của huyện Tam Đường 2014 - 2015 35

Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất tại xã bản Giang 37

Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu của phẫu diện thổ nhưỡng tại xã bản Giang 38

Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả phân tích mẫu đất nông hóa tại xã bản Giang 40

Bảng 3.5: Khả năng sinh trưởng các đợt lộc 41

Bảng 3.6: Đặc điểm hình thái lá của cam Đường Canh 42

Bảng 3.7: Đặc điểm hình thái cây cam Canh 43

Bảng 3.8: Tình hình sâu bệnh hại trên cây cam Đường Canh 44

Bảng 3.9: Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và Atonic đến khả năng ra hoa và đậu quả của Cam Đường Canh 45

Bảng 3.10: Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và Atonic đến động thái rụng quả của Cam Đường Canh 46

Bảng 3.11: Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và Atonic đến động thái sinh trưởng quả của Cam Đường Canh 47

Bảng 3.12: Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và Atonic đến năng suất của Cam Đường Canh 49

Bảng 3.13: Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và Atonic đến chất lượng của Cam Đường Canh 49

Bảng 3.14: Ảnh hưởng của việc phun phân bón qua lá siêu Kali và Boom đến khả năng ra hoa, đậu quả của Cam Đường Canh 50

Bảng 3.15: Ảnh hưởng của việc phun phân bón qua lá Siêu kali và Boom đến động thái rụng quả của Cam Đường Canh 51

Bảng 3.16: Ảnh hưởng của việc phun phân bón qua lá Siêu Kali và Boom đến động thái sinh trưởng quả của Cam Đường Canh 52

Trang 9

Bảng 3.17: Ảnh hưởng của việc phun phân bón qua lá Siêu Kali và Boom đến

các yếu tố cấu thành năng suất của Cam Đường Canh 54 Bảng 3.18: Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa đến động thái sinh trưởng quả

của Cam Đường Canh 55 Bảng 3.19: Ảnh hưởng của việc áp dụng các biện pháp cắt tỉa đến năng suất

Cam Đường Canh 56

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 3.1: Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và Atonic

đến động thái sinh trưởng quả của Cam Đường Canh 48 Hình 3.2: Ảnh hưởng của việc phun phân bón qua lá Siêu Kali và Boom đến

động thái sinh trưởng quả của Cam Đường Canh 53 Hình 3.3: Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa đến động thái sinh trưởng quả

của Cam Đường Canh 56

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cam là cây ăn quả được trồng phổ biến ở nước ta, được người tiêu dùng trong nước và bạn bè Quốc tế ưa thích Quả Cam có thể sử dụng ăn tươi, chế biến nước giải khát, rượu, bánh, mứt, kẹo, bột dinh dưỡng, cam nước đường Quả cam có giá trị dinh dưỡng cao, có lợi cho sức khỏe của người sử dụng, đặc biệt là người bị bệnh Trung bình với mỗi 100g quả cam chứa 87,6g nước, 1.104 microgram Carotene - một loại Vitamin chống oxy hóa, 30 mg Vitamin C, 0,3 mg Vitamin B2, 0,3 mg Vitamin B3, 10,9g chất tinh bột, 93 mg Kali, 26 mg Canxi, 9

mg Manegium, 0,3 g chất xơ, 4,5 mg Natri, 7 mg Chlorium, 20 mg Photpho, 0,32

mg Sắt, 48 K.calo Trong quả cam còn chứa nhiều hợp chất khác có khả năng chống oxy hóa cao gấp 6 lần so với Vitamin C như: Hesperidin từ Flavanoid, có nhiều trong lớp vỏ xơ trắng, màng bao múi cam, trong tép và hạt cam, có khả năng giảm Cholesterol, chất Phytochemical (gồm các chất dưỡng da và chống lão hóa) chứa trong mỗi quả cam khoảng 170 mg Trong y dược người ta thống kê được 14 tác dụng của cam trong việc chữa trị cảm lạnh, viêm phế quản và hen suyễn, lão hóa da, giữ tinh binh khỏe mạnh, trị chứng táo bón, viêm khớp, xơ cứng động mạch, phòng, chống ung thư, giảm cholesterol, trị bệnh tim, cao huyết áo, tăng cường hệ thống miễn dịch, bảo vệ da và chống lại sự viêm, xoa dịu các cơn đau ruột, dạ dày, gan và thúc đẩy nhanh quá trình liền sẹo Lá, hoa, vỏ cây và quả cam đều có thể dùng để hãm thành nước uống có vị đắng nhẹ và hương vị đặc trưng, giúp hạ hỏa, mất ngủ, xoa dịu rối loạn chức năng lưu thông máu

Cam không chỉ có giá trị sử dụng trong y dược cao, mà còn là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn Năng suất trung bình (NSTB) đạt khoảng 12 tấn/ha, giá trị 300-400 triệu đồng, cao gấp 8-10 lần so với trồng lúa, ngô, nhiều diện tích cam ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long đạt 50 tấn quả/ha, gía trị đạt 800 triệu đến 1 tỷ đồng/ha Cam không chỉ góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn giúp người trồng cam tăng thu nhập và làm giàu

Trang 12

Theo số liệu thống kê của Phòng Nông nghiệp&PTNT huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, diện tích cây ăn quả có múi trên địa bàn huyện còn rất khiêm tốn, mới đạt khoảng trên 70 ha, trong đó diện tích trong thời kỳ KTCB khoảng 50 ha (chủ yếu là các giống cam Đường Canh, Cam V2, Cam Sành, Cam Vinh), diện tích trong thời kỳ kinh doanh trên 20 ha (Cam Đường Canh, được trồng tập trung tại xã bản Hon, xã bản Giang), NSTB mới đạt gần 3,0 tấn/ha, sản lượng gần 60 tấn, giá trị kinh tế ước trên 500 triệu đồng Chất lượng sinh hóa quả còn thấp, nhiều quả ngọt nhạt, quả nhỏ (12-15 quả/kg), mã quả chưa đẹp (không bóng) Tuy nhiên tại một số

hộ không ít cây Cam Đường Canh cho thu 150 - 200 kg quả/cây, giá trị 2 - 3 triệu đồng Trong 3 năm trở lại đây cây cam tại huyện Tam Đường được Lãnh đạo tỉnh

và huyện quan tâm đầu tư phát triển Dự kiến đến 2018 trên địa bàn huyện sẽ hình thành vùng sản xuất cam hàng hóa với quy mô 300ha, năng suất bình quân 10-12 tấn/ha, giá trị ước đạt 60-90 tỷ đồng Đề cập các nguyên nhân ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng cam Đường Canh ở Tam Đường các nhà

kỹ thuật, trồng trọt xác định có nhiều nguyên nhân, nhưng có chung nhận định đó là các biện pháp kỹ thuật chăm sóc trên vườn chưa được chú trọng, dẫn đến tỷ lệ đậu quả thấp, quả non rụng sau tắt hoa nhiều, quả nhỏ, mã quả xấu, sinh hóa quả kém Để khắc phục các vấn đề trên cần giải pháp đồng bộ và sát thực tiễn của địa

phương Vì vậy, việc triển khai đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam Đường Canh tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu” ngoài ý nghĩa khoa học, còn có tính thực tiễn cao, góp phần nâng

cao tỷ lệ đậu quả, hạn chế rụng quả, cải thiện màu sắc quả và chất lượng quả, thúc đẩy sự phát triển cây ăn quả có múi trên địa bàn, nâng cao thu nhập và làm giàu cho người trồng cam

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Xác định đặc điểm nông sinh học của cam Đường Canh và ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật như sử dụng phân bón qua lá, chế phẩm điều hòa sinh trưởng và các phương pháp cắt tỉa đến năng suất, phẩm chất cam Đường Canh Từ

đó đề xuất các phương pháp thích hợp góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất của cam Đường Canh tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu

Trang 13

3 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu được đặc điểm nông sinh học của cây Cam Đường Canh trồng tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

- Đánh giá được ảnh hưởng của một số chế phẩm điều hòa sinh trưởng đến tỷ lệ đậu quả, năng suất, chất lượng sinh hóa quả Cam Đường Canh tại huyện Tam Đường

- Đánh giá được ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến tỷ lệ đậu quả, năng suất Cam Đường Canh trồng tại huyện Tam Đường

- Đánh giá được ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất của cây cam Đường Canh tại huyện Tam Đường

4 Ý nghĩa khoa học và thực tế của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những thông tin có giá trị về:

- Thực trạng sản xuất cây ăn quả có múi nói chung, cây Cam Đường Canh nói riêng, các nguyên nhân ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng cam tại huyện Tam Đường

- Ảnh hưởng của một số chế phẩm điều hòa sinh trưởng, phân bón qua lá đến tỷ lệ đậu quả, rụng quả non và sinh hóa quả Cam Đường Canh tại huyện Tam Đường

- Là tài liệu tham khảo trong đào tạo và tập huấn

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật

nâng cao tỷ lệ đậu hoa, hạn chế rụng quả, tăng năng suất, chất lượng quả

Tìm ra các biện pháp kỹ thuật phù hợp với cây cam Đường Canh đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất ở Tam Đường

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học

Một năm cam quýt thường ra 3- 4 đợt lộc ( lộc Xuân Hè, Hè, Thu, Đông) việc này tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng Quá trình ra lộc ở cam quýt ảnh hưởng đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và bộ cây trên mặt đất, quá trình ra lộc năm nay là tiền đề cho quá trình ra lộc năm sau Nếu có các biện pháp kỹ thuật hợp lý để điều chỉnh sự

ra lộc của cây sẽ hạn chế hiện tượng ra quả cách năm, phát triển các cành mẹ, tạo sự cân đối giữa các bộ phận của cây, hạn chế sâu bệnh hại, làm tăng năng suất và chất lượng cam quýt Từ đó có thể thấy, việc nghiên cứu quá trình ra lộc, mối liên hệ giữa các đợt lộc trong năm của cây là những điều thiết thực cho việc tìm ra các biện pháp kỹ thuật cần thiết cho cây

Trong quá trình sinh trưởng, phát triển tạo năng suất phẩm chất thì các chất dinh dưỡng đều có vai trò quan trọng đối với cây trồng Các chất này được người trồng cung cấp vào đất qua rễ hấp thụ cho cây, ngoài ra người trồng có thể cung cấp trực tiếp cho cây bằng cách phun qua lá Biện pháp này bổ sung nhanh chóng một vài yếu tố cho cây nhằm hạn chế kịp thời tác động xấu do thiếu dinh dưỡng gây ra

1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón và chất điều tiết sinh trưởng

Phân bón qua lá thường gồm 3 phần chính: Các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, ngoài ra còn có một số chất kích thích sinh trưởng

Vai trò của phân bón qua lá đối với cây trồng là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, chúng có vai trò quan trọng trong đời sống của cây

Trong cây trồng luôn tồn tại các cơ chế điều chỉnh các quá trình sinh trưởng

và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Điều đó nhờ vào cơ chế tổng hợp các chất điều tiết sinh trưởng trong cây Các chất điều hòa sinh trưởng khác nhau tổng hợp với một lượng rất nhỏ ỏ các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ phận khác của cây để điều tiết hoạt động sinh lý cho cây

Trang 15

1.1.3 Cơ sở khoa học của việc sử dụng biện pháp cắt tỉa

Sự sinh trưởng tự nhiên của cây ăn quả thường không đáp ứng yêu cầu về cấu trúc tối ưu và thuận lợi cho việc chăm sóc cây và thu hái Cần phải tác động tích cực tạo hình, tạo khung tán cho phù hợp với loại cây ăn quả và cấu trúc vườn cây Cắt tỉa nhằm mục đích điều hòa sinh trưởng, ra hoa kết quả của cây, làm giảm thiểu dài cành, cắt tỉa bớt cành nhánh, hướng cành ra ngoài khiến cho trong tán cây giảm

số lượng mầm sinh trưởng, dẫn tới việc phân phối lại các chất giữa các bộ phận cây còn lại làm cho quả phát triển to hơn

Cắt tỉa nâng cao tính hoạt động sinh lý của mô tế bào và hiệu suất thoát hơi nước trong điều kiện khô hạn Đây là một trong những biện pháp cải thiện chế độ

ẩm cho cây

1.2 Nguồn gốc cam quýt

Trong các loại cây ăn quả, cùng với nho các loại cây có múi là loại cây trồng

có lịch sử lâu đời nhất Có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của cây cam quýt, song nhìn chung nhiều tác giả cho rằng cây cam quýt có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Đông Nam Á, trải dài từ đông Ả rập tới Philippin và từ nam dãy Himalaya tới indonesia, Úc

Theo Angler và Tanaka cho rằng cây cam có nguồn gốc ở Ấn Độ và Miến Điện Các tác giả Trung Quốc thì cho rằng phần lớn các loài hiện trồng ở Trung Quốc đều là nguyên sản (trừ bưởi, song cũng đã được nhập vào Trung Quốc cách đây 2000 năm), Trần Thế Tục (1980) [24] Ở Trung Quốc nghề trồng cam quýt đã

có cách đây 3.000-4.000 năm, từ thời Hán đã khá phát triển sang thời Tống đã có cuốn “Quýt lục” của Hàn Ngạn Trực, ghi chép tỉ mỷ về phân loại, cách trồng và chế

biến Điều này cũng khẳng định thêm rằng nguồn gốc các giống cam, chanh (Citrus sinensis Obeck) và các giống quýt ở Trung Quốc theo đường ranh giới gấp khúc,

Tanaka (1945) [42]

Quê hương của các loài quýt (Citrus reticulata Blanco) có lẽ ở Đông Dương

và miền Nam Trung Quốc, được các thương gia mang tới miền Đông Ấn độ Vùng sản xuất xuất truyền thống của quýt là ở Châu Á Quýt được đưa đến châu Âu muộn

hơn nhiều so với các loài cây có múi khác; giống “Willowleaf” (Citrus delicosa

Tenole) đã được mang từ Trung Quốc tới vùng Địa Trung Hải sau 1805 và trở thành

cây trồng chính của vùng này, loài Citrus reticulata thậm chí còn muộn hơn

Trang 16

Các loại cây có múi nhỏ có thê ăn được như kumquat (Fortunella margarita [Lour] Swingle) từ miền Nam Trung Quốc và cam ba lá ( Poncirus trifoliate [L]

Raf) từ trung tâm và phía Bắc Trung Quốc cũng là những loài rất quan trọng làm gốc ghép chống lạnh

Việt Nam nằm trong khu vực này cho nên cũng có nhiều giống cam quýt

có nguồn gốc ở nước ta Trong tập đoàn cam, quýt ta thấy có nhiều cây trồng hoang dại (cây chỉ xác, cây gai xọng, cây tắt…) là những loài tổ tiên của cây cam, quýt [2]

Một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt Kinh (Citrus nobilis Lour) là ở miền

Nam Việt Nam Thực tế ở Việt Nam từ Bắc đến Nam ở địa phương nào cũng có trồng các giống cây cam với nhiều vật liệu giống và tên địa phương khác nhau mà không nơi nào trên thế giới có: Cam sành Bố Hạ, cam sành Hàm Yên, cam sành Yên Bái, cam sen Đình Cả Bắc Sơn…[10], [16]

1.3 Tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ cam trên thế giới

Hiện nay cam quýt được phát triển rộng khắp trên thế giới, có thể nói là chỉ đứng sau quả nho Sự mở rộng của các vùng thâm canh, chuyên canh cam quýt trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp ở các vùng Vùng

nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề cam quýt cũng phát triển theo

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới đến năm 2012

tích

(ha)

Châu Á Châu Âu Châu Mỹ Châu Phi

Châu Đại

Trang 17

Cam quýt nổi tiếng thế giới hiện nay được trồng phổ biến ở những vùng có khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng Á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu Ôn đới ven biển chịu ảnh hưởng của khí hậu Đại dương

Các nước trồng cam quýt nổi tiếng hiện nay đó là:

- Địa Trung Hải và Châu Âu bao gồm các nước: Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Isaren, Tunisia, Algeria

Vùng Bắc Mỹ bao gồm các nước: Hoa Kỳ, Mexico

Vùng Nam Mỹ bao gồm các nước: Braxin, Venezuela, Argentina, Uruguay Vùng Châu Á bao gồm các nước: Trung Quốc và Nhật Bản

Các hòn đảo Châu Mỹ bao gồm các nước: Jamaica, Cu Ba, Cộng hòa Dominica Qua bảng số liệu trên có thể thấy trong giai đoạn từ năm 2010 - 2011 trên thế giới không chỉ diện tích trồng các cây cam quýt tăng lên mà năng suất và sản lượng cũng tăng dần lên theo, như năm 2011 tổng diện tích trung bình của cả thế giới đạt 3.878.121 ha, sản lượng đạt hơn 69 triệu tấn, tuy nhiên đến năm 2012 thì có sợ suy giảm không đáng kể về cả diện tích trồng và sản lượng của cây có múi Điều này có thể là do việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở các châu lục Trước đây khu vực châu

Á, châu Âu và châu Mỹ là những khu vực tập trung lớn diện tích và năng suất cây trồng có múi, nhưng những năn gần đây đã chuyển dịch sang châu lục khác đó là châu Phi và châu Đại Dương đang trở thành vùng chuyên sản xuất cây có múi lớn nhất thế giới

Châu Mỹ là châu lục có diện tích trồng và sản lượng cam quýt lớn nhất thế giới các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mexico, Cuba, Costarica, Braxin, Achentina… tuy hình thành các vùng sản xuất cam, quýt của châu Mỹ có muộn hơn các châu lục khác nhưng, nhờ có điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng với các tiến bộ khoa học kỹ thuật mà các nước châu Mỹ đặc biệt là Mỹ đã phát triển ngành sản xuất cây có múi một cách mạnh mẽ Mặc dù vậy có sự suy giảm về diện tích trồng nhưng năng suất của cây có múi của châu Mỹ lại tăng lên từ năm 2010 - 2012 năng suất của châu Mỹ đã tăng một cách đáng kể, từ 198.399 lên 211.166 (tạ/ha) Đây là được coi là thành công của việc áp dụng các ứng dụng mới của khoa học kỹ thuật vào chọn giống và chăm sóc cây trồng

Trang 18

1.4 Tình hình sản xuất và các vùng trồng cam, quýt ở Việt nam

1.4.1 Tình hình sản xuất cam quýt

Ở Việt Nam cam quýt được đưa vào từ thế kỷ XVI, và phát triển hơn đến nay Qua khoảng thời gian lâu dài, những cây cam quýt ban đầu đã được thuần hóa

và chọn lọc để trở thành những giống cho năng suất cao phẩm chất tốt và phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam

Sau khi giải phóng đất nước cho đến những năm 60 của thế kỷ 20 cam quýt ở Việt Nam vẫn là những cây trồng hiếm, chưa được phổ biến, mà chỉ được trồng chủ yếu là trong nhà dân Cam chỉ được trồng tập trung ở một số vùng chuyên canh như

Xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùng chuyên canh về cam trong những năm đó Mặc dù, có vùng chuyên canh cam nhưng trên thị trường cam quýt vẫn là mặt hàng hiếm có

* Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam ở trong nước

Tốc độ phát triển cây có múi ở nước ta trong vòng hơn 10 năm trở lại đây tương đối nhanh, trong đó tốc độ tăng trưởng ở các tỉnh phía Nam nhanh hơn các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng cây có múi năm 2005- 2011 Chỉ tiêu 2005 2008 2009 2010 2011

DT cả nước (ha) 87.200 144.600 142.461 139.545,9 138.251,2 -Miền Bắc 29.800 38.200 49.546 47.611,5 47.007,1 -Miền Nam 57.300 87.300 92.915 91.934,7 91.243,7

DT cho SP (ha) 60.100 108.500 110.900 114.481,4 112.959,1 -Miền Bắc 19.900 35.900 47.900 39.472,8 38.117,6 -Miền Nam 40.200 72.600 73.000 75.008,8 74.841,4 NSTB cả nước

SL cả nước (tấn) 606.400 1.121.600 1.221.800 1.308.393,7 1.350.220,0 -Miền Bắc 147.300 285.500 325.500 331.854,3 339.729,0 -Miền Nam 459.200 836.100 894.200 976.539,5 1.010.491,0

Trang 19

Ở Việt Nam (2005) cả nước có 87.200 ha cây có múi (CCM), NSTB đạt 10 tấn quả/ha; đến năm 2011 tổng diện tích CCM là 138.251,6 ha, so với năm 2005 tăng 158,5%, NSTN đạt 11,3 tấn/ha, tăng so với năm 2005 là 113,0%

So với các cây trồng khác như lúa ngô, hiệu quả sản xuất từ cây có múi cao gấp từ 8-10 lần (NSTB CCM cả nước 11-12 tấn/ha, giá trị 300-400 triệu đồng) Một

số vùng sản xuất cam chuyên canh như khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, khu 4 cũ (Nghệ An, Thanh Hóa), các nông trường trồng cam như Cao Phong-Hòa Bình, 19/5, 3/2 khu vực Phủ Quỳ-Nghệ An, vùng cam quýt Văn Giang-Hưng Yên nhiều diện tích cam quýt đạt 50-70 tấn quả/ha, giá trị 800-1.000 triệu đồng, cá biệt một số cây cam sản lượng đạt 300 kg/cây, giá trị đạt gần 10 triệu đồng Có thể thấy giữa năng suất trung bình cả nước và năng suất các vườn thâm canh có một khoảng cách rất xa, điều này khẳng định tiềm năng năng suất cam của từng khu vực còn có thể nâng cam được khá nhiều nếu được đầu tư, thâm canh đúng mức

1.4.2 Các vùng trồng cam quýt chính ở Việt Nam

+ Vùng đồng bằng sông cửu long

Theo Trần Thế Tục (1980), các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí từ 9015’ đến 10030’ vĩ bắc và 1050 đến 106045’ độ kinh đông, địa hình rất bằng phẳng, có độ cao từ 3 - 5m

so với mặt nước biển Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất cây có múi Lịch sử trồng cam quýt ở đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời nên người dân ở đây rất có kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc loại cây ăn quả có múi Cam quýt được trồng chủ yếu ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sông Tiền, sông Hậu

có nước ngọt quanh năm, nơi đây có tập đoàn giống cam quýt rất phong phú như: Cam chanh, cam sành, Bưởi, chanh Giấy, quýt, [24]

Theo Gurdwer, cam của Nam Bộ trái lớn, hương vị tuyệt hảo, vượt xa loại cam mang từ Trung Hoa vào cùng mùa Các giống được ưa chuộng và trồng nhiều hiện nay là: Cam sành, cam Mật, quýt Tiêu (quýt hồng), quýt Siêm, quýt Đường, bưởi Đường, bưởi Năm Roi, bưởi Long Tuyễn Năng suất các giống kể trên ở điều kiện khí hậu, đất đai vùng đồng bằng sông Cửu long tương đối cao [40]

Trang 20

+ Vùng khu 4 cũ

Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh trải dài từ 180 đến 20030’ vĩ độ bắc, trọng điểm trồng cam quýt vùng này là vùng Phủ Quỳ - Nghệ An gồm một cụm các Nông trường chuyên trồng cam với diện tích hiện nay khoảng 800 ha Các giống cam ở Phủ Quỳ có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất tương đối ổn định Hai giống Sunkiss và Xã Đoài có ưu thế về tiềm năng, năng suất và sức chống chịu sâu bệnh hại trên cả cây và quả [9], [14]

Huyện Hương Khê là một trong những vùng đất miền núi của tỉnh Hà Tĩnh Nhân dân ở đây đã có tập quán trồng bưởi lâu đời, đặc biệt là bưởi Phúc Trạch, một trong những giống bưởi đặc sản ngon nhất hiện nay [5], [14], [23] Ngoài bưởi Phúc Trạch ở vùng này còn có một giống cam quýt rất nổi tiếng đó là cam Bù Cam

Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn, chín muộn nên có thể đưa vào cơ cấu cam quýt chín muộn ở nước ta hiện nay Cam Bù có năng suất cao nhờ có bộ lá quang hợp tốt và số lượng lá/cây lớn, có tính chịu hạn tốt Cam Bù thường được trồng với mật độ cao (600 - 1000 cây/ha) để cho cây chóng giao tán, che phủ đất trống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ ở vùng núi thấp [4],[10]

+ Vùng miền núi Phía Bắc

Vùng này có các tỉnh trồng cam với diện tích lớn đó là: Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên với điều kiện khí hậu hoàn toàn khác với hai vùng trên, cam quýt được trồng ở các vùng đất ven sông, suối như: Sông Hồng, Sông Lô, Sông Gâm, Sông Thương, Sông Chảy cam quýt được trồng thành từng khu tập trung 500 ha hoặc trên 1000 ha như

ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Kạn, Hàm Yên, Chiêm Hóa - Tuyên Quang, Bắc Quang - Hà Giang, tại những vùng này cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất Do loại hình sinh thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam quýt, đặc biệt ở vùng núi phía bắc là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa dạng [1], [3], [10]

Thời kỳ này có khoảng 3.000 ha cam quýt và phát triển khá mạnh mẽ, sản lượng hàng năm đã đạt vài nghìn tấn Năng suất bình quân những năm đó vào

Trang 21

khoảng 135 -140 tạ/ha Năng suất trung bình của vùng cam đất đỏ bazan Phủ Quỳ (Nghệ An) đạt bình quân toàn nông trường 220 tạ/ha [4] Giai đoạn từ năm 1975 trở lại đây ở miền Bắc diện tích và sản lượng cam có xu hướng giảm dần, những diện tích được trồng vào thời kỳ 1960 -1965 thì nay đã già cỗi, sâu bệnh rất nặng Vì vậy, đã chuyển sang trồng các loại cây khác hoặc trồng lại Tuy nhiên vào thời điểm

đó, ở miền Nam, diện tích và sản lượng cam quýt lại tăng lên nhất là khu vực tư nhân, các tỉnh có diện tích cam nhiều như Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp [4]

Cam quýt của nước ta phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi tiếng đặc trưng cho vùng Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam quýt còn gặp nhiều khó khăn, đó là do điều kiện thời tiết thất thường, cơ sở hạ tầng yếu kém, tiếp cận thị trường khó khăn, trình độ thâm canh thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm chạp do trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng, công tác bảo vệ thực vật chưa được quan tâm chu đáo, công tác tuyển chọn giống và sản xuất cây giống chất lượng chưa được chú trọng đúng mức [7], [30]

Phát triển cam quýt ở nước ta phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước là chủ yếu và một phần dùng cho xuất khẩu Hiện nay với khoảng trên 60 triệu dân sống ở các thành phố, thị xã, thị trấn, mức tiêu thụ quả đang có xu hướng tăng lên

Tập quán tiêu thụ quả của nhân dân ta từ xưa đã thành truyền thống Quả là nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của dân đô thị Trong các ngày giỗ chạp, ngày hội, ngày tết, thăm hỏi lẫn nhau nhân dân cũng dùng đến quả tươi, với mức sản xuất hiện tại mới đạt 48 kg quả các loại bình quân cho một đầu người/năm (kể cả hơn 1-1,5 vạn tấn quả có múi nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam theo số liệu của tổng cục Hải Quan) [25]

Nhìn chung, cam quýt là một trong những cây ăn quả rất quan trọng ở Việt Nam Dự báo trong những năm tới, diện tích và sản lượng cam quýt sẽ tiếp tục phát triển; các vùng cam quýt trọng yếu trên cả nước đã và đang tiếp tục chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nhân dân để áp dụng sản xuất theo hướng chuyên canh, tập trung Điều này cho thấy, mặc dù có một số hạn chế về mặt sinh thái, khoa học kỹ thuật song cam quýt vẫn được quan tâm phát triển mạnh ở Việt Nam

Trang 22

1.5 Đặc điểm thực vật học, yêu cầu sinh thái, giá trị sử dụng, kinh tế của cây cam

1.5.1 Đặc điểm thực vật học của cây cam

- Rễ: Rễ chính có thể ăn sâu đến 2 m, tuỳ thuộc và từng loại tính chất đất Rễ ngang (rễ phụ) thường tập trung ở tầng đất 0 - 30 cm nhiều nhất là rễ tơ phân bố nông và mật độ cao ở 0 - 10 cm Rễ ngang có thể ăn rộng gấp 2- 3 lần đường kính tán nhưng tập chung ở phạm vi 50cm trong và ngoài hình chiếu tán Sự sinh trưởng của rễ có tính chu kỳ và xen kẽ với các đợt cành Rễ sinh trưởng trước cành gần 1 tháng sau đó cành mới bắt đầu sinh trưởng, một năm rễ cam quýt có 3 thời kỳ hoạt động mạnh: Trước khi ra cành vụ xuân (Khoảng tháng 2 - 3); sau rụng qủa sinh lý đợt đầu đến lúc cành bé xuất hiện (từ tháng 6 đến đầu tháng 8); sau khi cành thu đang phát triển mạnh (khoảng tháng 10)

- Thân, cành: Thân gỗ, thân bụi hoặc thân nửa bụi Một năm cam ra nhiều

đợt cành: Cành Xuân ra vào tháng 2, 3, 4 là cành mang hoa và quả, cành thường ngắn, mật độ lá dầy thích hợp để lấy mắt ghép, ghép vào vụ thu; cành Hè được mọc

ra từ cành xuân cùng năm, thường ra vào tháng 5,7 là cành dài nhất, cành có mật độ

lá thưa và to; cành Thu: ra vào tháng 8,9 được mọc ra chủ yếu từ cành xuân và cành

hè cùng năm Cành Đông: ra vào tháng 11,12 thường sinh ra trên cành quả vô hiệu Cành đông là cành yếu nhất trong 4 loại cành

- Tuổi thọ lá có thể tồn tại trên cây từ 15 đến 24 tháng nhưng lá hết thời kỳ sinh trưởng sẽ rụng rải rác trong năm, mùa Đông thường rụng nhiều hơn Lá có quan hệ chặt chẽ với sản lượng nhất là trọng lượng quả do đó việc chăm sóc nuôi dưỡng bộ lá xanh và tồn tại lâu trên cây là biện pháp tăng năng suất và chất lượng quả

- Hoa lưỡng tính có khả năng tự thụ, tràng hoa thường có màu trắng, thường

có 5 cánh, nhị nhiều có từ 20 - 40 nhị Hoa được phân hoá từ mùa đông năm trước trong điều kiện khô và nhiệt độ thấp, thường phân hoá hoa từ tháng 11 đến tháng 12

- Quả thuộc loại quả mọng, vỏ quả dày, mỏng khác nhau tuỳ từng loài, giống, được chia làm 2 phần, phần vỏ ngoài và phần vỏ giữa Phần vỏ ngoài gồm

Trang 23

lớp biểu bì trên, là biểu bì của tử phòng do các tế bào sừng dày cam, xen kẽ có các khí khổng Phần vỏ giữa gồm 2 lớp: lớp sắc tố và lớp trắng Lớp sắc tố màu trắng do mấy chục tầng tế bào chứa nhiều sắc tố hợp thành một lớp mỏng do đó khi quả xanh nhờ có diệp lục mà quả có thể quang hợp được còn khi quả chín vỏ quả chuyển xang màu vàng hoặc màu đỏ Lớp trắng dưới lớp sắc tố là lớp cùi độ dày mỏng của lớp cùi này phụ thuộc vào từng giống Thành phần hoá học của lớp trắng: 75% là nước, còn lại là chất khô trong đó có (20% protein, 44% là đường, 33% xenlulo, 3%

là khoáng chất các loại)

Theo từ điển bách khoa Nông nghiệp, NXB trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội năm 1991: “Cam là cây ăn quả nhiệt đới và cận nhiệt đới, cây nhỡ, thân gai hoặc ít gai Lá hình trái xoan, hoa mọc thành chùm 6 - 8, hoa mọc ở nách lá Quả hình cầu,

có tép, vị chua ngọt, hạt có nhiều mầm trắng, ra hoa tháng 3-4 và quả chín vào tháng 10 -12”

1.5.2 Yêu cầu sinh thái của cây cam

1.5.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ

Cam có thể trồng ở vùng có nhiệt độ từ 12 - 390C, trong đó nhiệt độ thích hợp nhất là từ 23 - 290C Nhiệt độ thấp hơn 12,50C và cao hơn 400C cây ngừng sinh trưởng Nhìn chung nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sống của cây cũng như năng suất, chất lượng quả

Nhiệt độ tốt nhất cho sinh trưởng của các đợt lộc trong mùa xuân là từ 12 -

200C, trong mùa hè từ 25 - 300C, còn cho hoạt động của bộ rễ từ 17 - 300C Nhiệt

độ tăng trong phạm vi từ 17 - 300C thì sự hút nước và các chất dinh dưỡng tăng và ngược lại, do liên quan đến bốc hơi nước và hô hấp của lá

Đối với thời kỳ phân hoá mầm hoa yêu cầu nhiệt độ phải thấp hơn 250

C trong vòng ít nhất 2 tuần Ngưỡng nhiệt độ tối thiểu cho nở hoa là 9,40C Nhiệt độ <

200C sẽ kéo dài thời gian nở hoa, từ 25 - 300C quá trình nở hoa sẽ ngắn hơn

Nhiệt độ thấp trong mùa đông có ảnh hưởng tới sự phát sinh cành hoa có lá

và cành hoa không có lá Cành hoa không lá tỷ lệ đậu quả tới khi thu hoạch là rất thấp so với cành hoa có lá, do vậy nếu nhiệt độ mùa đông quá thấp cành hoa không

lá sẽ nhiều hơn và như vậy tỷ lệ đậu quả sẽ thấp

Trang 24

Sự rụng quả sinh lý (thời kỳ quả non) là một rối loạn chức năng có liên quan tới vấn đề cạnh tranh của các quả non về hydratcarbon, nước, hoocmon và sự trao đổi chất khác, song nguyên nhân quan trọng nhất được nhấn mạnh đó là nhiệt độ mặt lá cam tới 35 - 400C và hạn Nhiệt độ thích hợp cho phát triển của quả từ 14 -

400, tốt nhất là ở nhiệt độ xung quanh 320, nhiệt độ từ 29 - 350 tích luỹ đường tốt nhất và vỏ quả cũng đạt tới màu sắc tốt nhất ở những vùng nóng cam có hàm lượng chất khô hoà tan (TSS) cao hơn và hàm lượng axít giảm

Tóm lại nhiệt độ là yếu tố khí khậu rất quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất chất lượng của cam, bởi vậy việc chọn vùng trồng trước hết phải xem xét yếu tố nhiệt độ xem có phù hợp hay không

1.5.2.2 Yêu cầu về ẩm độ

Ẩm độ và nước: cây cam là cây ưa độ ẩm trung bình, nhưng nước cần trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phát triển của chúng, cần nhiều nhất trong thời kỳ lúc hạt nảy mầm và lúc ra hoa kết quả, tối thiểu phải đạt 1.270 mm/năm Do đó vườn trồng cam đều phải chú ý tới hệ thống tưới tiêu phục vụ tưới cho cây nhất là trong

vụ khô Việt Nam có tổng lượng mưa phù hợp với cây cam tuy nhiên do phân bố trong năm không đều, nên mùa khô vẫn cần tưới nước cho cây Ngược lại cây cam không chịu được ngập úng (khi ngập úng rễ bị thối, lá rụng, cây sẽ chết)

Ẩm độ không khí: Với cam độ ẩm không khí cần đạt trên dưới 70% Đủ

ẩm, quả lớn đều, mã quả đẹp, vỏ mỏng, múi nhiều nước, ít rụng Độ ẩm quá cao tạo điều kiện cho bệnh chảy gôm phát triển gây hại nặng

1.5.2.3 Lượng mưa

Các thời kỳ cần nước của cam là các thời kỳ: Bật mầm, phân hoá mầm hoa,

ra hoa và phát triển quả Lượng nước cần hàng năm đối với 1 ha cam quýt từ 9.000 - 12.000 m3, tương đương với lượng mưa 900 - 1.200 mm/năm Với cam, lượng nước cần khoảng 10.000- 15.000 m3/ha/năm Nhìn chung lượng mưa ở các vùng sản xuất nông nghiệp ở nước ta đủ cho nhu cầu nước cho cam (1.400 - 2.500mm/năm) nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm, do đó ảnh hưởng không tốt tới năng suất và phẩm chất quả

Trang 25

1.5.2.4 Ánh sáng

Cam là loại cây ưa sáng, nhưng thích ánh sáng tán xạ hơn ánh sáng trực xạ

Đủ ánh sáng cây quang hợp thuận lợi, hình thành các chất hữu cơ tốt, tạo nên năng suất cao, phẩm chất tốt Ngược lại thiếu ánh sáng làm cho cây yếu ớt, đậu quả ít, năng suất và phẩm chất đều giảm Cường độ ánh sáng không nên quá mạnh, thích hợp nhất là khoảng 2000 lux (tương ứng với ánh sáng lúc 8 giờ và 16 - 17 giờ những ngày quang mây mùa hè) các vùng trồng có chênh lệch nhiệt độ ngày, đêm cao sẽ giúp cho cam tích lũy được nhiều đường hơn Kinh nghiệm muốn có ánh sáng tán xạ cần bố trí mật độ cây dầy hợp lý và thường xuyên cắt tỉa đúng kỹ thuật

Bảng 1.3: Một số yêu cầu ngoại cảnh của cam

Lượng mưa Biên độ 900-3000mm; thích hợp 1500-2000mm, lượng mưa trải đều

trong năm Không chịu ngập úng, khô hạn

Đất trồng

pH 4,0-8,0 thích hợp 5,5-6,5, có thể trồng được ở nhiều loại đất, thích hợp ở đất có tầng canh tác dày khoảng 1m, tơi xốp, nhiều mùn, giàu dinh dưỡng; độ dốc < 15o

* Dinh dưỡng cam quýt

- Đất phải giàu mùn (hàm lượng từ 2 - 2,5% trở lên) hàm lượng các chất dinh dưỡng NPK, Ca, Mg phải đạt mức độ từ trung bình trở lên (N: 0,1 - 0,15%, P2O5

dễ tiêu từ 5- 7mg/100g K2O dễ tiêu từ 7 - 10mg/100g Ca, Mg từ 3 - 4 mg/100g)

Trang 26

Ở các tỉnh miền Trung cam thường được trồng trên các loại đất phù sa hoặc đất phù sa cổ dọc theo các sông suối, thậm chí còn được trồng trồng trên đất đỏ Bazan, là loại đất rất tốt, tơi xốp, giầu dinh dưỡng song cũng dễ bị hạn do địa hình cao thiếu nước

Nếu cam trồng trên các loại đất nặng (đất sét hoặc đất thịt pha sét) thì tỷ lệ đường/axít giảm, cây phát triển kém, quả thô vỏ dày, hàm lượng vitamin C tăng, chín muộn hơn Trồng trên đất cát, khả năng thoát nước nhanh, keo đất ít nên khả năng giữ và hấp thu chất dinh dưỡng kém, quả chín muộn hơn, tỷ lệ đường/axít cao hơn, vỏ mỏng hơn, gặp khô hạn quả dễ bị xốp, nứt

+ Đạm (Nitơ): Là nguyên tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình sinh trưởng đặc biệt trong sự hình thành bộ lá và có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của quả Nitơ tham gia vào quá trình hình thành và phát triển cành lá, xúc tiến hình thành các đợt lộc mới trong năm, có tác dụng giữ cho bộ lá xanh lâu Nhiều nghiên cứu cho thấy một quả cam Washington Navel muốn phát triển bình thường cần có 45 lá, cam Chanh cần 50 lá, bưởi Chùm cần 60

lá cho một quả.Tuy nhiên nếu thừa đạm sẽ làm cho lá và lộc sinh trưởng quá tốt, quả lớn nhanh nhưng vỏ dày, quả bị nứt và phẩm chất quả kém, mầu sắc quả đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm Nhưng nếu thiếu đạm lộc non không phát sinh đúng lúc hoặc ra ít, lá nhỏ, lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành quả nhỏ, mảnh và bị rụng lá, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất giảm

+ Phân lân (Phospho): là nguyên tố dinh dưỡng rất cần cho cây sinh trưởng

và phát triển đặc biệt là giai đoạn phân hóa mầm hoa Phân lân có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quả, đủ lân lượng axit trong quả giảm, tỷlệ đường/ axit cao, hàm lượng vitamin C giảm, vỏ quả mỏng, mã đẹp, lõi quả chặt, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển màu nhanh

Nếu thiếu lân cành, lá sinh trưởng phát triển kém, rụng nhiều, bộ rễ kém phát triển, do đó năng suất, phẩm chất quả giảm Ở mỗi thời kỳ sinh trưởng và phát triển khác nhau cây có nhu cầu về lượng lân cũng khác nhau, ví dụ ở giai đoạn kiến thiết cơ bản cây cần lân để phát triển bộ rễ, còn ở thời kỳ kinh doanh cây cần lân để phân hóa mầm hoa Tuy nhiên nếu dư thừa lân vừa gây lãng phí mà lại làm cho cam lâu chín vàng

Trang 27

+ Kali: theo Vũ Công Hậu (1996) kali rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt, đặc biệt là thời kỳ ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh Kali ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất quả cam quýt, vì kali tham gia vào quá trình vận chuyển các sản phẩm quang hợp về các cơ quan tích lũy trên cây Nếu cây được cung cấp đầy đủ kali quả to, ngọt, nhanh chín, có khả năng chịu được lâu dài khi vận chuyển đi xa hoặc cất giữ lâu ngày Tuy nhiên nếu thừa kali cây sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây còi cọc, đặc biệt nếu quá nhiều kali sẽ gây nên hiện tượng hấp thu caxi, magie kém, quả to nhưng xấu mã, vỏ quả dày, lâu chín [7]

Ngoài các nguyên tố đa lượng N,P,K, các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển, năng suất và phẩm chất cam quýt

Theo các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng cây hoàn toàn không thể phát triển một cách bình thường nếu như thiếu các nguyên tố trung và vi lượng như: Bo, Mangan, Canxi, Kẽm, Molipden v.v các nguyên tố này hết sức cần thiết cho cây, chúng có tác dụng thúc đẩy và kích thích khả năng sinh trưởng, phát triển của cây một cách mạnh mẽ

1.5.3 Giá trị kinh tế của cây cam, quýt

Cam không chỉ có giá trị sử dụng và y dược cao, mà còn là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn NSTB ở miền Bắc đạt khoảng 12 tấn/ha, giá trị 300-400 triệu đồng, cao gấp 8-10 lần so với trồng lúa, ngô, nhiều diện tích cam ở ĐBSCL, ĐBSH, Nông trường Cao Phong-Hòa Bình, Nông trường 19/5, Nông trường 3/2 - Nghệ An, vùng cam Văn Giang - Hưng Yên đạt 50 - 80 tấn quả/ha, giá trị trên dưới 1 tỷ đồng Tại xã bản Giang, huyện Tam Đường một số vườn quýt cho thu

600 - 1.500 kg, giá trị 120 triệu đến 300 triệu đồng, một số cây cho thu 200 kg, giá trị 3-4 triệu đồng Cam không chỉ góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn giúp người trồng cây có múi tăng thu nhập và làm giàu

Cam Đường canh là giống được trồng lâu đời ở xã Vân Canh - Hoài Đức (HàTây) Hiện tại cam canh đang được trồng nhiều ở Từ Liêm (Hà Nội), Văn Giang (Hưng Yên) Bắc Giang và một số địa phương miền Trung Đặc điểm: Cây sinh trưởng khoẻ, tán cây hình dù, lá không eo, màu xanh đậm Cây cao 3-3,5

Trang 28

m, đường kính 3-4 m, ra hoa tháng 2-3 Thu hoạch tháng 11-12 Quả hình cầu dẹt, chín màu đỏ, vỏ mọng, ruột màu vàng, ăn ngọt, thơm Trọng lượng trung bình 80 gr

- 120 gr/quả Cam Đường Canh được trồng tại Huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu vào năm 2008 thông qua chương trình hỗ trợ của Đoàn thanh niên do Huyện Đoàn Phát động, giống được nhập từ Hưng Yên, là giống được ghép bằng mắt, với diện tích vào khoảng 15 ha, đến nay đã được 5-7 năm đã cho thu hoạch nhưng thực trạng

là bà con nhân dân để cây sinh trưởng phát triển tự nhiên không đầu tư chăm sóc dẫn đến năng suất chất lượng không cao, mẫu mã quả không đẹp nên giá trị kinh tế mang lại hiệu quả chưa cao

1.5.4 Đặc điểm ra hoa đậu quả của cam quýt

Cam quýt có 2 loại hoa, hoa đủ và hoa dị hình Hoa đủ cánh dài màu trắng mẫu 5, mọc thành chùm hoặc đơn độc Nhị có thể có phấn hoặc không có phấn, số nhị thường gấp 4 lần số cánh hoa Bầu nhụy thường có 10-14 ô (múi), hoa có mùi thơm hấp dẫn Quả có từ 8-14 múi và có thể có 0-20 hạt Cam quýt đậu quả nhờ thụ phấn chéo hoặc tự thụ Hoa dị hình là hoa phát triển không đầy đủ, cuống hoặc cánh hoa ngắn, thường có số lượng ít Hạt cam phần lớn là đa phôi (0-13 phôi); chỉ riêng các giống lai của chúng là đơn phôi [9]

Cây họ cam quýt thường ra hoa đồng thời với cành non và ra tập chung, số lượng hoa rất nhiều Một cây cam có thể ra tới 60.000 hoa chỉ với 1% đậu trái cũng

có thể cho năng suất 100kg/cây Tỷ lệ đậu quả phụ thuộc vào đặc tính di truyền, đặc điểm sinh lý của cây và điều kiện ngoại cảnh Cần chọn cây khỏe, phù hợp với điều kiện môi trường sinh thái, chăm sóc tốt, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, tăng cường phân hữu cơ, giảm tối đa lượng phân bón vô cơ và thuốc hóa học… để tăng

tỷ lệ đậu quả và cho sản phẩm sạch, an toàn đáp ứng nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng [9], [10]

Các yếu tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu quả và sự phát dục của quả cam quýt Muốn tỷ lệ đậu quả cao, sinh trưởng tốt, phẩm chất cao thì trong

kỹ thuật trồng trọt cần tác động sao cho bộ lá cây luôn xanh, chuyển lục đều và không bị rụng lá sớm (tuổi thọ lá dài) [11]

Trang 29

1.5.4.1 Cơ sở sinh lý của hiện tượng rụng quả

Trong đời sống của cây trồng thường xảy ra hiện tượng rụng hoa, rụng quả, đây là một hiện tượng sinh lý hoàn toàn bình thường do quá trình hình thành tầng rời ở cuống Sự rụng quả là sự thích ứng của cây khi thiếu dinh dưỡng, nước và hoocmon cho sự sinh trưởng của chúng, buộc chúng phải rụng đi một lượng nhất định quả non, để tập trung dinh dưỡng và hoocmon cho những quả khác Sự rụng quả thưởng mạnh mẽ vào lúc phôi sinh trưởng nhanh và lúc phình to của quả Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do 2 yếu tố đó là yếu tố môi trường và yếu

tố nội tại

1.5.4.2 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự rụng

Các nghiên cứu về môi trường ảnh hưởng đến sự rụng của các bộ phận cây như: lá, hoa, quả đã được quan tâm từ lâu Trong triết học Hy Lạp đã có nhận xét: điều kiện ẩm sẽ làm cho cây giữ lá tốt hơn nơi khô hạn Nói chung đất bạc màu lá rụng sớm hơn hoặc cây già lá rụng sớm hơn cây non [13]

Theo Addoicott, Lynch (1957), [32], thì nhệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đến sự rụng, khi cây gặp nhệt độ thấp sẽ kích thích sự hình thành tầng rời ở cuống, nhiệt

độ quá cao thúc đẩy nhanh chóng sự rụng

Theo Lockhart, JA (1960) [48], cho rằng ánh sáng liên quan sự rụng theo nhiều cách khác nhau Khi cây thiếu ánh sáng sẽ hình thành tầng rời ở cuống, lá, hoa, quả Theo Heninicke (1919) [42], sự rụng ở cây còn liên quan chặt chẽ đến độ chiếu sáng trong ngày, chế độ ánh sáng ngày dài sẽ làm hạn chế sự rụng

Theo Reuther W Smith PE (1973) [57], thì hạn cũng là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự rụng Khi bị hạn các bộ phận cây sẽ rụng vì hạn liên quan đến sự thoái hóa của lá, tuy nhiên thừa nước cũng thúc đẩy sự rụng ở cây

Theo Trần Thế Tục (1980) [24], cho rằng rụng quả là do hạn hán, khi mưa đột ngột làm cho tốc độ lớn của quả mạnh hơn so với vỏ quả do đó làm cho quả nứt và quả bị rụng

Một số tác giả khác cho rằng thành phần không khí trong khí quyển cũng ảnh hưởng đến sự rụng Hàm lượng oxygen như một nhân tố thiết yếu liên quan đến sự rụng, do vậy nếu thiếu oxy sẽ kìm hãm sự rụng

Trang 30

Vai trò của etylen ảnh hưởng đến quá trình rụng đã được xác nhận Hiện nay do không khí ô nhiễm, hàm lượng etylen tăng cao làm tăng sự rụng hoa, rụng quả trên cây Ngoài ra khí NH3 cũng là một trong những nhân tố điển hình cảm ứng sự rụng của cây [10],[12],[25]

Ngoài ra theo Addicott sự thiếu hụt một số chất như : N, Zn, Ca, S, Mg, Bo,

Fe sẽ kích thích sự rụng Tuy nhiên khi quá dư thừa Zn, Fe, Cl, nhất là khi phun lên lá sẽ làm cho quá trình rụng tăng nhanh [20], [24], [32]

Theo Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch và các đồng sự khi chúng ta

đã hiểu được bản chất của sự rụng chũng ta có thể điều chỉnh các cơ quan có lợi cho sản xuất Muốn kìm hãm sự rụng thì người ta phun các hợp chất có chứa auxin hoặc GA3 cho lá hoặc hoa, quả non đồng thời kết hợp với việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi [29]

1.5.4.3 Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến sự rụng

Như chúng ta đã biết quá trình quang hợp giúp cây tích lũy chất khô về các sản phẩm thu hoạch, cung cấp nguyên liệu cho hô hấp và cấu tạo thành tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc và ngăn cản sự rụng

Hiệu quả của quang chu kỳ đến quá trình rụng có liên quan đến các phytocrom, qua các phytocrom tác động đến quá trình tổng hợp các hoocmon Theo Nitsch (1963) [52] dưới điều kiện ngày dài thì auxin và GA3 được tổng hợp nhiều hơn axit abxixic, tổ hợp các chất này làm tăng sinh trưởng và chống lại sự rụng Trong điều kiện ngày ngắn thì cân bằng này theo hướng làm tăng sự rụng [29],[43],[51],[52],[53]

Các yếu tố nội tại được sản sinh nhờ tác động của yếu tố môi trường, ví dụ nhiệt độ gây ra sự rụng là do nhiệt độ có ảnh hưởng đến quá trình hô hấp và các quá trình tổng hợp enzyme [29] Vì vậy việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt là việc làm cần thiết có tác dụng ngăn cản quá trình rụng của cây

Trang 31

1.6 Một số nghiên cứu về cây cam quýt

1.6.1 Các nghiên cứu trong nước

* Các nghiên cứu về phân bón qua lá cho cây có múi

Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng nhằm cung cấp kịp thời cho cây Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt

Theo Hoàng Minh Tuấn [29], trong thế gới thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, lá cây ngoài chức năng thoát hơi nước, quang hợp còn có vai trò quan trọng trong việc hấp thu các chất dinh dưỡng cho cây, sự hấp thu này được thực hiện qua lỗ khí khổng và qua các khoảng gian bào, các chất dinh dưỡng được di chuyển theo hướng từ trên xuống dưới với tốc độ 30cm/giờ, chất dinh dưỡng di chuyển một cách tự do trong cây

Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng khi bón phân qua lá dạng hòa tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân, Vì vậy việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc đem lại hiệu quả rất cao, có thể nói cao gấp 8 - 10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung các chất dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng và thời gian sử dụng Các loại phân bón lá đang được sử dụng rộng rãi là Komix FT, Komix, Superzin K, Thiên nông Poster, Siêu kali, Boom (Nguyễn Thị Thuận 1966) [21]

Ở những vườn cây ăn quả không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ, thì việc cung cấp các loại phân bón qua lá giúp cho cây sinh trưởng mạnh hơn, ngăn ngừa các bệnh về thiếu dinh dưỡng và giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn

Các loại phân bón lá như Komix FT, Komix Superzin K, Thiên nông, FoFer

và Pomior, đã có tác dụng tốt trên một số loại cây trồng như: Rau, cà phê, và một số cây ăn quả Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Nhuận, Bùi Thị Mỹ Hồng, Nguyễn Trịnh Nhất Hồng, Huỳnh Văn Tần tại Tiền Giang năm (1995-1996) cho thấy chúng đều có tác dụng hạn chế rụng quả non, góp phần làm tăng năng suất đồng thời không làm ảnh hưởng tới chất lượng và mẫu mã quả [21]

Trang 32

Trong những năm qua sự ra đời của phân bón lá đã giúp cây trồng ngăn ngừa được các loại sâu bệnh hại trên cây ngay cả trong giai đoạn cây đang sinh trưởng Phân bón lá ngoài cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây còn bổ sung thuốc bảo vệ thực vật được áp dụng rộng rãi trong việc trồng cây ăn quả, đặc biệt là họ cây cam quýt Tuy nhiên, hiện nay khi việc áp dụng rộng rãi phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp cho cây thì việc sử dụng các dạng phân bón lá cho cây cam quýt

là rất cần thiết

Bộ môn sinh lý thực vật - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu và tạo được chế phẩm đậu hoa, đậu quả cho nhiều loại cây trồng và sử dụng có hiệu quả trong sản suất Chế phẩm dạng α-NAA dưới dạng hòa tan trong nước là nguồn auxin bổ sung cho nguồn nội sinh, một số nguyên tố vi lượng cần thiết như

B, Cu và còn có thêm một lượng nhở nguyên tố đa lượng như N, P, K Phun chế phẩm này đã làm tăng quá trình đậu quả, hiệu quả này được tăng lên khi cung cấp

đủ nước và các chất dinh dưỡng cho cây trồng [29]

Tác giả Hoàng Ngọc Thuận (2006) cho biết phân bón lá dạng phức hữu cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa các nguyên tố đa, trung và vi lượng với

20 axitamin cùng với một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này đã được tiến hành thử nghiệm và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm những năm gần đây Pomior đã thể hiện tác dụng xúc tiến rõ rệt đến khả năng sing trưởng, tăng khả năng ra hoa, tăng khả năng đậu quả, tăng trọng lượng và phẩm chất quả trên cây có múi [20]

* Một số nghiên cứu về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây cam

Các chất điều hòa sinh trưởng còn được gọi là hoocmon thực vật, nó có tác dụng điều hòa sự sinh trưởng và phát triển của cây Các hoocmon thực vật là các chất hữu cơ được tổng hợp một lượng nhỏ trong các bộ phận nhất định của cây và vận nhuyển đến các bộ phận khác để điều hòa các hoạt động sinh lý, các quá trình sinh trưởng phát triển và duy trì mối quan hệ hài hòa giữa các cơ quan, bộ phận thành một thể thống nhất [29]

Do chức năng điều chỉnh sự hình thành cơ quan sinh sản và cơ quan dự trữ hoocmon nên có tác dụng quyết định sự hình thành năng suất thu hoạch Bằng việc

Trang 33

xử lý các chất điều tiết sinh trưởng ngoại sinh cho các đối tượng cây trồng khác nhau con người có thể nâng cao năng suất và phẩm chất các sản phẩm nông nghiệp (Phạm Văn Côn 2004).[3], [12], [20]

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật, sự hình thành hoa là dấu hiệu cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực, chuyển hướng từ hình thành mầm lá sang hình thành mầm hoa Sau thụ phấn thụ tinh là quá trình đậu quả, tuy nhiên sự đậu quả còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố nội tại và ngoại cảnh Hàm lượng auxin và các chất kích thích sinh trưởng thấp là nguyên nhân dẫn đến sự rụng sau khi nở hoa Để tăng cường sự đậu quả người ta bổ sung thêm auxin, gibbrellin ngoại sinh cho cho hoa và quả non, hai chất này có tác dụng bổ sung thêm nguồn phytohocmon có trong phôi hạt vốn không đủ cho quá trình nảy mầm Vì vậy mà sự sinh trưởng của quả được kích thích

và quả khó có thể rụng ngay được

Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000.b), [20] phun chất kích thích sinh trưởng thực vật cho cam quýt để nhằm:

- Nâng cao tỷ lệ đậu quả

Năm 1934 Yasuda đã thành công trong việc gây nên quả không hạt ở bầu

bí bằng cách xử lý chiết của hạt phấn lên hoa, người ta phân tích và thấy trong dịch chiết của hạt phấn có chứa nhiều Auxin Sau đó người ta đã xử lý trực tiếp Auxin ngoại sinh cho hoa thì cũng có thể loại trừ sự thụ tinh và tạo quả không hạt vì Auxin đã khuếch tán trực tiếp vào bầu, kích thích sinh trưởng của bầu thành quả không hạt

Trang 34

Sự rụng là do hình thành tầng rời ở cuống lá, hoa, quả, đây là một vài lớp tế bào nhu mô có thành mỏng, hoàn toán thiếu lignin và suberin Các chất ức chế sinh trường thì cảm ứng sự rụng còn auxin thì kìm hãm sự rụng Năm 1993, Laibach đã chỉ ra rằng có một chất chứa trong dịch chiết hạt phấn Phong Lan có thể kìm hãm sự rụng Chất đó là IAA, và nó được xem như là nhân tố quan trọng kiểm tra sự rụng của cơ quan Như vậy, chúng ta có thể thấy Auxin có tác dụng chống lại sự rụng lá, hoa quả vì chúng ngăn cản sự hình thành tầng rời Sự cân bằng giữa Auxin và chất

ức chế sinh trưởng có ý nghĩa quyết định trong sự điều chỉnh sự dụng lá, hoa quả

Chính vì vậy việc xử lý Auxin cho cây và quả non có thể làm quả bớt rụng.Nghiên cứu hàm lượng Auxin liên quan đến sự hình thành tầng rời đã chỉ rằng,

lá non có hàm lượng Auxin cao hơn ở lá già, bản lá có hàm lượng auxin cao hơn ở cuống lá Khi hàm lượng cao sẽ ngăn chặn sự hình thành tầng rời Vì vậy nếu xử lý auxin sẽ làm tăng hàm lượng auxin trong lá có thể ngăn ngừa sự rụng

Theo Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch (1933), sự chín của quả được điều chình bằng tỷ lệ auxin/etylen Muốn kìm hãm sự chín, cần tăng cường hàm lượng auxin trong mô quả, vì vậy việc sử dụng dung dịch auxin cho quả xanh hoặc quả sắp chín có thể kéo dài thời gian tồn tại của quả trên cây Với quả đã thu hoạch trong kho ta có thể phun dung dịch auxin cho chúng để kéo dài được thời gian bảo quản sau thu hoạch Điều này rất có ý nghĩa trong vụ quả chín cần thu hoạch đồng loạt mà khả năng vận chuyển và tiêu thụ có hạn Trước đây người ta thường sử dụng dung dịch 2,4D với nồng độ 10-25 ppm nhưng hiện nay thường sử dụng α-NAA với nồng độ 10-20nppm mà không gây độc hại cho người sử dụng

1.6.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Ở Hawai nhiều cánh đồng dứa được phun dung dịch muối natri của α-NAA

ở nồng độ 25ppm thì dứa ra hoa sớm hơn 2-3 tuần, Auxin kìm hãm sự rụng của lá, hoa và quả, nồng độ sử dụng tùy thuộc vào từng loại quả, ví dụ: Cà chua, bầu, bí, cam, chnh nồng độ α-NAA 10-20ppm, 2,4D nồng độ 5-10ppm

Theo Skong, F (1940) có thể dùng chất kích thích sinh trường với liều cao để phun cho cam làm hoa rụng bớt đi để tránh hiện tượng ra quả cách năm Chẳng hạn như nâng nồng độ từ 100ppm, 200ppm 500ppm thấy kết quả như sau: Nồng độ 500ppm; số hoa rụng đi 50%, nồng độ 250ppm: số hoa rụng đi 23%, nồng độ

Trang 35

200ppm số hoa rụng đi 20% Số lượng quả tuy giảm, nhưng do trọng lượng quả tăng lên cho sản lượng ổn định và tránh hiện tượng cách năm

Theo Skong, F (1940), đã bổ xung thêm α-NAA với nồng độ 10-20ppm để làm giảm sự rụng trái táo, sử dụng α-NAA ở nồng độ 40ppm hay phun kết hợp với

GA3 nồng độ 40ppm đã làm giảm sự rụng quả, gia tăng số quả có ý nghĩa khi thu hoạch so với đối chứng, làm cho năng suất của giống Xoài Tommy atkins ở Nam Phi Đối với giống Xoài Langra và Ewais, phun α-NAA 40ppm vào tháng 4 có ý nghĩa làm giảm sự rụng quả so với đối chứng

Ở Trung Quốc phun 2,4D ở nồng đô 5-10 ppm vào mùa hoa cam đang nở

rộ thấy tỷ lệ đậu quả tăng so với đối chứng, đường kính quả tăng 9%, sản lượng tăng 34,2%

+ GA3 (Gibberllin)

Lịch sử phát hiện ra Gibberllin gắn liền với những nghiên cứu bệnh lúa von

mà các nhà nghiên cứu người Nhật đã quan tâm từ lâu Triệu chứng điển hình là cây lúa tăng trưởng chiều cao quá mức, làm cây yếu, giảm năng suất trên 40% Các nhà bệnh cây Nhật Bản cho rằng bệnh von là do loại nấm ký sinh ở cây lúa có tên là gibberela fujikuroi gây nên, loại nấm này đã tiết ra một chất nào đó kích thích sự sinh trưởng chiều cao của cây lúa và gây lên bệnh lý

Sau đó các nhà nghiên cứu đã chiết tách và xác định được GA3 (Gibberllin)

từ các thực vật bậc cao khác nhau và xác định Gibberllin là một Phytohocmon quan trọng và phổ biến của toàn thế giới thực vật Ngày nay người ta đã xác định được hơn 50 loại Gibberllin khác nhau và được ký hiệu là G1, GA2, GA3 trong đó GA3 (axit gibberellic) là có hoạt tính mạnh nhất

Theo Lockhanrt, J.A, (1961), trong nhiều trường hợp GA3 kích thích sự ra hoa rõ rệt, ảnh hưởng đặc trưng GA3 đến sự ra hoa là kích thích sự sinh trưởng và phát triển của trụ nằm dưới hoa (ngồng), nó được coi là thành phần hocmon ra hoa,

có thể xử lý GA3 để có hoa quả trái vụ

GA3 cũng có tác dụng trong việc phân hóa các cơ quan sinh sản đặc biệt là

sự phân hóa giới tính đực và cái, kích thích sự hình thành hoa đực và ức chế quá trình hình thành hoa cái, chính vì vậy mà người ta đã sử dụng GA3 để điều khiển số lượng hoa đực của các cây họ bầu bí

Trang 36

GA3 có vai trò sinh trưởng đối với sự sinh trưởng của cây non thúc đẩy các lộc cành phát triển, tăng tỷ lệ đậu quả, làm quả nhanh lớn, giúp cho quả chín muộn,

ức chế quá trình phân hóa mầm hoa, đặc biệt là tạo quả không hạt Tuy nhiên cần khảo nghiệm đối với giống cụ thể ở các địa phương khác nhau Ngoài ra cần nắm vững nồng độ, thời kỳ phun, liều lượng và kỹ thuật phun thích hợp, trong đó nồng

độ và thời kỳ phun có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng tỷ lệ đậu quả [24]

1.7 Giới thiệu khái quát về cây cam Đường Canh

Cam Đường Canh (cam Canh, cam Giấy) được trồng nhiều ở vùng Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) nên có tên là Cam Đường Canh Cam Đường Canh chính

Canh-là một loại quýt, vỏ mỏng và bóc dễ Cây sinh trưởng khoẻ, tán cây hình dù, lá màu xanh đậm, cao 3-3,5 m, đường kình 3-4 m, ra hoa tháng 2-3, thu hoạch tháng 11-12 Quả hình cầu dẹt, chín màu đỏ, vỏ mọng, ruột màu vàng, ăn ngọt, thơm Trọng lượng trung bình 80 gr-120 gr/quả Cam Canh thích nghi rộng, trồng được ở nhiều nơi, năng suất cao, nếu chăm sóc tốt, 1ha có thể thu 40-50 tấn quả Hiện nay, cam Canh đã được trồng nhiều ở Từ Liêm (Hà Nội), Văn Giang (Hưng Yên)

Trang 37

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

+ Chế phẩm điều hòa sinh trưởng: Kích phát tố hoa trái thiên nông; Atonic

- Kích phát tố thiên nông: Chế phẩm điều hòa sinh trưởng kích phát tố cho hoa trái thiên nông, Hoạt chất Alpha-Naphthalene Acetic Acid 2%, Beta-Naphtoxy Acetic Acid 0,5%, Gibberrellic Acid GA-3 0,1% Công dụng giúp cây trổ sớm, nhiều hoa, đậu nhiều quả, quả có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng quả non

- Atonic: Chế phẩm điều hòa sinh trưởng được sản xuất bởi công ty cổ phần nông dược TCS, Hoạt chất Nitro thơm 1,8gr/l, Công dụng giúp tăng sức đề kháng, tăng năng suất và phẩm chất nông sản

+ Phân bón qua lá: Siêu kali; Boom

- Siêu kali: Là loại phân bón qua lá cao cấp giàu kali, magie, có tác dụng cung cấp các thành phần dinh dưỡng quan trọng cho giai đoạn nuôi trái, giúp trái lớn, màu sắc đẹp, hương vị thơm ngon

- Boom: Hoạt chất Nitro Benzen, công dụng tăng cường sinh trưởng, kích thích ra hoa, làm tăng năng suất

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm: xã bản Giang, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

2.1.4 Thời gian nghiên cứu

- Thời gian từ tháng 2 năm 2014 đến tháng 10 năm 2015

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu

Trang 38

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của giống cam Đường Canh trồng tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu thông qua các chỉ tiêu về hình thái, sức sinh trưởng (qua các đợt lộc xuân, hè, thu) khả năng ra hoa, khả năng đậu quả và khả năng cho năng suất, chất lượng quả khi thu hoạch

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật (Sử dụng các chế phẩm điều hòa sinh trưởng, phân bón qua lá, các biện pháp cắt tỉa) đến sự rụng hoa, rụng quả, khả năng sinh trưởng của quả và khả năng cho năng suất của giống cam

Đường Canh trồng tại huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu

2.3 phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học

Chọn vườn cam trồng tập trung có độ tuổi 5 năm sau trồng, trong vườn chọn

15 cây, đồng đều về sinh trưởng, phát triển, cùng hình thức nhân giống và chế độ chăm sóc chia làm 3 lần nhắc lại (mỗi lần nhắc lại 5 cây), mỗi cây chọn 3 cành đều

về các hướng, đánh dấu và tiến hành theo dõi các chỉ tiêu sau:

* Đặc điểm sinh trưởng bộ tán cây:

- Chiều cao cây: Đo toàn bộ 15 cây làm thí nghiệm, tính trung bình

- Đường kính tán: Đo toàn bộ 15 cây làm thí nghiệm, tính trung bình

- Đường kính gốc: Đo toàn bộ 15 cây làm thí nghiệm, tính trung bình

- Số cành cấp 1, số cành cấp 2

- Đặc điểm lá (mầu sắc, dài, rộng, độ dày phiến lá, hình dạng lá )

* Đặc điểm sinh trưởng cành

- Số đợt lộc, theo dõi các đợt lộc ra trong năm 2014 và 2015

- Thời gian bắt đầu ra lộc Được tính từ khi có 5% số cành/cây bật lộc

- Thời gian lộc ra rộ được tính khi 50% số cành/cây bật lộc

- Thời gian kết thúc ra lộc Được tính khi trên 80% số lộc trên cây thành thục

- Số lộc/cành Định cành theo dõi (theo dõi 30 cành/3 lần nhắc lại, các cành theo dõi phân đều về các hướng quanh tán), đếm tất cả số lộc có trên cành theo dõi, đánh dấu và ghi cụ thể thời gian

- Chiều dài cành lộc: đo 15 ngày một lần sau khi lộc xuất hiện

- Đường kính lộc: đo cách gốc cành 1 cm khi cành lộc đã thành thục

Trang 39

* Các đặc điểm ra hoa, đậu quả

- Thời gian bắt đầu ra hoa, đậu quả Tính từ khi có 5% số hoa, quả xuất hiện

- Thời kỳ nở hoa tập trung Khi có 25-75% hoa nở

- Thời kỳ tàn hoa Khi có >80% hoa rụng cánh

- Theo dõi tỷ lệ các loại hoa (đực, cái, lưỡng tính)

- Theo dõi tỷ lệ đậu quả

Số quả đến khi thu hoạch

Tỷ lệ đậu quả đến thu hoạch (%) =–––––––––––––––––––––– x 100

Tổng số quả hình thành

- Thời kỳ chín Được tính khi có >20% số quả chín

- Năng suất và các yếu tố cấu thành năng xuất: đếm số quả/cây, tính khối lượng trung bình quả (g), đo đường kính, chiều cao quả (cm), dung lượng mẫu đo đếm 30 quả/lần nhắc lại Tính năng suất (kg quả/cây)

* Các chỉ tiêu về chất lượng quả:

- Hàm lượng chất khô (%) được xác định theo phương pháp sấy đến khối lượng không đổi

- Đường tổng số (%)được xác định theo phương pháp Bertrand

- Vitamin C, (mg/100g) xác định theo phương pháp tilman

- Axit tổng số (%)

- Độ Brix (%), đo bằng Brix kế cầm tay

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam Đường Canh

Trang 40

nở rộ, lần 3 khi quả đậu được 30 ngày

- Công thức 1: Kích phát tố hoa trái thiên nông

- Công thức 2: Atonic

- Công thức 3: đối chứng (phun nước lã)

* Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

- Tỷ lệ đậu hoa, tỷ lệ đậu quả, động thái rụng quả, năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng quả

+ Động thái rụng hoa, rụng quả và tỷ lệ đậu quả Đếm số quả đậu sau khi tàn hoa 15 ngày và đếm cho đến lúc thu hoạch (cứ 30 ngày đếm 1 lần)

- Thời kỳ chín Được tính khi có >20% số quả chín

- Năng suất và các yếu tố cấu thành năng xuất: đếm số quả/cây, tính khối lượng trung bình quả (g), đo đường kính, chiều cao quả (cm), dung lượng mẫu đo đếm 30 quả/lần nhắc lại Tính năng suất (kg quả/cây)

* Các chỉ tiêu về chất lượng quả:

- Hàm lượng chất khô (%) được xác định theo phương pháp sấy đến khối lượng không đổi

- Đường tổng số (%)được xác định theo phương pháp Bertrand

- Vitamin C, (mg/100g) xác định theo phương pháp tilman

- Axit tổng số (%)

- Độ Brix (%), đo bằng Brix kế cầm tay

Ngày đăng: 11/01/2016, 17:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Áng (1995), “Nghiên cứu và thử nghiệm hiệu quả sử dụng phân vi lượng đa thành phần đối với một số cây trên một số loại đất”, Đề tài KN-01-10, Kết quả nghiên cứu về phân bón, Viện nông hoá thổ nhưỡng, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và thử nghiệm hiệu quả sử dụng phân vi lượng đa thành phần đối với một số cây trên một số loại đất”, "Đề tài KN-01-10, Kết quả nghiên cứu về phân bón, Viện nông hoá thổ nhưỡng
Tác giả: Trần Thị Áng
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1995
2. Phí Văn Ba (1976), Con đường trao đổi chất trong sinh học, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường trao đổi chất trong sinh học
Tác giả: Phí Văn Ba
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1976
3. Đặng Thị Bình (1999), Biện pháp phòng trừ rầy chổng cánh (Diaphorina citri) côn trùng môi giới truyền bệnh Greening cam quít, Báo cáo khoa học, Viện bảo vệ thực vật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp phòng trừ rầy chổng cánh (Diaphorina citri) côn trùng môi giới truyền bệnh Greening cam quít
Tác giả: Đặng Thị Bình
Năm: 1999
4. Trần Thị Bình (1997), “Thành phần sâu hại cam, quít ở Tỉnh Hà Giang”, Tạp chí Bảo vệ thực vật số 5, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần sâu hại cam, quít ở Tỉnh Hà Giang”, "Tạp chí Bảo vệ thực vật số 5
Tác giả: Trần Thị Bình
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1997
5. Nguyễn Thanh Bình, Hồ Quốc Anh, Nguy ễn Minh Châu (2006), “Kết quả khảo sát sự sinh trưởng và triệu chứng bên trong ở cam sành nhiễm bệnh vàng lá Greening”, Kết quả nghiên cứu Khoa học Công nghệ Rau Hoa Quả 2004 - 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thanh Bình, Hồ Quốc Anh, Nguyễn Minh Châu (2006), “Kết quả khảo sát sự sinh trưởng và triệu chứng bên trong ở cam sành nhiễm bệnh vàng lá Greening”
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình, Hồ Quốc Anh, Nguy ễn Minh Châu
Năm: 2006
6. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2005), Công nghệ và Tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ và Tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: NXBNN
Năm: 2005
7. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2009), “Đánh giá hiện trạng và định hướng phát triển cây ăn quả các tỉnh phía Bắc”, Báo cáo Cục Trồng trọt tháng 2/2009, Tài liệu nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng và định hướng phát triển cây ăn quả các tỉnh phía Bắc”, "Báo cáo Cục Trồng trọt tháng 2/2009
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2009
8. Đỗ Đình Ca, Nguyễn Việt Hưng (2005), “Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón, tưới nước đến khả năng ra hoa đậu quả, năng suất cam Phúc Trạch”, Báo cáo khoa học tháng 12/2005 - Viện nghiên cứu Rau Quả Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón, tưới nước đến khả năng ra hoa đậu quả, năng suất cam Phúc Trạch”, "Báo cáo khoa học tháng 12/2005 -
Tác giả: Đỗ Đình Ca, Nguyễn Việt Hưng
Năm: 2005
9. Nguyễn Văn Cảm và cộng tác viên (1999), “Sử dụng dầu khoáng trong phòng trừ tổng hợp sâu hại cây có múi ở nông trường cam Cao Phong, Hoà Bình”, Tạp chí Bảo vệ thực vật (5), NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng dầu khoáng trong phòng trừ tổng hợp sâu hại cây có múi ở nông trường cam Cao Phong, Hoà Bình”, "Tạp chí Bảo vệ thực vật
Tác giả: Nguyễn Văn Cảm và cộng tác viên
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1999
10. Nguyễn Minh Châu (1997), “Kết quả bước đầu điều tra, bình tuyển và du nhập giống cây ăn quả”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, số 6, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu điều tra, bình tuyển và du nhập giống cây ăn quả”, "Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1997
11. Nguyễn Minh Châu (2009), Giới thiệu các giống cây ăn quả phổ biến ở Miền Nam, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu các giống cây ăn quả phổ biến ở Miền Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXBNN
Năm: 2009
12. Trương Thị Ngọc Chi (1995), “Khảo sát tính ưa thích của sâu vẽ bùa (Phyllocnistis Citrella Stainton) trên một số loài cây họ cam quít của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, Tạp chí Bảo vệ thực vật, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tính ưa thích của sâu vẽ bùa (Phyllocnistis Citrella Stainton) trên một số loài cây họ cam quít của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long”, "Tạp chí Bảo vệ thực vật
Tác giả: Trương Thị Ngọc Chi
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1995
13. Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), Côn trùng và nhện gây hại cây ăn trái vùng Đồng bằng sông Cửu Long và biện pháp phòng trị, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng và nhện gây hại cây ăn trái vùng Đồng bằng sông Cửu Long và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Cúc
Nhà XB: NXBNN
Năm: 2000
14. Lê Xuân Cuộc (1997), “Điều tra bệnh vàng lá cam quít ở Tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, Tạp chí Bảo vệ thực vật số 4, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra bệnh vàng lá cam quít ở Tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, "Tạp chí Bảo vệ thực vật số 4
Tác giả: Lê Xuân Cuộc
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1997
15. Lê Quốc Điền, Đỗ Hồng Tuấn, Nguyễn Văn Hoà (2006), “Kết quả khảo sát mô hình cam sành trồng xen ổi và bước đầu thử nghiệm ảnh hưởng các chất ly trích từ lá ổi đối với rầy chổng cánh”, Kết quả Nghiên cứu Khoa học Công nghệ Rau Hoa Quả 2004 - 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát mô hình cam sành trồng xen ổi và bước đầu thử nghiệm ảnh hưởng các chất ly trích từ lá ổi đối với rầy chổng cánh”
Tác giả: Lê Quốc Điền, Đỗ Hồng Tuấn, Nguyễn Văn Hoà
Năm: 2006
16. Lê Đình Định (1990), “Tình hình dinh dưỡng đất trồng cam ở chu kỳ 1 của một số loại đất chính vùng Phủ Quỳ - Nghệ Tĩnh”, Một số kết quả nghiên cứu khoa học trạm thí nghiệm cây nhiệt đới Tây Hiếu 1960- 1990, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình dinh dưỡng đất trồng cam ở chu kỳ 1 của một số loại đất chính vùng Phủ Quỳ - Nghệ Tĩnh”, "Một số kết quả nghiên cứu khoa học trạm thí nghiệm cây nhiệt đới Tây Hiếu 1960- 1990
Tác giả: Lê Đình Định
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1990
17. Lê Đình Định (1990), “Một số kết quả trồng thử 2 giống cam Hamlin và Orlinda Valencia ở Phủ Quỳ - Nghệ Tĩnh”, Một số kết quả Nghiên cứu khoa học trạm thí nghiệm cây nhiệt đới Tây Hiếu 1960- 1990, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả trồng thử 2 giống cam Hamlin và Orlinda Valencia ở Phủ Quỳ - Nghệ Tĩnh"”, Một số kết quả Nghiên cứu khoa học trạm thí nghiệm cây nhiệt đới Tây Hiếu 1960- 1990
Tác giả: Lê Đình Định
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1990
18. Vũ Mạnh Hải (1991), “Góp phần xác định tiềm năng năng suất cam vùng Phủ Quỳ”, Tạp chí Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần xác định tiềm năng năng suất cam vùng Phủ Quỳ”, "Tạp chí Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm
Tác giả: Vũ Mạnh Hải
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1991
19. Vũ Mạnh Hải (2001), “Một vài ý kiến về quy hoạch vùng trồng một số cây ăn quả chủ đạo ở Miền Bắc Việt Nam”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn số 3, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý kiến về quy hoạch vùng trồng một số cây ăn quả chủ đạo ở Miền Bắc Việt Nam”, "Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn số 3
Tác giả: Vũ Mạnh Hải
Nhà XB: NXBNN
Năm: 2001
20. Vũ Mạnh Hải, Trần Thế Tục (1988), “Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến năng suất cam vùng Phủ Quỳ”, Tạp chí KHKTNN- 10, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến năng suất cam vùng Phủ Quỳ”, "Tạp chí KHKTNN- 10
Tác giả: Vũ Mạnh Hải, Trần Thế Tục
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1988

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới đến năm 2012 - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới đến năm 2012 (Trang 16)
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng cây có múi năm 2005- 2011 - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng cây có múi năm 2005- 2011 (Trang 18)
Bảng 3.1. Số liệu khí tượng trung bình của huyện Tam Đường 2014 - 2015 - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 3.1. Số liệu khí tượng trung bình của huyện Tam Đường 2014 - 2015 (Trang 45)
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất tại xã bản Giang - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất tại xã bản Giang (Trang 47)
Bảng 3.3. Một số chỉ tiêu của phẫu diện thổ nhưỡng tại xã bản Giang - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 3.3. Một số chỉ tiêu của phẫu diện thổ nhưỡng tại xã bản Giang (Trang 48)
Bảng 3.5: Khả năng sinh trưởng các đợt lộc - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 3.5 Khả năng sinh trưởng các đợt lộc (Trang 51)
Bảng 3.7: Đặc điểm hình thái cây cam Canh  Chỉ - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 3.7 Đặc điểm hình thái cây cam Canh Chỉ (Trang 53)
Bảng 3.8: Tình hình sâu bệnh hại trên cây cam Đường Canh. - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 3.8 Tình hình sâu bệnh hại trên cây cam Đường Canh (Trang 54)
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và (Trang 56)
Hình 3.1: Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và Atonic - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Hình 3.1 Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và Atonic (Trang 58)
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của việc phun kích phát tố hoa trái thiên nông và (Trang 59)
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của việc phun phân bón qua lá Siêu kali và Boom đến - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của việc phun phân bón qua lá Siêu kali và Boom đến (Trang 61)
Hình 3.2: Ảnh hưởng của việc phun phân bón qua lá Siêu Kali và Boom đến - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Hình 3.2 Ảnh hưởng của việc phun phân bón qua lá Siêu Kali và Boom đến (Trang 63)
Bảng 3.19: Ảnh hưởng của việc áp dụng các biện pháp cắt tỉa đến năng suất - Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam đường canh tại huyện tam đường, tỉnh lai châu
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của việc áp dụng các biện pháp cắt tỉa đến năng suất (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w