nguồn nhân lực; góp phần đẩy nhanh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu sản xuất; xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm và từng bước thay đổi tập quán canh tác cho bà con nông dân; góp
Trang 1NGUYỄN VĂN BIỂN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH NGHI
VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI
CÂY MẮC CA TẠI TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2NGUYỄN VĂN BIỂN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH NGHI
VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI
CÂY MẮC CA TẠI TỈNH LAI CHÂU
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số ngành: 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đào Thanh Vân
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các tài liệu trích dẫn được ghi rõ nguồn gốc và mọi sự giúp
đỡ đã được cảm ơn
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Biển
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Thanh Vân đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Nông học và phòng Đào tạo, Trường Đại học Nông lâm Đại học Thái Nguyên đã quan tâm, giúp
đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, ban giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Lâm nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, người thân trong gia đình đã tận tình động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Biển
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu vùng sinh thái và đặc điểm nông sinh học 4
1.1.2 Cơ sở khoa học của nghiên cứu sử dụng phân bón lá 4
1.1.3 Cơ sở khoa học của nghiên cứu chất điều hòa sinh trưởng 5
1.2 Đặc điểm nông sinh học và yêu cầu sinh thái của cây Mắc ca 5
1.2.1 Tên gọi, nguồn gốc xuất xứ và đặc điểm hình thái 5
1.2.2 Đặc điểm sinh học 7
1.2.3 Yêu cầu về sinh thái của cây Mắc ca 9
1.3 Giá trị của cây Mắc ca 12
1.4 Các biện pháp kỹ thuật gây trồng và phát triển cây Mắc ca 14
1.4.1 Các nghiên cứu về Mắc ca trên thế giới 14
1.4.2 Các nghiên cứu về Mắc ca ở trong nước 18
1.4.3 Nghiên cứu cây Mắc ca ở Tây Bắc và Lai Châu 24
1.4.4 Đặc điểm các yếu tố tự nhiên tỉnh Lai Châu 27
Trang 6Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 35
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 35
2.1.4 Thời gian nghiên cứu 36
2.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 36
2.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 38
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và xác định vùng có khả năng thích ứng phát triển Mắc ca ở Lai Châu 42
3.1.1 Đánh giá thực trạng trồng, phát triển cây Mắc ca ở tỉnh Lai Châu 42
3.1.2 Đặc điểm các yếu tố tự nhiên vùng nghiên cứu 47
3.1.3 Phân vùng thích nghi để phát triển Mắc ca tỉnh Lai Châu 54
3.1.3 Kết quả đánh giá xác định vùng thích nghi cây Mắc ca tỉnh Lai Châu 58 3.2 Kết quả nghiên cứu đặc điểm nông sinh học các dòng Mắc ca trồng ở Lai Châu 60
3.2.1 Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái các dòng Mắc ca trồng ở Lai Châu 60
3.2.2 Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng các dòng Mắc ca ở Lai Châu 61
3.2.3 Kết quả nghiên cứu đặc điểm phát triển các dòng Mắc ca trồng ở Lai Châu 62
Trang 73.3 Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với dòng Mắc ca có
triển vọng tại Lai Châu giai đoạn kiến thiết cơ bản 67
3.3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng các loại phân bón qua lá đối với sinh trưởng, phát triển dòng Mắc ca OC 67
3.3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng các chất điều tiết sinh trưởng đến sinh trưởng, phát triển dòng Mắc ca OC ở Lai Châu 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Đề nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 79
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 IAA - Indole-3-acetic acid
2 IBA - Indole-3-butyric acid
9 TCVN - Tiêu chuẩn Việt Nam
10 UBND - Ủy ban nhân dân
11 VIEGAP - Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam
12 Zn - Kẽm
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tính chất hoá - lý của đất ở các khu vực khảo nghiệm 10
Bảng 1.2: Thành phần dinh dưỡng trong nhân Mắc ca(Wenkham & Miller 1965) 12 Bảng 1.3: Đặc điểm thời tiết một số huyện trong tỉnh qua 10 năm(2003-2013) 28
Bảng 1.4: Tốc độ gió trung bình và lớn nhất (m/s) thángvà năm tỉnh Lai Châu (từ năm 2001-2010) 30
Bảng 1.5: Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Lai Châu 34
Bảng 3.1: Diện tích sản xuất Mắc ca ở Lai Châu 43
Bảng 3.2: Tình hình phân bố Mắc ca theo độ dốc ở Lai Châu 45
Bảng 3.3: Phân bố cây Mắc ca theo phương thức canh tác ở Lai Châu 46
Bảng 3.4: Tình hình phân bố trồng các dòng Mắc ca ở tỉnh Lai Châu 46
Bảng 3.5: Đặc điểm khí hậu các huyện trong tỉnh qua 10 năm(2003-2013) 47
Bảng 3.6: Tốc độ gió trung bình và lớn nhất (m/s) tháng và nămtỉnh Lai Châu (từ năm 2001-2010) 49
Bảng 3.7: Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Lai Châu 53
Bảng 3.8: Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng cây Mắc ca nơi nguyên sản 54
Bảng 3.9: Bảng phân cấp mức độ thích nghi về điều kiện đất, khí hậu của cây Mắc ca 55
Bảng 3.10 Phân cấp yếu tố, chỉ tiêu phục vụ xây dựng bản đồ đơn vị đất đai vùng thích nghi phát triển Mắc ca trên địa bàn tỉnh Lai Châu 56
Bảng 3.11: Lựa chọn và cho điểm các nhân tố xây dựng bản đồ thích nghi 57
Bảng 3.12: Diện tích mức độ thích hợp của đất đối với cây Mắc ca trên các loại hình sử dụng đất 58
Bảng 3.13: Diện tích đất có khả năng trồng Mắc ca tỉnh Lai Châu của các huyện trong tỉnh Lai Châu 59
Bảng 3.14: Đặc điểm hình thái lá của các dòng Mắc ca ở Lai Châu 60
Bảng 3.15: Đánh giá sinh trưởng các dòng Mắc ca ở Lai Châu 61
Trang 10Bảng 3.16: Đặc điểm hình thái hoa của các dòng Mắc ca ở Lai Châu 62
Bảng 3.17: Đặc điểm ra quả các dòng Mắc ca ở Lai Châu 62
Bảng 3.18: Đặc điểm sinh trưởng lộc các dòng Mắc ca ở Lai Châu 63
Bảng 3.19: Đặc điểm lộc của một số dòng Mắc ca ở Lai Châu 64
Bảng 3.20: Đặc điểm phát triển hoa, quả các dòng Mắc ca ở Lai Châu 64
Bảng 3.21: Tình hình sâu hại trên một số dòng Mắc ca ở Lai Châu 65
Bảng 3.22: Tình hình bệnh hại trên một số dòng Mắc ca ở Lai Châu 65
Bảng 3.23: Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất một số dòng Mắc ca ở Lai Châu 66
Bảng 3.24: Ảnh hưởng các loại phân bón qua lá đến đặc điểm sinh trưởng lộc của dòng OC ở Lai Châu 67
Bảng 3.25: Ảnh hưởng các loại phân bón qua lá đến đặc điểm lộc của dòng Mắc ca OC ở Lai Châu 68
Bảng 3.26: Ảnh hưởng các loại phân bón lá đến đặc điểm phát triển của dòng Mắc ca OC ở Lai Châu 68
Bảng 3.27: Ảnh hưởng các loại phân bón lá đến tình hình bệnh hại trên dòng Mắc ca OC ở Lai Châu 69
Bảng 3.28: Ảnh hưởng các loại phân bón qua lá đến năng suấtcủa dòng Mắc ca OC ở Lai Châu 69
Bảng 3.29: Ảnh hưởng các loại chất điều hoà sinh trưởng đến đặc điểm sinh trưởng lộc của dòng OC ở Lai Châu 70
Bảng 3.30: Ảnh hưởng các loại chất điều hoà sinh trưởng đến đặc điểm lộc của dòng Mắc ca OC ở Lai Châu 71
Bảng 3.31: Ảnh hưởng các loại chất điều hoà sinh trưởng đến đặc điểm phát triển của dòng Mắc ca OC ở Lai Châu 71
Bảng 3.32: Ảnh hưởng các loại chất điều hoà sinh trưởng đến tình hình bệnh hại trên dòng Mắc ca OC ở Lai Châu 72
Bảng 3.33: Ảnh hưởng các loại chất điều hoà sinh trưởng đến năng suất của dòng Mắc ca OC ở Lai Châu 72
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hình thái cây Mắc ca 6Hình 1.2 Hoa và quả Mắc ca non 6Hình 1.3 Quả, hạt và nhân Mắc ca 7
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây Mắc ca (Macadamia) thuộc chi Mắc ca, họ Chẹo (Proteaceae), là
cây quả khô thân gỗ, là một trong những cây ăn quả đặc sản bởi giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, hiện đang được phát triển với quy mô lớn ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam Thành phần hữu ích là nhân hạt mầu sữa trắng ngả vàng, chiếm gần 1/3 trọng lượng hạt Nhân Mắc ca thường được sử dụng làm mặt hàng thực phẩm chiên, làm sô cô la, sản xuất hàng mỹ phẩm,…
Sản phẩm của Mắc ca có giá trị dinh dưỡng cao lại được sử dụng đa dạng trong nhiều ngành kinh tế nên nhu cầu của thị trường rất lớn, dự báo nhu cầu nhân Mắc ca trên thị trường sẽ ngày càng tăng, song rất ít nước trồng được để cho ra quả ngoài một số nước ở khu vực cận nhiệt đới và á nhiệt đới
Ở Đông Nam Á chỉ có một diện tích nhỏ của Thái Lan, Bắc Myanmar và vùng Tây Nguyên, Tây Bắc của Việt Nam trồng được Mắc ca trồng khoảng
360 cây/ha, đến thời điểm 7 năm tuổi thu khoảng 3 tấn hạt Với giá chỉ cần 50.000 đồng/kg đã thu được trên dưới 150 triệu đồng/ha, chính vì vậy, đây là cây có giá trị kinh tế cao
Ngoài ra, cây Mắc ca có tán lớn, tuổi thọ dài, sức chống chịu tốt, là một cây phủ xanh đất trống đồi trọc có hiệu quả nên còn có giá trị góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và cải thiện điều kiện kinh tế xã hội, đặc biệt là vùng trung du miền núi Trồng Mắc ca sẽ tạo được công ăn việc làm ổn định cho một bộ phận dân cư Trồng Mắc ca còn tạo công ăn việc làm cho dân cư nông thôn, đặc biệt là vùng trung du và miền núi, vùng định cư của đồng bào các dân tộc ít người
Qua thực tiễn thử nghiệm trồng cây Mắc ca trên địa bàn tỉnh, để tiếp tục phát huy những tiềm năng, lợi thế của tỉnh về đất đai, điều kiện khí hậu và
Trang 13nguồn nhân lực; góp phần đẩy nhanh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu sản xuất; xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm và từng bước thay đổi tập quán canh tác cho bà con nông dân; góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái và tạo vùng nguyên liệu tập trung gắn với công nghiệp chế biến; đồng thời tạo hành lang pháp lý
để phát triển cây Mắc ca trên địa bàn cần phải có công trình nghiên cứu cụ thể làm cơ sở khoa học để định hướng, chỉ đạo lâu dài
Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về cây Mắc ca trên địa bàn cả nước nói chung, vùng Tây Bắc và tỉnh Lai Châu nói riêng còn rất hạn chế Đặc biệt là những công trình nghiên cứu xác định sự thích nghi về điều kiện
tự nhiên ở một số vùng sinh thái, kỹ thuật canh tác (làm đất, thời vụ, kỹ thuật trồng mới, bón phân chăm sóc, bảo vệ thực vật, ) và giống đối với phát triển Mắc ca bền vững trong vùng
Từ thực tế trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng thích nghi và một số biện pháp kỹ thuật đối với cây Mắc ca ở tỉnh Lai Châu”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của cây Mắc ca tại một số vùng sinh thái ở tỉnh Lai Châu và nghiên cứu sử dụng phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng cho cây Mắc ca tại tỉnh Lai Châu
Trang 142.3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá tiềm năng phát triển của cây Mắc ca trên địa bàn tỉnh Lai Châu
- Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống Mắc ca
- Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng đối với cây Mắc ca tại tỉnh Lai Châu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Thông qua nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố khí hậu, đất đai với quá trình sinh trưởng, phát triển của cây Mắc ca ở tỉnh Lai Châu để đánh giá tính thích ứng của một số giống làm cơ sở khoa học cho việc phát triển bền vững cây Mắc ca trong tỉnh
- Cung cấp nguồn tư liệu khoa học liên quan đến sinh trưởng, phát triển của một số giống Mắc ca phục vụ cho công tác chọn giống và xây dựng quy trình thâm canh phù hợp trong điều kiện tỉnh Lai Châu nói riêng và các tỉnh Tây Bắc nói chung
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học phục vụ cho công tác giảng dạỵ, nghiên cứu cây Mắc ca ở nước ta
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần định hướng và quy hoạch vùng trồng cây Mắc ca thích hợp ở tỉnh Lai Châu và các tỉnh vùng Tây Bắc
- Khuyến cáo những giống Mắc ca triển vọng, sinh trưởng và phát triển tốt,
có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái ở tỉnh Lai Châu
- Xác định được các loại phân bón thích hợp và không thích hợp với dòng Mắc ca OC trồng ở Lai Châu
- Góp phần sử dụng hiệu quả, bền vững nguồn tài nguyên đất đai, khí hậu, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân trong tỉnh
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu vùng sinh thái và đặc điểm nông sinh học
Cây lâu năm chịu ảnh hưởng rất rõ của các điều kiện ngoại cảnh và các ảnh hưởng đó được phản ánh ra trên bản thân của cây bằng những biểu hiện của sinh trưởng, phát triển, khả năng cho năng suất và phẩm chất Cây Mắc ca
là cây ưa sáng, được trồng ở các quốc gia có khí hậu ẩm, cận nhiệt đới, tuy nhiên do khả năng thích ứng rộng nên Mắc ca hiện nay được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau
Đặc điểm nông sinh học của cây là phản ánh đặc điểm về đặc điểm thực vật học và sinh vật học của giống ở các điều kiện ngoại cảnh khác nhau Trên cơ sở đó sẽ xác định được khả năng thích ứng và quy luật sinh trưởng, phát triển của cây trồng ở từng vùng sinh thái
1.1.2 Cơ sở khoa học của nghiên cứu sử dụng phân bón lá
Phân bón có vai trò rất quan trọng đối với cây trồng nói chung và cây Mắc
ca nói riêng Ngoài việc bón phân qua hệ rễ thì việc bón phân qua lá là biện pháp
kỹ thuật quan trọng, có hiệu suất sử dụng phân bón cao, cung cấp dinh dưỡng có hiệu quả, bổ sung kịp thời các nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng
Khi bón phân qua lá, các chất dinh dưỡng được dẫn đến các tế bào, mô cây qua hệ thống khí khổng ở bề mặt lá Trong thành phần chất dinh dưỡng của phân bón qua lá ngoài các nguyên tố đa lượng như đạm, lân, kali còn có các nguyên tố trung lượng và vi lượng như Fe, Zn, Cu, Mg,… các nguyên tố này tuy có hàm lượng rất nhỏ nhưng lại giữ vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng Do đó, khi bổ sung các chất dinh dưỡng trực tiếp qua lá sẽ giúp
Trang 16đáp ứng đủ nhu cầu và cân đối dinh dưỡng nên tạo điều kiện cho cây phát triển đầy đủ trong từng giai đoạn sinh trưởng Phân bón qua lá có tác dụng đặc biệt trong những trường hợp cần bổ sung khẩn cấp chất dinh dưỡng đạm, lân, kali hay các nguyên tố trung, vi lượng Ngoài ra, trong thành phần của phân bón qua lá còn có các chất điều hòa sinh trưởng, tăng khả năng hấp thụ dưỡng chất, kích thích đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu quả, giảm hiện tượng rụng trái non, quả to đẹp, phẩm chất ngon và tăng cường khả năng đề kháng chống chịu sâu bệnh
1.1.3 Cơ sở khoa học của nghiên cứu chất điều hòa sinh trưởng
Các chất điều tiết sinh trưởng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lý của cây trồng Chất điều hòa sinh trưởng đã và đang được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt như một phương tiện điều chỉnh hóa học quan trọng… Các ứng dụng của chất điều hòa sinh trưởng như: kích thích sinh trưởng của cây, điều chỉnh giới tính của hoa, tăng đậu quả, đậu quả, điều chỉnh sự chín của quả và sự ngủ nghỉ của hạt, củ Chính vì vậy, việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng đối với cây trồng hiện nay được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả cao trong sản xuất các cây trồng nông nghiệp
1.2 Đặc điểm nông sinh học và yêu cầu sinh thái của cây Mắc ca
1.2.1 Tên gọi, nguồn gốc xuất xứ và đặc điểm hình thái
Cây Mắc ca (Macadamia) được phát hiện từ cây hoang dại ở vùng rừng mưa nhiệt đới ven biển vùng Đông Nam bang Queensland và miền Bắc bang New South Wales trong phạm vi 250 - 310 vĩ độ Nam của Australia
Vào đầu năm 1857, nhà thực vật học nổi tiếng của Australia là B.F Von Mueller và nhà thực vật học Scotlen Walter Hill đã phát hiện loài cây này trong rừng cây bụi ở gần sông Pine của vịnh Moreton của Queensland, đặt tên là cây quả khô Australia ba lá (Macadamia temifolia F.Mueler), xếp các cây này thành một chi mới là Mắc ca để kỷ niệm người bạn của ông là John Macadam
Trang 17Mắc ca là tên gọi chung của các loài cây thuộc chi Macadamia, thuộc
họ Chẹo thui (Proteaceae) Trong số các loài cây thuộc chi này chỉ có 2 loài
là Macadamia tetraphylla và Macadamia integrifolia là cho quả ăn được, hạt chứa dầu cho thương phẩm gần giống hạt Điều (dẫn theo Nguyễn Đình Hải, 2010) Các giống Macadamia trồng ở Việt Nam hiện nay đa số thuộc loài Macadamia integrifolia
Mắc ca là loài thân gỗ, hệ rễ cọc kém phát triển, thân thẳng chia cành nhiều, trên thân có nhiều bì khổng (khi nhân giống bằng giâm hom có khả năng phát rễ từ các bì khổng); lá cứng, mép lá lượn sóng hoặc có răng cưa cứng nhọn như gai; hoa tự bông đuôi sóc mọc ra từ cành 1,5 đến 2 tuổi, hoa lưỡng tính Macadamia ra hoa có 3 thời kỳ phát dục: thời kỳ ngủ nghỉ của mầm, thời
kỳ vươn dài hoa và thời kỳ ra hoa Thời kỳ ngủ nghỉ biến động khoảng 50-96 ngày, thời kỳ vươn dài, kéo dài khoảng 60 ngày Thời điểm nở hoa sau khi phân hoá mầm hoa 136-153 ngày Ở Trung Quốc thời điểm nở hoa vào khoảng tháng 2 đến tháng 3, một số giống chậm hơn có thể đến tháng 4 [10]
Hình 1.1 Hình thái cây Mắc ca Hình 1.2 Hoa và quả Mắc ca non
Quả Macadamia phát dục chia làm 5 giai đoạn, thời gian đầu sau ra hoa
30 ngày, quả non đường kính dưới 1 cm, phía ngoài vỏ quả màu xanh, bên trong xanh nhạt; thời gian sau ra hoa 40-50 ngày, đường kính 1,5 cm; thời
Trang 18gian sau ra hoa 50-60 ngày, đường kính quả khoảng 2 cm, lớp bên trong vỏ quả màu nâu nhạt, nhân quả đã nhìn rõ, màu trắng sữa; thời gian sau ra hoa 60-70 ngày, đường kính 2,5 cm, vỏ quả dày, nhân hạt đã đậm đặc, màu trắng sữa; sau ra hoa 110-140 ngày, đường kính 3 cm, vỏ ngoài của quả mỏng đi, có lớp trong màu nâu vàng, quả cứng lên, đỉnh chóp có lỗ nảy mầm màu trắng, nhân quả màu trắng, cứng (dẫn theo Nguyễn Công Tạn, 2003) [10]
Quả hình trái đào, hoặc tròn như hòn bi, khi chín vỏ quả chuyển từ xanh sang nâu, vỏ khô tự nứt, bên trong chứa một hạt, hiếm khi có 2 hạt Nếu quả chỉ chứa 1 hạt thì hạt tròn như hạt nhãn Vỏ quả cứng và láng bóng như hạt sở, đường kính hạt khoảng 2-3 cm, trọng lượng tươi hạt khoảng 8-9 gam,
tỷ lệ nhân 30-50%, tỷ lệ dầu trong nhân 71-80%
Hình 1.3 Quả, hạt và nhân Mắc ca 1.2.2 Đặc điểm sinh học
Cây Mắc ca là cây ưa sáng, được trồng ở các quốc gia có khí hậu ẩm, cận nhiệt đới Cây có khả năng chịu hạn tốt, trong điều kiện thiếu nước tưới vẫn có thể sinh trưởng và phát triển bình thường Cây có biên độ sinh thái rộng, có thể chịu lạnh tới - 40C đối với cây con và - 60C đối với cây trưởng thành, có thể chịu nóng tới 380C và chịu được sương giá 20 ngày Nhiệt độ tốt nhất để cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất là từ 18 - 250C Hầu hết các
Trang 19giống Mắc ca đều ngừng quang hợp ở 380C Lượng mưa thích hợp từ 1.200 - 2.500mm và phân bố đều Mắc ca ưa đất thịt nhẹ đến trung bình, đất ẩm đều quanh năm Đất có tầng canh tác sâu 1m, tơi xốp, thoát nước tốt, độ pH thích hợp từ 5 - 6 (Cây không ưa đất kiềm, đất phèn mặn, đất đá vôi, đất mắc galít, đất đá ong hoá hoặc thoái hoá nghiêm trọng) Vì vậy, từ xích đạo đến vĩ tuyến
340 nếu chế độ mưa ẩm tốt, cây Mắc ca đều có thể mọc nhưng không hẳn là nơi nào cũng sinh trưởng tốt và cho sản lượng cao
Theo báo cáo của Trung tâm đa dạng Úc, Macadamia chịu đựng khô hạn, độ dốc và gió Theo nghiên cứu sinh thái của cây Macadamia sống ở nơi
có nhiệt độ hàng năm 15-250C, lượng mưa hàng năm 700-2600mm, pH từ 4,5-8 Macadamia phát triển tốt nhất trong khu vực rừng nhiệt đới, dọc theo
bờ biển với độ ẩm cao và mưa nhiều Macadamia mọc tốt trên nhiều loại đất, nhưng không thành công trên bãi cát ven biển bạc màu, đất sét nặng hoặc rặng núi sỏi Sản lượng tốt trên đất sét pha mùn, thoát nước tốt và đất sét pha mùn cát
Cây Mắc ca được trồng trên khắp thế giới Theo thống kê năm 2006, có
8 quốc gia trồng nhiều nhất là: Australia (21.500ha), Nam Phi (8.579ha), Hawaii (7.408ha), Malawi (5.995ha), Goatamala (5.500ha), Brazil (4.722 ha), Kenya (4.348ha), Costa Rica (800ha) Mắc ca còn lại được trồng ở một số quốc gia khác như: Srilanca, Veneduela, Mehico, Zimbabue, Peru, Indonesia, Thái Lan, vv
Nước láng giềng Trung Quốc bắt đầu nhập Mắc ca vào trồng ở Đài Loan vào năm 1910 Năm 1940, nhập và trồng thử ở Quảng Đông Sau đó, có trồng thử ở Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Chiết Giang, Tô Giang Viện nghiên cứu cây Á nhiệt đới Quảng Tây đưa Mắc ca vào nghiên cứu từ năm 1974, đến năm 1987 phát triển với diện tích đạt 200 ha Khu tự trị Quảng Tây có 400 ha cây Mắc ca, sản lượng hàng năm trên 60 tấn Tỉnh Vân Nam bắt đầu phát triển mạnh từ năm 1994, đến nay diện tích đã có tới 2.000ha Tỉnh Tứ Xuyên đã trồng được 200 ha (dẫn theo Nguyễn Công Tạn, 2003) [10]
Trang 20Như vậy, cây Mắc ca có phân bố khá rộng từ Nam bán cầu đến Bắc bán cầu Cây có thể sinh trưởng phát triển được trên rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ từ châu Úc, châu Mỹ, châu Á và thậm chí cả châu Phi Đặc biệt, cây Mắc ca được trồng khá nhiều ở Trung Quốc (nước láng giềng với Việt Nam) Mắc ca trồng ở Trung Quốc sinh trưởng và phát triển tốt, nhất là vùng sinh thái phía Nam Trung Quốc giáp với Việt Nam Đặc điểm phân bố này là một trong những
cơ sở quan trọng trong việc lựa chọn giống Mắc ca thích nghi ở Lai Châu
1.2.3 Yêu cầu về sinh thái của cây Mắc ca
1.2.3.1 Đất đai
- Cây Mắc ca ưa đất thịt nhẹ đến trung bình, không chịu được điều kiện ngập úng, thời hạn úng ngập không quá 10 ngày, đất ẩm đều quanh năm, tầng đất sâu trên 1m, hơi chua, nếu giàu hữu cơ thì đỡ phải bón nhiều phân Mắc
ca có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau như đất sét mùn pha cát, đất đỏ bazan, đất có nguồn gốc núi lửa, đất có lẫn đá ong và đất sét nặng; không ưa đất kiềm, đất phèn mặn, đất đá vôi, đất mắc ga lít, đất đá ong hoá hoặc thoái hoá nghiêm trọng Độ pH tối ưu cho cây sinh trưởng và phát triển
từ 5 - 5,5 (dẫn theo Nguyễn Công Tạn, 2003) [10]
- Độ dày tầng đất là một yếu tố quan trọng giúp bố trí cây trồng hợp lý,
và đây là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và sản lượng quả của cây Mắc ca Tầng đất càng dày càng thuận lợi cho sinh trưởng phát triển của cây; là điều kiện để bộ rễ phát triển sâu, rộng đảm bảo được nước, nguồn dinh dưỡng và giá đỡ cho cây sinh trưởng và phát triển tốt
Theo một số kết quả nghiên cứu về cây Mắc ca thì tiêu chuẩn đất trồng loài cây này có độ dày tốt nhất là >1 m và không có những yếu tố gây trở ngại cho sự phát triển của bộ rễ như đá tảng, đá ong dày đặc
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện nghiên cứu khảo nghiệm cây Mắc ca trên 9 địa điểm: Ba Vì (Hà Nội), Uông Bí, Hoành Bồ
Trang 21(Quảng Ninh), Mai Sơn (Sơn La), Đại Lải (Vĩnh Phúc), Krong Năng (Đăk Lắc), Đăk Plao (Đăk Nông), Đồng Hới (Quảng Bình), Nam Đàn (Nghệ An), Cầu Hai (Phú Thọ) Đặc điểm đất đai trong các khảo nghiệm cây Mắc ca trên các vùng sinh thái là đất đồi, có độ dốc từ 5-100, thực bì chủ yếu cỏ tranh, cây bụi, Sim, Mua,… thuộc nhóm đất Feralit (Sơn La, Phú Thọ, ), đất đỏ Bazan (Đăk Nông, Đăk Lắc) riêng ở Ba Vì (Hà Nội) và Đại Lải (Vĩnh Phúc) trên đất sạn sỏi kết, tầng đất mỏng Các số liệu phân tích đất cho thấy đất chủ yếu đất chua (pH = 3,46-4,62), thiếu lân, kali và canxi Trong 9 địa điểm trồng tác giả đánh giá các chất dinh dưỡng như: đạm, lân, kali, canxi và manhê đều thấp [4]
Bảng 1.1: Tính chất hoá - lý của đất ở các khu vực khảo nghiệm
Cation trao đổi (1đl/100mg) Thành phần cơ giới (%) P205 K20 Ca
++
Mg ++
Al +++
2- 0,02
0,02- 0,00 < 0,002
Đại Lải 0-30 3,75 2,1 0,14 1,08 1,60 0,41 0,27 3,02 28,74 42,76 28,50 K.r Năng 0-30 4,29 3,77 0,14 5,15 4,47 0,45 2,21 1,31 22,32 24,5 52,92 Đắc Plao 0-30 3,77 2,89 0,18 0,92 5,97 0,38 0,31 3,69 23,96 31,51 44,53 Đồng Hới 0-30 4,62 1,03 0,07 0,92 0,68 0,41 0,13 0,21 4,46 37,25 18,2
(Nguồn: Nguyễn Đình Hải, 2010)
Như vậy, qua một số kết quả nghiên cứu phân tích về đặc điểm thổ nhưỡng, đất đai ở các vùng khảo nghiệm trên cả nước cho thấy cây Mắc ca có thể sinh trưởng và phát triển được ở những nơi có điều kiện đất xấu, nghèo chất dinh dưỡng Để nâng cao khả năng sinh trưởng và đậu quả có thể bổ sung dinh dưỡng cho cây
1.2.3.2 Địa hình
- Độ dốc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phát triển cây Mắc ca và ảnh hưởng đến bố trí cây trồng, sinh trưởng, sản lượng quả; tình trạng xói mòn, rửa trôi đất, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, chi phí sản xuất
Trang 22- Độ cao: Cùng một vị trí nhưng độ cao khác nhau thì các điều kiện về môi trường khác nhau, ảnh hưởng của độ cao dễ dàng thấy được qua hiện tượng "song hành sinh học" theo độ cao Độ cao ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển, sản lượng quả Mắc ca Mắc ca thích hợp với những vùng đất có độ cao từ 500-1.000 m so với mặt nước biển, tốt nhất ở độ cao khoảng
700 m (dẫn theo Nguyễn Công Tạn, 2003) [10]
1.2.3.3 Khí hậu
- Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, sản lượng quả Mắc ca Trong nhân tố khí hậu thì các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa đóng vai trò then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra hoa, kết quả của cây Mắc ca, ngoài ra chế độ gió cũng ảnh hưởng đến bố trí vùng trồng Mắc ca
- Lượng mưa là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển cây trồng, là yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nên lượng mưa được lựa chọn là yếu tố
để đánh giá tiềm năng phát triển trồng loài cây Mắc ca Theo một số kết quả nghiên cứu thì loài cây này thích hợp vùng có lượng mưa hàng năm trên 1.200
mm đến 2.500 mm và phân bố đều (dẫn theo Nguyễn Công Tạn, 2003) [10]
- Nhiệt độ được xem là yếu tố khí hậu quan trọng đối với cây trồng, nó qui định giới hạn tổng quát vùng thích nghi loài cây, đặc biệt là đối với quá trình sinh trưởng, ra hoa, đậu quả của cây Mắc ca Theo kết quả nghiên cứu thì khí hậu vùng trồng Mắc ca phải đảm bảo nhiệt độ trung bình tháng 10, 11 tốt nhất là 180C, nhiệt độ ban đêm tháng 10, 11 thấp hơn 120C và cao hơn
220C đều không thể hình thành chồi hoa (Nguyễn Công Tạn, 2003) [10]
- Chế độ gió: Mắc ca là cây kỵ gió to và bão Mắc ca không có rễ cọc
to, khoẻ, ăn sâu, chỉ có bộ rễ ngang tập trung ở tầng đất mặt nên độ bám kém, trong khi đó tán cây cao lớn, rất dễ bị đổ khi gặp gió to và bão Vì vậy, không nên trồng Mắc ca ở vùng có bão, sức gió từ cấp 7 trở lên
Trang 231.3 Giá trị của cây Mắc ca
Cây Mắc ca thuộc chi Mắc ca, họ Proteaceae, là cây quả khô thân gỗ
Quả chỉ chứa 1 hạt thì hạt tròn như hạt nhãn Vỏ quả cứng và láng bóng như hạt sở, đường kính hạt khoảng 2-3 cm, trọng lượng hạt tươi khoảng 8-9 gram
Thành phần hữu ích là nhân hạt mầu sữa trắng ngả vàng, chiếm gần 1/3 trọng lượng hạt Nhân hạt có thể ăn tươi, xào, chiên, ăn dòn, béo ngậy, có mùi thơm của sữa Nhân Mắc ca thường được sử dụng làm mặt hàng thực phẩm chiên, làm sô cô la, sản xuất hàng mỹ phẩm, …
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong quả Mắc ca rất phong phú Kết quả nghiên cứu thành phần dinh dưỡng quả Mắc ca được thống kê ở bảng sau:
Bảng 1.2: Thành phần dinh dưỡng trong nhân Mắc ca
(Wenkham & Miller 1965)
Thành phần
Hàm lượng trong 100g phần ăn được Thành phần
Hàm lượng trong 100g phần
Nguồn: Cây Mắc ca - Cây quả khô quý hiếm
Hàm lượng chất béo trong nhân hạt Mắc ca rất cao, tới hơn 78% trong khi đó hàm lượng chất béo trong lạc nhân chỉ có 44,8%, trong nhân điều 47%, hạch nhân 51%, trong hạch đào cũng chỉ chiếm 63% Ngoài chất béo, trong nhân hạt Mắc ca còn chứa nhiều protit và hydratcacon, nhiều chất khoáng,
Trang 24vitamin B1, B2, axit nicotic Trong một kg nhân hạt Mắc ca có 6,4 - 18g vitamin E Dầu trong nhân Mắc ca có trên 84% là axít béo không no, trong đó
có một axít béo không no mà cơ thể người không tự tổng hợp được, khi ăn vào sẽ có tác dụng làm giảm bớt được cholesteron, có tác dụng phòng trị bệnh
xơ căng động mạch Đánh giá về chất lượng dầu cho thấy các dòng Mắc ca có chỉ số axit, protit càng thấp thì chất lượng dầu càng cao
Ngay từ những năm 30 của thế kỷ trước, các chuyên gia Hội quả khô của Anh đã đánh giá nhân quả Mắc ca Australia là nhân quả quý so với bất kỳ quả khô nào khác Đến nay, quả Mắc ca vẫn được đánh giá là loại quả khô quý hiếm hàng đầu trong các loại quả khô của thế giới
Phụ phẩm của quả Mắc ca có nhiều công dụng, trong vỏ quả có 14% chất tannin có thể dùng để thuộc da, 8-10% protit có thể nghiền trộn làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi, vỏ hạt có thể làm than hoạt tính làm chất đốt, nghiền vụn có thể dùng làm chất đệm để sản xuất vật liệu độn trong khi ươm cây giống …
Sản phẩm của Mắc ca có giá trị dinh dưỡng cao lại được sử dụng đa dạng trong nhiều ngành kinh tế nên nhu cầu của thị trường rất lớn, dự báo nhu cầu nhân Mắc ca trên thị trường sẽ ngày càng tăng, song rất ít nước trồng được để cho ra quả ngoài một số nước ở khu vực cận nhiệt đới và á nhiệt đới
Ở Đông Nam Á chỉ có một diện tích nhỏ của Thái Lan, Bắc Myanmar và vùng Tây Nguyên, Tây Bắc Với giá chỉ cần 50.000 đồng/kg đã thu được khoảng 150 triệu đồng, như vậy nó đem lại giá trị kinh tế Ngoài ra, cây Mắc
ca có tán lớn, tuổi thọ dài, sức chống chịu tốt, là một cây phủ xanh đất trống đồi trọc có hiệu quả nên còn có giá trị góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Nghiên cứu về hàm lượng các chất trong nhân hạt các dòng Mắc ca trồng ở Krông Năng - Đăk Lắc năm 2009 đã chỉ ra tỷ lệ nhân so với hạt của các dòng Mắc ca từ 30-41,19% Tỷ lệ cao nhất là dòng 816 và 849 chiếm 40-
Trang 2544,19% Về hàm lượng dầu cao nhất là dòng 741 và OC đạt từ 73,8-75,7% Hàm lượng đạm cao nhất là các dòng OC, A800 và Daddow đạt 9,2-9,4% Đánh giá về chất lượng dầu cho thấy các dòng Mắc ca có chỉ số axít, proxyt thấp thì càng có chất lượng dầu cao Đối với dầu thô theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) thì các mẫu nhân hạt Mắc ca đều đạt chất lượng [4]
Tuy nhiên, các nghiên cứu về giá trị sử dụng của hạt Mắc ca ở Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt trong việc nghiên cứu bảo quản, chế biến sản phẩm hầu như chưa có công trình nào đề cập đến
1.4 Các biện pháp kỹ thuật gây trồng và phát triển cây Mắc ca
1.4.1 Các nghiên cứu về Mắc ca trên thế giới
1.4.1.1 Nghiên cứu di truyền và chọn giống
Cây Mắc ca được nghiên cứu chủ yếu trên thế giới về chọn lọc cây trội, khảo nghiệm dòng vô tính và khảo nghiệm hậu thế Các nghiên cứu này được thực hiện trên nhiều vùng sinh thái để xác định hệ số di truyền, quan hệ giữa các kiểu gen với điều kiện hoàn cảnh, ngoài ra còn áp dụng chỉ thị phân tử vào chọn giống (Hardner & MeConchie, 1999; Peace, Hardner and others, 2000; Peace et al, 2001) Một số nghiên cứu đã chỉ ra tương quan di truyền giữa hạt và nhân có thể đạt r = 0,80 (Hardner, Winks, 2001).[23]
Một số nghiên cứu lai giống đã được thực hiện thành công trên cây Mắc ca (Hardner, MeConchie and others, 2000) [22] Tác giả Cliff Tanner cho rằng các giống Mắc ca lai có nhân chiếm tỷ lệ trung bình 46% khối lượng hạt, hạt thơm, hàm lượng dầu cao khoảng 75%, vỏ rất mỏng, các giống cây Mắc
ca lai có kích cỡ trung bình, tán hình tháp và bắt đầu cho quả sau 5 năm trồng
Có nhiều nghiên cứu về cải thiện di truyền cho Mắc ca (Hardner et al, 2009) [25]) Nghiên cứu cho thấy không có tương quan di truyền giữa kích thước cây và năng suất hạt của cây (Hardner et al, 2002) [24] Nghiên cứu chọn lọc sớm nhằm rút ngắn thời gian để vườn quả đạt năng suất hơn và kiểm
Trang 26soát được di truyền (Hardner et al, 2009) [25] Nghiên cứu về năng suất đã chỉ
ra mối quan hệ có ý nghĩa của giữa kiểu gen (G) và môi trường (E) cho sự chọn lọc sớm (Hardner et al, 2006) Các hệ số di truyền về năng suất ở tuổi 10
là rất cao (Hardner et al, 2009) [25]
Nghiên cứu về chọn giống kháng sâu, bệnh được coi là một trong những nội dung quan trọng của chiến lược phát triển cây Mắc ca Phát triển các giống kháng sâu bệnh đòi hỏi một sự hiểu biết tốt hơn về các chu kì sâu bệnh hại (Hardner et al, 2009) [25]
Từ năm 1936 ở Hawai đã có chương trình cải tạo giống Mắc ca (Bell, 1995) [18] Năm 1960 đã nghiên cứ chọn giống có chất lượng nhân trong hạt cao và đã chọn được 5 giống có chất lượng cao nhất, đặc biệt là 2 dòng Keaau
và Kau có tỷ lệ nhân tương ứng là 97% và 98% (Hamilton, Ito, 1976) [21]
Như vậy, các nghiên cứu về di truyền và chọn giống cây Mắc ca đã được thực hiện khá nhiều trên thế giới Các nghiên cứu đã quan tâm đến mối tương quan giữa hình thái tán, kích thước cây với năng suất quả Các nghiên cứu đã chỉ rõ kích thước cây không ảnh hưởng đến năng suất quả, nhưng hình thái tán lá, độ cao tán ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hạt Mắc ca
1.4.1.2 Kỹ thuật trồng
Mắc ca được trồng phổ biến để lấy hạt ở Hawai từ những năm 1930, sau đó được trồng rộng rãi ở Astralia từ năm 1960 Hiện nay, Mắc ca được trồng ở nhiều vùng khác như Trung Quốc, Nam Phi, Kenya, Zimbabue, Israel, California, Guatemala, Brazil, Costa Rica v.v (Hardner & MeConchie, 2000; Nagao & Hirae, 1992) [22], [28] Sản lượng hạt Mắc ca ở vườn quả thành thục ở Hawaii, Astralia và Nam Phi đạt năng suất hàng năm từ 3,5-5 tấn hạt/ha (Allan, 1992; Allan, 2001; Mavis, 1997) [16], [17], [27]
Ở Trung Quốc, cây Mắc ca bắt đầu trồng từ năm 1969 với 65 giống ban đầu nhập từ Australia, Hawai, đến nay đã trồng được hơn 4000 ha chủ yếu ở
Trang 27phía nam giáp với Việt Nam, Lào và Miến Điện có triển vọng đạt sản lượng
1500 tấn đến 2500 tấn hạt (Tran Hien Quoc, 2000) [33]
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng Mắc ca có hoa lưỡng tính, thường xảy ra thụ phấn chéo, nên trong vườn quả nên trồng từ 2-4 dòng vô tính Mật độ trồng cây Mắc ca nên trồng từ 200-357 cây/ha Như vậy, cây Mắc ca đã được gây trồng ở nhiều nơi trên thế giới, các biện pháp kỹ thuật phối trí giữa các dòng, mật độ đã được tổng kết Tuy nhiên, năng suất và sản lượng quả mỗi nơi vẫn có sự khác nhau do biện pháp kỹ thuật chăm sóc, giống và lập địa,…
Do đó, đối với mỗi vùng sinh thái khác nhau cần có những biện pháp trồng, chăm sóc cụ thể để tăng năng suất quả
1.4.1.3 Các biện pháp tác động tăng năng suất, chất lượng hạt
Nghiên cứu ở Kenya trồng cây Mắc ca ở các độ cao và lượng mưa khác nhau 1.280-1.750 mm và độ cao lớn hơn 1.750 m đã xác định được 17 dòng sai quả cho sản lượng hạt từ 55-80 kg hạt/cây và cải thiện tỷ lệ nhân lên đến (31,3-33,7%) ở tuổi 15 (Natalio.Ondabu, Lusikea.Wasilwa & Groace.Watani, 2007) [29]
Các nghiên cứu ở Australia về phân tích đất và dinh dưỡng qua lá và các dữ liệu về khí tượng thường xuyên được cập nhật Các nghiên cứu chỉ ra rằng năng suất liên quan đến khả năng thích ứng với khí hậu Cây Mắc ca sinh trưởng phát triển tốt ở khoảng nhiệt tối ưu 23-240C và tối đa là 380C, nhiệt độ cao ảnh hưởng đến sự phát triển của cây (Liang et al, 1983) [26] Nếu trồng ở vùng có khí hậu lạnh hơn dẫn đến sự phát triển chậm hơn và ra quả muộn (Thompson, 1957) [32]
Ở Hawaii trồng các vườn quả Mắc ca đều dựa trên hồ sơ phân loại đất, thời tiết và sử dụng các giống có năng suất cao Nghiên cứu về cải thiện giống
đã góp phần tăng năng suất 27,1%, các yếu tố dinh dưỡng tổng cộng là 17,7%, tưới nước 8,2% và Zn trong đất 5,2%
Trang 28Một số nghiên cứu về dinh dưỡng cho rằng đạm (N) là nhân tố quan trọng được sử dụng để kiểm soát tăng trưởng và đậu quả Nghiên cứu về đạm trong lá thông qua chỉ số phân tích lá có liên quan đến bón N trong đất hoàn toàn phù hợp, cũng đã khẳng định rằng N là chất dinh dưỡng quan trọng được
sử dụng để kiểm soát tăng trưởng và đậu quả, Warner và Fox (1972) [34] thấy rằng cây Mắc ca có năng suất cao thì N trong lá cao hơn N trong cây có năng suất thấp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng N trong lá cao thì sinh trưởng nhanh chóng và hạt ở giai đoạn tích luỹ dầu trong tháng 12, tháng 1 ở Australia, N cũng tích tụ trong thời gian phát triển quả Mắc ca
Tại Hawaii các nghiên cứu đã chứng minh về tăng sản lượng hạt Mắc
ca thông qua bón phosphat cho đất trồng cây Mắc ca (Cooil et al, 1966; Sigeura et al, 1974) [19], [31] Phosphat trong lá qua phân tích có nồng độ 0 – 0,08%, tương ứng với sự tăng trưởng tương đối của 90% về sản lượng quả Robinson (1986) [30] qua nghiên cứu ở cây trưởng thành cho rằng P ở mức khoảng 0,08 – 0,10% ở trong lá sẽ đầy đủ cho Mắc ca Ở Hawaii (Cooil et al, 1966) [19] cũng cho thấy khoảng 0,10% P trong lá là tối ưu cho cây Mắc ca
Một số nghiên cứu còn đề cập đến nhu cầu tưới nước cho cây trong mùa khô, hay nghiên cứu về cây trồng Do đó, ở Hawaii, Liang và cộng sự (1983) [19] đã đưa ra kết luận rằng khi trồng cây Mắc ca phải dựa trên hồ sơ phân tích đất, thời tiết và năng suất Cây Mắc ca đã trồng thành công ở một số nước trên thế giới và đã được sản xuất quy mô trang trại Qua các nghiên cứu trên có thể thấy việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất và khả năng đậu quả là hết sức quan trọng đối với cây Mắc ca Các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất được thực hiện thông qua việc cải thiện giống, chế độ chăm sóc, bón phân và thời gian tỉa cành tạo tán Tuy nhiên, đây là cả một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải có những nghiên cứu và theo dõi lâu dài mới đạt được những kết quả nhất định
Trang 291.4.2 Các nghiên cứu về Mắc ca ở trong nước
1.4.2.1 Nhân giống cây Mắc ca ở Việt Nam
Mắc ca là cây lâu năm vì thế giống là khâu có tính chất quyết định Việc lựa chọn giống sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất quả hạt, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người trồng Mắc
ca Việc chọn lựa giống cần dựa trên những đặc trưng về giống như thời gian
nở hoa, độ rậm của tán, dạng tán và dựa trên các đặc trưng của nhân hạt như
tỷ lệ nhân, khối lượng nhân, thời kì rụng quả, khả năng chống đốm vỏ (Nguyễn Công Tạn, 2003) [10]
Các nghiên cứu về giống Mắc ca ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được một số thành tựu rất lớn Một số giống đã được khảo nghiệm và trồng ở Việt Nam phải kể đến là:
- Theo Nguyễn Đình Hải (2010) và Mai Trung Kiên (2013) [4], [8] giống Macadamia được Viện nghiên cứu Giống và Công nghệ Sinh học Lâm nghiệp - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nghiên cứu và trồng bao gồm: Các dòng cây ghép được nhập từ Australia: Daddow, 246, 344, 842, 816, 849,
856, 741, NG8 và Trung Quốc: OC, A800
- Giống Macadamia của Trung tâm Dịch vụ và Chuyển giao Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Ba Vì – Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Nông lâm sản Chế biến gồm: 842, 741, 800, 900, 695, OC, 246, 816, 849
- Giống Macadamia nhập từ Thái Lan được Viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên nghiên cứu gồm: H2, 508, OC, 814, 246, 344,
741, 660, A4, A16, A38, A268, A203, 246, 344, DAD, Quế nhiệt (http://wasi.org.vn)
Thành tựu lớn nhất trong nghiên cứu giống Macadamia hiện nay là năm
2011 và năm 2013 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận giống cho 11 dòng Macadamia đã khảo nghiệm thành công ở Việt Nam, trong
đó có 3 giống Quốc gia (OC, 816, 246) và 8 giống tiến bộ kỹ thuật (842, 849,
741, 695, 800, 900, 482, Daddow) (Bộ NN&PTNT, 2011, 2013) [1], [2], [3]
Trang 30Kỹ thuật nhân giống Mắc ca
Kỹ thuật nhân giống cây Mắc ca ở Việt Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu Nghiên cứu đạt được những thành tựu lớn trong lĩnh vực này phải
kể đến là Viện Nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã thử nghiệm thành công các phương pháp nhân giống khác nhau cho cây Mắc ca trong đó quan trọng nhất nhân giống bằng hom và ghép
Trong nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng đến phương pháp giâm hom với 3 chất điều hoà sinh trưởng (IAA, IBA, NAA) ở 5 nồng
độ khác nhau, đã chỉ ra chất điều hoà sinh trưởng IBA nồng độ 1500ppm cho
tỷ lệ ra rễ của hom là cao nhất (69,6%) và chỉ số ra rễ cũng cao nhất Thời vụ giâm hom tháng 5 và sử dụng giá thể (1/3 trấu + 1/3 rơm băm nhỏ ủ hoai + 1/3 cát vàng) là thích hợp nhất Loại hom tốt nhất cho cây Mắc ca là hom chồi vượt nửa hoá gỗ (Nguyễn Đình Hải, 2010) [4] Khi nghiên cứu về ảnh hưởng loại hom đến tỷ lệ ra rễ Mai Trung Kiên (2013) [8] cũng chỉ ra rằng loại hom chồi vượt nửa hoá gỗ lõi trắng vàng cho tỷ lệ ra rễ cao nhất (74,2%)
Nghiên cứu các phương pháp ghép đến tỷ lệ sống của cây ghép Nguyễn Đình Hải (2010) [4] đã khẳng định rằng trong 3 phương pháp ghép khác nhau
là ghép áp cành, ghép mắt và ghép nối tiếp thì phương pháp ghép nối tiếp là tốt nhất Đối với thời vụ ghép thích hợp vào các tháng 1, 2, 3, 10, 11, 12 và tuổi gốc ghép 24 tháng là phù hợp nhất (Nguyễn Đình Hải, 2010) [4] Kết quả nghiên cứu của Mai Trung Kiên (2013) cũng có kết quả tương tự thời vụ ghép thích hợp từ tháng 1-3, tháng 10-12 Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Mai Trung Kiên (2013) [8] đã chỉ được loại hom ghép ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sinh trưởng chiều cao, trong đó hom có lá (cắt ¼ phiến lá) là tốt hơn
so với hom không lá Ngoài ra tác giả còn xác định được môi trường tốt nhất phủ nilong trắng, không tưới 40 ngày trong lều ghép tốt hơn so với công thức không phủ nilong (Mai Trung Kiên, 2013) [8]
Trang 31Ngoài ra trong nghiên cứu của Nguyễn Đình Hải (2010) [4] đã chỉ ra các bước thực hiện trong kỹ thuật nhân giống như:
- Nhân giống bằng hom: cắt hom, xử lý hom bằng hóa chất kích thích sinh trưởng, giâm hom, chăm sóc hom giâm và chăm sóc và huấn luyện cây hom
- Nhân giống bằng ghép: bao gồm các bước tạo gốc ghép (gốc ghép phải được gieo từ hạt của những cây mẹ khỏe mạnh), bố trí vườn ươm, chọn
và xử lý cành ghép, ghép cành, chăm sóc cây giống sau khi ghép
Như vậy, có thể thấy kỹ thuật nghiên cứu nhân giống về cây Mắc ca ở Việt Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến Các nghiên cứu đã chỉ ra được kỹ thuật nhân giống cây Mắc ca trong đó chủ yếu tập trung ở phương pháp ghép và giâm hom
1.4.2.2 Kỹ thuật gây trồng
Năm 1994, cây Mắc ca đã được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng trồng thử nghiệm ở Ba Vì (Hà Nội), năm 1999 một số cây đã cho quả, năm
2010 có cây đã cho trên 10kg hạt/năm (Nguyễn Đình Hải, 2010) [4]
Đầu năm 2002, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng nhập thêm 9 dòng sai quả bằng cây ghép của Australia bao gồm các dòng: 246; 344; 741; 294; 816; 849; 856; NG8; Daddow và 2 dòng của Trung Quốc là OC và A800 Năm 2003, Trung tâm giống cây rừng đã nhập 30 kg hạt gieo ươm cây con làm gốc ghép (Nguyễn Đình Hải, 2010) [4]
Năm 2002, 2003 một số đơn vị có nhập giống Mắc ca trồng thử nghiệm
ở Con Cuông (Nghệ An), Tràng Định (Lạng Sơn), xí nghiệp giống cây lâm nghiệp Lạng Sơn Năm 2006 ở lâm trường Con Cuông đã trồng 41 cây dòng
OC, sau 4 năm, 35 cây đã cho quả, 36 cây H7 có 5 cây đã cho quả và 6 cây H2 có 4 cây đã cho quả (Nguyễn Đình Hải, 2010) [4]
Trang 32Dự án Mắc ca cho Việt Nam (37/05/VIEGARD) có tên gọi “Thiết lập vườn ươm và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng cây giống và trồng khảo nghiệm các mô hình Mắc ca ở 3 tỉnh miền Bắc Việt Nam” Dự án được hỗ trợ bởi Chương trình Hợp tác phát triển Nông thôn trong sáng kiến chung của Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Australia Dự án thực hiện từ năm 2006 –
2008 mục tiêu là hỗ trợ phát triển cây Mắc ca ở Việt Nam, bao gồm kỹ thuật sản xuất cây giống, xây dựng mô hình, tham quan học tập kinh nghiệm trồng Mắc ca ở Trung Quốc và Thái Lan
Ở Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật thuộc công ty cao su Đăk Lăk có trồng 1 cây Mắc ca từ năm 1996 Hiện nay, cây sinh trưởng tốt, đường kính thân 25cm, đướng kính tán 5m, cây cao khoảng 4m Cây đã cho quả từ năm 2002, năng suất khoảng 7kg Do chỉ trồng 1 cây nên khả năng thụ phấn và thu hút côn trùng còn hạn chế Nếu trồng diện tích lớn thì năng suất còn cao hơn Từ thực tế đó cho thấy cây Mắc ca hoàn toàn có thể phát triển được ở các tỉnh Tây Nguyên [13], [14]
Trong hướng dẫn kỹ thuật trồng cây Mắc ca ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Đình Hải (2010) [4] có đề xuất bón lót cho cây theo tỷ lệ (50 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg NPK/cây)
Các nghiên cứu về kỹ thuật làm đất, thiết kế trồng cây Mắc ca ở Việt Nam hiện nay cũng rất hạn chế Tuy nhiên, trong kết quả nghiên cứu đề tài
“Khảo nghiệm giống và đánh giá khả năng phát triển cây Mắc ca ở Việt Nam”
đã chỉ ra được một số kỹ thuật như: Chọn những nơi có địa hình tương đối bằng phẳng có độ dốc <350, có tầng đất dày tối thiểu >50cm, đất có khả năng thoát nước tốt và giàu hữu cơ, đất khô bí chặt (Nguyễn Đình Hải, 2010) [4]
Nguyễn Đình Hải (2010) [4] có nêu trong kỹ thuật xử lý thực bì, làm đất như phát trắng thực bì, làm đất toàn diện, làm đất cục bộ, đào hố: kích thước 80cm x 80cm x 80cm Kỹ thuật mới chỉ dừng lại ở việc mô tả cách thức
Trang 33làm đất mà chưa nêu được điều kiện làm đất cụ thể cho từng nơi, đặc biệt đối với đất dốc thì kỹ thuật làm đất như thế nào? Đây cũng là một trong những vấn đề tồn ở trong nghiên cứu trồng Mắc ca ở Việt Nam hiện nay
Một số kỹ thuật trồng cây Mắc ca đã được đề cập đến như: Cần huấn luyện cây chịu nắng và chịu được tưới ướt trước khi đem trồng, đảm bảo đủ
ẩm trong đất khi trồng Trước khi trồng cây phải bóc vỏ bầu, tránh làm vỡ bầu, đặt cây ngay ngắn vào giữa hố, lấp đất tơi, ấn nhẹ xung quanh, tiếp tục xới lớp đất mặt xung quanh vun đất đầy hố Sau khi trồng cần có cây cắm để cho cây không bị gió làm nghiêng, dùng cỏ, rác phủ xung quanh gốc cây (Nguyễn Đình Hải, 2010) [4]
Một số kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng cây Mắc ca ở Việt Nam đã nêu: Sau khi trồng vào các tháng không có mưa thì cứ 10 ngày tưới nước cho cây 1 lần với lượng nước 20 lít/cây; Định kỳ chăm sóc cây như phát dọn thực bì, xới vun gốc, tủ lá giữ ẩm cho cây thông thường 3 – 4 lần/năm; Hàng năm bón thêm phân cho cây với lượng 500g NPK chia làm 2 lần, lần 1 vào tháng 2,3; lần 2 vào tháng 8, 9 Đặc biệt kỹ thuật tỉa cành tạo tán cây Mắc ca cần được chú trọng (Nguyễn Đình Hải, 2010) [4]
1.4.2.3 Các biện pháp kỹ thuật tác động tăng năng suất, chất lượng hạt
a) Tỉa cành tạo tán
Mắc ca ra hoa, quả trong khuôn của tán cây, quả mọc từ cành già 2 tuổi (cành của năm trước), yêu cầu về tạo tán không cao như tạo tán nhãn, vải, xoài, là những cây ra quả ở ngọn cành Mục đích tạo tán cho Mắc ca là nuôi dưỡng bộ khung phát triển hài hòa có thân chính và 2-3 cành chính sao cho
cây sau này phát triển có tán tròn đều (Nguyễn Công Tạn, 2005) [11]
Phương pháp tạo tán phải tùy vào tình hình cụ thể, với những giống có
ưu thế sinh trưởng ở ngọn yếu không cần cắt ngọn thân chính, chỉ cần cắt bớt ngọn các cành chính Đối với giống có sinh trưởng ngọn mạnh thì cần cắt
Trang 34ngọn thân chính để xúc tiến phân cành, sau đó chọn những cành khỏe (2-3 cành) giữ lại, tỉa bỏ những cành yếu, sau để tán cây phát triển bình thường chỉ tỉa bỏ những cành bên trong của những cây có tán quá dày (Nguyễn Công Tạn, 2003) [10]
Trong hướng dẫn kỹ thuật tỉa cành tạo tán của Nguyễn Đình Hải (2010) cho rằng sau khi trồng cây cao khoảng 1-1,2m nên cắt ngọn ở độ cao 80cm để thúc đẩy ra cành Sau lần bấm ngọn lần 1 khi các chồi lên cao khoảng 0,5m thì tiến hành bấm ngọn lần 2 Bấm lần 3 khi các chồi lần 2 cao khoảng 1m Cắt bỏ các cành bên quá gần mặt đất (dưới đầu gối) và dưới vết gép (cây ghép) Cắt bỏ các cành chạc 3 có góc phân cành quá hẹp Cắt bỏ các cành bên, chỉ để lại một ngọn chính và cành bên Tạo ra tán hình tròn đều nuôi dưỡng
bộ khung phát triển hài hoà (Nguyễn Đình Hải, 2010) [4]
Nhìn chung, trên thế giới cây Mắc ca đã được nghiên cứu tương đối đầy đủ về đặc điểm sinh lý, sinh thái cũng như kỹ thuật gây trồng, nhưng ở Việt Nam cây Mắc ca vẫn còn chưa được nghiên cứu sâu cho từng bước kỹ thuật tỷ mỉ Mặc dù, những nghiên cứu về cây Mắc ca ở nước ta còn chưa nhiều nhưng những kết quả đạt được tương đối tốt mở ra thêm một hướng đi mới cho nghiên cứu và kinh doanh cây Mắc ca
b) Sử dụng thuốc kích thích và phân bón
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu sử dụng chất kích thích và liều lượng phân bón, thời điểm bón để tăng khả năng ra hoa, đậu quả, tăng năng suất, chất lượng quả cây Mắc ca còn rất hạn chế, một số kết quả theo dõi ra hoa, kết quả và đánh giá chất lượng quả đã được thực hiện ở Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Nguyễn Đình Hải (2010) [4] khi nghiên cứu thời gian
ra hoa, kết quả của các dòng Mắc ca ở Ba Vì (Hà Nội) tác giả chỉ mới đề cập đến sự phát triển của hoa chia làm 3 giai đoạn là hình thành chồi hoa, vươn dài hoa và hoa tự nở Chồi hoa bước vào giai đoạn ngủ kéo dài từ 50-96 ngày,
Trang 35hoa vươn dài thường kéo dài 60 ngày và hoa nở khoảng 6-7 ngày Thời gian
ra hoa của các dòng Mắc ca phụ thuộc vào tuổi cây ghép, dòng cây ghép Thời gian từ khi nở hoa đến khi kết thúc cũng phụ thuộc vào từng dòng từ 9-
30 ngày Tỷ lệ đậu quả của các dòng Mắc ca cũng khác nhau rất nhiều, các dòng không có sự tương quan giữa số hoa/bông và số quả/bông Kết quả nghiên cứu chỉ ra dòng 842 có tỷ lệ đậu quả trên bông cao nhất 1,6% tiếp đến dòng 246, OC, Daddow, 344, 849, 816, 800, A800, 900 và 695 Nghiên cứu cũng chỉ ra, quả phát triển từ khi còn non đến khi thành thục, bước vào thời
kỳ chín và rụng, tỷ lệ đậu quả phản ánh mức độ rơi rụng trong quá trình phát triển của quả, do đó cũng phải tìm biện pháp lâm sinh, kết hợp chăm sóc để hạn chế tỷ lệ rơi rụng
Như vậy, từ các kết quả nghiên cứu trên các loài cây ăn quả phổ biến ở Việt Nam cho thấy các phương pháp kích thích sinh trưởng, ra hoa, đậu quả đã nâng cao được năng suất và chất lượng quả khá cao Tuy nhiên, cây Mắc ca là một loài cây cho quả mới được trồng trên địa bàn tỉnh Lai Châu nói riêng và của cả nước nói chung Nên việc nghiên cứu, sử dụng các biện pháp nhằm kích thích ra hoa, quả cho loài cây này có khá mới mẻ Vì vậy, các kết quả nghiên cứu trên là cơ sở tiến hành nghiên cứu thử nghiệm các phương pháp kích thích sinh trưởng, ra hoa, đậu quả cho cây Mắc ca trên địa bàn tỉnh Lai Châu
1.4.3 Nghiên cứu cây Mắc ca ở Tây Bắc và Lai Châu
1.4.3.1 Nghiên cứu cây Mắc ca ở Tây Bắc
Năm 2002, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã nhập 9 dòng cây ghép đã được chọn lọc của Australia (246; 344; 741; 294; 816; 849; 856; NG8, Daddow) và 2 dòng của Trung Quốc (OC, A800) Khảo nghiệm 01ha được bố trí ở Mai Sơn (Sơn La), sau hơn 4-5 năm trồng đã cho quả khá sai Theo kết quả nghiên cứu đến các dòng Mắc ca trồng ở Sơn La từ năm 2004-2013, sau 9 năm sản lượng trung
Trang 36bình của một cây đạt 7,6 kg/cây (Mai Trung Kiên, 2013) [8] Trong các dòng trên đã có 3 dòng đã được công nhận giống quốc gia là dòng OC, 246, 816 áp dụng trồng ở Sơn La và những nơi có điều kiện sinh thái tương tự
Trong nghiên cứu về đặc điểm sinh thái trồng Mắc ca ở Tây Bắc Nguyễn Đức Kiên và cộng sự (2013) [7] đã chỉ ra một số địa điểm trồng Mắc
ca có sinh trưởng và phát triển tốt như Mai Sơn (Sơn La), Điện Biên Phủ (Điện Biên), Ba Vì (Hà Nội) và Krông Năng (Đăk Lắc) đều có nhiệt độ 22 đến 230
C, nhiệt độ trung bình ngày nóng nhất của tháng nóng nhất từ
31-340C, nhiệt độ trung bình ngày tháng lạnh nhất từ 10-170C và lượng mưa từ 1.400-1.800 mm Tác giả cũng chỉ ra rằng ở Việt Nam điều kiện khí hậu phù hợp nhất cho gây trồng cây Mắc ca là nhiệt độ trung bình năm từ 20-250C, nhiệt độ trung bình ngày nóng nhất từ 30-350C, nhiệt độ trung bình ngày lạnh nhất từ 10-180C, lượng mưa từ 1.400-2.500mm (Nguyễn Đức Kiên, 2013) [7]
Theo Nguyễn Đức Kiên và cộng sự (2013) [7] các mô hình trồng Mắc
ca ở Tây Bắc đa số trồng bằng cây ghép Ở vùng Tây Bắc Mắc ca sinh trưởng khá tốt, với chiều cao trung bình sau 8 năm trồng dao động từ 4,2-5,0m và đường kính tán từ 3,8-5,5m Sau 8 năm trồng cây Mắc ca đều đã ra quả, năng suất quả trung bình dao động 1,9-4,2kg/cây
Bên cạnh đó, tháng 9/2012 Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã trồng khảo nghiệm 14 dòng Mắc ca ở huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu gồm:
246, 344, 741, 800, 816, 842, 849, OC, A38, A16, 900, 814, 788 và 695 Kết quả sau 1 năm trồng cho thấy các cây trồng khảo nghiệm có tỷ lệ sống cao
>95%, sinh trưởng về đường kính gốc và chiều cao chưa có sự sai khác rõ rệt giữa các dòng (Mai Trung Kiên, 2013) [8]
Như vậy, cây Mắc ca trồng ở vùng Tây Bắc nói chung có tỷ lệ sống cao (>90%), sinh trưởng tốt, năng suất khá cao Tuy nhiên, để phát triển được cây Mắc ca như là một cây ăn quả thương mại ở Lai Châu điều quan trọng phải
Trang 37hiểu biết về điều kiện sinh thái, kỹ thuật tạo tán, theo dõi, chăm sóc trong quá trình ra hoa và kết quả nhằm tăng tỷ lệ ra hoa và đậu quả, góp phần tăng năng suất và chất lượng hạt Mắc ca
1.4.3.2 Nghiên cứu cây Mắc ca ở Lai Châu
Tháng 9/2012, Viện nghiên cứu giống và công nghệ sinh học Lâm nghiệp đã trồng khảo nghiệm 14 dòng Mắc ca ở huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu gồm: 246, 344, 741, 800, 816, 842, 849, OC, A38, A16, 900, 814, 788
và 695 Kết quả sau 1 năm trồng cho thấy các cây trồng khảo nghiệm có tỷ lệ sống cao >95%, sinh trưởng về đường kính gốc và chiều cao chưa có sự sai khác rõ rệt giữa các dòng (Mai Trung Kiên, 2013) [8]
Tại Lai Châu chưa có một nghiên cứu nào về cây Mắc ca Trên địa bàn tỉnh chỉ có một dự án hỗ trợ người dân trồng cây Mắc ca đã thực hiện ở huyện Tam Đường – Lai Châu năm 2012, 2013, do UBND huyện Tam Đường thực hiện Năm 2012, 2013, trên địa bàn huyện Tam Đường đã trồng trên 169 ha cây Mắc ca ở 11 xã, thị trấn, 112 bản, với 1.300 hộ tham gia, trong đó: Trồng thuần trên 133 ha ở 6 xã, thị trấn, 107 bản, với 1.243 hộ tham gia (Mô hình khuyến nông trung ương thực hiện 26,8 ha ở 12 bản, với 87 hộ tham gia; UBND huyện chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thực hiện trên 106 ha ở 95 bản, với 1.156 hộ tham gia) Trồng xen Chè trên 35 ha ở 2 xã, thị trấn, 5 bản, với 57 hộ tham gia;
cơ cấu giống loài Mắc ca integrifolia dòng OC (MC.BV.11.01), dòng 816 (MC.BV.11.03), dòng 482 (MC.BV.11.05), dòng 741 (MC.BV.11.06), dòng
900 (MC.BV.11.08) và dòng 695 (MC.BV.11.09)
Dự án này được thực hiện cùng thời gian với đề tài, kết quả đánh giá ban đầu cho thấy cây Mắc ca trồng ở huyện Tam Đường đều sinh trưởng và phát triển tốt, cây sau 2 năm trồng đường kính gốc (2,6-3,73cm), chiều cao từ (142,5-244,0cm), đường kính tán (78,58-111cm), một số cây đã cho ra quả như ở Bản Giang (Tam Đường) Tuy nhiên, do trong quá trình thực hiện dự
án không kiểm soát được dòng khảo nghiệm nên không xác định được dòng Mắc ca đã cho ra quả
Trang 38Bùi Thanh Hằng và cộng sự (2014 [4] khi nghiên cứu khảo nghiệm Mắc ca ở Lai Châu cho rằng đặc điểm khí hậu ở Lai Châu khá phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây Mắc ca Cây Mắc ca bước đầu trồng khảo nghiệm ở Lai Châu sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống cao, có khả năng thích ứng được với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở Lai Châu Cây sinh trưởng và phát triển được trên nhiều dạng lập địa khác nhau, từ đất hơi chua đến đất hơi kiềm pH (3,5-7,5) ở những nơi đất nghèo chất dinh dưỡng cây vẫn có thể sinh trưởng và phát triển được Tuy nhiên, để xác định được các lập địa thích hợp, cho năng suất cao vẫn cần có nghiên cứu theo dõi sản lượng quả trong nhiều năm mới khẳng định chắc chắn hơn nữa kết quả trên
Kết quả khảo nghiệm bước đầu từ 5 dòng OC, 816, 246, 849, 842 đã lựa chọn được 2 dòng Mắc ca có triển vọng cho tỉnh Lai Châu đó là dòng OC và
816 Trong đó dòng OC sau 2 năm trồng đã cho ra hoa và đậu quả Tuy nhiên,
do cây Mắc ca mới trồng khảo nghiệm 2 năm đầu, nên cần tiếp tục theo dõi các dòng còn lại để lựa chọn được nhiều hơn các dòng cây Mắc ca phù hợp ở tỉnh Lai Châu đáp ứng nhu cầu sản xuất giống và thực tiễn sản xuất ở địa phương
Mặc dù, đề tài đã đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật nhưng trong thời gian ngắn đề tài chưa theo dõi và xây dựng được các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, tỉa cành, tạo tán, kích thích ra hoa, kích thích đậu quả Cho nên, đây vẫn là một vấn đề tồn ở, cần giải quyết trong thời gian tới
1.4.4 Đặc điểm các yếu tố tự nhiên tỉnh Lai Châu
1.4.4.1 Đặc điểm khí hậu tỉnh Lai Châu
Lai Châu có khí hậu điển hình của vùng nhiệt đới gió mùa núi cao Tây Bắc, ngày nóng đêm lạnh ít chịu ảnh hưởng của bão và gió mùa Đông Bắc Khí hậu trong năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10
có nhiệt độ và độ ẩm cao; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, khí hậu lạnh, độ ẩm và lượng mưa thấp (tháng 4 và tháng 10 là thời gian chuyển giao giữa 2 mùa); kết quả thống kê thời tiết, khí hậu bình quân từ năm 2003 đến năm 2013 tỉnh Lai Châu ở bảng dưới đây
Trang 39Bảng 1.3: Đặc điểm thời tiết một số huyện trong tỉnh qua 10 năm
(2003-2013)
STT Địa điểm
Nhiệt độ 0 C
Ẩm độ (%)
Lượng mưa (mm)
Số giờ nắng (giờ)
Độ cao (m)
Ghi chú:
- Ttb: Nhiệt độ trung bình;
- Tmtb: Nhiệt độ tối thấp trung bình;
- Tm: Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối trung bình;
Số giờ nắng bình quân qua các năm là 1.773 giờ/năm Tổng tích ôn cả năm đạt 7.000 - 8.5000C
Lượng mưa bình quân qua các năm là 2.132mm và có sự phân bố không đều ở các tháng trong năm; mưa lớn tập trung vào các tháng 6, 7, 8 và
Trang 40thường chiếm tới 80% lượng mưa cả năm; các tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) có lượng mưa rất ít, chỉ chiếm khoảng 20% lượng mưa
cả năm; sự phân bố lượng mưa tập trung theo mùa đã ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông, lâm nghiệp như mùa mưa, lượng mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn nên thường gây lũ lụt, mùa khô thời gian mưa ít, gây nên tình trạng thiếu nước, khô hạn
Độ ẩm không khí trung bình các năm là 83,3% và có sự chênh lệch độ
ẩm giữa các khu vực từ 2-5%, độ ẩm trung bình tháng lớn nhất (tháng 7) đạt 87-93%, độ ẩm trung bình tháng nhỏ nhất (tháng 3 và tháng 4) là 71-77%
Gió: các hướng gió thịnh hành trên địa bàn tỉnh bao gồm gió Đông Bắc
từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau; gió Nam, Đông Nam và gió Phơn từ tháng 4 đến tháng 8, tốc độ gió không lớn Tốc độ gió của tỉnh Lai Châu có sự biến động theo độ cao: ở những vùng có độ cao trên 900m so với mực nước biển (vùng cao Tam Đường và Sìn Hồ) tốc độ gió bình quân lần lượt là 5,9 m/s và 6,8 m/s, tốc độ gió lớn nhất lần lượt là 26 m/s và 16 m/s Những vùng có độ cao dưới 600m so với mực nước biển (Than Uyên và Mường Tè) tốc độ gió bình quân lần lượt là 3,9 m/s và 3,0 m/s, tốc độ gió lớn nhất lần lượt là 20 m/s
và 16 m/s
Hiện tượng thời tiết bất thường: mặc dù ít bị ảnh hưởng của bão, song Lai Châu lại thường chịu tác động của một số hiện tượng thời tiết bất thường như gió lớn (giông), mưa đá và sương muối:
Giông (số ngày giông trung bình 45-60 ngày/năm, tập trung từ tháng 4 đến tháng 8), kết quả tổng hợp số liệu trong thời gian (từ 2001-2010) cho thấy: trên địa bàn tỉnh Lai Châu qua 10 năm chỉ ghi nhận 1 cơn giông có tốc
độ gió 26 m/s ở trạm Tam Đường vào tháng 3 năm 2005, đồng thời cũng ghi nhận 2 trận gió lớn có tốc độ lên tới 20 m/s vào tháng 4/2005 ở trạm Tam Đường và tháng 5/2002 ở trạm Mường Tè