Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác cung ứng thuốc nhưng vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn cần phải khắc phục sớm như: Việc sử dụng thuốc chưa thực sự hợp lý, tình trạng dễ dãi, lạm d
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LẠI VĂN NINH
KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC TẠI PHÂN VIỆN 7 QUÂN KHU III
NĂM 2013
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LẠI VĂN NINH
KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG THUỐC TẠI PHÂN VIỆN 7 QUÂN KHU III
NĂM 2013
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: Tổ chức quản lý dược
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn,
với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới
PGS TS Nguyễn Thị Thái Hằng - Nguyên trưởng bộ môn tổ chức
quản lý kinh tế dược – Trường đại học dược Hà Nội và
TS Hoàng Thị Minh Hiền – Chủ nhiệm khoa dược Bệnh viện Hữu Nghị
là những giáo viên trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, truyền đạt nhiều
kinh nghiệm quý báu giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Dược Hà
Nội, Phòng đào tạo sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được
học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy cô Trường Đại học Dược
Hà Nội, đặc biệt là các Thầy cô Bộ môn Quản lý và kinh tế dược đã hết
lòng giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong quá
trình học tập tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tập thể Đảng ủy, Ban giám đốc
Phân viện 7 - Quân khu 3 , tập thể khoa Dược - Phân viện 7 đã động viên,
tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi có số liệu để hoàn thành luận văn
Xin dành lời cảm ơn chân thành đến gia đình và đồng nghiệp, những
người đã luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Học viên
Lại Văn Ninh
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADR : Adverse Drug Reaction (Phản ứng có hại của thuốc)
BHYT : Bảo hiểm y tế
DMTBV : Danh mục thuốc bệnh viện
DMTCY : Danh mục thuốc chủ yếu
DMTTY : Danh mục thuốc thiết yếu
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới và Việt Nam 3
1.2 Một số vấn đề về quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện 7
1.2.1.Giám sát thực hiện danh mục thuốc……….7
1.2.2 Quy trình sử dụng thuốc tại bệnh viện 8
1.2.3 Công tác thông tin thuốc và dược lâm sàng 15
1.2.4 Mô hình bệnh tật và tình hình sử dụng thuốc tại các bệnh viện Việt Nam……….17
1.3 Danh mục thuốc bệnh viện, hội đồng thuốc và điều trị 18
1.3.1 Danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV) 18
1.3.2 Hội đồng thuốc và điều trị 19
1.4 Vài nét về ngành quân y Quân đội và Phân viện 7 - Quân khu 3 22
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3 Cách tiến hành 30
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.5 Phương pháp xử lý số liệu và trình bày kết quả nghiên cứu 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Phân tích cơ cấu thuốc sử dụng năm 2013 35
Trang 63.1.1.Theo đối tượng điều trị 35
3.1.2 Theo nguồn gốc sản xuất 36
3.1.3 Theo tên gốc - tên biệt dược 38
3.1.4 Theo nhóm tác dụng dược lý 39
3.1.5 Năm nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao nhất năm 2013 41
3.1.6 Số lượng và giá trị DDD của một số kháng sinh có nhiều mặt hàng được sử dụng năm 2013 44
3.2 Khảo sát hoạt động cấp phát, tồn trữ và giám sát sử dụng thuốc tại Phân viện 7 - Quân khu 3 năm 2013 45
3.2.1 Hoạt động làm hồ sơ bệnh án 45
3.2.2 Hoạt động kê đơn ngoại trú 49
3.3 Hoạt động thông tin thuốc và dược lâm sàng 54
3.3.1 Hoạt động thông tin thuốc 54
3.3.2 Hoạt động dược lâm sàng 57
Chương 4 BÀN LUẬN 59
KẾT LUẬN 65
Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 68
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Doanh số bán thuốc trên thế giới giai đoạn 2003 - 2011 3
Bảng 1.2 Số liệu về sản xuất, nhập khẩu và sử dụng thuốc qua các năm từ 2003 đến năm 2011 6
Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực khoa Dược Phân viện 7 - Quân khu 3 năm 2013 26
Bảng 1.4 Mô hình bệnh tật tại Phân viện 7 - Quân khu 3 năm 2013 28
Bảng 3.5 Cơ cấu thuốc sử dụng theo đối tượng điều trị 35
Bảng 3.6 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc sản xuất tại Phân viện 7 năm 2013 36
Bảng 3.7 Mười thuốc nhập khẩu có giá trị sử dụng cao nhất năm 2013 37
Bảng 3.8 Cơ cấu thuốc mang tên gốc - tên biệt dược 38
Bảng 3.9 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 40
Bảng 3.10 Năm nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao nhất năm 2013 41
Bảng 3.11 Cơ cấu chi phí sử dụng nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 42
Bảng 3.12 Kháng sinh beta - lactam sử dụng tại Phân viện 7 năm 2013 43
Bảng 3.13 Số lượng và giá trị DDD của một số kháng sinh có nhiều mặt hàng được sử dụng năm 2013 44
Bảng 3.14 Kết quả thực hiện quy chế chuyên môn trong bệnh án 46
Bảng 3.15 Số ngày điều trị trung bình 47
Bảng 3.16 Số thuốc trung bình trong một bệnh án 47
Bảng 3.17 Kết quả khảo sát việc thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú 50
Bảng 3.18 Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc 51
Bảng 3.19 Tỷ lệ thuốc được kê tên gốc, tên biệt dược 51
Bảng 3.20 Tỷ lệ đơn thuốc có kê kháng sinh, corticoid, vitamin, thuốc tiêm 52
Bảng 3.21 Chi phí trung bình cho một lần kê đơn 52
Bảng 3.22 Cơ sở vật chất và tài liệu tổ thông tin thuốc 54
Bảng 3.23 Các hoạt động thông tin thuốc năm 2013 55
Bảng 3.24 Các hình thức thông tin thuốc năm 2013 56
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Quy trình sử dụng thuốc tại bệnh viện 9
Hình 1.2 Chu trình cấp phát thuốc……… ………11
Hình 1.3 Mô hình tổ chức Phân viện 7 - Quân khu 3 25
Hình 1.4 Mô hình tổ chức khoa dược - Phân viện 7 - Quân khu 3 25
Hình 3.5 Cơ cấu thuốc sử dụng theo đối tượng điều trị 35
Hình 3.6 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nguồn gốc sản xuất 36
Hình 3.7 Quá trình lĩnh thuốc và phát thuốc đến tay bệnh nhân nội trú 48
Hình 3.8 Tỷ lệ thuốc được kê tên gốc, tên biệt dược 51
Hình 3.9 Quy trình cấp phát thuốc đến bệnh nhân ngoại trú 53
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khỏe là chiến lược y tế hàng đầu của đại đa số quốc gia trên thế giới Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng công tác bồi dưỡng và nâng cao sức khỏe nhân dân, đồng thời khẳng định đó không chỉ
là trách nhiệm của từng người dân mà đòi hỏi phải có sự chung tay góp sức của toàn hệ thống chính trị - xã hội, trong đó ngành y tế đóng vai trò chủ đạo [1] Để công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tốt và hiệu quả ngoài vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động phòng bệnh, đề cao y đức, chất lượng đội ngũ thầy thuốc, cơ sở vật chất trang thiết bị y tế thì vấn đề đảm bảo đầy
đủ, kịp thời thuốc có chất lượng với giá cả hợp lý là nhiệm vụ hàng đầu của ngành dược Việt Nam nói chung Trong những năm qua, ngành dược trong nước đã có những tiến bộ nhanh đáng kể, thuốc sản xuất trong nước đã chiếm gần 50% thị phần dược phẩm, đến nay đã xây dựng một hệ thống tương đối hoàn chỉnh từ sản xuất, xuất nhập khẩu, lưu thông phân phối thuốc tới tận người bệnh, tình trạng khan hiếm thuốc chữa bệnh đã được khắc phục cơ bản Tuy nhiên, thuốc là loại hàng hóa đặc biệt liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người, việc sử dụng cần được quản lý chặt chẽ và bảo đảm tính hợp lý, an toàn, hiệu quả Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác cung ứng thuốc nhưng vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn cần phải khắc phục sớm như: Việc sử dụng thuốc chưa thực sự hợp lý, tình trạng dễ dãi, lạm dụng trong kê đơn thuốc, nhất là lạm dụng kháng sinh, vitamin…sử dụng thuốc theo thói quen, thực hiện chưa nghiêm túc quy chế chuyên môn về kê đơn và bán thuốc theo đơn vừa ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị vừa gây lãng phí cho xã hội.Tình trạng này hiện đang phổ biến tại các các cơ sở y tế nói chung và các bệnh viện nói riêng
Tại bệnh viện, vấn đề cung ứng thuốc sao cho hợp lý, an toàn là nhiệm vụ hết sức quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng khám và điều trị Cung ứng thuốc theo hình thức đấu thầu đã góp phần tiết kiệm chi
Trang 10phí điều trị cho người bệnh và ngân sách nhà nước Tuy nhiên trong hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện vẫn còn tồn tại tình trạng thầy thuốc vì nhiều lý do khác nhau đã kê quá nhiều thuốc trong một đơn, kê một số thuốc không phù hợp với chẩn đoán bệnh, lạm dụng thuốc đang gây dư luận bức xúc trong xã hội và cần phải được chấn chỉnh trong thời gian tới [17]
Phân viện 7 là cơ sở 2 của Bệnh viện 7, bệnh viện tuyến cuối của lực lượng vũ trang Quân khu 3, đóng quân trên địa bàn Thành phố Hải Phòng Với quy mô biên chế theo quyết định là 50 giường bệnh nhưng trên thực tế những năm vừa qua phân viện luôn phải thu dung điều trị với số giường là
110 giường bệnh Phân viện 7 có nhiệm vụ thu dung khám, điều trị bệnh nhân là cán bộ, chiến sỹ của lực lượng vũ trang Quân khu 3 và các đơn vị của Bộ quốc phòng đóng quân trên địa bàn Thành phố Hải Phòng Ngoài ra Phân viện 7 còn khám và điều trị cho nhân dân có BHYT mà đối tượng chủ yếu là cán bộ quân đội đã hưu trí, thân nhân gia đình Quân đội trên địa bàn
và vùng lân cận [18]
Với sự đa dạng về đối tượng điều trị như vậy việc cung ứng, quản lý, cấp phát, giám sát sử dụng thuốc tại Phân viện 7 cũng gặp rất nhiều khó khăn đòi hỏi khoa dược luôn phải nỗ lực để đảm bảo thuốc kịp thời, có chất lượng và hiệu quả cao nhất nhằm góp phần nâng cao chất lượng khám, điều
trị Đề tài “Khảo sát hoạt động cung ứng thuốc tại Phân viện 7 Quân khu III năm 2013” được tiến hành với mục tiêu:
1 Khảo sát cơ cấu thuốc sử dụng tại Phân viện 7 Quân khu III năm 2013
2 Khảo sát hoạt động cấp phát và giám sát sử thuốc tại Phân viện 7 Quân khu III năm 2013
Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi đưa ra một số đề xuất với hy vọng góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng quản lý sử dụng thuốc tại Phân viện 7 Quân khu III trong thời gian tới
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Thế giới
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, sự ra đời của nhiều công nghệ mới, ngành công nghiệp dược phẩm cũng có những bước phát triển vượt bậc, góp phần không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe con người Thị trường dược phẩm ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại và số lượng Theo thống kê của IMS Health, tổng doanh số ngành dược thế giới năm 2011 đạt con số khổng lồ là 920 tỷ USD, tăng 1,8 lần so với năm 2003 [26], [28]
Bảng 1.1 Doanh số bán thuốc trên thế giới giai đoạn 2003 - 2011[21]
(Nguồn: IMS Health)
Với con số khổng lồ trên, ngành công nghiệp dược phẩm đã có những đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia, dân tộc Mặc dù cả thế giới đều có sự tăng trưởng mạnh, nhưng sự tăng trưởng đó lại phân bố không đồng đều: Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản chiếm khoảng 80% thị trường dược phẩm toàn cầu, điều đáng chú ý là tỷ lệ này không thay đổi qua nhiều thập niên từ thế kỷ trước đến nay [26]
Doanh số bán dược phẩm trên thế giới ngày càng tăng nhưng sự phân bố chi tiêu có sự chênh lệch lớn giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Năm 1976, các nước phát triển chỉ chiếm 27% dân số
Trang 12nhưng sử dụng đến 75% lượng thuốc sản xuất Năm 1985, các nước phát triển chiếm 25% dân số nhưng sử dụng 79% lượng thuốc sản xuất Đến năm 2006, các nước phát triển chỉ chiếm 18% dân số nhưng lại sử dụng đến 85% lượng thuốc sản xuất ra [26] Đến năm 2011, với sự cải tiến công nghệ không ngừng cùng với những chiến lược kinh doanh hợp lý, một số thị trường mới nổi như Ấn Độ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Nga sẽ là những thị trường dược phẩm giàu tiềm năng nhất, theo dự đoán đến năm
2015, Trung Quốc hứa hẹn sẽ trở thành thị trường dược phẩm đứng thứ 2 sau Mỹ [28]
Giá trị sử dụng thuốc trên đầu người cũng liên tục tăng qua các năm:
từ 10,3USD năm 1976 lên 19,4 USD năm 1985, đến năm 1999 con số này
là 63 USD Giá trị này cũng có sự chênh lệch lớn giữa các nước phát triển
và các nước đang phát triển: Tại Nhật Bản giá trị sử dụng thuốc trên đầu người hàng năm là 264 USD, Mỹ là 230 USD, Anh là 105 USD Trong khi
đó con số này ở khu vực châu Phi và Đông Nam Á lại rất thấp, chỉ trong khoảng 1 - 1 0 USD [26] Điều đó có thể nhận thấy rằng, có sự chênh lệch rất lớn trong chất lượng sử dụng thuốc giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển
1.1.2 Việt Nam
Việt Nam là quốc gia đang phát triển, là một nước có khí hậu nhiệt đới nên
có mô hình bệnh tật đặc trưng của quốc gia nhiệt đới đang phát triển, chiếm
tỷ lệ cao là các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh không do nhiễm khuẩn cũng ngày càng gia tăng nhanh chóng như bệnh tim mạch, tiểu đường…đại dịch HIV/AIDS và bệnh lao đang hoành hành [10],[11],[12]
Mục tiêu hàng đầu của ngành Dược nước ta là cung ứng đủ thuốc phục vụ công tác phòng bệnh và chữa bệnh cho toàn thể nhân dân, đặc biệt phải đảm bảo đủ thuốc cho các nhiệm vụ đột xuất, thiên tai, dịch bệnh, thảm họa
Trang 13Trong thời kỳ bao cấp, nền kinh tế vận hành theo cơ chế bao cấp về mọi mặt, thuốc cũng không phải là ngoại lệ, người dân cũng được nhà nước bao cấp về thuốc chữa bệnh, điều này cũng tạo điều kiện cho Nhà nước dễ dàng trong việc quản lý sử dụng thuốc Nền kinh tế tuy còn nghèo, thu nhập còn thấp nhưng nhà nước cũng đáp ứng được nhu cầu tối thiểu về thuốc chữa bệnh cho nhân dân Tuy nhiên, khó khăn thường gặp phải là vấn đề khan hiếm thuốc, chất lượng thuốc sử dụng vẫn chưa được chú trọng và đảm bảo tốt
Khi nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới, nhà nước xóa bỏ dần chế độ bao cấp trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nói chung và trong ngành dược nói riêng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dược phẩm chủ động hơn trong việc sản xuất, cung ứng các mặt hàng thuốc chữa bệnh Tuy nhiên trong giai đoạn này, việc bảo đảm chất lượng và sử dụng thuốc sao cho an toàn, hợp lý, hiệu quả vẫn đang gặp nhiều khó khăn Đặc biệt, các thuốc thuộc chương trình y tế quốc gia, nhà nước vẫn phải bao cấp phí vận chuyển hoặc cấp không thu tiền
Từ khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, cùng với sự phát triển
và lớn mạnh của nền kinh tế đất nước, với sự đa dạng hóa trong các hình thức sản xuất, nhập khẩu, phân phối, lưu thông tình trạng thiếu thuốc chữa bệnh phục vụ cho nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân
đã được khắc phục Chi phí đầu tư cho ngành dược tăng lên theo từng năm, đặc biệt là thuốc sản xuất trong nước ngày càng đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu của các tầng lớp nhân dân, các mặt hàng ngày càng trở nên phong phú về số lượng và chủng loại Tính đến hết năm 2011, nước ta đã sản xuất được 524 hoạt chất với số lượng mặt hàng phong phú, giá cả hợp lý, phân phối đều ở các nhóm bệnh, trong đó tập trung nhiều nhất là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn, tiếp theo là nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm phi Steroid, thuốc đường hô hấp Bên cạnh đó các
Trang 14công ty dược phẩm cũng đang cố gắng từng bước sản xuất các thuốc chuyên khoa đặc trị, thuốc tim mạch, thuốc ung thư nhằm phục vụ cho nhu cầu sử dụng ngày càng lớn của đông đảo người dân [23]
Bảng 1.2 Số liệu về sản xuất, nhập khẩu và sử dụng thuốc qua các năm
Trị giá thuốc
NK (1000 USD)
Bình quân tiền thuốc đầu người (USD)
(Nguồn: Cục quản lý dược)
Trị giá thuốc sản xuất trong nước năm 2011 là 1.140.000 nghìn USD, tăng lên 4,7 lần so với năm 2003 (241.870 nghìn USD), tăng 1,24 lần
So với năm 2010 (919.039 nghìn USD) Đồng thời, trị giá thuốc sản xuất trong nước năm 2011 cũng chiếm 47,82% tổng giá trị thuốc sử dụng [23] Đây cũng là sự cố gắng rất lớn của ngành dược Việt Nam
Về tình hình nhập khẩu thuốc, năm 2011 trị giá thuốc nhập khẩu là 1.527.000 nghìn USD, tăng lên 3,4 lần so với năm 2003 (451.352 nghìn USD) Nếu tiền thuốc bình quân đầu người năm 2003 chỉ đạt 7,6 USD thì đến năm 2011, con số này đã lên đến 27,7 USD (tăng 3,6 lần) [23]
Trang 15Mặc dù vậy, việc cung ứng thuốc ở nước ta vẫn đang gặp nhiều khó khăn, bất cập đặc biệt là giá trị các thuốc nhập khẩu vẫn cao hơn so với các thuốc sản xuất trong nước gây tốn kém cho nền kinh tế đất nước cũng như người bệnh Bên cạnh đó, việc quản lý sử dụng thuốc cũng gặp nhiều khó khăn như giá thuốc không kiểm soát được, hiện tượng lạm dụng thuốc mà đặc biệt là kháng sinh, viatmin và khoáng chất diễn ra phổ biến, hiện tượng kháng thuốc, tình trạng kê đơn không phải là thuốc thiết yếu mà là những thuốc có tính thương mại cao, việc sử dụng thuốc của khu vực dân cư vẫn chủ yếu theo thói quen kinh nghiệm, tình trạng phổ biến là người dân tự ý
đi mua thuốc về sử dụng chứ không đi khám ở cơ sở y tế và dùng thuốc theo phác đồ điều trị của thầy thuốc
* Vài nét về tình hình sử dụng thuốc tại các bệnh viện Việt Nam
Hiện nay, tình hình sử dụng thuốc trong bệnh viện chiếm một tỷ trọng lớn Năm 2009, tổng giá trị tiền thuốc đã sử dụng ở các bệnh viện trên toàn quốc là 10.791 tỷ VND chiếm khoảng 40% tổng trị giá tiền thuốc
sử dụng, trong đó thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai địa bàn tập trung nhiều bệnh viện lớn, có tỷ trọng sử dụng cao
Tổng tiền mua thuốc hàng năm qua đấu thầu tại các bệnh viện tăng nhanh, năm 2009 khoảng 12,7 nghìn tỷ đồng; năm 2010 là 14,6 nghìn tỷ đồng và năm 2011 là 18,5 nghìn tỷ đồng, tỷ lệ tăng trung bình hàng năm trên 20% Trong đó tỷ lệ thuốc ngoại nhập chiếm khoảng 64%, thuốc sản xuất trong nước chiếm khoảng 37%
1.2 Môt số vấn đề về quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện
1.2.1 Giám sát thực hiện danh mục thuốc
Chỉ thị 05/2004/CT-BYT ngày 16 tháng 4 năm 2004 của Bộ Y tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện đã yêu cầu: “đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh theo danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh, không để người bệnh nội trú phải tự mua
Trang 16thuốc trong danh mục thuốc chủ yếu” Để đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh theo danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV), Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện cần duy trì danh mục thuốc bệnh viện bằng cách thường xuyên rà soát
để kịp thời cập nhật thuốc mới, phác đồ điều trị mới, tránh tình trạng danh mục thuốc bệnh viện sẽ trở thành một bộ sưu tập thuốc cũ và kém hiệu quả Giám sát thực hiện danh mục thuốc là giám sát việc tuân thủ các qui định sử dụng danh mục thuốc về:
- Đối tượng sử dụng danh mục thuốc
- Những qui định và thủ tục để bổ xung hoặc loại bỏ thuốc ra khỏi danh mục thuốc
- Thủ tục cho việc yêu cầu sử dụng các thuốc không nằm trong danh mục thuốc
1.2.2 Quy trình sử dụng thuốc tại bệnh viện
Bệnh viện là nơi thu dung điều trị một số lượng lớn bệnh nhân, chính
vì thế hoạt động cung ứng thuốc đòi hỏi phải được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm an toàn cho người bệnh
Sử dụng thuốc là bước cuối cùng của chu trình cung ứng thuốc, nó thể hiện kết quả của hoạt động quản lý cung ứng thuốc tốt hay kém vì mục đích cuối cùng của hệ thống quản lý cung ứng là sử dụng thuốc đúng cho bệnh nhân, các bước lựa chọn, mua sắm, cấp phát thích hợp là tiền đề cho sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả
Sử dụng thuốc hợp lý nghĩa là đảm bảo cho bệnh nhân nhận được thuốc thích hợp với tình trạng bệnh lý của họ và với liều phù hợp từng người bệnh ( đúng liều, đúng đường dùng, đúng thời gian) Vì vậy sử dụng thuốc hợp lý bao gồm kê đơn đúng, cấp phát đúng và đảm bảo tuân thủ dùng thuốc của người bệnh
Trong công tác khám, chữa bệnh, việc chẩn đoán bệnh và kê đơn điều trị có
vị trí rất quan trọng, hiệu quả điều trị phụ thuộc rất nhiều vào công tác này
Trang 17Do vậy yêu cầu tất cả các bác sĩ điều trị phải tuân thủ nghiêm ngặt qui chế chẩn đoán bệnh và kê đơn điều trị do Bộ Y tế qui định
Việc sử dụng thuốc tại bệnh viện được thực hiện theo quy trình sau:
Hình 1.1 Quy trình sử dụng thuốc tại bệnh viện
* Chẩn đoán theo dõi: Người thầy thuốc phải khai thác:
- Tiền sử dùng thuốc của bệnh nhân
- Tiền sử dị ứng
- Liệt kê các thuốc người bệnh đã dùng trước khi nhập viện trong vòng 24 giờ và ghi diễn biến lâm sàng của người bệnh vào hồ sơ bệnh án (giấy hoặc điện tử theo quy định của Bộ Y tế) để chỉ định sử dụng thuốc hoặc ngừng sử dụng thuốc
* Kê đơn
Nguyên nhân sai sót trong khâu kê đơn, chỉ định dùng thuốc rất đa dạng, phức tạp, có thể do trình độ chẩn đoán bệnh, hiểu biết về thuốc, do tác động của thị trường chi phối…Nên muốn quản lý việc kê đơn, chỉ định dùng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm cần yêu cầu bác sĩ thực hiện đúng các quy định của bệnh viện và của nhà nước:
Thực hiện đúng qui chế kê đơn
Kê đơn trong danh mục đã được bệnh viện xây dựng
CHUẨN ĐOÁN
TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
CÂP PHÁT THUỐC
Trang 18 Qui trình kê đơn và sử dụng thuốc của bệnh viện
Thực hiện các phác đồ điều trị, hội chẩn điều trị sử dụng thuốc
Luôn rút kinh nghiệm kê đơn với nhiều biện pháp như: việc bình đơn thuốc, sinh hoạt thông tin thuốc, cập nhật các tiến bộ về nghiên cứu phát minh, đánh giá lâm sàng trong điều trị thuốc mới và thuốc đã sử dụng phải được tiến hành định kỳ thường xuyên trong bệnh viện
Kê đơn là quyết định những thuốc nào là cần thiết cho bệnh nhân với liều dùng và quá trình điều trị thích hợp
Đối với bệnh nhân điều trị nội trú: Bác sĩ thực hiện việc kê đơn vào bệnh
án theo đúng các quy định về ghi bệnh án
Đối với bệnh nhân điều trị ngoại trú: Bác sĩ thực hiện việc kê đơn vào đơn thuốc theo đúng mẫu quy định
Hiện nay, Bộ Y tế cũng đã ban hành quy chế kê đơn, ban hành Danh mục thuốc phải kê đơn và không kê đơn Quy chế kê đơn của Bộ y tế dựa trên những nguyên tắc sau [5]:
Khi thấy thật sự cần thiết phải dùng đến thuốc
Kê những thuốc tối thiểu cần thiết, có đầy đủ thông tin
Chọn thuốc điều trị đúng bệnh cho từng bệnh nhân cụ thể
Liều thuốc hợp lý
Chỉ định dùng thuốc đúng lúc
Chú ý thận trọng với cơ địa, trạng thái người bệnh
Hạn chế, thận trọng trong các điều trị phối hợp với nhiều thuốc hoặc hỗn hợp thuốc nhiều thành phần
Thận trọng đối với các phản ứng phụ, không mong muốn của thuốc
Chọn thuốc hiệu quả cao, chi phí thấp
Các bác sĩ cũng đã có nhiều cố gắng trong việc kê đơn, tuân thủ các nguyên tắc điều trị bảo đảm việc sử dụng thuốc cho bệnh nhân được hợp lý, an toàn, hiệu quả Tên thuốc trong đơn phải ghi theo tên quốc tế, phải chính
Trang 19xác liều dùng, đường dùng, số lần dùng thuốc trong ngày, thời gian cả đợt điều trị Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại cần phải giải quyết như:
+ Đơn thuốc Bác sĩ viết tay thường có hiện tượng không rõ ràng, khó đọc, đặc biệt là những thuốc có tên gần giống nhau dễ gây nhầm lẫn cho những người bán thuốc và người sử dụng
+ Vì nhiều lý do khác nhau trong đó có hiện tượng thầy thuốc
kê đơn thuốc để các hãng dược phẩm chi hoa hồng từ đó dẫn đến tình trạng
kê đơn lạm dụng thuốc biệt dược nhập khẩu từ nước ngoài gây tốn kém cho bệnh nhân và quỹ bảo hiểm y tế, đẩy chi phí điều trị tăng lên, thậm chí tăng gấp nhiều lần
+ Nhiều Bác sĩ còn kê đơn thuốc theo thói quen, kết hợp quá nhiều thuốc trong một đơn, điều này sẽ làm tăng nguy cơ tương tác có hại cho bệnh nhân có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh
* Cấp phát thuốc
Qui trình cấp phát thuốc cụ thể tại mỗi bệnh viện được xây dựng dựa trên điều kiện cơ sở vật chất và nhân lực của khoa Dược, được khái quát hóa theo sơ đồ hình 1.3:
Trang 20Trong bệnh viện, giao nhận, cấp phát thuốc là công việc thường qui của khoa dược và điều dưỡng của các khoa lâm sàng thực hiện, được xây dựng thành quy trình cấp phát từ khoa dược đến khoa lâm sàng và đến người bệnh đảm bảo kịp thời, thuận lợi cho điều trị, chỉ thị 05/2004/CT-BYT ngày 16/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng sử dụng thuốc trong bệnh viện
- Khoa dược tổ chức cấp phát thuốc đảm bảo chất lượng và hướng dẫn sử dụng thuốc
- Kiểm duyệt đơn thuốc, phiếu lĩnh thuốc hàng ngày trước khi cấp phát
- Tổ chức phát thuốc hàng ngày và thuốc bổ sung theo y lệnh Phát thuốc kịp thời để bảo đảm người bệnh được dùng thuốc đúng thời gian
- Thuốc cấp phát lẻ không còn nguyên bao gói phải được đóng gói lại trong bao bì kín khí và có nhãn ghi tên thuốc, nồng độ (hàm lượng), hạn dùng
- Việc ra lẻ thuốc phải bảo đảm thực hiện trong môi trường vệ sinh sạch sẽ và thao tác hợp vệ sinh
- Tùy theo điều kiện, tính chuyên khoa của bệnh viện, khoa Dược thực hiện pha chế thuốc theo y lệnh và cấp phát dưới dạng đã pha sẵn để sử dụng
- Khoa Dược từ chối cấp phát thuốc trong các trường hợp phiếu lĩnh thuốc, đơn thuốc có sai sót Phiếu lĩnh hoặc đơn thuốc thay thế thuốc sau khi có ý kiến của dược sĩ khoa Dược phải được người ký phiếu lĩnh (hoặc
kê đơn thuốc) ký xác nhận bên cạnh
- Để tránh xảy ra sai sót trong khâu cấp phát, trước khi cấp phát thuốc nhân viên cấp phát thuốc phải thực hiện 3 kiểm tra, 3 đối chiếu theo đúng quy chế [7]
Trang 21Tên thuốc ở đơn, phiếu và nhãn
Nồng độ hàm lượng thuốc ở đơn, phiếu với số thốc sẽ giao
Số lượng, số khoản thuốc ở đơn, phiếu với số thuốc sẽ giao
- Thông báo những thông tin về thuốc: tên thuốc, thành phần, tác dụng dược lý, tác dụng không mong muốn, liều dùng, áp dụng điều trị, giá tiền, lượng tồn trữ
- Khoa Dược làm đầu mối trình lãnh đạo bệnh viện báo cáo ADR và gửi về Trung tâm Quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi ADR ngay sau khi xử lý
* Tuân thủ điều trị
Theo mô hình tổ chức ngành y tế nước ta hiện nay, việc thực hiện sử dụng thuốc theo y lệnh là nhiệm vụ của các điều dưỡng viên, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, trong đó các điều dưỡng viên giữa vai trò quan trọng Điều dưỡng viên trước khi cho người bệnh dùng thuốc phải thực hiện “ Ba kiểm tra, năm đối chiếu” [7]
Trang 22 Đường dùng thuốc
Chất lượng thuốc
Thời gian, thời điểm dùng thuốc
Trước khi người bệnh dùng thuốc:
+ Công khai thuốc dùng hàng ngày cho từng người bệnh bằng cách thông báo cho người bệnh trước khi dùng thuốc, đồng thời yêu cầu người bệnh hoặc người nhà ký nhận vào phiếu công khai thuốc Phiếu công khai thuốc để ở kẹp đầu hoặc cuối giường bệnh
+ Hướng dẫn, giải thích cho người bệnh tuân thủ điều trị
+ Kiểm tra thuốc ( tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, liều dùng một lần,
số lần dùng thuốc trong 24 giờ, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc, thời điểm dùng thuốc và đường dùng thuốc) so với y lệnh, kiểm tra hạn sử dụng
và chất lượng cảm quan của thuốc Khi phát hiện những bất thường trong y lệnh như chỉ định sử dụng thuốc quá liều quy định, đường dùng không hợp
lý hoặc dùng nhiều thuốc đồng thời gây tương tác có hại, điều dưỡng viên phải báo cáo với thầy thuốc điều trị hoặc thầy thuốc trực biết
+ Đảm bảo 5 đúng: Đúng tên thuốc, đúng người bệnh, đúng liều
dùng, đúng đường dùng, đúng thời gian
+ Trực tiếp chứng kiến người bệnh dùng thuốc và theo dõi phát hiện kịp thời các bất thường của người bệnh trong khi dùng thuốc
Sau khi người bệnh dùng thuốc:
+ Theo dõi thường xuyên để kịp thời xử trí các bất thường của người bệnh Ghi chép đầy đủ các diễn biến lâm sàng của người bệnh vào hồ sơ bệnh án
+ Bác sĩ điều trị có trách nhiệm theo dõi tác dụng của thuốc và xử lý kịp thời các tai biến do dùng thuốc, ghi sổ theo dõi phản ứng có hại của thuốc
Trang 23+ Ghi cụ thể số thuốc điều trị cho mỗi người bệnh, mỗi khi thực hiện xong một thuốc phải đánh dấu thuốc đã thực hiện
+ Bảo quản thuốc còn lại (nếu có) theo đúng yêu cầu của nhà sản xuất
+ Xử lý và bảo quản dụng cụ liên quan đến dùng thuốc cho người bệnh theo đúng quy định
Để vấn đề sử dụng thuốc tại bệnh viện đem lại hiệu quả cao thì việc hết sức quan trọng cần phải giải quyết tốt mối quan hệ hợp tác giữa Bác sĩ - Dược sĩ - y tá điều dưỡng Đây là mối quan hệ khăng khít, tạo nên vòng tròn khép kín trong quá trình công tác chuyên môn mà chính bệnh nhân là trung tâm, là đối tượng mà các nhân viên y tế phải chăm sóc
Thông tư 23/TT-BYT, hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế
* Người bệnh phải tuân thủ điều trị, không tự ý bỏ thuốc hoặc tự ý dùng thuốc không đúng chỉ định của thầy thuốc Người bệnh hoặc người nhà bệnh nhân chịu trách nhiệm về mọi sự cố do tự ý dùng thuốc không đúng chỉ định của thầy thuốc [15]
1.2.3 Công tác thông tin thuốc và dược lâm sàng
Trong quá trình sử dụng thuốc tại bệnh viện, vấn đề thông tin thuốc
và dược lâm sàng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng điều trị người bệnh Bộ Y tế đã có thông tư số 08/1997/TT-BYT
Trang 24ngày 4 tháng 7 năm 1997 về hướng dẫn tổ chức đơn vị thông tin thuốc quy định về nhân lực thông tin thuốc, trang thiết bị hoạt động, mối liên hệ với Trung tâm thông tin thuốc quốc gia và trung tâm theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ADR) [5] Theo báo cáo của trung tâm DI & ADR quốc gia, năm 2012 đã tiếp nhận tổng số 3236 báo cáo phản ứng có hại của thuốc, trong đó có 3024 báo cáo được gửi từ các cơ sở khám chữa bệnh [25] điều này cũng phản ánh công tác theo dõi báo cáo ADR tại các cơ sở điều trị chưa được coi trọng và làm tốt, số lượng báo cáo ADR ít hơn rất nhiều so với thực tế Tại các bệnh viện hiện nay, nhu cầu thông tin thuốc đối với bác sĩ, dược sĩ và các nhân viên y tế là rất lớn, chính vì vậy vai trò của đơn
vị thông tin thuốc càng trở nên quan trọng Đơn vị thông tin thuốc không chỉ làm nhiệm vụ cung cấp thông tin về thuốc mà còn phải có trách nhiệm thu thập thông tin về sử dụng thuốc từ các khoa lâm sàng, điều đó đòi hỏi các cán bộ trong đơn vị thông tin thuốc phải được trang bị đầy đủ thiết bị máy móc, phương tiện, tài liệu và phải được đào tạo kiến thức, kỹ năng chuyên môn sâu Tuy nhiên, hiện nay cán bộ hoạt động trong đơn vị thông tin thuốc và dược lâm sàng chủ yếu vẫn là kiêm nhiệm nên vẫn chưa phát huy hết vai trò, hiệu quả thông tin thuốc trong điều trị
Các dược sĩ bệnh viện là người chịu trách nhiệm cung cấp thông tin cho thầy thuốc kê đơn, giúp họ lựa chọn thuốc cho đúng người,đúng bệnh, đúng cách dùng nhằm đạt hiệu quả điều trị tối ưu Dược sĩ lâm sàng hướng dẫn, kiểm tra điều dưỡng viên thực hiện đúng y lệnh cũng như thông tin thuốc cho bệnh nhân nội trú, ngoại trú và người nhà chăm sóc tham gia vào thực hiện phác đồ điều trị của thầy thuốc
Trang 251.2.4 Mô hình bệnh tật và tình hình sử dụng thuốc tại các bệnh viện Việt Nam
* Một vài nét về mô hình bệnh tật trên Thế giới và tại Việt Nam
- Mô hình bệnh tật của các nước trên thế giới phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước Theo điều tra của Ngân hàng Thế giới và Trường Đại học Oxford (Mỹ) thi trên thế giới có 2 loại mô hình bệnh tật (MHBT) có đặc tính riêng biệt
- Mô hình bệnh tật của các nước phát triển chủ yếu là các bệnh không nhiễm trùng như tim mạch, tiểu đường, các bệnh mãn tính
Mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển với các bệnh nhiễm trùng vẫn chiếm tỷ lệ cao như sốt rét, tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, tả, lỵ, thương hàn, lao
Từ thập niên 70 của thế kỷ 20, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhận thấy các bệnh nhiễm trùng vẫn chiếm tỷ lệ cao trong mô hình bệnh tật của các nước có nền kinh tế kém và chậm phát triển ở châu Á, châu Mỹ Latinh, châu Phi trong khi các bệnh này đã được thanh toán ở hầu hết các nước phát triển Các bệnh nhiễm trùng ở các nước phát triển chỉ chiếm 5,3%; trong khi
đó ở các nước đang phát triển là 41,2% trong mô hình bệnh tật Các bệnh
không nhiễm trùng chiếm tới 87,3% mô hình bệnh tật ở các nước phát triển Tại Việt Nam là nước đang phát triển, thuộc miền khí hậu nhiệt đới,
mô hình bệnh tật mang đặc trưng của một nước nhiệt đới đang phát triển và
có nhiều thay đổi Theo kết quả điếu tra năm 2008, tỷ lệ mắc bệnh hệ hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất 19,09%, tiếp đến là bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật chiếm 10,67%, bệnh đường tiêu hóa 9,13%
* Mô hình bệnh tật của bệnh viện
Bệnh viện là nơi trực tiếp khám và điều trị bệnh cho người mắc bệnh trong cộng đồng, vì vậy mô hình bệnh tật của bệnh viện bao gồm cả mô hình bệnh tật của cộng đồng Khác với mô hình bệnh tật ở cộng đồng, mỗi bệnh viện có chức năng, nhiệm vụ riêng, ở từng địa bàn, với đặc điểm dân
cư, địa lý khác nhau, đặc biệt là sự phân công chức năng nhiệm vụ trong tuyến y tế, từ đó dẫn đến mô hình bệnh tật của từng bệnh viện có tính đặc thù khác biệt
Trang 26Ở Việt Nam, có 2 loại mô hình bệnh tật của bệnh viện cơ bản, đó là
mô hình bệnh tật của bệnh viện đa khoa và bệnh viện chuyên khoa Mô hình bệnh tật của bệnh viện cũng giống như của cộng đồng đều bị chi phối bởi một số yếu tố như điều kiện kinh tế, xã hội, tôn giáo, địa lý, tổ chức mạng lưới và chất lượng dịch vụ y tế, trình độ khoa học kỹ thuật Ngoài ra
mô hình bệnh tật của bệnh viện còn phụ thuộc vào sự lựa chọn của người bệnh và phụ thuộc vào chính bệnh viện Các yếu tố này đan xen với nhau, ảnh hưởng lẫn nhauẽ
Các yếu tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn nơi khám bệnh:
- Yếu tố về người bệnh: tuổi, giới, dân tộc, gia đình, nghề nghiệp, khả năng chi trả, tính cách
- Tính chất của bệnh viện và nhận thức của người bệnh: bệnh trong thời kỳ cấp hay mãn tính, mức độ của bệnh nặng hay bình thường, lợi ích mong đợi của trị liệu bệnh
- Tính chất của các dịch vụ y tế trong số có bệnh viện: sự dễ tiếp cận, sự hấp dẫn, chất lượng kỹ thuật chẩn đoán và điều trị, giá cả và cơ chế quản lý.
Mô hình bệnh tật của bệnh viện là căn cứ quan trọng giúp bệnh viện không chỉ để xây dựng danh mục thuốc phù hợp mà còn làm cơ sở để các nhà quản lý bệnh viện hoạch định sự phát triển toàn diện trong tương lai
1.3 Danh mục thuốc bệnh viện, hội đồng thuốc và điều trị
1.3.1 Danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV)
"Danh mục thuốc bệnh viện là danh mục những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện, phù hợp với mô hình bệnh tật, kĩ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng bệnh viện và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y
tế cũng như người bệnh Những loại thuốc này trong một phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật luôn có sẵn bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý"
Trang 27Danh mục thuốc của bệnh viện được Hội đồng thuốc và điều trị xây dựng, đây là công việc rất cần thiết, là bước đầu tiên trong quá trình cung ứng thuốc, cũng là khâu quan trọng nhất
Khi xây dựng danh mục thuốc đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa cán bộ y và dược để từ đó có một danh mục thuốc phù hợp với mô hình cứu chữa của bệnh viện mình
DMTBV chủ yếu là các thuốc có trong danh mục thuốc chủ yếu dùng trong các cơ sở khám chữa bệnh, ngoài ra còn có thêm một số thuốc khác tuỳ thuộc vào đặc thù của bệnh viện, kĩ thuật điều trị, hạng và tuyến bệnh viện, đối tượng phục vụ, mô hình bệnh tật
DMTBV là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động và có kế hoạch cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn và hiệu quả, phù hợp với các mặt đặc thù của từng bệnh viện
Các căn cứ để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện là:
- Mô hình bệnh tật của bệnh viện
- Các phác đồ điều trị chuẩn của Bộ Y tế và của bệnh viện
- Danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu dùng cho các
cơ sở khám chữa bệnh
- Danh mục thuốc có từ những năm trước
- Các thống kê về chi phí thuốc, các số liệu lịch sử về sử dụng thuốc
- Danh mục thuốc bảo hiểm y tế, khả năng kinh phí của bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh
- Hiệu quả điều trị, thông tin quảng cáo
1.3.2 Hội đồng thuốc và điều trị
Ngày 25/02/1997, Bộ trưởng Bộ y tế đã ra chỉ thị 03/CT-BYT về việc chấn chỉnh công tác quản lý và sử dụng thuốc tại bệnh viện Tiếp theo
đã ban hành thông tư số 08/TT-BYT ngày 4/7/1997 hướng dẫn việc tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng thuốc và điều trị Theo quyết định
Trang 28số 1895/QĐ-BYT ngày 19/09/1997 về Quy chế bệnh viện đã quy định rõ:
“Các bệnh viện phải có Hội đồng thuốc và điều trị”
Mục đích của của hội đồng thuốc và điều trị nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc xác định xem loại thuốc nào cần phải cung ứng, giá cả ra sao và sử dụng như thế nào
Để đạt được mục đích trên, một hội đồng thuốc và điều trị cần phải đạt được các mục tiêu sau:
+ Xây dựng và thực hiện một hệ thống danh mục thuốc có hiệu quả điều trị trong đó bao gồm các hướng dẫn điều trị thống nhất, danh mục thuốc, cẩm nang hướng dẫn danh mục thuốc
+ Đảm bảo chỉ sử dụng những thuốc thỏa mãn các tiêu chí về hiệu quả điều trị, độ an toàn, hiệu quả - chi phí và chất lượng
+ Đảm bảo an toàn thuốc thông qua công tác theo dõi, đánh giá trên
cơ sở đó ngăn ngừa các phản ứng có hại ( ADR) và sai sót trong điều trị + Xây dựng và thực hiện những can thiệp để nâng cao thực hành sử dụng thuốc của các thầy thuốc kê đơn, dược sĩ cấp phát và người bệnh, điều này đòi hỏi phải thực hiện công tác điều tra và giám sát sử dụng thuốc
* Chức năng của hội đồng thuốc và điều trị:
+ Hội đồng tư vấn cho bác sĩ, dược sĩ và các nhà quản lý
+ Xây dựng các chính sách thuốc,
+ Đánh giá và lựa chọn thuốc cho danh mục thuốc bệnh viện
+ Xây dựng hướng dẫn điều trị chuẩn
Trang 29+ Phổ biến thông tin
Tại Bệnh viện 7 - Quân khu 3, theo quyết định của Giám đốc bệnh viện tháng 4 năm 2013 về việc kiện toàn HĐTĐT bệnh viện gồm 11 đồng chí với lề lối làm việc:
- Họp hội đồng 1 tháng một lần vào tuần cuối của tháng
- Đồng chí Phó chủ tịch thường trực HĐTĐT (chủ nhiệm khoa dược) chuẩn bị tài liệu cho các cuộc họp
- Các đồng chí Ủy viên hội đồng thảo luận, đề xuất biện pháp thực hiện nhiệm vụ của hội đồng
Chức năng của hội đồng thuốc và điều trị: Hội đồng thuốc và điều trị làm nhiệm vụ tư vấn thường xuyên cho Giám đốc bệnh viện xây dựng được quy trình, quy định trong công tác cung ứng, quản lý sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả, cụ thể hóa các phác đồ điều trị phù hợp với điều kiện bệnh viện
Nhiệm vụ hội đồng thuốc và điều trị:
- Tư vấn cho tổ chuyên gia trong công tác đấu thầu hàng năm, xây dựng danh mục thuốc phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc, vật
tư tiêu hao điều trị của bệnh viện
- Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt các quy định, quy trình về cung ứng, quản lý, cấp phát, theo dõi sử dụng thuốc của bệnh viện Đồng thời giúp giám đốc kiểm tra việc thực hiện các quy trình, quy định
- Tổ chức hoạt động bình bệnh án tại các khoa lâm sàng hàng tháng nhằm phát hiện các vấn đề sai sót, chưa hợp lý trong việc kê đơn sử dụng thuốc để chấn chỉnh kịp thời
- Theo dõi các phản ứng có hại (ADR) và các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc
- Thông tin thuốc, tác dụng mới của thuốc trong hoạt động điều trị
Trang 30- Xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa dược sĩ, bác sĩ kê đơn
và y tá điều dưỡng trong sử dụng thuốc cho người bệnh [5]
1.4 Vài nét về ngành quân y Quân đội và Phân viện 7 Quân khu 3
1.4.1 Vài nét về ngành Quân y Quân đội
Cục Quân y - Bộ quốc phòng, là cơ quan đứng đầu Ngành Quân y Quân đội, được thành lập từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và điều trị cho các thương bệnh binh, cán bộ, chiến sỹ và nhân dân Ban đầu chỉ với 10 đội điều trị và
9 phân viện hậu phương Trải qua quá trình kháng chiến chống thực dân và
đế quốc đến thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Ngành Quân y có những bước phát triển mạnh mẽ, đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của việc xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại
Về tổ chức: Ngành Quân y gồm có Cục quân y và các đơn vị chịu sự quản lý về chuyên môn nhiệp vụ Quân y:
- Cục quân y: là cơ quan quản lý cao nhất về y tế trong Quân đội, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ quốc phòng, đồng thời chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Y tế
- Các đơn vị chịu sự quản lý về chuyên môn nhiệp vụ Quân y
+ Hệ thống điều trị: Các bệnh viện, viện nghiên cứu có giường bệnh
và các phân đội quân y
+ Hệ thống vệ sinh phòng dịch: Viện vệ sinh phòng dịch quân đội, Trung tâm y học dự phòng phía Nam, các đội vệ sinh phòng dịch quân khu, quân đoàn
+ Hệ thống huấn luyện quân y: Học viện quân y, các bệnh viện + Hệ thống dược và trang bị quân y: Trung tâm kiểm nghiệm và nghiên cứu dược quân đội, các kho chiến lược, công ty dược phẩm và trang thiết bị y tế quân đội
Trang 31Về công tác đảm bảo thuốc: Trước đây, ngân sách cho thuốc cấp xuống bệnh viện và các đơn vị chủ yếu bằng hiện vật Điều này phù hợp với các đơn vị đóng quân ở xa như biên giới, hải đảo, việc cung ứng thuốc gặp nhiều khó khăn, các hoạt động cấp phát thuốc chủ yếu cho công tác chăm sóc sức khỏe hoặc điều trị các bệnh nhẹ Với các đơn vị đóng quân vùng đồng bằng hoặc các đô thị lớn thì ngân sách được cấp với tỷ lệ tự chi cao hơn để phù hợp với mô hình bệnh tật, khả năng cứu chữa, phương thức đảm bảo cũng tuân theo các quy định hiện hành của Bộ Y tế Tuy nhiên phương thức đảm bảo bằng hiện vật có hạn chế là hàng hóa vận chuyển phức tạp qua nhiều kho, chất lượng và hạn sử dụng bị ảnh hưởng nhiều vì mất nhiều khâu trung gian, đôi khi có các thuốc không phù hợp với mô hình bệnh tật của cơ sở điều trị
Từ năm 1998 trở về trước, nguồn cung ứng thuốc cho Bệnh viện quân đội chủ yếu do Cục quân y đảm nhiệm tới hơn 75% kinh phí về thuốc bệnh viện được cấp hàng năm, phần còn lại là thuốc chương trình, thuốc viện trợ, thuốc tự pha chế, ít có các thuốc mua ngoài Từ năm 1998 trở lại đây, các bệnh viện được cấp kinh phí để chủ động mua sắm thuốc theo nhu cầu của mình, hiện nay kinh phí tự chi lên đến hơn 75% Nguồn thuốc Cục quân y cấp chỉ còn 15 - 25% kinh phí hàng năm Do vậy công tác cung ứng thuốc trong quân đội cũng chịu tác động mạnh của thị trường thuốc bên ngoài [23]
1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ của Phân viện 7 Quân khu III
Căn cứ theo Quyết định số 869/QĐ - TM ngày 06/8/2006 của Bộ tổng tham mưu QĐNDVN về việc thành lập, tổ chức lại các tổ chức thuộc Bệnh viện 7, Quân khu III; Quyết định số 673/QY - 4 ngày 25/05/2002 của Cục trưởng Cục Quân y về qui chế, nhiệm vụ tổ chức ngành Quân y và chế
độ công tác chuyên môn bệnh viện Quân đội; Quyết định số BQP ngày 08/9/2008 về việc công nhận xếp hạng các đơn vị sự nghiệp y tế
Trang 32126/2008/QĐ-trong Quân đội, Phân viện 7 Quân khu III là cơ sở 2 của bệnh viện tuyến cuối của Quân khu có chức năng và nhiệm vụ sau:
- Khám chữa bệnh cho Bộ đội tại ngũ, các đối tượng bệnh nhân chính sách của Quân đội; các đối tượng bệnh nhân có chế độ bảo hiểm y tế
mà chủ yếu là cán bộ hưu trí của lực lượng vũ trang và nhân dân thuộc địa bàn Hải Phòng và các vùng lân cận
- Bảo đảm quân y, tham gia huấn luyện công tác tuyến theo chương trình y tế số 12 cho các tuyến đảo vùng Đông bắc và khu vực thành phố Hải Phòng khi có nhiệm vụ đột xuất
- Phòng chống bệnh dịch cho các đơn vị thuộc tuyến và khu vực
- Cơ sở thực tập cho học sinh các trường cao đẳng và trung cấp y tế
- Nghiên cứu khoa học
- Chỉ đạo tuyến
- Sẵn sàng thu dung, cấp cứu hàng loạt và cử các phân đội quân y cơ động đi làm nhiệm vụ đột xuất khi có yêu cầu của cấp trên
- Quản lý kinh tế bệnh viện[18]
1.4.3 Mô hình tổ chức của Phân viện 7 Quân khu III năm 2013
Trang 33Hình 1.3 Mô hình tổ chức Phân viện 7 Quân khu 3 1.4.4 Mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực khoa Dược Phân viện 7 năm
2013
1.4.4.1 Mô hình tổ chức
Hình 1.4 Mô hình tổ chức khoa dược
CHỦ NHIỆM KHOA DƯỢC
KHO DƯỢC
BAO CẤP
QUẦY DƯỢC BHYT
QUẦY DƯỢC DỊCH VỤ
TỔ HÀNH CHÍNH THỐNG KÊ
TỔ PHA CHẾ
Giám đốc Phân viện 7 (PGĐ Bệnh viện 7 kiêm
Khoa tai mũi họng
Khoa răng hàm mặt
Khoa mắt
Phòng khám - cận lâm sàng
Khoa dược
Trang 34Theo thông tư số 22/TT - BYT ngày 10 tháng 06 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của khoa dược bệnh viện,
mô hình đặc thù tổ chức của Phân viện 7, dưới sự chỉ đạo chung của Chủ nhiệm khoa, khoa Dược - Phân viện 7 Quân khu 3 được tổ chức thành 5 bộ phận:
- Tổ kho dược bao cấp: Quản lý, cấp phát thuốc, vật tư phục vụ cho bệnh nhân là quân tại ngũ và bệnh nhân chính sách quân đội
- Quầy dược bảo hiểm y tế: Quản lý, cấp phát thuốc, vật tư phục vụ bệnh nhân hưởng chế độ bảo hiểm y tế
- Quầy dược dịch vụ y tế: Cung ứng, bán thuốc theo yêu cầu, phục
vụ bệnh nhân dịch vụ y tế
- Tổ hành chính - thống kê: Cập nhật hóa đơn, phiếu xuất nhập kho, phiếu lĩnh thuốc nội trú, đơn thuốc ngoại trú Làm báo cáo và dự trù thuốc hàng tháng, quý, năm bảo đảm chính xác, kịp thời, đúng chế độ quy định
- Tổ pha chế: Pha chế một số thuốc dùng ngoài theo yêu cầu điều trị của Phân viện: dung dịch Iod 1-3%, dung dịch rửa vết thương NaCl 0,9%,
dd thuốc tím
1.4.4.2 Cơ cấu nhân lực khoa dược năm 2013
Bảng 1.3 Cơ cấu nhân lực khoa Dược năm 2013
Khoa Dược được biên chế 02 dược sĩ đại học còn lại đa phần là dược
sĩ trung học và dược tá nên trong hoạt động chuyên môn của khoa dược
Trang 35còn gặp nhiều khó khăn về lực lượng, đội ngũ nhân lực còn thiếu và yếu so với nhu cầu đòi hỏi nhiệm vụ chung của bệnh viện giao phó
1.4.4.3 Chức năng, nhiệm vụ của khoa dược
Khoa dược Phân viện 7 quân khu III thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Thông tư 22/TT-BYT ngày 10/06/2011 của Bộ trưởng
Bộ Y tế:
* Chức năng:
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của giám đốc Phân viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho giám đốc Phân viện về toàn bộ công tác dược nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc, vật tư có chất lượng và tư vấn, giám sát việc sử dụng thuốc
an toàn, hợp lý [14]
*Nhiệm vụ:
- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các nhiệm vụ đột xuất khác (phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa…)
- Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho bệnh nhân và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu
- Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện
- Tổ chức pha chế các thuốc dùng ngoài theo yêu cầu điều trị bệnh viện Tổ chức “Thực hành tốt bảo quản thuốc”
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong Phân viện Phối hợp các khoa lâm sàng hướng dẫn, theo dõi, giám sát việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả
- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc; Theo dõi, báo cáo thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc
Trang 36- Là cơ sở thực hành của các trường cao đẳng và Trung học về dược
- Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc [14]
1.4.5 Mô hình bệnh tật tại Phân viện 7 quân khu III năm 2013
Bảng 1.4 Mô hình bệnh tật tại Phân viện 7 quân khu 3 năm 2013
01 Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng A00-B99 5724 14,13
COO-D48
329 0,81
03 Bệnh của máu, cơ quan tạo máu và các rối
loạn có liên quan đến cơ chế miễn dịch D50-D98 38 0,09
04 Bệnh nội tiêt, dinh dưỡng và chuyển hóa E00-E90 1739 4,29
05 Bệnh rối loạn tâm thần và hành vi F00-F99 387 0,96
06 Bệnh hệ thần kinh và các giác quan G00-G99 3396 8,38
07 Bệnh bộ máy tuần hoàn 100-199 4957 12,24
08 Bệnh bộ máy hệ hô hấp J00-J99 5990 14,79
09 Bệnh bộ máy tiêu hóa K00-K99 7656 18,90
10 Bệnh da mô, tế bào dưới da L00-L99 370 0,91
11 Bệnh của hệ xương khớp và mô liên kết
sử dụng tại Phân viện
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Khoa dược phân viện 7 với các hoạt động cung ứng thuốc từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 9 năm 2013
- Hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện, công tác lựa chọn, xây dựng và thực hiện danh mục thuốc bệnh viện
- Phòng kế hoạch – tài chính kế toán
- Hoạt động của các khoa lâm sàng liên quan tới hoạt động cung ứng, sử dụng thuốc
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Trường đại học dược Hà Nội
- Phân viện 7 Quân khu III
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 9 năm 2013
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp mô tả hồi cứu
- Tiến hành hồi cứu các hồ sơ, sổ sách liên quan tới hoạt động cung ứng thuốc tại phân viện 7 năm 2013
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Danh mục thuốc Phân viện 7 năm 2012- 2013
+ Sổ sách xuất nhập, thống kê sử dụng thuốc năm 2012- 2013 lưu tại khoa dược phân viện 7
+ Văn bản quản lý nhà nước liên quan trực tiếp tới hoạt động cung ứng thuốc
+ Biên bản họp, tài liệu hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị năm
2012 - 2013
Trang 38+ Kinh phí mua thuốc năm 2012 - 2013 lưu tại phòng tài chính - kế toán
+ Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel, biểu diễn bằng hình và bảng
2.3 Cách tiến hành
2.3.1 Thu thập số liệu
Hồi cứu báo cáo sử dụng thuốc tại Phân viện 7 năm 2012 - 2013; báo cáo công tác khám chữa bệnh của Phân viện năm 2012 - 2013; các sổ sách, văn bản lưu tại khoa Dược và các báo cáo của các khoa lâm sàng; sổ họp Hội đồng thuốc điều trị
Đối với bệnh án và đơn thuốc ngoại trú: Số lượng bệnh án và đơn thuốc cần có để nghiên cứu tính theo công thức:
2 2
) 2 / 1 (
) 1 (
d
p p Z
Z = 1,96 (Z: Độ sai lệch của hệ số giới hạn tin cậy), với
d =0,05 thay vào công thức tính được n = 385
Như vậy số đơn thuốc và bệnh án cần phải thu thập điều tra là 385
Số bệnh án và số đơn cần lấy để nghiên cứu:
N n
N n
Trang 39n: Số bệnh án hoặc số đơn được tính theo công thức tính cỡ mẫu cho quần thể lớn
ni: Số bệnh án cần lấy
Thay vào công thức thì số bệnh án và số đơn tối thiểu cần lấy để nghiên cứu là: 356 bệnh án và 378 đơn Trên thực tế đề tài tiến hành nghiên cứu trên 500 bệnh án và 500 đơn ngoại trú
2.3.2 Phương pháp lấy mẫu
+ Đối với bệnh án: Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu hệ thống
Tổng số bệnh án của bệnh viện trong năm 2013 là N, thì mỗi bệnh án được lấy ra bằng cách áp dụng khoảng hằng định k với k = N: 500
Trong khoảng từ 1 đến 10 chọn ngẫu nhiên được số 5 thì các bệnh án được lấy ra có số thứ tự lần lượt là 5 +l.k, 5 +2.k, 5 + 3.k, 5 + 4.k thu được 500 bệnh án và khảo sát các chỉ số
+ Đối với đơn thuốc: Chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện 500 đơn
thuốc cấp phát trong một tuần tại kho ngoại trú và khảo sát các chỉ số kê đơn
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1.2 Số ngày điều trị trung bình
Số ngày điều trị trung bình =
Ý nghĩa: Đánh giá được tình hình hoạt động và hiệu quả điều trị cho bệnh
nhân
Số bệnh án đúng quy chế
Tổng số ngày điều trị Tổng số bệnh án
Trang 402.4.1.3 Số thuốc trung bình trong một bệnh án
Số thuốc trung bình trong một bệnh án =
Ý nghĩa: Đánh giá năng lực kê đơn và khả năng phối hợp thuốc của bác sỹ
trong điều trị
2.4.2 Đối với đơn thuốc ngoại trú
2.4.2.1 Thực hiện quy chế chuyên môn trong kê đơn ngoại trú
Tỷ lệ đơn thuốc đúng quy chế (%) =
Ý nghĩa: Đánh giá mức độ chấp hành quy chế chuyên môn trong kê đơn
ngoại trú
2.4.2.2 Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc
Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc =
Ý nghĩa: Đánh giá năng lực kê đơn và khả năng phối hợp thuốc của bác sỹ
trong điều trị
2.4.2.3 Tỷ lệ thuốc được kê tên gốc/biệt dược
Tỷ lệ thuốc được kê tên gốc (%) =
Tỷ lệ thuốc được kê tên biệt dược (%) =
Ý nghĩa: Việc sử dụng thuốc mang tên gốc sẽ giúp làm giảm chi phí cho
người bệnh, việc xác định tỷ lệ thuốc được kê tên gốc giúp đánh giá quá
Tổng số thuốc sử dụng Tổng số bệnh án
Số đơn thuốc đúng quy chế
Tổng số thuốc sử dụng Tổng số đơn thuốc
Số thuốc kê tên gốcTổng số thuốc sử dụng
x 100
Số thuốc kê tên biệt dược Tổng số thuốc sử dụng
x 100