1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền nhân thân và phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân

20 323 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 125,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BLDS năm 2005 quy định về quyền nhân thân tại điều 24: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, tr

Trang 1

MỞ ĐẦU

Nhân quyền hay quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi ai hay bất cứ chính thể nào Nhân quyền là một giá trị văn hoá quan trọng của cuộc sống con người Việt Nam Nhân quyền được thực thi cụ thể trong tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, được luật hoá trong Hiến pháp của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cụ

thể là điều 50 của Hiến pháp năm 1992 xác định: "Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật" Điều đó thể hiện Nhà nước ta luôn coi trọng nhân quyền hay quyền

con người trong đó có quyền nhân thân là một phần vô cùng quan trọng Cùng với

sự đi lên, tiến bộ của đất nước, nền tự do dân chủ ngày càng được mở rộng bao nhiêu thì con người ngày càng được tôn trọng hơn bấy nhiêu do đó quyền nhân thân cũng ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn

Do tầm quan trọng đó, trong khuôn khổ bài viết, em xin đi sâu phân tích về đề

tài: “Quyền nhân thân và phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân”.

NỘI DUNG

1 Khái quát về quyền nhân thân

1.1 Định nghĩa quyền nhân thân

Quyền nhân thân (personality rights) là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền gắn liền với bản thân mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân Từ xưa đến nay, nói đến quyền nhân thân người ta thường liên tưởng đến ngay những quyền có liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân Một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, nền tự do dân chủ càng được mở rộng bao nhiêu thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu Do đó, các quyền nhân thân cũng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn

BLDS năm 2005 quy định về quyền nhân thân tại điều 24: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Trang 2

Điều 24 BLDS năm 2005 đưa ra những quy định chung nhất về quyền nhân thân, qua quy định này, có thể định nghĩa về quyền nhân thân như sau:

+ Theo nghĩa khách quan, quyền nhân thân được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định rõ cho các

cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình

+ Theo nghĩa chủ quan, quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác

Theo quy định của BLDS năm 2005, các quyền nhân thân bao gồm các quyền được quy định từ điều 26 đến điều 50 của Luật này

1.2 Đặc điểm quyền nhân thân

Theo điều 24 BLDS 2005: Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này

là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Quyền nhân thân có các đặc điểm sau

đây:

- Thứ nhất: Quyền nhân thân là một quyền dân sự và là quyền dân sự đặc biệt.

Con người là nhân vật trung tâm của xã hội và là đối tượng hướng tới của các cuộc cách mạng tiến bộ trong lịch sử xã hội loài người Dưới góc độ pháp luật dân

sự thì cá nhân là chủ thể chủ yếu, thường xuyên quan trọng và phổ biến của quan

hệ dân sự Các quyền mà pháp luật quy định cho cá nhân là vì con người và hướng tới con người, trong đó có các quyền nhân thân Sở dĩ nói quyền nhân thân

là quyền dân sự đặc biệt và các quyền này chỉ thuộc về cá nhân, trong khi đó các quyền khác (quyền tài sản) có thể thuộc về chủ thể khác (pháp nhân, hộ gia đình)

- Thứ hai: Mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền nhân thân.

Mọi người đều có quyền nhân thân kể từ khi họ được sinh ra, không phân biệt giới tính, tôn giáo, giai cấp… Chúng ta thấy quyền nhân thân có một sự khác biệt

cơ bản với quyền tài sản vì quyền bình đẳng về mặt dân sự không quy định tất cả mọi người đều có khả năng hưởng những quyền như nhau Nguyên tắc bình đẳng

về mặt dân sự có nghĩa là mọi cá nhân đều có những quyền như nhau, đó không phải là một khả năng trừu tượng mà là một thực tế Lợi ích của quyền nhân thân là

Trang 3

được quy định như một thực tế chứ không phải là sự quy định mang tính hình thức

- Thứ ba: Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản.

Quyền nhân thân không bao giờ là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản hay không gắn với tài sản mà thôi Vì không phải là tài sản nên quyền nhân thân không bao giờ trị giá được thành tiền Về mặt pháp lí, chúng ta cần phân định rõ tính chất phi tài sản của quyền nhân thân Ví dụ: Một người sáng tạo ra một sáng chế hay giải pháp hữu ích Sáng chế hay giải pháp hữu ích do con người sáng tạo nên mang giá trị kinh tế, chứ bản thân “Quyền tự do sáng tạo” (Điều 47 BLDS) không phải là tài sản, không mang giá trị kinh tế

- Thứ tư: Quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác.

Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi

cá nhân mà không thể chuyển dịch cho chủ thể khác, trừ trường hợp do pháp luật

qui định Điều 24 BLDS qui định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Các quyền dân sự nói chung,

quyền nhân thân nói riêng là do Nhà nước quy định cho các chủ thể dựa trên điều kiện kinh tế – xã hội nhất định Do vậy, về mặt nguyên tắc, cá nhân không thể chuyển dịch quyền nhân thân cho chủ thể khác, nói cách khác thì quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự giữa các cá nhân Ví dụ, người này không thể đổi họ tên cho người khác và ngược lại hoặc một người không thể

uỷ quyền cho người khác thực hiện quyền tự do đi lại của mình và mình nhận quyền tự do kết hôn của người khác Điều này có nghĩa rằng bản thân chủ thể hưởng quyền nhân thân chứ họ không thể chuyển giao quyền này cho người khác

và cũng không ai có thể đại diện cho họ để thực hiện quyền này Tuy nhiên, tính chất không thể chuyển giao của quyền nhân thân chỉ mang tính chất tương đối Bởi trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật thì quyền nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác Ví dụ: Quyền công bố, phổ biến tác phẩm của tác giả, khi tác giả chết đi thì quyền này có thể chuyển giao cho chủ thể khác (người thừa kế của tác giả) Mặc dù vậy thì có những yếu tố luôn gắn liền

Trang 4

với chủ thể mà không thể thay đổi được, ví dụ: Quyền đứng tên tác giả, quyền bảo

vệ sự toàn vệ của tác phẩm

- Thứ năm: Quyền nhân thân là một quyền dân sự do luật định.

Quyền nhân thân là một quyền nằm trong nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân Pháp luật dân sự quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân là một sự tuyên bố chính thức về các quyền con người cụ thể được pháp luật thừa nhận Việc pháp luật quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân khác nhau

là dựa vào các điều kiện kinh tế xã hội Do vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau của lịch sử xã hội loài người, phụ thuộc vào bản chất giai cấp, chế độ chính trị xã hội… mà quyền nhân thân của cá nhân được quy định một cách khác nhau Quyền nhân thân là do Nhà nước “trang bị” cho cá nhân, Nhà nước không cho phép bất cứ cá nhân nào làm thay đổi hay chấm dứt quyền đó

1.3 Phân loại quyền nhân thân

Các quyền nhân thân có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, mỗi tiêu chí thể hiện một khía cạnh pháp lý đặc thù

Thứ nhất, dựa vào căn cứ phát sinh mà các quyền nhân thân có thể phân

thành nhóm các quyền nhân thân không gắn với tài sản và nhóm các quyền nhân thân gắn với tài sản Phân loại này được thể hiện tại khoản 1 Điều 15 BLDS 2005 Các quyền nhân thân không gắn với tài sản được quy định từ Điều 26 đến Điều 51 BLDS 2005 Các quyền nhân thân không gắn với tài sản này được công nhận đối với mọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh kinh tế, địa vị hay mức độ tài sản của người đó Các quyền nhân thân này thể hiện giá trị tinh thần của chủ thể đối với chính bản thân mình, luôn gắn với chính bản thân người đó và không dịch chuyển được sang chủ thể khác Ngược lại, các quyền nhân thân gắn với tài sản chỉ được xác lập cùng với sự hình thành của một tài sản vô hình (như tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sáng chế, kiểu dáng, , giống cây trồng, …) Đây là quyền nhân thân của chủ thể đối với tài sản vô hình mà người đó sáng tạo ra Các quyền nhân thân này được quy định tại khoản 2 Điều 738 và mục a khoản 1 Điều 751 BLDS 2005 Trong số các quyền này có một quyền có thể chuyển giao được sang cho chủ thể khác – đó là quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm (theo quy định tại Khoản 1 Điều 742 BLDS 2005)

Trang 5

Việc phân loại này giúp chúng ta định hình rõ căn cứ và thời điểm xác lập các quyền nhân thân Mỗi một chủ thể đều được công nhận một cách vô điều kiện các quyền nhân thân không gắn với tài sản Tuy nhiên, để được thừa nhận các quyền nhân thân gắn với tài sản thì chủ thể đó phải chứng minh đươc sự tồn tại của loại tài sản vô hình do chính mình sáng tạo ra Nếu không có tài sản đó thì không phát sinh các quyền nhân thân của chủ thể có liên quan

Thứ hai, dựa vào thời hạn bảo hộ mà các quyền nhân thân được phân loại

thành hai nhóm: Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn và nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ có thời hạn

Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn bao gồm: quyền đối với

họ tên; quyền đối với hình ảnh; quyền được bảo vệ danh dự, uy tín; quyền bí mật đời tư; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm

Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ có thời hạn bao gồm: quyền thay đổi

họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền được khai sinh, khai tử; quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền được bảo vệ nhân phẩm; quyền hiến bộ phận cơ thể; quyền nhận bộ phận cơ thể người; quyền xác định lại giới tính; quyền kết hôn, quyền bình đẳng vợ chồng; quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình; quyền ly hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi; quyền đối với quốc tịch; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại, tự do cư trú; quyền lao động, quyền tự do kinh doanh; quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo; quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

Việc phân loại này có ý nghĩa đối với việc bảo vệ quyền nhân thân khỏi sự xâm phạm Các quyền nhân thân thuộc nhóm vô thời hạn được pháp luật bảo hộ vĩnh viễn Khi chủ thể không còn nữa thì những người có liên quan được quyền yêu cầu bảo vệ khi có hành vi xâm phạm Ví dụ: nếu có người tung tin thất thiệt làm tổn hại đến danh dự của một người đã khuất thì những người thân thích của người đó vẫn có quyền yêu cầu chấm dứt hành vi xâm hại và bồi thường thiệt hại Ngược lại, các quyền nhân thân thuộc nhóm có thời hạn thì chỉ được pháp luật

Trang 6

bảo hộ khi chủ thể đó còn sống Bởi lẽ, khi cá nhân chết đi thì các quyền nhân thân thuộc nhóm này hoặc không thể thực hiện được nữa, hoặc không thể bị xâm phạm nữa

Thứ ba, dựa vào đặc điểm của hành vi xâm phạm mà chúng ta phân loại các

quyền nhân thân thành ba nhóm:

1) Nhóm các quyền mà hành vi xâm phạm tác động vào chính chủ thể quyền; 2) Nhóm các hành vi xâm phạm tác động vào các chủ thể khác (không phải là chủ thể quyền);

3) Nhóm các hành vi xâm phạm tác động vào vật phẩm liên quan đến quyền Nhóm các quyền mà hành vi xâm phạm tác động vào chính chủ thể quyền bao gồm: quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền hiến

bộ phận cơ thể; quyền nhận bộ phận cơ thể người; quyền xác định lại giới tính; quyền thay đổi họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền được khai sinh, khai tử; quyền được bảo vệ nhân phẩm, các quyền nhân thân liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại, tự do cư trú; quyền lao động, quyền tự do kinh doanh; quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo Đối với các quyền thuộc nhóm thứ nhất thì chính chủ thể quyền là người bị hành vi xâm phạm tác động tới Hậu quả mà hành vi này mang lại là những tổn thất trực tiếp gây ra đối với chủ thể quyền (tính mạng, sức khoẻ, thân thể, …) hoặc những khó khăn ngăn cản chủ thể quyền thực hiện hành vi liên quan đến quyền nhân thân của mình (đi lại, lao động, sáng tạo, kết hôn, ly hôn, …) Quá trình khắc phục thiệt hại chủ yếu được thực hiện đối với chính chủ thể quyền như chăm sóc, chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ, xin lỗi, chấm dứt hành vi cản trở,… Riêng đối với trường hợp xâm phạm tính mạng thì việc khôi phục tính mạng là không thực hiện được, trách nhiệm bồi thường khi đó được thực hiện cho những người thân thích của chủ thể quyền

Đối với các quyền thuộc nhóm thứ hai thì hành vi xâm hại lại không tác động vào chính chủ thể quyền, mà tác động vào các chủ thể khác làm ảnh hưởng đến sự nhìn nhận, đánh giá của các chủ thể khác về cá nhân chủ thể mang quyền (tung tin thất thiệt xúc phạm danh dự, giảm uy tín của chủ thể quyền, công bố trái phép tác phẩm của tác giả trước công chúng, …) Những thiệt hại mà chủ thể quyền phải gánh chịu có thể được xoá bỏ bằng việc cải chính, xin lỗi công khai trên các

Trang 7

phương tiên thông tin đại chúng để xoá đi sự nhìn nhận tiêu cực của các chủ thể khác đối với chủ thể quyền do hành vi xâm hại gây ra

Đối với các quyền thuộc nhóm thứ ba thì hành vi lại không tác động vào các chủ thể nói chung, mà lại tác động vào vật phẩm có liên quan đến quyền của chủ thể quyền (thư tín, chỗ ở, sách báo và các ấn phẩm mang tác phẩm, ….) Những thiệt hại do hành vi này gây ra có thể được khắc phục phần nào thông qua tác động đến các vật phẩm đó như việc thu hồi ấn phẩm, trả lại thư tín, sửa chữa thông tin trong lý lịch, …

Thứ tư, dựa vào phương thức bảo vệ mà các quyền nhân thân được phân

thành hai nhóm: Nhóm các quyền được bảo vệ khi có yêu cầu và nhóm được bảo

vệ không phụ thuộc vào yêu cầu

Nhóm các quyền được bảo vệ khi có yêu cầu bao gồm: quyền đối với họ tên; quyền thay đổi họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền được khai sinh, khai tử; quyền đối với hình ảnh; quyền hiến bộ phận cơ thể; quyền nhận bộ phận cơ thể người; quyền xác định lại giới tính; quyền được bảo vệ danh dự, uy tín; quyền bí mật đời tư; quyền kết hôn; quyền bình đẳng vợ chồng; quyền ly hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi; quyền đối với quốc tịch; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại, tự do cư trú; quyền lao động, quyền tự do kinh doanh; quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo; quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền công bố hoặc cho phép người khác công

bố tác phẩm; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm

Nhóm được bảo vệ không phụ thuộc vào yêu cầu bao gồm: quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền được bảo vệ nhân phẩm; quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình

2 Quy định pháp luật về quyền nhân thân

2.1 Cơ sở pháp lý quy định quyền nhân thân

- Tại các bản Hiến pháp

Ngay trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, chủ tịch Hồ Chí Minh đã thừa nhận quyền con người cơ

Trang 8

bản, qua đó thể hiện tư tưởng nhân quyền và dân quyền của Nhà nước ta Tư tưởng áy xuyên suốt lịch sử lập hiến và lập pháp

Trong bản hiến pháp đầu tiên của nước ta (Hiến pháp năm 1946), việc đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân đã trở thành một trong ba nguyên tác

cơ bản Với bản Hiến pháp này, lần đẩu tiên trong lịch sử Việt Nam, những người dân nô lệ trước đây thực sự trở thành người chủ đất nước, được đảm bảo các quyền tự do, dân chủ Trong 26 quyền cơ bản của công dân mà Hiến pháp 1946 quy định, các quyền dân sự chiếm đa số (12 quyền) Những quyền nhân thân của

cá nhân lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp bao gồm: Quyền tự do ngôn luận; quyền tự do xuất bản; quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do cư trú trong nước; quyền tự do đi lại trong nước; quyền tự do ra nước ngoài; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền bất khae xâm phạm nhà ở; quyền bất khả xâm phạm

về thư tín

Hiến phám năm 1959 là bước phát triển mới trong việc ghi nhân quyền con người, trong đó có những quyền nhân thân của cá nhân và những bảo đảm pháp lý cho chúng Hiến pháp năm 1959 ra đời trong hoàn cảnh đất nước có những thay đổi lớn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, theo xu hướng ngày càng mở rộng các quyền con người Hiến pháp năm 1959 đã xác định quyền nhân thân mới

là quyền tự do biểu tình (Điều 17), đồng thời quy định rõ ràng hơn quyền tự do cư trú, quyền tự do đi lại không phân biệt trong nước và ngoài nước như Hiến pháp năm 1946

Hiến pháp năm 1980 ra đời trong điều kiện đất nước thống nhất, cả nước cùng

đi lên chủ nghĩa xã hội, các quyền dân sự của cá nhân được bổ sung và phát triển; đặc việt riêng đối với quyền nhân thân của cá nhân, đã có những quyền xuất hiện: Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng (Điều 70), quyền được pháp luật bảo

hộ về danh dự; quyền được pháp luật bảo hộ về nhân phẩm; quyền được đảm bảo

bí mật về điện thoại; quyền được đảm bảo bí mật về điện tín; quyền tác giả; quyền

sở hữu công nghiệp (Điều 72)

Đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của quyền nhân thân là sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 Bên cạnh việc kế thừa những quyền nhân thân của Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung những quyền nhân thân hoàn toàn mới, đó là: Quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏa (Điều 13); quyền được đi ra

Trang 9

nước ngoài theo quy định của pháp luật (Điều 25); Quyền được từ nước ngoài trở

về theo quy định của pháp luật (Điều 29); quyền được Nhà nước bảo hộ quyền tác giả (Điều 36); quyền được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điểu 38)

- Tại các Bộ luật dân sự

Có thể nói, Bộ luật dân sự là văn bản pháp lý chuyên biệt có giá trị pháp lý cao nhất quy định một cách có hệ thống về quyền nhân thân Lần đầu tiên, vấn đề quyền nhân thân được đề cập một cách rõ rang, chi tiết và có hệ thống trong BLDS năm 1995 BLDS năm 1995 đã danh 22 điều luật quy định về quyền nhân

thân, và đã xác định rằng: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này

là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Không ai được lạm dụng quyền nhân thân của mình xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng,quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác”(Điều 26) Bên cạnh đó, lần đầu tiên cá

nhân có cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền nhân thân của mình khi bị người khác vi phạm (Điều 27); lần đầu tiên quyền nhân thân được quy định thành một hệ thống các quyền, được quy định chi tiết trong 20 điều luật

BLDS năm 1995 đã phát huy vai trò to lớn trong việc ghi nhận và bảo vệ các quyền dân sự của chủ thể, trong đó có quyền nhân thân Tuy nhiên, qua một thời gian áp dụng các quy định của BLDS năm 1995, bên cạnh những ưu điểm thì BLDS năm 1995 còn bộc lộ nhiều hạn chế Xuất phát từ lí do đó, BLDS sửa đổi

đã được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2006 (BLDS năm 2005) So với các quy định về quyền nhân thân trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 có một số sửa đổi, bổ sung, cụ thể, đó là bổ sung thêm 6 quyền nhân thân mới: Quyền được khai sinh ( Điều 29), Quyền được khai tử (Điều 30); Quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33); Quyền hiến xác, bộ phận

cơ thể sau khi chết (Điều 34); Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35); Quyền xác định lại giới tính (Điều 36) Ngoài việc bổ sung quy định mới về một

số quyền nhân thân, hầu hết các quyền nhân thân được quy định trong BLDS năm

1995 cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp như quyền thay đổi họ tên (Điều 27), quyền xác định dân tộc (Điều 28), quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 31), quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể (Điều 32),

Trang 10

quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 37), quyền bí mật đời tư (Điều 38)…

- Tại các văn bản pháp lý khác

Mặc dù đến khi BLDS 1995 được thông qua, khái niệm về quyền nhân thân mới được hình thành nhưng trước đó, những quyền nhân thân cụ thể đã được thừa nhân trong một số văn bản pháp lý khác Cụ thể là trong Luật Bảo đảm quyền tự

do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân

dân 24/1/1957 Ngay tại điều 1 Luật này đã quy định: “Quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm Không ai được phép xâm phạm các quyền ấy”.

Quyền nhân thân cũng được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 Thông qua việc quy định quyền bình đẳng giữa vợ chồng (Điều 19); tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng; cấm vợ chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau (Điều 21)

2.2 Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân

Việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân là một khâu trong cơ chế bảo đảm việc thực hiện quyền nhân thân của cá nhân Tuy vậy, việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân một cách tùy tiện cũng có thể xâm phạm, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác vì vậy pháp luật đã phải quy định các phương thức, biện pháp bảo vệ quyền nhân thân trong trường hợp bị xâm phạm Theo đó, trong trường hợp quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm cá nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm chỉ được bảo vệ quyền nhân thân của mình theo những phương thức và biện pháp do pháp luật quy định

Quyền nhân thân là một đối tượng được bảo đảm không chỉ bằng biện pháp mang tính pháp lí mà trước hết bằng những cơ sở, cơ chế của nhà nước, tạo điều kiện kinh tế, xã hội cho con người ngày càng phát triển về mọi mặt, vươn lên làm chủ xã hội, làm chủ bản thân Đối với các biện pháp mang tính pháp lí thì bảo vệ quyền nhân thân cũng thuộc về nhiệm vụ của nhiều ngành luật: Hình sự, hành chính, lao động, hôn nhân và gia đình… phù hợp với phương pháp điều chỉnh quan hệ xã hội của pháp luật dân sự, bộ luật dân sự quy định các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân theo quy định tại Điều 25 – BLDS 2005 bao gồm:

Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

Ngày đăng: 11/01/2016, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w