Lý luận chưa giải đáp được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng CNXH ở nước ta, đặc biệt là trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát tr
Trang 1HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.04/06-10
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI
QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ
VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
Mã số: KX.04.11/06-10
Chủ nhiệm đề tài: GS,TS Dương Xuân Ngọc
Cơ quan chủ trì: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
8054
Hà Nội, 2010
Trang 22
Trang 3BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
1 GS,TS Dương Xuân Ngọc, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Chủ nhiệm
5 ThS Nhạc Phan Linh, Thư ký hành chính, tham gia nghiên cứu
NHỮNG NHÀ KHOA HỌC THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 PGS,TS Lương Khắc Hiếu, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
2 GS, TS Đỗ Thế Tùng, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
3 GS,TS Lê Văn Quang, Học viện Chính trị Quân sự, Bộ Quốc phòng
4 GS,TS Trần Phúc Thăng, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
5 GS,TS Trần Ngọc Hiên, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
6 PGS,TS Phan Thanh Khôi, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
7 PGS, TS Trần Văn Phòng, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
8 GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
9 PGS,TS Nguyễn Viết Thảo, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
10 PGS,TS Nguyễn Hoàng Giáp, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
11 PGS,TS Nguyễn Thị Quế, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
12 PGS,TS Trình Mưu, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
13 TS Bùi Phương Đình, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
14 PGS,TS Lê Minh Quân, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
15 PGS,TS Nguyễn Văn Vĩnh, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
16 TS Lưu Văn Quảng, Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
17 PGS Nguyễn Huy Quý, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Trang 44
18 PGS, TS Lê Xuân Bá, Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương
19 TS Ngô Văn Lương, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
20 TS Trịnh Đức Hồng, Đảng ủy Khối Dân- Chính - Đảng, Thành ủy Hà
Nội
21 PGS, TS Hồ Tấn Sáng, Học viện Chính trị- Hành chính khu vực III
22 TS Lê Văn Đính, Học viện Chính trị- Hành chính khu vực III
23 TS Lê Thị Minh Loan, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
24 TS Hồ Việt Hạnh, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
25 PGS,TS Trần Thị Anh Đào, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
26 TS Nguyễn Thị Thanh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
27 TS Nguyễn Xuân Phong, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
28 TS Nguyễn Vũ Tiến, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
29 TS Phạm Huy Kỳ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
30 TS Trương Ngọc Nam, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
31 TS Hoàng Quốc Bảo, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
32 TS Hoàng Anh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
33 ThS Phan Thanh Hải, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
34 ThS Vũ Thị Thu Quyên, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
35 ThS Đặng Thanh Phương, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
36 ThS Dương Thị Thục Anh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
37 ThS Võ Thị Hoa, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
38 ThS Lưu Thúy Hồng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
39 ThS Nguyễn Thúy Hà, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
40 ThS Lê Thu Hà, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trang 5MỤC LỤC
Mở đầu 7 Chương I: Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị - Cơ
sở lý luận Kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ kinh tế và chính trị
ở một số nước trên thế giới
33
1.1 Quan hệ giữa kinh tế và chính trị - Cơ sở lý luận 33
1.2 Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam -
Quá trình nhận thức và thực chất mối quan hệ
60
1.3 Kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở một
số nước trên thế giới
94
Chương II: Những nhân tố tác động và thực trạng giải quyết mối
quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam từ
năm 1986 đến nay
129
2.1 Những nhân tố cơ bản tác động đến quan hệ giữa đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị ở nước ta
129
2.2 Thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị ở nước ta từ năm 1986 đến nay
153
2.3 Đánh giá chung về kết quả giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra
223
Chương III: Quan điểm, giải pháp về nhận thức và giải quyết hài
hoà mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt
Nam
235
3.1 Quan điểm nhận thức và giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa đổi
mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam
235
3.2 Những giải pháp chủ yếu giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa đổi
mới kinh tế và đổi mới chính trị
254
Kết luận 291 Danh mục tài liệu tham khảo 295
Trang 66
CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chủ nghĩa xã hội CNXH Chủ nghĩa tư bản CNTB Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH
Hệ thống chính trị HTCT Kinh tế thị trường KTTT
Tư bản chủ nghĩa TBCN
Xã hội chủ nghĩa XHCN
Xã hội dân sự XHDS
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là quan hệ cơ bản, tồn tại khách quan trong mọi xã hội có phân chia giai cấp và được tổ chức thành nhà nước; có mối quan hệ mật thiết với quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; giữa cái khách quan và cái chủ quan; giữa cái tất yếu và cái có thể
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, kinh tế là yếu tố cốt lõi của cơ
sở hạ tầng, còn chính trị là yếu tố cốt lõi của kiến trúc thượng tầng Bởi vậy, mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thực chất là mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Nói cách khác, quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng được thể hiện cô đọng nhất, tập trung nhất trong quan hệ giữa kinh tế
và chính trị, trong đó kinh tế suy đến cùng quyết định chính trị; ngược lại, chính trị định hướng cho quá trình phát triển kinh tế và điều chỉnh các quan hệ kinh tế Kinh
tế phát triển là cơ sở bảo đảm chắc chắn cho ổn định chính trị- xã hội và sự ổn định chính trị- xã hội là tiền đề, điều kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế Nhận thức đúng
và giải quyết thành công quan hệ giữa kinh tế và chính trị (nhấn mạnh mặt khách quan của vấn đề), giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị (nhấn mạnh mặt chủ quan của vấn đề) là vấn đề có ý nghĩa quyết định chiều hướng, nội dung, nhịp độ, hiệu quả và mức độ bền vững của sự phát triển Xuất phát từ nhận thức và tư duy đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước vận dụng đúng đắn và giải quyết sáng tạo quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình đổi mới, nhờ đó cách mạng nước ta đã thu được những thành tựu to lớn: đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập sâu, rộng vào đời sống quốc tế
Ngay từ Đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước; đồng thời nhấn mạnh đổi mới phải có bước đi và cách làm thích hợp Tổng kết 5 năm đầu đổi mới 1986-1991, Đại hội VII của Đảng đã rút ra những bài học kinh nghiệm: “Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp… Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế… Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HTCT…, việc đổi mới
Trang 88
HTCT nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị, dẫn đến sự rối loạn Nhưng không vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới HTCT, nhất là về tổ chức bộ máy và cán bộ, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân”1 Đến Đại hội VIII, trên cơ sở tổng kết 10 năm đổi mới, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm: kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị2 Tổng kết 20 năm đổi mới, với bản lĩnh từng trải và sự trưởng thành trong nhận thức và tư duy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp3 Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn, từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Thực hiện nguyên tắc gắn phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, Đại hội X của Đảng đã khẳng định quyết tâm sớm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tham gia tích cực và chủ động vào quá trình toàn cầu hóa, đặc biệt kể từ khi gia nhập WTO, chúng ta cần phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cả về kinh tế và chính trị
để phù hợp với những chuẩn mực chung của thế giới, đồng thời giữ vững được định hướng XHCN Trên thế giới và khu vực, nhiều nước đã giải quyết khá tốt vấn
đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị, nhờ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Những thành công và cả những thất bại trong giải quyết vấn đề này ở một số nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Đông Á, Đông Nam Á và Trung Quốc, là những bài học quý báu để chúng ta có thể kế thừa
Tuy nhiên cho đến nay, công bằng mà đánh giá, chúng ta vẫn chưa nhận thức thấu đáo và có hệ thống những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa kinh tế và chính trị, chưa làm rõ về mặt lý luận quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam Còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau xoay quanh vấn đề quan hệ giữa kinh
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb St, H., 1991, tr 53-54
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H., 1996,
tr.71
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H., 2006
Trang 9tế và chính trị Có ý kiến cho rằng, KTTT và CNXH không thể dung hợp, tương ứng với nền kinh tế có nhiều thành phần phải là nền chính trị đa nguyên Có ý kiến quá đề cao KTTT, coi đó là “liều thuốc vạn năng” có thể giải quyết được mọi vấn
đề chính trị - xã hội, không đánh giá đúng vai trò lãnh đạo, định hướng của chính trị (vai trò của Đảng) trong giải quyết các vấn đề kinh tế Loại ý kiến khác lại quá
đề cao vai trò của chính trị trong giải quyết các vấn đề kinh tế, tách rời chính trị khỏi kinh tế, tuyệt đối hoá sức mạnh của các quyết sách chính trị, làm cho nó mất
cơ sở khách quan trên nền tảng kinh tế Vì vậy, có tình trạng ở nơi này, nơi khác, lúc này, lúc khác muốn đẩy nhanh quá trình tự do hóa kinh tế hoặc gia tăng sự can thiệp của chính trị vào kinh tế, làm cho hai quá trình đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị bị tách rời nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau gây ra hậu quả xấu cho cả kinh tế lẫn chính trị
Ở nước ta hiện nay không khó để nhận ra một thực tế: kinh tế đổi mới nhanh hơn chính trị, các yếu tố của KTTT phát triển mạnh mẽ và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, trong khi đó, đổi mới chính trị còn tồn tại khá nhiều vấn đề chưa phù hợp, thậm chí còn bất cập so với đổi mới kinh tế, đặc biệt là hệ thống pháp luật Do vậy, có lúc chính trị cản trở kinh tế và làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực (tham nhũng, quan liêu) Một số cải cách chính trị chưa theo kịp tốc độ phát triển của KTTT Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ: Bên cạnh những thành tựu
to lớn, cho đến nay nước ta vẫn đang trong tình trạng kém phát triển Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, xây dựng HTCT, còn nhiều yếu kém Lý luận chưa giải đáp được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng CNXH ở nước ta, đặc biệt là trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị; giữa đổi mới với ổn định và phát triển; giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế…
Vì vậy, việc nghiên cứu để làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay, tổng kết những thành công, chỉ rõ những mâu thuẫn, cản trở để rút ra bài học kinh nghiệm
và đề xuất những giải pháp hữu hiệu trong giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là vấn đề cấp bách, là đòi của chính công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trang 1010
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị nói chung, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam nói riêng là một trong những vấn đề lớn, phức tạp, nhạy cảm nhưng vô cùng quan trọng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà chính trị, nhà khoa học Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình liên
quan đến vấn đề này Có thể chia thành bốn nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất: Các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.Lênin, Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng ta về quan hệ giữa kinh tế và chính trị
- Thứ nhất, chủ nghĩa Mác- Lênin về quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Trong các tác phẩm của mình, các nhà kinh điển làm rõ phạm trù kinh tế, phạm trù chính trị, quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, trong đó kinh tế giữ vai trò quyết định; chính trị tác động trở lại bằng cách lãnh đạo, định hướng, tạo động lực cho phát triển kinh tế Kinh tế là cơ sở của đời sống xã hội; sản xuất vật chất là cơ sở của nhà nước, pháp quyền và ý thức xã hội; sở hữu tư nhân là cơ
sở của xã hội đối kháng giai cấp; sở hữu xã hội là cơ sở của xã hội XHCN Các nhà kinh điển cũng phân tích bản chất của chính trị, cấu trúc chính trị; nhà nước với tư cách là hạt nhân của thượng tầng kiến trúc Khi phân tích quan hệ biện chứng giữa kinh tế với chính trị, chủ nghĩa Mác- Lênin khẳng định, quan hệ giữa kinh tế và chính trị là quan hệ biện chứng, chi phối các quan hệ khác trong đời sống xã hội
Sự quyết định suy đến cùng của kinh tế đối với chính trị thể hiện vai trò của cơ sở kinh tế, nguyên nhân, điều kiện và các quan hệ giữa kinh tế đối với các hiện tượng chính trị Vai trò tích cực của chính trị đối với kinh tế thể hiện tập trung nhất vai trò của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng; vai trò của đảng chính trị đối với đời sống xã hội Những nội dung trên được phản ánh trong các tác phẩm:
C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập: T.1, 2, 3, 4, 6, 7, 11, 13, 14, 16, 17, 19, 20, 21,
23, 24, 25, 26, 35, 36, 39, 41, 42, 46 (trong đó, tiêu biểu là các công trình Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Tư bản, Phê phán cương lĩnh Gôta, Chống Đuyrinh, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước ); V.I.Lênin Toàn tập: T 1, 2, 3, 11, 16, 33, 35, 36, 39, 42, 43, 44, 45 (trong đó tiêu biểu là các công trình: Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền xôviết;Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản, Thà ít mà tốt )
- Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Trang 11Khi xét quan hệ giữa kinh tế và chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tính chất quyết định của kinh tế đối với chế độ chính trị, đồng thời đánh giá cao sự tác động trở lại của chính trị đối với kinh tế Vấn đề kinh tế, chính trị, quan hệ giữa kinh tế và chính trị được Người đề cập đến trong nhiều tác phẩm của mình: Hồ Chí
Minh Toàn tập: T.1, 2, 4, 5, 6, 7, 10, 11, trong đó tiêu biểu là các tác phẩm: Đường cách mệnh, Đời sống mới, Thường thức chính trị, Dân vận, Sửa đổi lối làm việc
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ giữa kinh tế và chính trị được cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là thời kỳ đổi mới - từ năm 1986 đến nay Nhận thức về quan hệ giữa kinh tế và chính trị được phát triển,
sáng tỏ hơn qua các kỳ Đại hội, các hội nghị trung ương: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khoá VI, Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị khóa VII, Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, Nghị quyết Trung ương 6 khóa X Trong đó, quan hệ giữa
đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị được khắc họa cụ thể nhất trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII Thành tựu phát triển kinh tế - xã hội sau gần 25 năm đổi mới chứng minh sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong giải quyết quan hệ cốt yếu này
- Thứ ba, các công trình nghiên cứu quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Có nhiều công trình phân tích quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về quan
hệ giữa kinh tế và chính trị qua thực tiễn xây dựng CNXH ở nước Nga và Việt
Nam Tiêu biểu là các công trình của Nguyễn Ngọc Cường (2006): Lý luận học thuyết kinh tế- xã hội của Mác - phương pháp tiếp cận khoa học cho việc định hướng phát triển ở nước ta; Trần Kim Cúc (2006): Tư tưởng của C.Mác về vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế và thực tế hiện nay ở nước ta Các
công trình này trình bày tư tưởng của C.Mác về vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế, cho rằng, mọi chính quyền nhà nước đều là phương tiện chính trị phục vụ lợi ích kinh tế của giai cấp cầm quyền Một số công trình đã đi sâu phân tích vai trò của Nhà nước ta hiện nay đối với phát triển kinh tế
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa kinh tế và chính trị được phân tích
trong các công trình: Ngô Văn Minh (2006): Quan niệm của Hồ Chí Minh về những trở lực trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam; Trần Sỹ Phán (2007):
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa kinh tế và chính trị Các tác giả trình bày
Trang 1212
tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, về đặc điểm các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta; vai trò lãnh đạo của Đảng trong lãnh đạo, định hướng, tạo động lực phát triển kinh tế; chỉ rõ sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá Nhờ vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa kinh tế và chính trị, Đảng ta đã giải quyết đúng đắn quan hệ cơ bản này, nhờ đó chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Nhóm thứ hai: Lý luận chung về quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Những vấn đề chung mang tính lý luận về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được phản ánh trong các công trình sau: Đào Hữu Hải (2000):
Quan hệ giữa nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với nhất nguyên chính trị ở nước ta; Phạm Ngọc Quang (2004): Sự phát triển quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phương hướng xây dựng CNXH trong quá trình đổi mới; Lê Xuân Tùng (2004): Những đột phá tư duy lý luận về kinh tế thị trường ở nước ta; Hà Đăng (2005): Nhìn lại 20 năm đổi mới: Đổi mới bắt đầu từ đâu? Lê Cần Tĩnh (2005): Mấy suy nghĩ về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội; Lê Hữu Nghĩa (2006): Hệ thống quan điểm lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; Nhân Đăng (2006): Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới
Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, các tác giả phân tích quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng - kinh tế và kiến trúc thượng tầng - chính trị, mọi sự phát triển xã hội đều bắt nguồn từ kinh tế và đều trên cơ sở của sự phát triển kinh
tế, nhưng chính trị là yếu tố hiệu nghiệm nhất để phát triển kinh tế Thực tế Việt Nam chỉ rõ, việc phát triển theo định hướng XHCN của nền KTTT chỉ có thể thực hiện được khi có định hướng chính trị đúng đắn Nhưng một nền chính trị thực sự vững vàng nếu trước hết nó phù hợp với cơ sở kinh tế và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải tìm mọi cách để đổi mới chính trị, làm cho nó phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, làm cho chính trị vừa phản ánh được nhu cầu phát triển của kinh tế vừa định hướng được cho sự phát triển kinh tế Khẳng định đổi mới ở Việt Nam không chấp nhận đa nguyên chính trị, các nhà nghiên cứu chứng minh thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị: trên cơ sở đổi mới kinh tế chúng ta đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội Các tác giả phân tích những bước phát triển tư duy lý luận về KTTT của Đảng ta qua các kỳ Đại hội, bắt đầu từ Đại hội VI và nhấn mạnh sự cần
Trang 13thiết xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN gắn với phát triển nền KTTT định hướng XHCN, kết hợp đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị trong từng bước phát triển
Nhóm thứ ba: Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
- Thứ nhất, các công trình của các tác giả nước ngoài bằng tiếng Việt
Đề cập đến quan hệ giữa kinh tế và chính trị: 1) Ở Liên Xô có: Bôgônirốp
(1974): Chủ nghĩa Lênin và vấn đề quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong thời kỳ xây dựng CNXH ở Liên Xô; 2) Ở Trung Quốc có: Wang Mao Lin (1994): Coi trọng cao độ vấn đề địa vị cầm quyền của Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường; Mã Hồng (chủ biên) (1995): Kinh tế thị trường XHCN; Cung Kim Quốc (1996): CNXH cũng có thể áp dụng kinh tế thị trường; Tang Ngọc Thành- Chu La Canh (1997): Mốc thúc đẩy cải cách tiến lên phía trước; Giang Trạch Dân (2002): Mục tiêu phấn đấu xây dựng toàn diện xã hội khá giả; Lý Thiết Ánh(2002): Về cải cách mở cửa ở Trung Quốc; Lý Cảnh Nguyên (2005): Tiêu chuẩn lực lượng sản xuất - hòn
đá tảng của lý luận Đặng Tiểu Bình 3) Ở Nhật Bản và các nước Đông Nam Á có: M.Y.Yoshino (1988): Hệ thống quản lý của Nhật Bản: truyền thống và sự đổi mới; Yoshihara K (1991): Sự phát triển kinh tế Nhật Bản; Nhật Bản - bước chuyển biến tới thế kỷ XXI (1996); Bruno Amoroso (1998): Phân tích đánh giá tình hình khủng hoảng kinh tế ở Đông Nam Á; Azizul Islam- Syed M.Naseem (1999): Những bài học từ kinh nghiệm tăng trưởng của khu vực Đông và Đông Nam Á; Kinh tế Đông
Á, nền tảng của sự thành công (1995); Sự thần kỳ Đông Á - Tăng trưởng kinh tế và chính sách công cộng (2001); Trần Văn Thắng (2007): Cải cách hành chính ở một
số nước châu Á; Nguyễn Phương Nam (2007): Một số kinh nghiệm cải cách hành chính của Nhật Bản Các công trình này phân tích những thành công, thất bại
trong giải quyết quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở các nước trong những thời kỳ khác nhau, đặc biệt những kinh nghiệm của Trung Quốc, Nhật Bản rất có giá trị đối với nước ta
Ngoài ra, một số công trình đề cập đến những quan điểm khác nhau về kinh
tế và về chính trị, như: M.Gillis và các tác giả (1990): Kinh tế học của sự phát triển; A.Toffler (1991): Thăng trầm quyền lực; G.Lukas (1991): Chênh lệch của sự phát triển; Paul Kennedy (1992): Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc; H.Kurth - A.Romulo, H.Elsenhas (1993): Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập; Ađam Forde và Steafan de Vylder (1997): Từ kế hoạch đến thị trường - sự
Trang 1414
chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam; Douglass C.North (1998): Các thể chế, sự thay đổi thể chế và hoạt động kinh tế; E.Wayne Nafziger (1998): Kinh tế học của các nước đang phát triển; Harry Shutt (2002): Chủ nghĩa tư bản, những bất ổn tiềm tàng; Ngân hàng thế giới (năm 2003): Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội; Henrik Hansen, John Rand và Finn Tarp (2005): Tăng trưởng và tồn tại của doanh nghiệp: vai trò hỗ trợ của nhà nước
- Thứ hai, các công trình của các tác giả nước ngoài bằng tiếng nước ngoài
Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả nước ngoài, biểu hiện qua số lượng lớn các công trình với sự phong phú về vấn đề, đối tượng, thời gian, phương pháp được lựa chọn
để nghiên cứu, phân tích Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung tìm hiểu những lĩnh vực, những quốc gia có nhiều nét tương đồng về bối cảnh lịch sử, trình độ phát triển và chế độ chính trị với Việt Nam Có thể phân loại các nghiên cứu vào một số hướng chủ yếu sau:
+ Trước hết, những vấn đề lý luận chung về quan hệ giữa kinh tế và chính trị luôn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm xem xét, tìm hiểu Các tác giả tập trung phân tích quan hệ và sự tác động qua lại chặt chẽ giữa chính trị và kinh tế, cũng như trình bày về quan hệ giữa phát triển nền KTTT và chế độ dân chủ trong chính
trị Trong số đó đáng chú ý là những công trình của Anthony Downs (1997): An Economic Theory of Democracy (Một học thuyết kinh tế của nền dân chủ) Đặc biệt là cuốn sách của John O'Neill (1998): The Market: Ethics, Knowledge and Polictics - Economics As Social Theory (Thị trường: đạo đức, hiểu biết và chính trị
- Một học thuyết mang tính xã hội về kinh tế) cung cấp những đánh giá còn gây nhiều tranh cãi về hạn chế của thị trường, sự phồn thịnh trong tương lai và nền kinh tế phi thị trường
Cuốn Politics and Development: A Critical Introduction (Chính trị và sự
phát triển: Lời giới thiệu mang tính phê bình) của Olle Tornquist (2002) chỉ ra cách thức nghiên cứu về chính trị và sự phát triển, những khó khăn trong việc tiếp cận nghiên cứu các vấn đề về sự phát triển trong bối cảnh chính trị thay đổi
+ Nhiều tác giả phân tích quan hệ đặc biệt giữa kinh tế và chính trị trong những giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế cũng như khi có sự thay đổi lớn về chính trị trong nước cũng như quốc tế Trong số đó đáng chú ý là cuốn sách của
Gérard Roland (2000): Transition and Economics: Politics, Markets and Firms
Trang 15(Thời kỳ chuyển đổi và nền kinh tế: chính trị, thị trường và các nhà máy) cung cấp cách nhìn nhận về CNTB như một hệ thống kinh tế và đánh giá sự năng động trong
thay đổi thể chế trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế Cuốn sách Political Economy of Trasition and Development: Institutions, Polictics and Policies (2003)
(Kinh tế chính trị thời kỳ chuyển đổi và phát triển: thể chế, chính trị và chính sách)
do NauroF.Campos và Jan Fidrmuc chủ biên đã phân tích và đánh giá những tác động qua lại giữa thể chế, sự lựa chọn chính sách, phát triển kinh tế và những hậu quả chính trị tại những nước đang phát triển hay đang trong thời chuyển đổi ở Trung và Đông Âu
+ Những vấn đề liên quan đến cải cách kinh tế và thay đổi chế độ chính trị ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu cũng được nhiều người giả nghiên cứu Ngay từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, khi Liên Xô và một loạt nước XHCN tiến hành công cuộc cải tổ, cải cách, vấn đề quan hệ giữa những thay đổi về kinh tế và chính trị đã thu hút được sự quan tâm của các học giả Trong thời gian này, các nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích những con đường, cách thức tiến hành cải cách kinh tế và chính trị ở những nước này Tiêu biểu là những cuốn sách của Stephan Haggard,
Robert R Kaufman (1992): The Politics of Economic Adjustment (Nền chính trị
của sự điều chỉnh kinh tế)
Những thành công và thất bại của các mô hình thay đổi kinh tế và chính trị XHCN ở các nước Đông Âu trước đây tiếp tục được nghiên cứu trong những khoảng thời gian sau này Tuy nhiên, mối quan tâm chủ yếu của các nhà nghiên cứu là quá trình thay đổi từ nền kinh tế chỉ huy, tập trung của các nước XHCN trước đây sang nền KTTT tư bản và chế độ chính trị tương ứng Đáng chú ý là
những nghiên cứu của Jeffrey Friedman (1996): The Rational Choice Controversy: Economic Models of Politics Reconsidered (Sự lựa chọn của cuộc tranh luận: Mô hình kinh tế của sự xem xét lại chính trị); của David Held (1999): Global Transformations: Politics, Economics & Culture (Hiện đại hoá toàn cầu: chính trị, kinh tế và văn hoá) Và gần đây là cuốn Economics Transition in Central and Eastern Europe: Planting the Seeds (Thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở các nước Trung
và Đông Âu: thời kỳ gieo hạt) của Daniel Gros (2004) và cuốn Economics of Transition: From Socialist Economy to Market Economy (Nền kinh tế thời kỳ
chuyển đổi: từ nền kinh tế XHCN sang nền KTTT) của Marie Lavigne (2007) nghiên cứu quá trình chuyển hướng cải cách nền kinh tế của các nước Đông Âu và
Trang 1616
Nga đồng thời cung cấp những số liệu, sự kiện và những thành tựu đạt được trong việc ổn định nền kinh tế vĩ mô, tái thiết nền kinh tế vi mô và hội nhập vào nền kinh
tế thế giới của những quốc gia này
+ Sự tác động giữa thay đổi kinh tế và chính trị ở các nước đang phát triển cũng là hướng nghiên cứu được nhiều người quan tâm Bên cạnh những tác động của kinh tế đến chính trị, nhiều nghiên cứu đã nêu bật ảnh hưởng mạnh mẽ của chính trị đến phát triển kinh tế và các lĩnh vực khác như xã hội, văn hoá, đạo đức ở các nước đang phát triển Trong số các công trình về vấn đề này, tiêu biểu là cuốn
sách của Brian C.Smith (2003): Understanding Third World Politics: Theories of Political Change and Development (Tìm hiểu tình hình chính trị của thế giới thứ
ba: những học thuyết về sự thay đổi chính trị và sự phát triển); của Richard
J.Payne, Jamal R.Nassar (2005): Politics and Culture in the Developing World: The Impact of Globalization (Tình hình chính trị và văn hoá ở thế giới đang phát
triển: ảnh hưởng của toàn cầu hóa); của Joseph Weatherby và nhóm tác giả (2006):
Other World: Issues and Politics of the Developing World (Thế giới khác: những
tồn tại và tình hình chính trị của thế giới đang phát triển); của Richard J.Payne
(2005): Politics and Culture in the Developing World: The Impact of Globalization
(Chính trị và văn hoá ở các nước đang phát triển: ảnh hưởng của toàn cầu hóa) Và
gần đây là cuốn sách Culture and Politics in Economic Development (Văn hóa và
chính trị trong sự phát triển kinh tế) của V.Bornschier (2006) đã phân tích sự tăng trưởng và phát triển trong hai thế giới cũ và mới – những nước đang phát triển và những nước phát triển, đồng thời chỉ ra những yếu tố chính trị, xã hội có tác động
to lớn thế nào đến sự thay đổi kinh tế của những quốc gia này
+ Một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm là sự tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị ở các nước châu Á, đặc biệt là khu vực Đông
và Đông Nam Á Đây cũng là khu vực gần gũi với Việt Nam về địa lý, văn hoá, trình độ phát triển Trước hết khu vực này thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu bởi những thành công trong cải cách kinh tế và những thay đổi sâu sắc trong chính trị của các nước từng được mệnh danh là những “con rồng”, “con hổ”,
những nền kinh tế “thần kỳ” của thế giới Đáng chú ý là bản báo cáo The Eastern Asian Miracle: Economic Growth and Public Policy (Thần kỳ Đông Nam Á: Tăng
trưởng kinh tế và chính sách công) của Ngân hàng thế giới (1993) nghiên cứu giai đoạn tăng trưởng vượt bậc của nền kinh tế các nước Đông Nam Á từ 1965 đến
Trang 171990, chỉ rõ nguyên nhân của sự tăng trưởng thần kỳ này là do các nước này đã tạo dựng được một hệ thống ngân hàng đảm bảo và khuyến khích tăng cường tích luỹ nội bộ nền kinh tế Bản báo cáo cho biết quá trình mang tính cách mạng này đã đưa các nước Đông Á trở thành những nền kinh tế khổng lồ như hiện nay Ngoài ra, hai
tác giả Joseph E.Stiglitz và Shahid Yusuf (2001) trong cuốn Rethinhking the Eastern Asian Miracle (Nhìn lại thần kỳ Đông Nam Á) đã tập trung nghiên cứu
những yếu tố chủ yếu của các nền kinh tế Đông Nam Á bàn luận về những điểm yếu trong lĩnh vực tài chính, hoạt động của chính phủ, tỷ lệ trao đổi và những chính sách thương mại… của các nền kinh tế này
Cuốn sách Governing the Market: Economics Theory and the Role of Government in East Asian Industrialization (Quản lý thị trường: Một học thuyết
kinh tế và vai trò của chính phủ trong quá trình công nghiệp hoá ở các nước Đông Á) của tác giả Robert Wade (2003) đề cập tới cách thức đề ra các chính sách cho thị trường và cơ cấu, tổ chức chính quyền cũng như quan hệ giữa hai yếu tố này Tác giả đồng thời cũng chú ý đến việc phân tích những chính sách công nghiệp tại các nước Đông và Nam Á và chỉ ra những thay đổi trong cơ hội của những nền kinh tế này từ sau những năm 1990
Các nhà nghiên cứu Masahiko Aoki, Hyung-Ki Kim, Masahiro
Okuno-Fujiwara trong cuốn sách The Role of Government in East Asian Economic Development (2005) (Vai trò của chính phủ trong phát triển kinh tế ở Đông Nam
Á) đã chỉ rõ vai trò của các chính sách do chinh phủ định ra trong việc thiết lập hay vận hành sự hoạt động của khu vực tư nhân trong nền kinh tế Cuốn sách bắt đầu bằng việc nghiên cứu sự bỏ ngỏ khu vực kinh tế tư nhân tại các nước đang phát triển và vai trò của chính phủ các nước Đông Nam Á trong việc phát huy sức mạnh của khu vực này trong quá trình phát triển kinh tế đất nước
Gần đây nhất, Mark Beeson (2007) đã cho ra đời nghiên cứu Regionalism and Globalization in East Asia: Politics, Security and Economic Development
(Chủ nghĩa khu vực và toàn cầu hoá ở khu vực Đông Á: Chính trị, an ninh và phát triển kinh tế) phân tích những đặc điểm riêng biệt cũng như sự phát triển của hệ thống chính trị, cấu trúc kinh tế và những quan hệ an ninh ở Đông Á có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI Tác giả đặc biệt chú ý đến
sự phát triển nổi bật của Đông Á trong những thập kỷ gần đây và coi đó như một
Trang 18tế lớn nhất thế giới và vẫn kiên trì chế độ chính trị XHCN Quá trình cải cách kinh
tế, cải cách chính trị và quan hệ giữa nền KTTT và chế độ chính trị XHCN của Trung Quốc là hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học theo đuổi Đáng chú ý
là cuốn sách The China Miracle: Development Strategy and Economic Reform, Revised Edition (Thần kỳ Trung Quốc: Chính sách phát triển và cải cách kinh tế )
của các tác giả Justin Yifu Lin, Cai Fang, Li Zhou, Fang Cai, Zhouli (2003) Cuốn sách lý giải sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Trung Quốc trong thời kỳ cải cách nền kinh tế, tìm hiểu vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong hoạch định chính sách, trong việc đề ra và phát huy sức mạnh của hệ thống các doanh nghiệp nhà nước cũng như các doanh nghiệp tư nhân
Cuốn Remarking the Chinese Leviathan: Market Transition and the Politics
of Governance in China (Nhìn nhận về người hùng Trung Quốc: Sự chuyển đổi thị
trường và tình hình chính trường Trung Quốc) của tác giả Dali Yang (2004) nghiên cứu những cải cách mạnh mẽ trong HTCT Trung Quốc nhằm cải thiện môi trường kinh tế và ngăn chặn nạn tham nhũng đang đe doạ đất nước Cũng cùng chủ đề này
là nghiên cứu của Yan Sun (2004) Corruption And Market In Contemporary China
(Nạn tham nhũng và thị trường ở Trung Quốc hiện nay) phân tích sự ảnh hưởng và quan hệ giữa những cải cách thị trường với nạn tham nhũng, hối lộ ở Trung Quốc
từ năm 1978 đến nay Trong cuốn sách, tác giả đã chỉ ra sự nguy hiểm của nạn tham nhũng trong bộ máy chính quyền
Cuốn Understanding and Interpreting Chinese Economic Reform (Tìm hiểu
và làm sáng tỏ công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc) của tác giả Jinglian Wu (2005) cung cấp một cách nhìn từ bên trong đồng thời cũng cung cấp những sự kiện lịch sử và những phân tích sâu sắc về quá trình cải cách nền kinh tế ở Trung Quốc
Willy Wo-Lap Lam (2006) trong cuốn sách Chinese Polictics in the Hu Jintao Era: New Leaders, New Challenges (Chính trị Trung Quốc thời Hồ Cẩm
Đào: Lãnh đạo mới, thách thức mới) đã đưa ra các phân tích về tình hình Trung Quốc dưới thời Chủ tịch Hồ Cẩm Đào Tác giả chỉ ra những khó khăn thách thức
Trang 19trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời phân tích sự nhận thức của giới lãnh đạo trước những nguy cơ đó trong việc ổn định xã hội và phát triển kinh tế đất nước
Đặc biệt gần đây cuốn sách Chinas Trapped Transition: The Limits of Developmental Autocracy (Sự quá độ đầy vướng mắc của Trung Quốc: Những hạn
chế của một chế độ chuyên qưyền phát triển) của Minxin Pei (2006) đã khơi dậy một cuộc tranh luận về khả năng lãnh đạo và cải tổ của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong khi theo đuổi chính sách kinh tế tiền thị trường Những vướng mắc trong giai đoạn quá độ của Trung Quốc đã đưa ra những đánh giá mang tính tranh luận về tương lai của Trung Quốc với vai trò là một cường quốc trên thế giới
Những công trình nghiên cứu trên sẽ cung cấp những tri thức và kinh nghiệm quý báu cho việc phân tích quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính
trị ở Việt Nam hiện nay
- Thứ ba, các công trình của các tác giả Việt Nam
Trong thời kỳ đổi mới, nhiều tác giả Việt Nam đã nghiên cứu và xuất bản nhiều công trình đề cập đến kinh nghiệm giải quyết quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở các nước trên thế giới, nhất là các nước trong khu vực Tiêu biểu là: Phạm
Ngọc Quang (1993): Bài học kinh nghiệm về việc xử lý quan hệ giữa cải tổ chính trị và cải tổ kinh tế ở Liên Xô trước đây; Chu Hồng Thanh (1993): Vai trò của Nhà nước trong cơ chế thị trường hiện nay; Dương Phú Hiệp (chủ biên) (1996): Con đường phát triển của một số nước châu Á - Thái Bình Dương; Nguyễn Viết Thông (1994): Đổi mới các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay; Nguyễn Kim Bảo (2003): Quá trình hình thành và phát triển lý luận xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc; (2004): Nhìn lại quá trình 55 năm phát triển lý luận kinh tế Trung Quốc; Lê
Bộ Lĩnh (chủ biên) (1998): Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước Châu Á và Việt Nam; Nguyễn Huy Quý (2001): Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc trong kế hoạch 5 năm lần thứ X (2001-2005); Trần Văn Tùng
và Lê Danh Tốn (2002): Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững tại một số nước châu Á; Dương Xuân Ngọc (2003): Thể chế chính trị Nhật Bản; Lưu Văn An (2003): Thể chế chính trị Trung Quốc, Thể chế chính trị Mỹ, Thể chế chính trị các nước Đông Nam Á; Phạm Minh Sơn (2002): Các thành tố của hệ thống chính trị; (2005): Tìm hiểu các quy luật cơ bản trong quan hệ chính trị quốc tế; Trần Văn
Trang 20sắc nhất trong nghiên cứu lý luận kinh tế ở Trung Quốc
Nhóm thứ tư: Những công trình về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam
- Thứ nhất, những công trình về đổi mới kinh tế, về KTTT định hướng XHCN
Vấn đề đổi mới kinh tế, phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tiêu biểu là các công trình sau: Đinh
Văn Ân (2006): Thực trạng xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; Phạm Như Cương (chủ biên) (1987): Thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, một số vấn đề kinh tế- xã hội trong chặng đường đầu tiên; Học viện CTQG HCM (1993): Đặc trưng cơ bản của HTCT nước ta trong giai đoạn quá độ lên CNXH (Đề tài KX 05.04); Bùi Ngọc Chưởng (chủ biên) (1994): KTTT
và định hướng XHCN; Vũ Tuấn Anh (chủ biên) (1994): Đổi mới kinh tế và phát triển; Tào Hữu Phùng (1995): Việt Nam tăng trưởng kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng; Vũ Đình Bách (chủ biên) (1998): Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam; Lê Đăng Doanh và Lê Minh Tú (1998): Tác động của cải cách kinh
tế đối với sự phát triển vùng; Lê Hữu Nghĩa (1999): Vấn đề sở hữu trong quá trình xây dựng CNXH; Đỗ Hoài Nam (2000): Đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế; Phạm Xuân Nam (2001): Đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam (1986-2000) - một cái nhìn tổng quan; Vũ Văn Phúc và Trần Thị Minh Châu (2001): Một số vấn
đề về KTTT định hướng XHCN ở nước ta; Lê Xuân Bá và các tác giả (2001): Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam; Trần Đào (2004): Về thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế ở nước ta; Đinh Trung Thành (2006): Gia nhập WTO và ảnh hưởng của nó đối với quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam;
Trang 21Nguyễn Tấn Vinh (2006): Hội nhập kinh tế - những vấn đề đặt ra đối với quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam;
Trong các công trình nêu trên, các tác giả trình bày về: 1) các yếu tố cấu thành thể chế KTTT (các nguyên tắc, các chủ thể, các cơ chế thực thi, các sân chơi kinh tế ); 2) thực tiễn quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế; 3) vấn đề đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước; 4) đổi mới thể chế nhằm đẩy mạnh phát triển các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần; 5) cải cách hành chính (đổi mới trong cơ cấu chính phủ, đổi mới phương thức quản lý nhà nước về kinh tế, đổi mới công tác kế hoạch hoá, xây dựng và phát triển các loại thị trường mang yếu tố sản xuất; 6) mở cửa và hội nhập kinh tế thế giới Điểm chung toát lên trong các công trình này là, nhờ những nỗ lực trong những năm đổi mới, nhất là trong 2 năm 2004-2005, Việt Nam đã hình thành được các thể chế kinh tế thị trường ban đầu Tuy nhiên, mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, song Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với không ít những khó khăn do thiếu vắng
cơ sở lý luận và các tiền lệ lịch sử Vì vậy, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện khung thể chế cho nền KTTT định hướng XHCN đang và sẽ tiếp tục được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Chính phủ Việt Nam
- Thứ hai, những công trình về đổi mới chính trị
Vấn đề đổi mới chính trị khá phức tạp, nhạy cảm, nhưng do tầm quan trọng
và do yêu cầu bức thiết của thực tiễn, nên thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà
hoạt động chính trị, các nhà nghiên cứu Tiêu biểu là: Nguyễn Thế Phấn (1991): Về thực chất và mấu chốt của việc đổi mới HTCT; Đỗ Nguyên Phương - Trần Ngọc Đường (1992): Xây dựng nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền; Nguyễn Đức Bình (2003): Về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; Lê Hữu Nghĩa (1994): Giữ vững ổn định chính trị và đổi mới HTCT; Trần Xuân Trường (1996): Định hướng XHCN ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận cấp bách; Tô Huy Rứa (1996): Con đường và điều kiện đảm bảo định hướng XHCN ở nước ta; Nguyễn Đức Bình (chủ biên) (1997): HTCT trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (chương trình KX-05); Phạm Ngọc Quang - Nguyễn Viết Thông (2000): Góp phần tìm hiểu sự phát triển tư duy lãnh đạo của Đảng ta trong công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực chủ yếu; Nguyễn Trọng Phúc (chủ biên) (2001): Một số kinh nghiệm của Đảng cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới; Phạm Ngọc Quang (2004): Sự phát triển quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Trang 2222
phương hướng xây dựng CNXH trong quá trình đổi mới; Nông Đức Mạnh (2004):
Nỗ lực phấn đấu tiếp tục giữ vững ổn định chính trị- xã hội và duy trì nhịp đỗ tăng trưởng cao và vững chắc; Trần Quang Nhiếp (2004): Đổi mới và phát triển; Dương Xuân Ngọc (2002): Tiếp cận nguyên tắc tổ chức bộ máy quyền lực của nhà nước ta từ góc độ chính trị – thực tiễn; (2003): Nhận thức mới của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; (2004): Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; (2004): Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên; (2004): Quá trình xây dựng thể chế nhà nước của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh; (2005): Chính trị học Việt Nam; (2007): Tư duy mới của Đảng ta trong chủ đề Đại hội X; Lê Hữu Nghĩa (2006): Hệ thống quan điểm lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; Nguyễn Phú Trọng (2006): Một số vấn đề lý luận - tư tưởng sau 20 năm đổi mới; Nguyễn Khánh (2006): Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; Trần Quang Nhiếp (2007): Cải cách hành chính - những vấn đề cần quan tâm; Nguyễn Cúc (2007): Cải cách hành chính, thành quả và định hướng tiếp tục đổi mới; Lưu Văn An (2005): Quá trình hình thành và phát triển thể chế chính trị Việt Nam hiện đại; Thể chế chính trị Việt Nam hiện nay; Đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị Việt nam thời kỳ CNH, HĐH; (2005) Chính trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật; (2007): Đảng cầm quyền và việc chuyển giao quyền lực của đảng cầm quyền ở các nước TBCN Nguyễn Duy Quý (2008): HTCT nước ta trong thời kỳ đổi mới; Tô Huy Rứa (Chủ biên) (2008): Mô hình tổ chức và hoạt động của HTCT một số nước trên thế giới; Đào Trí Úc (Chủ biên) (2009): Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước- một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Các công trình nêu trên đề cập đến con đường cứu nước và giải phóng dân tộc; tổng kết mô hình cũ về CNXH; về con đường đi lên CNXH của nước ta hiện nay; phân tích lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng nền KTTT định hướng XHCN; CNH, HĐH rút ngắn theo định hướng XHCN Đồng thời, các tác giả phân tích bối cảnh lịch sử những năm trước đổi mới, quá trình đổi mới và thành tựu đổi mới Trong sự phát triển sáng tạo của Đảng ta, chủ trương đổi mới toàn diện, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt Đó là một quá trình tìm tòi rất khoa học, thể hiện sự sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam Bài học bao trùm lớn nhất để bảo đảm cho tiếp tục công cuộc đổi mới thành công và không ngừng phát triển là tăng cường sự
Trang 23lãnh đạo của Đảng, sự đồng thuận của nhân dân Nhờ đổi mới tư duy và nhận thức
về chế độ dân chủ ở nước ta, về quyền làm chủ của nhân dân, về chức năng và quyền lực của Nhà nước, về vai trò và hiệu quả lãnh đạo của Đảng mà những năm qua, cách thức lãnh đạo của Đảng đã có nhiều thay đổi Với tư duy đổi mới, Đại hội Đảng X chỉ rõ: Xác định rõ hơn thẩm quyền quyết định của Chính phủ, những loại việc ở tầm Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp quyết định Với tư cách người lãnh đạo chính trị, Đảng quyết định các vấn đề lý luận, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho hoạt động của các cơ quan nhà nước, lãnh đạo Quốc hội và Chính phủ thể chế hoá các chủ trương lớn của Đảng thành pháp luật theo đúng các trình tự, thủ tục Đảng không quyết định những vấn
đề cụ thể thuộc phạm vi quản lý hành chính nhà nước Đảng chủ trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước
- Thứ ba, các công trình về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Trong mấy năm gần đây, đã có một số công trình đề cập trực tiếp đến quan
hệ giữa kinh tế và chính trị Đó là: Lưu Thị Bích Thu (2001): Quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay; Đặng Đình Tân (2004): Chính trị với kinh tế; Hoàng Thị Hoà (2005): Đổi mới và nâng cao hiệu quả của quan hệ nhà nước với thị trường, phát huy vai trò của các đoàn thể và các hội; Nguyễn Thái Sơn (2006): Quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay; Vũ Văn Phúc (2006): Về quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở nước ta hiện nay Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận: khái niệm kinh tế,
chính trị, quan hệ giữa kinh tế và chính trị, quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị, tính tất yếu và mục tiêu đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị ở nước ta, các tác giả phân tích quan hệ giữa đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị ở nước ta trong những năm đổi mới và một số mâu thuẫn hiện nay Đồng thời các tác giả đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay
Bên cạnh đó, có khá nhiều công trình đề cập đến các khía cạnh khác nhau
của quan hệ giữa kinh tế và chính trị, như: Trần Xuân Kiên (1992): Về vai trò của Nhà nước trong nền KTTT; Nguyễn Mạnh Hùng (1993): Một số vấn đề về cơ chế thị trường và bàn tay nhà nước trong nền KTTT; Phạm Ngọc Quang (1995): Chính trị với kinh tế trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta hiện nay; Lê Văn Lựu (1995):
Trang 2424
Đổi mới HTCT tạo động lực cho phát triển kinh tế; Nguyễn Trọng Chuẩn (1996): Quan hệ biện chứng giữa đổi mới chính sách kinh tế và đổi mới chính sách xã hội; Lưu Thị Bích Thu - Phạm Ngọc Quang (1996): Bảo đảm quyền lực của nhân dân trên lĩnh vực kinh tế; Trịnh Nhu (1999): Kết hợp đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; Trần Phúc Thăng (chủ biên) (2000): Quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng chính trị trong thời kỳ phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam; Lưu Thị Bích Thu (2001): Giải quyết đúng đắn quan hệ giữa đổi mới HTCT và đổi mới kinh tế trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta hiện nay; Nguyễn Phú Trọng (2005): Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước; Tô Huy Rứa (chủ biên) (2006): Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng
từ năm 1986 đến nay; Lương Xuân Quỳ (chủ biên) (2006): Quản lý nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; Phạm Thị Khanh (2006): Vai trò của Nhà nước trong huy động, sử dụng nguồn lực lao động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững; Hoàng Thị Bích Loan (2007): Giữ vững định hướng XHCN trong phát triển KTTT ở nước ta hiện nay; Lê Hữu Nghĩa (2007): Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và quản lý của Nhà nước trong quá trình phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; Lê Xuân Bá (2007): Xây dựng thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; Tô Huy Rứa (2007): Nâng cao vai trò chủ đạo của kinh
tế nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN; Hoàng Ngọc Hoà (2007): Các mô hình thể chế KTTT và nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; Nguyễn Văn Yểu (2007): Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Nguyễn Đức Mạnh (2007): Nguyên nhân trì trệ, kém hiệu quả của cải cách hành chính Lê Hữu Nghĩa (Chủ biên) (2008): Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong HTCT ở Việt Nam; Đỗ Quang Tuấn (2008): Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân trong thời kỳ đổi mới, H.; Vũ Hoàng Công (Chủ biên) (2009): Xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN trong điều kiện KTTT định hướng XHCN
Các tác giả phân tích một số vấn đề cơ bản về quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay: quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị; kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay; mô hình nhất nguyên chính trị ở nước ta hiện nay; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước
và thực hiện dân chủ hoá nền kinh tế; phân hoá giàu nghèo và việc thực hiện công
Trang 25bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta; tính cấp bách của việc luật hoá quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay; và những điểm cần lưu ý khi giải quyết quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở nước ta hiện nay
Tóm lại, cho đến nay nghiên cứu về đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, về quan hệ giữa kinh tế và chính trị đã có những thành tựu đáng ghi nhận Đây là những tài liệu quý, là cơ sở rất quan trọng để đề tài kế thừa
Tuy nhiên, hạn chế của những công trình nghiên cứu nêu trên là:
- Các kết quả nghiên cứu còn rời rạc, chưa hệ thống, toàn diện trên cơ sở tổng kết thực tiễn trong nước và tham khảo kinh nghiệm nước ngoài
- Chưa luận giải được những nội dung mới dưới góc độ lý luận chính trị về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, góp phần giải quyết những vấn
đề bức xúc nảy sinh trong thực tiễn, thúc đẩy đổi mới đất nước toàn diện, mạnh mẽ theo định hướng XHCN giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030
- Chưa cung cấp những luận cứ khoa học mới dưới góc độ lý luận chính trị
về bản chất, nội dung, cơ chế tác động của quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị phục vụ trực tiếp bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và soạn thảo văn kiện Đại hội XI của Đảng
- Chưa chỉ ra những giải pháp mang tính đột phá nhằm giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trên thực tiễn góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta
- Chưa cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái về vấn đề này Đó chính là nhiệm vụ nặng nề của đề tài khoa học này
Những hạn chế này cũng đã khách quan hóa tính tất yếu của đề tài khoa học
mà tập thể các nhà khoa học đã lựa chọn và thực hiện
3 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở tư duy lý luận và thực tiễn nhận thức, giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam sau gần 25 năm đổi mới, có tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, đề tài đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm giải quyết hài hoà quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nhằm bảo đảm phát triển kinh tế, giữ vững định hướng XHCN, đáp ứng tốt yêu
Trang 26- Cung cấp những luận cứ khoa học mới dưới góc độ lý luận chính trị về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phục vụ trực tiếp bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và soạn thảo văn kiện Đại hội XI của Đảng
- Làm cơ sở cho việc chỉ đạo thực tiễn của các cấp, các ngành
- Làm cơ sở cho việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
- Cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái về vấn đề này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam Tuy nhiên đây là vấn đề khó và phức tạp để nhận diện sâu sắc từ bản chất, nội dung và xu hướng vận động của nó, ngoài việc nghiên cứu trực tiếp mối quan hệ này, đề tài thấy cần thiết phải nhận thức được những dạng thức biểu hiện khác nhau (các hình thức biểu hiện) của mối quan hệ này (tìm hiểu bản chất mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị thông qua các mối quan hệ thứ cấp)1 Trong khuôn khổ của đề tài, việc xác định 6 mối quan hệ thứ cấp phản ánh tập trung mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị xuất phát từ những căn cứ :
1 1) Quan hệ giữa xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN với xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị dân chủ XHCN; 2) Quan hệ giữa phát triển KTTT với bảo đảm định hướng XHCN; 3) Quan hệ giữa phát triển KTTT định hướng XHCN với xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN và xây dựng, phát triển XHDS; 4) Quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội, xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; 5) Quan hệ giữa hội nhập kinh tế quốc
tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; 6) Quan hệ giữa ổn định chính trị- xã hội với phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Trang 27Thứ nhất, là các quan hệ phản ánh tập trung nhất, khái quát nhất, bản chất
nhất về kinh tế và chính trị, mà cả kinh tế và chính trị trong phạm vi đề tài này
được nhận diện thông qua các phương diện: khoa học (tư duy, lý luận); chính trị (tổ chức, đường lối, chính sách) và hoạt động thực tiễn
Thứ hai, là những mối quan hệ phán ánh đúng mâu thuẫn, bản chất của quá
trình đổi mới và phát triển, trước hết là phát triển kinh tế
Thứ ba, là những quan hệ phản ánh đặc trưng CNXH và con đường đi lên
CNXH ở Việt Nam, vừa phù hợp với qui luật, xu thế của thời đại vừa phù hợp với trình độ phát triển và bản sắc Việt Nam
Thứ tư, nhưng mối quan hệ thứ cấp được xác định là những mối quan hệ ít
nhiều đã được nghiên cứu (dù đã có kết quả để kế thừa hoặc chưa có kết quả đòi hỏi phải nghiên cứu tiếp) phản ánh những mối quan hệ cơ bản của đời sống xã hội, trong đó tập trung ở kinh tế và chính trị
Thứ năm, những quan hệ thứ cấp được xác định trong khuôn khổ của đề tài
là kết quả của nhiều cuộc toạ đàm, hội thảo và các cuộc phỏng vấn sâu Tất nhiên,
có những ý kiến nhóm đề tài thấy hợp lý, tiếp thu, còn những ý kiến thấy chưa thật hợp lý thì điều chỉnh, chẳng hạn mối quan hệ giữa Hội nhập quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Nhóm đề tài nhận thấy, trong bối cảnh ngày nay và căn
cứ vào qui luật phát triển và nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam xây dựng CNXH gắn liền với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, bởi thế đề tài thống nhất xác
định mối quan hệ: Quan hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Trong khuôn khổ
đề tài, chúng tôi xác định 6 mối quan hệ thứ cấp phản ánh tập trung nhất bản chất, nội dung, xu hướng mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Phạm vi nghiên cứu: chủ yếu trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến nay Địa bàn nghiên cứu: trên cả nước, bao gồm các vùng, miền tiêu biểu cho các thành phố lớn, đồng bằng, đồng bằng ven biển, miền núi, trung du; đại diện cho ba miền: Bắc, Trung, Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Cho đến nay tuy vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, song về cơ bản có thể
xem: Phương pháp luận là một hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất
Trang 2828
phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn
Phương pháp luận Mác- Lênin trang bị cho chúng ta thế giới quan khoa học và phương pháp luận duy vật biện chứng, những quan điểm, nguyên tắc, cách thức chung đúng đắn để nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác- Lênin, học thuyết được xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn của con người Nói cách khác, học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là lý luận, phương pháp luận cho việc nhận thức và cải tạo thế giới Sự thống nhất giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn, theo Lênin, đã làm cho triếthọc của Mác là một “chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị”, đồng thời là “công cụ nhận thức vĩ đại” Hơn thế nữa, với thế giới quan và phương pháp luận khoa học, khi nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị sẽ góp phần phát triển lý luận
và những nguyên lý được xây dựng bởi các nhà kinh điển cho phù hợp với điều kiện mới Vận dụng phương pháp luận Mác- Lênin đòi hỏi khi nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải quán triệt nguyên tắc: Lý luận phải gắn với thực tiễn
Có rất nhiều phương pháp khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu và phân loại Tuy nhiên, trong nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cần sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân tích quá trình đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị, từ đó tổng hợp lại phân tích quan hệ giữa đổi mới tư duy chính trị về kinh tế, đổi mới lý luận về kinh tế; đổi mới đường lối, chính sách về kinh tế và đổi mới hoạt động kinh tế Đồng thời với quá trình đổi mới kinh tế, việc phân tích quá trình đổi mới chính trị cũng diễn ra theo lôgíc: Đổi mới tư duy, lý luận chính trị; đổi mới đường lối, chính sách phát triển, trong đó quan trọng nhất là phát triển kinh tế và đổi chính trị với tư cách là hệ thống chính trị, thể chế chính trị
+ Phương pháp lịch sử và lôgíc: chúng ta nghiên cứu mối quan hệ này theo
lịch sử của quá trình đổi mới, chính thức từ Đại hội VI của Đảng (1986) Ở nước
ta, ngay từ Đại hội lần thứ VI, Đại hội đổi mới, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, nhưng trước bắt đầu từ đổi mới tư duy chính trị về kinh tế Và trên thực tiễn phải tiến hành đổi mới kinh tế trước, từng bước đổi mới chính trị Tổng kết 5 năm đổi mới 1986-1991, Đại hội VII của Đảng đã rút ra những bài học kinh nghiệm: “Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung
Trang 29sức làm tốt đổi mới kinh tế… Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HTCT…” Đến Đại hội VIII, Đảng ta
đã rút ra bài học kinh nghiệm: kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị Đại hội Đảng X đã khẳng định: Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa,
có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp Trên cơ sở những thành công và chưa thành công sau gần 25 năm đổi mới, chúng ta tiếp tục khẳng định: Đổi mới toàn diện, đồng bộ, triệt để và hài hoà, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp Đây chính là bước phát triển cả trong nhận thức, tư duy, trong hoạch định đường lối, chính sách và trong hoạt động thực tiễn
+ Phương pháp từ trừu tượng đến cụ thể: Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị là phạm trù vừa trừu tượng lại vừa cụ thể Nghiên cứu quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đặt trọng tâm ở việc nghiên cứu mối quan
hệ giữa thể chế KTTT định hướng XHCN hội nhập quốc tế và đổi mới thể chế chính trị dân chủ XHCN nhất nguyên và một đảng cộng sản duy nhất lãnh đạo; nghiên cứu quan hệ giữa ổn định và phát triển, giữa ổn định và dân chủ hóa xã hội với phát triển bền vững, trước hết là phát triển kinh tế… Điều này cũng có nghĩa, việc làm rõ bản chất, nội dung của mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cần thiết phải làm rõ bản chất, nội dung của các mối quan hệ cụ thể, thứ cấp từ đó khái quát nên bản chất, nội dung của chính mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Ngoài những phương pháp trên, đề tài còn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng; phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp thảo luận nhóm
- Cách tiếp cận đề tài nghiên cứu
+ Tiếp cận hệ thống: Cách tiếp cận này cho phép nhận diện quan hệ giữa đổi
mới kinh tế và đổi mới chính trị trong một chỉnh thể thống nhất của quá trình đổi mới toàn diện đất nước: đổi mới kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, trong đó, đổi mới kinh tế là trong tâm, đổi mới chính trị là quyết định Trong từng lĩnh vực, cần thiết phải đổi mới cả nhận thức, tư duy, lý luận (khoa học); đổi mới cả tổ chức, đường lối, chính sách (chính trị) và đổi mới hoạt đông thực tiễn Với cách tiếp cận
hệ thống, vấn đề nghiên cứu được đặt trong quan hệ đối chứng với kinh nghiệm của các nước trên thế giới; trong quan hệ biện chứng với sự tác động của nhiều yếu tố: yếu tố truyền thống, yếu tố thời đại, yếu tố trong nước, yếu tố quốc tế, yếu tố
Trang 3030
khách quan và yếu tố chủ quan… Hơn nữa, với cách tiếp cận này, vấn đề quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được xem xét trong quá trình phát triển trên nền tảng của triết lý phát triển tổng quát Việt Nam: Độc lâp dân tộc gắn liền với CNXH; phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đảng là khâu then chốt, xây dựng và phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
+ Tiếp cận theo lý luận về hình thái kinh tế- xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng: Kinh tế là
tổng hòa các quan hệ sản xuất tạo nên kết cấu kinh tế- xã hội, là hoạt động sáng tạo
ra của cải vật chất, thuộc cơ sở hạ tầng; còn chính trị là tổng hòa các quan hệ giai cấp, dân tộc trong việc giành, giữ, tổ chức, sử dụng quyền lực nhà nước, quản lý các quá trình kinh tế- xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng Trong mối quan hệ này thì kinh tế quyết định chính trị, chính trị ra đời từ kinh tế Tuy nhiên, chính trị có tính độc lập tương đối, tác động trở lại cả theo hướng tích cực và tiêu cực
Do đó nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cần quán triệt và vận dụng sáng tạo lý thuyết của chủ nghĩa Mác- Lênin về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Từ đó tìm ra bản chất của mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
+ Tiếp cận từ thực tiễn của quá trình đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị ở Việt Nam: Với cách tiếp cận này, chúng ta có thể hình dung hai quá trình đổi
mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam, ở mỗi thời kỳ có thể có sự phù hợp khác nhau, song một cách tổng quát đã hình thành nền kinh tế và nền chính trị tương thích
Khi bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp, thì sau 5 năm đổi mới (năm 1991) đã chuyển dần sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tiếp theo đó cùng với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, nền KTTT định hướng XHCN đã được xác lập (năm 2001) và từng bước phát huy vai trò chi phối nền chính trị Từ khi
Việt Nam chính thức là thành viên của WTO (năm 2006), nền KTTT định hướng XHCN hội nhập quốc tế đã từng bước được hình thành Có thể “nêu
tên” của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn hiện nay là như vậy Tương ứng với quá trình chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu, bao cấp sang
nền KTTT định hướng XHCN hội nhập quốc tế, nền chính trị cũng có quá
trình chuyển đổi từ chuyên chính vô sản, hệ thống chuyên chính vô sản sang
Trang 31HTCT (2001), và cho đến nay là nền chính trị dân chủ XHCN nhất nguyên một đảng cộng sản duy nhất lãnh đạo Nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới kinh
tế và đổi mới chính trị nhất thiết phải xuất phát từ thực tế này Muốn nhận thức đầy đủ quá trình đổi mới chính trị nhất thiết phải đi sâu nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển nền KTTT định hướng XHCN hội nhập quốc tế, và ngược lại muốn làm rõ quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam phải xác định sự tác động của nhân tố định hướng XHCN, chế độ chính trị dân chủ XHCN, chế
độ nhất nguyên, một đảng duy nhất lãnh đạo
Ngoài một số cách tiếp cận chủ đạo trên, đề tài còn tiếp cận từ giác độ liên ngành các khoa học liên ngành (Triết học, Kinh tế chính trị và Chính trị học, Xã hội học) và tiếp cận liên cấp, liên vùng
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài rất coi trọng phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học, tổ chức tọa đàm, hội thảo tại các địa phương, ngành mang tính tổng kết thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm
- Các báo cáo trung gian (4 báo cáo)
- Kỷ yếu các hội thảo khoa học của đề tài
- Báo cáo kết quả điều tra xã hội học
- Ba cuốn sách chuyên khảo về vấn đề nghiên cứu
- 12 bài báo về vấn đề nghiên cứu
- Các luận án tiến sĩ (đề cương), luận văn thạc sĩ
- Các tiểu luận của học viên cao học (230 tiểu luận)
7 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm có 3 chương, 8 tiết
Trang 3232
Trang 33CHƯƠNG I QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ -
CƠ SỞ LÝ LUẬN KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ
KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ Ở MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
1.1 QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ - CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Một số quan điểm về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
1.1.1.1 Chủ nghĩa xã hội dân chủ về quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Những người theo CNXH dân chủ cho rằng, CNXH sẽ được hình thành trong quá trình đấu tranh vì một thế giới tốt hơn và cuộc đấu tranh đó có thể diễn
ra theo kiểu dân chủ, hòa bình và từng bước Người khởi xướng tư tưởng xã hội
dân chủ là E.Bernstein - nhân vật điển hình của chủ xét lại Khác với chủ nghĩa Mác nhấn mạnh nội dung chủ nghĩa duy vật lịch sử và đấu tranh giai cấp, CNXH
dân chủ nhấn mạnh tính quan trọng nền tảng của chính trị và hợp tác giai cấp Các
nhà xã hội dân chủ đề ra mục tiêu là xây dựng một xã hội tốt đẹp, tự do và hòa bình Họ cho rằng, CNTB là một hệ thống bất bình đẳng, không công bằng và bóc lột của một số ít đối với số đông Nó đẻ ra nghèo túng và tai họa cho người lao động, sử dụng tài nguyên xã hội vì lợi ích của những nhóm đặc quyền, đặc lợi, nô dịch các dân tộc này bằng các dân tộc khác Mặc dù CNTB đã phát triển mạnh lực lượng sản xuất, nhưng lại làm cho số lớn người lao động mất khả năng tác động vào quá trình sản xuất, quyền sở hữu đặt cao hơn quyền con người CNTB đã đẻ ra chiến tranh, bạo lực và chế độ độc tài chuyên chế Chế độ ấy phải được thay thế bằng CNXH- xã hội dân chủ, nhân đạo và công bằng thật sự, xã hội giải phóng nhân dân khỏi sự phục tùng thiểu số, đem lại quyền lực kinh tế cho nhân dân, tạo
ra xã hội mà mọi người tự do có thể cùng nhau lao động và bình đẳng Họ cho rằng, CNTB có thể trở nên ngày càng phức tạp song vẫn có khả năng thích ứng với
sự phát triển của xã hội và tự điều chỉnh, tự hoàn thiện để tiếp tục phát triển và từng bước chuyển hoá thành CNXH
Tuy nhiên, không chỉ lên án CNTB, các nhà xã hội dân chủ còn phê phán mạnh mẽ các nước XHCN Trước đây, họ khác những người cộng sản ở mục tiêu cuối cùng, ở phương pháp và phương tiện thực hiện mục tiêu đó Hiện nay, họ
Trang 3434
tuyên bố khác những người cộng sản về mọi mặt Họ cho rằng ở các nước XHCN, chính quyền cộng sản được xây dựng trên các tầng lớp quan liêu và cảnh sát, lao động bắt buộc trong kinh tế; có phân biệt lớn trong phân phối sản phẩm xã hội, có đặc quyền đặc lợi và giai cấp mới Họ coi cộng sản là kẻ thù của hòa bình, dân chủ, chuyên chính vô sản là “xóa bỏ mọi nền dân chủ”, là nguy cơ đối với tự do Từ đó, những người xã hội dân chủ tự đề ra cho mình con đường thứ ba- con đường CNXH dân chủ Theo đó, xã hội thực hiện các nguyên tắc: dân chủ chính trị, dân chủ kinh tế, dân chủ xã hội
Dân chủ chính trị là nền tảng và là điều kiện tiên quyết của CNXH dân chủ Theo quan điểm của các nhà xã hội dân chủ, không có tự do không thể có CNXH
và CNXH không thể đạt được bằng cách nào khác mà không thông qua dân chủ Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân được thực hiện quyền lực vì lợi ích của mình Dân chủ chính trị là phải bảo đảm cho mỗi công dân tất cả các quyền
về chính trị như: tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tôn giáo; bầu cử tự do, bầu
cử phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín, bình đẳng trước pháp luật không phụ thuộc vào đẳng cấp, đảng phái, chủng tộc, tôn giáo; thừa nhận sự cầm quyền của
đa số và tôn trọng quyền đối lập của thiểu số; quyền độc lập văn hóa, ngôn ngữ, tư pháp độc lập
Dân chủ kinh tế được hiểu là một hệ thống kinh tế nằm dưới sự kiểm soát của toàn xã hội và phục vụ lợi ích của toàn xã hội Các hình thức sở hữu xã hội có vai trò quan trọng trong hệ thống dân chủ kinh tế Sở hữu xã hội bao gồm các xí nghiệp quốc hữu hóa, các hợp tác xã, các sở hữu địa phương Sở hữu tư nhân có thể tồn tại dưới chế độ XHCN và kết hợp với các hình thức sở hữu xã hội Những người dân chủ xã hội cho rằng, hoàn cảnh cụ thể của từng nước, đặc điểm cấu trúc nền kinh tế, truyền thống dân tộc, tình hình kinh tế thế giới… có ý nghĩa quyết định đến các hình thức, chức năng và tỷ lệ sở hữu xã hội trong nền kinh tế Sở hữu
xã hội là “phương tiện thực hiện sự kiểm soát các ngành công nghiệp cơ bản, lĩnh vực dịch vụ”, tức là các ngành có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến đời sống kinh tế
và phúc lợi xã hội Đó là phương tiện hợp lý hóa các ngành công nghiệp kém hiệu quả và làm cho các công ty xí nghiệp tư nhân mất khả năng bóc lột Để ngăn chặn nguy cơ quan liêu hóa các cấu trúc kinh tế, cùng với việc thừa nhận và bảo hộ sở hữu tư nhân, những nhà xã hội dân chủ nhấn mạnh phải phi tập trung hóa quyền lực kinh tế ở mọi chỗ có điều kiện Họ ủng hộ những người lao động thông qua các
Trang 35công đoàn, các liên minh và hiệp hội sản xuất và tiêu thụ hoạt động tự quản, độc lập với các cơ cấu quan liêu, tác động đến các quá trình sản xuất và đồng thời ngăn cản sự hình thành các tầng lớp quan liêu nhà nước và tư nhân Xã hội phải chăm lo
để bảo đảm sự tham gia dân chủ của công nhân vào quản lý sản xuất, kết hợp tự do
cá nhân với sự bảo vệ con người về kinh tế
Các nhà xã hội dân chủ cho rằng, sự phát triển kinh tế và các thành tựu xã hội chỉ có giá trị đạo lý khi chúng giải phóng con người và tạo điều kiện để phát triển con người một cách toàn diện Dân chủ chính trị và dân chủ kinh tế chỉ là cơ
sở để thực hiện dân chủ xã hội Không xác lập được dân chủ xã hội thì không thể thực hiện được lý tưởng XHCN Dân chủ xã hội là mục tiêu chủ yếu của CNXH dân chủ Thực hiện dân chủ xã hội thực tế là thực hiện các quyền lao động, bảo hiểm tàn tật, tai nạn lao động, bảo hiểm sinh đẻ, nuôi dạy con cái, quyền nghỉ ngơi, quyền bảo hiểm xã hội cho công dân, người về hưu, người thất nghiệp, quyền trẻ
em được chăm sóc, quyền có chỗ ở Dân chủ xã hội là sự xóa bỏ các phân biệt về giới tính, giai cấp, tôn giáo, giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện
Trong những năm gần đây, tư tưởng chủ yếu của những người xã hội dân chủ là dân chủ hóa và quốc tế hóa các quá trình kinh tế- xã hội Họ nhấn mạnh tính chất toàn cầu hóa, mối liên hệ hữu cơ giữa các giá trị của CNXH dân chủ Họ quan niệm CNXH dân chủ là một quá trình không ngừng tăng cường dân chủ hóa kinh
tế và xã hội, mở rộng và củng cố công bằng xã hội và nó chỉ đạt được trên phạm vi quốc tế Dân chủ là phương tiện quan trọng nhất để thực hiện kiểm soát của nhân dân và nhân đạo hóa xã hội Dân chủ cần phải thấm sâu hơn nữa vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong lĩnh vực kinh tế, CNXH dân chủ cho rằng không có một mô hình thống nhất của dân chủ hóa kinh tế Các nước khác nhau cần thực nghiệm sáng tạo
tư tưởng này vào điều kiện của mình Họ cho rằng, hiện nay chỉ có sự kiểm soát về luật pháp của nhà nước là không đủ Cần có sự tham gia rộng rãi của chính những người lao động vào quá trình thông qua các quyết định kinh tế Họ coi quốc hữu hóa không phải là cứu cánh thoát khỏi các bệnh tật xã hội Họ cũng không chủ trương ưu tiên phát triển kinh tế vì nó sẽ gây thiệt hại về xã hội và môi trường Họ cũng cho rằng, KTTT không thể đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ xã hội của phát triển kinh tế Do vậy, kiểm sóat dân chủ của xã hội đối với sản xuất là cần thiết và
Trang 3636
là vấn đề nguyên tắc, song song với sự kiểm soát hệ thống pháp luật của nhà nước
Họ cho rằng, nhà nước khi thực hiện dân chủ về kinh tế và xã hội cũng không thể giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội Nếu đòi hỏi quá cao ở nhà nước thì nó sẽ trở nên quan liêu hóa, làm giảm hiệu quả hoạt động của các thiết chế nhà nước
Những người xã hội dân chủ muốn thực hiện những giá trị của mình không phải bằng cách mạng, mà cải biến dần dần xã hội tư bản bằng con đường dân chủ
Để giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, họ cho rằng, cần giải quyết hai vấn đề cơ bản: 1) phải có HTCT tự do và bình đẳng- nghĩa là phải thiết lập
được một nền dân chủ rộng rãi; 2) xác lập quyền tự do, bình đẳng giữa các chủ thể trên lĩnh vực kinh tế, nghĩa là mọi người đều được có quyền tham gia quyết định, cùng có tiếng nói chung về mọi vấn đề có liên quan đến lợi ích kinh tế
Họ đưa ra hệ thống giải pháp gồm các yếu tố: về kinh tế, đó là nền KTTT hỗn hợp, có sự điều tiết của mô hình Keynes; về chính trị, đó là nền dân chủ đa nguyên, có nhà nước phúc lợi xã hội thi hành chính sách công bằng tự do Trong
đó, nền kinh tế hỗn hợp có nhiều hình thức sở hữu khác nhau, sở hữu tư nhân luôn gắn trách nhiệm nghĩa vụ xã hội, các hình thức sở hữu hợp tác xã và các hình thức
sở hữu xã hội khác cùng tồn tại phát triển Thị trường có vai trò quan trọng nhưng phải đặt trong khuôn khổ điều tiết nhất định Nhà nước cần kiểm soát KTTT bằng các giải pháp: phải lập khung cho nền kinh tế; phải đảm bảo quyền tham quyết của người lao động trong các xí nghiệp, công đoàn phải tác động đến việc ký kết các thỏa ước lao động; tác động của thị trường, nhưng cũng phải có nghĩa vụ xã hội trong thị trường; phán quyết của người tiêu dùng có tác động trực tiếp tới quan hệ thị trường Thông qua các giải pháp này, xã hội kiểm soát được nền kinh tế Nền kinh tế hỗn hợp được sự kiểm soát của xã hội so với nền kinh tế tự do và kinh tế kế hoạch hóa dựa trên chế độ công hữu thì dân chủ hơn và hiệu quả hơn
Các nhà xã hội dân chủ chỉ chấp nhận KTTT khi nhà nước quan tâm đến phúc lợi xã hội Vin vào lý do trung thành với các giá trị tự do, bình đẳng nên các nhà xã hội dân chủ đòi hỏi phải đảm bảo cuộc sống phù hợp với nhân phẩm con người cho tất cả các thành viên xã hội, đặc biệt là bộ phận yếu thế, bị thất bại trên thương trường Những người bị đau ốm, thất nghiệp hay về già vẫn được đảm bảo cuộc sống Nhà nước ngày càng thực hiện đây đủ hơn chức năng xã hội chính là bước tiến của nền dân chủ
Trang 37Vậy là, quan điểm chủ yếu của CNXH dân chủ là kết hợp phát triển KTTT TBCN với thi hành rộng rãi các chính sách phúc lợi xã hội theo quan niệm của các nhà xã hội dân chủ để tạo ra sự đồng thuận cho phát triển Hệ thống các chính sách phúc lợi được nhà nước đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, lý thuyết này khi áp dụng ở một số nước Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan… đã gặp phải không ít khó khăn và bộc lộ nhiều bất cập Số đông người dân dễ lạm dụng các trợ cấp xã hội, còn các chủ tư bản thì tìm cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để tránh thuế luỹ tiến cao đánh vào thu nhập Kết quả là, KTTT trong nước bị suy thoái và nhà nước phúc lợi xã hội cũng lâm vào tình trạng “kiệt sức”
1.1.1.2 Chủ nghĩa tự do về quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Chủ nghĩa tự do là một hệ tư tưởng không nhất quán, có nhiều biểu hiện đa dạng với những điểm nhấn mạnh tự do trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức; tuyệt đối hóa quyền tự do cá nhân và chủ trương hạn chế sự can thiệp của nhà nước đối với các hoạt động cá nhân Cội nguồn sâu xa của chủ nghĩa tự do là tư tưởng nhân văn Phục hưng với khát vọng giải phóng cá nhân thoát khỏi thần quyền, tư tưởng tự do của các nhà triết học thế kỷ XVII – XVIII như J.Locke, Ch.L.Montesquieu F.M.Voltaire, J.J.Rousseau, J.Pholbach, tư tưởng khai sáng và triết học cổ điển Đức (D.Kant, Goethe, W.Humbolat) quan điểm triết học - chính trị Âu - Mỹ thế kỷ XIX (I.Bentham, J.S.Mill) Cách mạng tư sản Pháp năm 1789
đã biến tự do thành hiện thực với tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền, xóa bỏ nguyên tắc thừa kế quyền lực và mọi đặc quyền mang tính đẳng cấp, đơn giản hóa quan hệ xã hội
Chủ nghĩa tự do đề cao ý tưởng về mục đích tự thân của cá nhân, trách nhiệm của cá nhân đối với hoạt động của mình, coi tư hữu như điều kiện cần thiết của tự do cá nhân, những nguyên tắc của KTTT, tư tưởng nhà nước pháp quyền với hệ thống phân quyền và công bằng cho mọi công dân trước pháp luật, sự khoan dung và bảo vệ quyền lợi của người thiểu số, đảm bảo quyền lợi và tự do cá nhân, trong đó có tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, quyền bầu cử phổ biến Nhấn mạnh quyền cá nhân, những người theo chủ nghĩa tự do chủ trương tìm kiếm một xã hội bảo đảm tự do tư tưởng cho mọi cá nhân, hạn chế quyền lực (nhất
là quyền lực của nhà nước và tôn giáo), pháp trị, tự do trao đổi tư tưởng, một nền KTTT hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân và một hệ thống chính phủ minh bạch, trong đó các quyền công dân được bảo vệ Trong xã hội hiện đại, những người theo chủ
Trang 3838
nghĩa tự do ủng hộ một nền dân chủ tự do có bầu cử công bằng, công khai; mọi công dân đều được hưởng quyền bình đẳng trước pháp luật và có cơ hội thành công như nhau
Về chính trị, chủ nghĩa tự do cho rằng, cá nhân là cơ sở của luật pháp và xã
hội Xã hội và những thiết chế của nó phải tạo điều kiện bình đẳng giúp cho các cá nhân thực hiện mục đích của mình, chứ không phải bắt cá nhân làm theo quy định của xã hội và nhà nước Trong thời kỳ CNTB đang lên, chủ nghĩa tự do về chính trị là một biểu hiện tiến bộ trong việc chống lại chế độ chuyên chế phong kiến
Về kinh tế, chủ nghĩa tự do ủng hộ quyền tự do tư hữu, tự do hợp đồng kinh
tế, đòi nhà nước không được can thiệp vào công việc kinh doanh của cá nhân cũng như can thiệp vào thị trường, khuyến khích cạnh tranh tự do Nhà nước chỉ có trách nhiệm đảm bảo cho sự tự do kinh doanh của cá nhân này không xâm hại đến quyền
tự do của cá nhân khác Nhà kinh tế học Anh A.Smith đề xuất tư tưởng về loại bỏ mọi sự can thiệp của nhà nước vào những vấn đề kinh tế bằng những biện pháp hạn chế hoặc thuế quan Ông lập luận rằng, nền KTTT tự do sẽ tự điều tiết một cách tự nhiên và sẽ sản xuất ra nhiều của cải vật chất hơn một nền kinh tế với thị trường bị kiểm soát A.Smith được coi là cha đẻ của tư tưởng thị trường tự do TBCN hiện đại
Sang thế kỷ XX, chủ nghĩa tự do có những biến đổi nhất định được gọi là
chủ nghĩa tự do mới L.Hobhouse (1864–1929) và I.Berlin (1909–1997) buộc phải
thừa nhận vai trò của sự can thiệp nhà nước trong việc đảm bảm điều kiện tối thiểu cho sự tồn tại của cá nhân J.Keynes (1883 – 1946) ủng hộ sự can thiệp của nhà nước bằng chính sách tài chính – tiền tệ nhằm làm giảm nhẹ sự suy thoái kinh tế đã
có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng tự do trên cả thế giới, nhất là ảnh hưởng đến cương lĩnh các đảng tự do (liberal party) ở Anh, Mỹ, Canada, Đức, Nhật Quốc tế tự do (Liberal International) với Tuyên ngôn Tự do Oxford năm 1947 là tổ chức quốc tế của các đảng tự do cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc những quan điểm của Keynes
Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” xuất
bản năm 1936, Keynes luận chứng cho quan điểm nhà nước phải can thiệp trực tiếp vào kinh tế để tạo việc làm cho toàn xã hội, giải quyết tận gốc nạn thất nghiệp
và góp phần tích lũy tư bản Tư tưởng của Keynes tác động mạnh đến tư duy kinh
tế chính trị đương thời và là cơ sở của quan niệm “nhà nước phúc lợi” ra đời ở Anh, Pháp và sau đó là ở Mỹ
Trang 39Chủ nghĩa tự do mới xác định nguyên tắc quan trọng nhất là đa nguyên và
khoan dung, chống chủ nghĩa cực quyền Trước hết, thừa nhận tính hợp pháp và khả năng của các lực lượng xã hội, chịu đựng lẫn nhau và cùng tồn tại Thứ hai,
đảm bảo tranh luận công khai giữa các đảng phái, các tổ chức, các liên hợp với
những quan điểm khác nhau Thứ ba, thừa nhận tính đa dạng các nền văn hóa, các
trào lưu, các phương thức bày tỏ quan điểm Tuy nhiên, tự do thái quá sẽ dẫn đến chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa vô chính phủ Bên cạnh việc cổ xúy cho tự do cá nhân trong chủ nghĩa tự do cổ điển lên hiện đại, luôn diễn ra quá trình tự phê phán, điều chỉnh chủ nghĩa phiêu lưu duy ý chí, thứ tự do vô độ và bằng mọi giá, thứ tự
do cho mình bất chấp tình trạng mất tự do của những người khác
Nếu chủ nghĩa tự do cổ điển cho rằng, trong nền KTTT, hãy để cho thị
trường vận hành dưới sự dẫn dắt của “bàn tay vô hình”, cơ chế cạnh tranh tự do trên thị trường sẽ mang lại kết quả là sự hài hoà xã hội, thì chủ nghĩa tự do mới có quan điểm hạ thấp vai trò của nhà nước, đề cao vai trò của khu vực tư nhân, giảm bớt chi tiêu từ ngân sách quốc gia để bù đắp cho các lợi ích công cộng, việc phân phối thu nhập được điều chỉnh theo hướng bất lợi cho người lao động nhưng có lợi cho giới chủ tư bản nhằm khuyến khích họ “tiết kiệm và đầu tư” Giới chủ hứa hẹn với người lao động rằng: tăng trưởng phải đi trước, công bằng xã hội theo sau, người nghèo hãy kiên tâm chờ đợi Thật ra đây là cách nhìn nhận vấn đề của những người đứng trên lập trường lợi ích của nhóm xã hội giàu có, không quan tâm đến nhu cầu bức xúc của đa số người nghèo Với việc áp dụng mô hình phát triển này, kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng thường dẫn đến hậu quả nặng nề về mặt xã hội, thậm chí kéo theo mâu thuẫn và xung đột xã hội
Từ thập kỷ 70 thế kỷ XX, chủ nghĩa tự do lại có xu hướng khôi phục lập trường cổ điển của nó khi chủ trương giảm thiểu vai trò của nhà nước và ủng hộ việc sử dụng các nguyên tắc thị trường tự do
Đối lập với học thuyết của Keynes là quan điểm của nhà tự do chủ nghĩa gốc
Áo F.Hayek (1988 – 1992) Theo Hayek, phải để cho thị trường quyết định không chỉ là kinh tế, thương mại mà cả những vấn đề lớn về xã hội - chính trị Chủ nghĩa
tự do mới tuy không phủ nhận hoàn toàn vai trò của nhà nước nhưng chủ trương một nhà nước tối thiểu; nhà nước phải giảm bớt sự can thiệp vào kinh tế, gỡ bỏ các rào cản kinh tế, để các tập đoàn tư bản phải được hoàn toàn tự do kinh doanh Hayek chống lại chủ nghĩa tập thể vì theo ông “chủ nghĩa tập thể là sự chấm dứt chân lý”
Trang 4040
tất yếu dẫn đến chế độ độc tài Hayek không chỉ chống lại CNXH mà còn đồng nhất CNXH với chủ nghĩa phát xít và cực lực lên án “kế hoạch hóa tập trung” ở các nước XHCN, vì theo Hayek, nó cưỡng bức cá nhân và tước đoạt quyền tự do lựa chọn của
họ, là con đường dẫn đến chế độ độc tài Hayek đề xuất quan điểm về “kế hoạch hóa
tự do” trong đó, kế hoạch hóa tự do và cạnh tranh tự do không chống lại nhau mà còn được kết hợp với nhau
Chủ nghĩa tự do chưa hẳn đạt được sự ủng hộ một cách chính thống, nhưng
nó cũng buộc các nhà chính trị cầm quyền tìm kiếm những đối sách thích hợp nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa tự do chính trị và tự do kinh tế, tính nghiêm minh của luật pháp và quyền con người Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa tự do cực đoan rất dễ bị kết án là biểu hiện của chủ nghĩa vô chính phủ Có thể nhận thấy thực trạng đáng lo ngại: Sau sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên
Xô và Đông Âu, các trào lưu “tự do chủ nghĩa” mọc lên như nấm Chẳng hạn, ngay tại Nga hình thành không dưới mười phong trào có tên “tự do” Song, sự thật thì một trong số những phong trào đó đã tiếp cận với chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa phát xít mới và cả chủ nghĩa bảo hoàng Đó là chưa nói tới việc thuật ngữ
“tự do” bị biến dạng thành “các trò chơi chính trị” Nhận diện chủ nghĩa tự do, phân loại các biến tướng của nó là một công việc không đơn giản Chỉ có thể lấy thực tiễn xã hội - chính trị làm thước đo hiệu quả nhất đối với tư tưởng một khi nó
đã xâm nhập vào môi trường đó
Bên cạnh đó, chủ nghĩa tự do nói chung có điểm hợp lý không thể chối bỏ
được, đó là sự đánh giá cao vai trò của cá nhân Một xã hội muốn phát triển thịnh
vượng trước hết phải phát huy tính độc lập, sáng tạo của mọi cá nhân Muốn làm được như vậy phải có một môi trường xã hội tự do, thông thoáng Chính A.Einstein cũng nhận xét, có thể dễ dàng nhận thấy rằng tất cả những tài sản vật chất, tinh thần và đạo đức quý giá mà chúng ta nhận được từ xã hội nếu truy về quá khứ qua vô số thế hệ thì thấy rằng chúng đều xuất phát từ những cá nhân Và ông kết luận: Chỉ cá thể đơn lẻ có thể tư duy và qua đó, tạo ra những giá trị mới cho xã hội, thậm chí đề ra những quy phạm đạo đức mới để đời sống cộng đồng hướng theo A.Einstein cũng cho rằng, nền văn hóa Hy Lạp - Âu - Mỹ nói chung, đặc biệt
là cao trào Văn hóa Phục hưng ở Ý - chấm dứt “đêm trường Trung cổ” châu Âu - đã đặt nền tảng trên sự giải phóng cá nhân và sự tách biệt một cách tương đối giữa cá nhân với cộng đồng Do vậy theo ông, sự lành mạnh của một xã hội phụ thuộc vào