1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh thanh hóa hiện nay

106 346 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 549 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đề tài “Những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sởđảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay”, tôi xinbày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Ở TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

NGHỆ AN - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Ở TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60.31.02.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thế Định

NGHỆ AN - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Vinh đã tổ chức đào tạo Thạc

sĩ Khoa học Chính trị, chuyên ngành Chính trị học khóa 20 (2012 - 2014)

Tôi chân thành cảm ơn Thường trực, Ban Thường vụ Huyện ủy, Trungtâm bồi dưỡng chính trị huyện Triệu Sơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để bảnthân tham gia tốt khóa học

Thực hiện đề tài “Những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sởđảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay”, tôi xinbày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy cô giáo Khoa giáo dục Chính trị củaTrường Đại học Vinh, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên trong Đảng bộ khốicác cơ quan tỉnh Thanh Hóa và đặc biệt là sự giúp đỡ tận tâm, tận tình của thầygiáo - Tiến sĩ Đinh Thế Định, người đã hướng dẫn tôi thực hiện đề tài khoa họcnày

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn độngviên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Mặc dù rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài khoahọc này nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong nhậnđược sự góp ý của quý Thầy cô giáo, các anh chị và các bạn

Trân trọng cảm ơn!

Nghệ An, tháng 10 năm 2014

Tác giả

LÊ THỊ SEN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

A MỞ ĐẦU ……… 07

B NỘI DUNG ……… 15 Chương 1 Tổ chức cơ sở đảng và những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ……… 15

1.1 Tổ chức cơ sở đảng và sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộkhối các cơ quan tỉnh ……… 151.1.1 Khái niệm về tổ chức cơ sở đảng ……….151.1.2 Khái niệm về Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ……… 161.1.3 Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng ……… 171.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng …… 201.2.1 Khái niệm về nhân tố và phân loại các nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạocủa tổ chức cơ sở đảng ……… 201.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trongĐảng bộ khối các cơ quan tỉnh ……… 23Kết luận Chương 1……… 38

Chương 2 Thực trạng tổ chức cơ sở đảng và những nhân tố ảnh hưởng đến

sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay……… 39

2.1 Tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóahiện nay ……… 392.1.1 Tỉnh Thanh Hóa và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa ……… 392.1.2 Khái quát tình hình tổ chức và hoạt động của tổ chức cơ sở đảng trongĐảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay ……… 432.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trongĐảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay ……… 602.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng tích cực đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sởđảng

Trang 5

trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay ……… 602.2.2 Những nhân tố hạn chế vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trongĐảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay ……… 642.2.3 Những nhân tố mới xuất hiện trong quá trình lãnh đạo của tổ chức cơ sởđảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay ……….66Kết luận Chương 2 ……… 71

Chương 3 Quan điểm và giải pháp phát huy những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnhThanh Hóa hiện nay ……… 72

3.1 Quan điểm về sự phát huy những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức

cơ sở đảng hiện nay ………723.1.1 Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là cầu nối giữa Đảng với dân,

có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng ……… 723.1.2 Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào dân

để xây dựng Đảng ……… 713.1.3 Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức

chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ……… 733.2 Giải pháp phát huy những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sởđảng trong Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay ………753.2.1 Nhận thức đúng về vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị của tổ chức cơ sởđảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở Thanh Hóa ……… 763.2.2 Tiếp tục kiện toàn hệ thống cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, đảng viên trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa ……… 793.2.3 Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộkhối các cơ quan tỉnh ở Thanh Hóa ………833.2.4 Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ của tổ chức cơ sở đảngtrong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa ………863.2.5 Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn

Trang 6

và đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng

bộ khối các cơ quan tỉnh ở Thanh Hóa ……… 89

3.2.6 Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng trong các tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở Thanh Hóa ……….93

Kết luận Chương 3 ……….98

C KẾT LUẬN ……… 99

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….101

Trang 7

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồngthời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểutrung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dântộc Mục đích là xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàumạnh, xã hội công bằng, văn minh, nhân dân ta được ấm no, hạnh phúc và cónhững đóng góp vào công cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì những mục tiêutiến bộ

Với tinh thần đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã vậndụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàothực tiễn cách mạng nước ta, hơn 80 năm qua Đảng Cộng sản Việt Nam luôngiữ vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị, tiến hành cách mạng Tháng Tám thànhcông lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thựcdân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắcnền độc lập của Tổ quốc Đảng ta đã trở thành một Đảng cầm quyền, Đảng lãnhđạo Nhà nước và toàn xã hội trong phạm vi cả nước, năng lực và phương thứclãnh đạo của Đảng đã có những chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêucầu đổi mới

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn chăm lo xây dựng và phát huy vaitrò của hệ thống tổ chức cơ sở đảng, coi đó là cầu nối giữa Dân với Đảng, là nơi

đề xuất, cũng là nơi trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối củaĐảng, Pháp luật của Nhà nước, tổ chức cơ sở đảng đã có những đóng góp quantrọng trong phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, củng cố quốc phòng - anninh, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Nhiều

Trang 9

nhân tố mới tích cực đã xuất hiện, nhất là ở cơ sở, tác động tích cực đến sự lãnhđạo của Đảng và tổ chức cơ sở đảng

Tuy nhiên, do tính chất đa dạng của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, vaitrò chức năng nhiệm vụ của nó cũng khác nhau, nhưng thực tế nhận thức chưa

có sự phân biệt, nên có nơi Đảng bao biện làm thay, có nơi Đảng và Chínhquyền chồng chéo, làm cho một số cơ sở đảng trở nên yếu kém, đánh mất vai tròhạt nhân lãnh đạo, buông lỏng quản lý, chưa tạo sự chuyển biến cơ bản để ngănchặn và đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí Tình trạng suy thoái về tưtưởng chính trị, đạo đức lối sống, cục bộ, bản vị vẫn còn diễn ra nghiêm trọngtrong một bộ phận cán bộ, đảng viên Nhiều tổ chức cơ sở đảng và đảng viênsinh hoạt còn lỏng lẻo, ý thức tự phê bình và phê bình chưa cao v.v , tạo nên sựbất bình trong quần chúng nhân dân, làm giảm sút uy tín của Đảng và hạn chế sựphát triển của Đất nước Trong khi đó tình hình thế giới và trong nước lại cónhững diễn biến phức tạp và khó lường, các thế lực thù địch tăng cường ráo riếtthực hiện chiến lược âm mưu “Diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnhđạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

Trước tình hình đó, để tiếp tục thực hiện thắng lợi sự nghiệp đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao vai trò lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam thì vấn đề quan trọng đối với cách mạng Việt Nam là phảitiếp tục phát huy những nhân tố nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ

sở đảng Đây chính là nền tảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là tiếng nói trựctiếp gắn với việc phát huy sức mạnh toàn dân tộc

Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa, đơn vị cấu thành của hệthống 4 cấp của tổ chức cơ sở đảng, trực thuộc và dặt dưới sự lãnh đạo trực tiếpcủa Tỉnh ủy Thanh Hóa Điểm khác với cấp ủy đảng cùng cấp như các huyện,thị, thành phố là không có chính quyền cùng cấp, các ban tham mưu chuyêntrách giúp việc gọn nhẹ, gồm có văn phòng, ban tổ chức, ban tuyên giáo và ủyban kiểm tra, không có ban dân vận Mỗi ban chỉ có ba đến bốn cán bộ và được

Trang 10

sử dụng một số cán bộ kiêm nhiệm Trong thời gian qua Đảng bộ khối các cơquan tỉnh ở Thanh Hóa đã lãnh đạo các tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khốithực hiện nhiệm vụ chính trị, chăm lo công tác xây dựng Đảng gắn với xây dựng

Cơ quan và các Đoàn thể trong sạch, vững mạnh, góp phần quan trọng trongviệc đưa tỉnh Thanh Hóa phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Song, nhìnlại và đánh giá thực chất phong trào, thì tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khốicác cơ quan tỉnh ở Thanh Hóa không tránh khỏi những hạn chế, chất lượng cònchưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới Nhận thức được những hạn chế và tầm

quan trọng của vấn đề này, chúng tôi chọn đề tài Những nhân tố bảo đảm sự

lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng nói chung và trong Đảng ủykhối các cơ quan tỉnh nói riêng là một chủ đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đốivới Đảng Cộng sản Việt Nam Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ đề này thường được đề cập nghiên cứu vàgiải quyết dưới nhiều góc độ: Chính trị học; sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền;hoặc dưới góc độ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng và phương thứclãnh đạo của Đảng; hoặc từ góc độ chuyên ngành an ninh quốc gia, trật tự antoàn xã hội…

Trong quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam, trải qua hơn 80năm xây dựng và trưởng thành, nhất là từ khi đổi mới đất nước đến nay, Đảng,Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết liên quanđến chủ đề này Trong đó, đặc biệt là các vấn đề: Xây dựng Đảng trong sạch,vững mạnh ngang tầm nhiệm vụ; nâng cao vao trò lãnh đạo, sức chiến đấu vànhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng; một số vấn đề cấp bách vềxây dựng đảng hiện nay…

Trang 11

Trong khoa học chính trị ở nước ta cho đến nay có một số đề tài, côngtrình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và nhiều bài viết về đổi mới, nâng cao chấtlượng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức sơ sở đảng

Một số đề tài khoa học tiêu biểu: “Phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước”, đề tài cấp bộ, cơ quan chủ trì, Học viện Hành Chính Quốc gia, Hà Nội

2001, Chủ nhiệm PGS Trần Đình Huỳnh; “Đảng cầm quyền trong thời đại ngày nay và những vấn đề rút ra cho công cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng ta”,

đề tài cấp bộ, Hà Nội 1993, Giáo sư Đậu Thế Biểu làm chủ nhiệm và PGS MaiTrung Hậu làm thư ký khoa học, cơ quan chủ trì là Viện nghiên cứu khoa học -

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; “Bảy mươi năm Đảng Cộng sản Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000; “Đổi mới tổ chức

và phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp Nhà nước”, đề tài cấp bộ, cơ quan chủ trì Phân viện báo chí và Tuyên truyền (nay là

Học viện Báo chí và Tuyên truyền), năm 2002, chủ nhiệm đề tài là PGS.TSDương Xuân Ngọc

Với cách luận chứng chặt chẽ và súc tích, các công trình nghiên cứu trên

đã tập trung trình bày một loạt vấn đề quan trọng liên quan đến vai trò lãnh đạocủa Đảng và những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, làmsáng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cáchmạng Việt Nam, trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong sự nghiệp đổimới, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập đến việc đổi mới phươngthức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổchức cơ sở đảng trong các lĩnh vực ở nông thôn, doanh nghiệp, trong các lực

lượng vũ trang, quân đội như: “Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn (cấp xã) vùng Đồng bằng Sông Hồng”, Luận án tiến sĩ của Đỗ Minh Ngọc, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;“Nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã vùng Đồng bằng Bắc bộ nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ

Trang 12

của Mai Đức Ngọc, chuyên ngành Chính trị học, mã số 05.01.10, năm 2002,

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; “Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ của

Nguyễn Văn Giang, chuyên ngành chính trị học, mã số 05.05.01, năm 2002, tạiHọc viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Một số sách, bài viết của các nhà nghiên cứu, các cán bộ lãnh đạo quản lý:

“Mấy vấn đề về xây dựng Đảng vững mạnh đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ mới”,

Vũ Oanh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999; “Đổi mới về phương thức lãnh đạo của Đảng”, Lê Đức Bình, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 9/2000; “Nâng cao sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân, Đảng - Dân một ý chí”, Lê Khả Phiêu, Tạp chí Cộng sản, số 4/2000; “Sự gắn bó máu thịt của Đảng và nhân dân, nguồn sức mạnh vô tận của Đảng”, TS Đào Duy Quát, Báo Nhân dân, 02/02/2000; “Tiêu chuẩn đảng viên

và những vấn đề bức thiết trong công tác đảng viên hiện nay”, PGS.TS Tô Huy Rứa, Hội thảo đề tài KX - 05, ngày 11/01/1999; “Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ then chốt, tạo bước chuyển biến cơ bản trong công tác xây dựng Đảng”, Nguyễn Đức Hạt, Tạp chí Xây dựng Đảng, 5/2006; “Vận dụng tư tưởng của Lênin về Đảng cầm quyền và cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta trong thời kỳ đổi mới”, PGS-TS Dương Xuân Ngọc, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6/2006; “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc đẩy mạnh công cuộc đổi mới sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”, Nông Đức Mạnh, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5/2006;

“Để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới”, Trương Thị Mỹ Trang, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 2 + 3/2007; “Biện pháp xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh”, Vũ Cao Hội, Tạp chí Kiểm tra, số 2/2007; “Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước”,

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999

Trang 13

Trong các công trình đó, các tác giả đã bàn đến vai trò, tầm quan trọngcủa công tác xây dựng Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của tổchức cơ sở đảng trong công cuộc đổi mới, nêu lên một số phương hướng, giảipháp nhằm nâng cao vao trò lãnh đạo, sức chiến đấu và bảo đảm sự lãnh đạo của

tổ chức cơ sở đảng trong Đảng nói chung và ở các Đảng bộ cơ sở nói riêng

Phần lớn các công trình nghiên cứu và các bài viết này đề cập đến vấn đềĐảng, là cơ sở lý thuyết và cách tiếp cận về xây dựng Đảng Cho đến nay cũng

đã có nhiều công trình đề cập vấn đề Đảng trên cơ sở lý thuyết của chính trị học.Nghiên cứu các nhân tố bảo đảm thực thi quyền lực - quyền lực chính trị, pháthuy vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị của một Đảng cầm quyền ở cơ sở, cũngnhư những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng nói chung Đây là những vấn

đề thuộc về đối tượng nghiên cứu của Chính trị học

Ở tỉnh Thanh Hóa, cấp ủy và chính quyền các cấp đã có những nghịquyết, chỉ thị, đề án, báo cáo đề cập đến các vấn đề này Tất cả nhằm hướng tớimục tiêu bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trongsạch, vững mạnh góp phần phát triển kinh tế - xã hội, từng bước xây dựngThanh Hóa thành tỉnh kiểu mẫu

Tuy nhiên, vấn đề Những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa còn mới cần được

quan tâm nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trongĐảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của tổ chức cơ sở đảng

và những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng hiện nay

Trang 14

- Phân tích rõ thực trạng, những nhân tố tích cực và tiêu cực ảnh hưởngđến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ởThanh Hóa hiện nay

- Xác định những nhân tố chủ yếu (thể hiện ở một số giải pháp) nhằm bảođảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ởThanh Hóa hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở ý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, các chủ trương, đường lối về xây dựngĐảng, đặc biệt là về tổ chức, hoạt động và những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạocủa tổ chức cơ sở đảng Khảo sát thực tiễn của các đảng bộ, chi bộ thuộc Đảng

bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa cũng như báo cáo của Đảng bộ vềcông tác xây dựng Đảng của đảng bộ thời gian gần đây

- Tham khảo, kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học cóliên quan đến đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; sử dụngcác phương pháp chuyên ngành, liên ngành khác nhau như các phương pháp lịch

sử - lôgic, điều tra, khảo sát, phân tích, tổng hợp, thống kê, kết hợp nghiên cứu

lý luận và tổng kết thực tiễn…

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ

sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay, đánhgiá thực trạng tổ chức cơ sở đảng trong các cơ quan, đơn vị hành chính, sựnghiệp thuộc Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở Thanh Hóa (có thể có những liên

Trang 15

hệ, chứng minh, so sánh sự cần thiết với các cơ quan khác, địa phương khác,nước khác)

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vị nghiên cứu là các tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơquan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa trong thời kỳ đổi mới hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề có tính lý luận về tổ chứcđảng trong đó có tổ chức cơ sở đảng hiện nay từ góc độ Chính trị học

- Luận văn đã đánh giá thực trạng và đưa ra một số vấn đề cần thiết từthực tế đặt ra trong việc phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị, tăng cườngsức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảotrong việc nghiên cứu về các Đảng chính trị, trong các bộ môn Chính trị học vàxây dựng Đảng, trong xây dựng chỉnh đốn Đảng ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng và

ở nước ta hiện nay nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung,kết cấu gồm có 3 chương, 6 tiết

Trang 16

B NỘI DUNG Chương 1

TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

ĐẾN SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

TRONG ĐẢNG BỘ KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH

1.1 Tổ chức cơ sở đảng và sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh

1.1.1 Khái niệm về tổ chức cơ sở đảng

Khái niệm tổ chức cơ sở đảng lần đầu tiên được ra đời tại Đại hội IIIĐảng Công nhân Dân chủ - xã hội Nga (25/4/1905) Đại hội xác định “Mỗi tổchức Đảng cho tới chi bộ công nhân cơ sở của Đảng phải được xác định thànhphần và nhất định phải ổn định những mối liên hệ đều đặn với Trung ương” Sau

đó trong bài “Tiến tới thống nhất” V.I.Lênin chỉ rõ “Những điều kiện kháchquan đòi hỏi rằng những chi bộ công nhân phải làm cơ sở của Đảng”

Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, trong quá trình lãnhđạo cách mạng đã nhấn mạnh: Đảng ta có một tổ chức chặt chẻ, thống nhất từTrung ương đến cơ sở, có mối liên hệ mật thiết với quần chúng, vì vậy phảiđược thành lập, được tổ chức tại các đơn vị cơ sở Người nói: “Ở mỗi xưởngmáy, hầm mỏ, xí nghiệp, cơ quan, trường học, đường phố, nông thôn, đại đội -

có 3 đảng viên trở lên thì lập một chi bộ” [34; 242]

Với tinh thần đó, khái niệm tổ chức cơ sở đảng được ghi rõ trong Điều lệĐảng Cộng sản Việt Nam và qua các kỳ đại hội có sự điều chỉnh và từng bướchoàn chỉnh về nội dung và ý nghĩa của nó Tại Điều 21 Điều lệ Đảng Cộng sảnViệt Nam được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI ghi rõ:

1 Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng,

là hạt nhân chính trị ở cơ sở

Trang 17

2 Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức

cơ sở đảng (trực thuộc cấp ủy cấp huyện) Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã,đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảngviên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trựcthuộc đảng ủy cơ sở); cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc tổ chứcđảng đó trực thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp; nếu chưa đủ ba đảng viênchính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức

cơ sở đảng thích hợp

3 Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có các tổchức đảng trực thuộc

4 Tổ chức cơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ sở,

có các chi bộ trực thuộc đảng ủy

5 Những trường hợp sau đây, cấp ủy cấp dưới phải báo cáo và được cấp

ủy cấp trên trực tiếp đồng ý mới được thực hiện:

- Lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ ba mươi đảng viên

- Lập chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở có hơn ba mươi đảng viên

- Lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng ủy cơ sở [17; 35, 36, 37]

Như vậy, tổ chức cơ sở đảng gồm chi bộ cơ sở hoặc đảng bộ cơ sở, việclựa chọn mô hình tổ chức nào (chi bộ cơ sở hoặc đảng bộ cơ sở) phụ thuộc vào

số lượng đảng viên chính thức và phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp quyết định

Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, do yêu cầu của việc pháttriển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chính sách đối ngoại

mở rộng của Đảng, nên ngoài các loại hình tổ chức cơ sở đảng được tổ chức, cácđơn vị cơ sở hành chính (xã, phường, thị trấn), các đơn vị sự nghiệp, cơ quan,doanh nghiệp nhà nước, đơn vị cơ sở trong công an, quân đội v.v còn xuất hiệnloại hình tổ chức cơ sở đảng ở các đơn vị doanh nghiệp tư nhân, các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

1.1.2 Khái niệm về Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh

Trang 18

Đảng uỷ khối cơ quan các cơ quan tỉnh là cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cácĐảng bộ, chi bộ (trực thuộc), đặt dưới sự lãnh đạo của BCH Đảng bộ tỉnh màtrực tiếp, thường xuyên là BTV Tỉnh uỷ; có chức năng lãnh đạo cán bộ, đảngviên và người lao động trong cơ quan, đơn vị thực hiện chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ được giao; chăm lođời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, công chức và người lao động; thực hiệncông tác xây dựng Đảng bộ, chi bộ, xây dựng cơ quan, đơn vị và các đoàn thểtrong sạch, vững mạnh

Đảng bộ, chi bộ cơ sở cơ quan là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiệnđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tham gialãnh đạo xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ công táccủa cơ quan; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, công chức vàngười lao động; xây dựng đảng bộ, chi bộ và cơ quan vững mạnh

1.1.3 Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng

1.1.3.1 Vị trí, vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

Trong quá trình thực thi quyền lãnh đạo, tổ chức cơ sở đảng có một vị trí,vai trò hết sức quan trọng, tác động đến quá trình phát triển một cách toàn diệntrên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng, C.Mác và Ph.Ăngghen lànhững người đầu tiên chỉ ra vị trí, vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở đảng, haiÔng cho rằng các chi bộ buông lỏng về mặt tổ chức, sẽ làm cho Đảng “mất chỗdựa vững chắc và duy nhất v.v [33; 167] C.Mác và Ph.Ăngghen luôn luôn coitrọng việc củng cố các chi bộ, làm cho chi bộ thành trung tâm và hạt nhân củacác hiệp hội công nhân Phát triển tư tưởng đó V.I.Lênin trong quá trình xâydựng và lãnh đạo Đảng Bônsêvích Nga - Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân,

đã xây dựng và kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, làm nơi rèn luyện, phân công côngtác, quản lý, sàng lọc đảng viên, biến mỗi chi bộ thành trung tâm hạt nhân củacác hiệp hội công nhân, là điểm tựa để tiến hành công tác tuyên truyền, cổ động

Trang 19

và tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối lãnh đạo của Đảng trong quầnchúng.

Trên tinh thần đó, Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng ViệtNam đã đặc biệt quan tâm chăm lo đến việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng, theoquan điểm mỗi chi bộ của Đảng là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở,đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lựclượng vĩ đại của quần chúng Hồ Chí Minh chỉ rõ “Chi bộ là gốc rễ của Đảng”

và “Chi bộ là đồn lũy của Đảng chiến đấu ở trong quần chúng” [34; 242], giốngnhư một cây không thể thiếu gốc rễ, một ngôi nhà không thể thiếu nền tảng, điều

đó đủ nói lên vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng của mỗi chi bộ với tư cách là tổchức cơ sở đảng “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh” [35; 270] và “các chi bộmạnh tức là Đảng mạnh” [34; 242]

Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với mọi mặt của đời sống xã hội,các tổ chức cơ sở đảng là những hạt nhân chính trị, là nền tảng của Đảng ở cơ

sở, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Mỗi chi bộ ta phải là một hạt nhân vững chắc,lãnh đạo đồng bào thi đua yêu nước, cần kiệm xây dựng nước nhà” [35; 205].Tác dụng của chi bộ là cực kỳ quan trọng, vì nó là sợi dây chuyền để liên hệĐảng với quần chúng

Kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo các quan điểm lý luận của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạngViệt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn luôn chăm lo xây dựng tổ chức cơ

sở đảng Hệ thống tổ chức của Đảng được kết cấu song trùng với hệ thống hànhchính Nhà nước theo bốn cấp: Trung ương; Tỉnh (thành phố); Huyện (quận); Xã(phường, thị trấn)

Tổ chức cơ sở đảng là cấp cuối cùng trong hệ thống tổ chức bốn cấp củaĐảng, là nền tảng và hạt nhân chính trị ở cơ sở Xét trong hệ thống tổ chức củaĐảng thì tổ chức cơ sở chính là “nền tảng”, là “gốc rễ” của Đảng

Trang 20

Tổ chức cơ sở đảng vừa là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương,chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đồng thời cũng là nơi góp phầnphát triển và hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Là mộtthành viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở, tổ chức cơ sở đảng có vị trí, vai tròđoàn kết, lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở.

Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó, liên hệ mật thiết với nhân dân Trongmối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, vai trò của tổ chức cơ sở đảng là những

“sợi dây chuyền” nối liền Đảng với Dân

1.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng

Tổ chức cơ sở đảng nói chung có hai chức năng quan trọng:

Một là, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và

pháp luật của Nhà nước ở cơ sở

Hai là, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, phát triển sản

xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả công tác của cơ sở; chăm lo cải thiện đờisống vật chất, tinh thần của nhân dân; động viên quần chúng hoàn thành đầy đủnghĩa vụ của cơ sở, đơn vị đối với Nhà nước

Từ chức năng nói trên, Điều 23, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, đượcthông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, quy định năm nhiệm vụcủa tổ chức cơ sở đảng như sau:

1 Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề

ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện cóhiệu quả

2 Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng

và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượngsinh hoạt Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cườngđoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lýcán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình

độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên

Trang 21

3 Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sựnghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch,vữngmạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

4 Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần vàbảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng vàthực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

5 Kiểm tra giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị củaĐảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra giámsát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng

Đảng ủy cơ sở nếu được cấp trên trực tiếp ủy quyền thì được quyết địnhkết nạp và khai trừ đảng viên [17; 39, 40, 41]

Với chức năng, nhiệm vụ được quy định trong Điều lệ Đảng, trong thờigian qua tổ chức cơ sở đảng đã cơ bản phát huy bản chất vai trò là hạt nhân lãnhđạo chính trị, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác tổ chức cán

bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở,phát triển Đảng và tăng cường công tác kiểm tra Đa số cán bộ, đảng viên pháthuy vai trò tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo, giữ gìn phẩm chất đạođức, góp phần quan trọng thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, tạo ra những chuyểnbiến mạnh mẽ trong quá trình phát triển đất nước

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

1.2.1 Khái niệm về nhân tố và phân loại các nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

Khái niệm nhân tố, nhân tố hay yếu tố là những điều kiện, những cơ sở,

những tiền đề cần thiết để gây ra, tạo ra cái gì đó Đồng thời trong kết cấu (cấutrúc) của một sự vật hay hiện tượng nhất định, bao gồm nhiều nhân tố hay yếu tốcấu thành Trong quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng cũngnhư hoạt động của con người v.v , hiện diện một loạt các nhân tố hay yếu tố nối

Trang 22

tiếp nhau Các nhân tố, yếu tố là hết sức phong phú, để nhận biết các nhân tố,yếu tố cần có một hệ thống các tiêu chí để phân biệt Nói cách khác để có thểnhận biết các nhân tố, yếu tố thì cần các phương pháp tiếp cận khác nhau Giữanhân tố hay yếu tố cũng có sự chuyển hóa lẫn nhau, sự phân biệt các nhân tố,yếu tố chỉ có ý nghĩa tương đối Các nhân tố, các yếu tố không chỉ khác nhau vềtính chất do cách tiếp cận khác nhau mà còn khác nhau về cấp độ, trình độ.Nghiên cứu nhân tố có thể được xem là một hướng hay, một phương phápnghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có chính trị học.

Phân loại các loại nhân tố

Dưới góc độ triết học - góc độ nhận thức luận, người ta có thể nhận thấynhững loại nhân tố chủ yếu sau đây:

- Nhân tố khách quan, là những điều kiện không phụ thuộc vào con người

và quyết định phương hướng, quy mô hoạt động của họ Có thể nhận thấy một

số nhân tố khách quan tiêu biểu như: những biểu hiện của tự nhiên, những trình

độ phát triển của sản xuất, của xã hội, những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội,v.v

- Nhân tố chủ quan, là hoạt động của quần chúng của các giai cấp, các

đảng phái, nhà nước hay những con người cá biệt với ý thức, ý chí và khả nănghoạt động của họ v.v Có thể thấy một số nhân tố chủ quan tiêu biểu, biểu hiệnnhư hoạt động của quần chúng, các giai cấp, đảng phái, nhà nước, những conngười cá biệt với ý thức, ý chí, khả năng của họ v.v

Trong đời sống xã hội những nhân tố khách quan bao giờ cũng là nhữngnhân tố quyết định, nhưng tác động của chúng chỉ thể hiện thông qua sự tácđộng của các nhân tố chủ quan của con người Những nhân tố chủ quan chỉ cóthể đóng vai trò quyết định chỉ khi nào những điều kiện khách quan đã đượcchuẩn bị cho chúng Sự tác động của các nhân tố chủ quan đến sự phát triển của

xã hội tăng lên cùng với sự quá độ từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang mộthình thái kinh tế - xã hội khác, tiến bộ hơn Vai trò của những nhân tố chủ quan

Trang 23

tăng lên mạnh mẽ đặc biệt trong xã hội xã hội chủ nghĩa, khi lần đầu tiên tronglịch sử loài người có khả năng phát triển sáng tạo và hài hòa tất cả các lĩnh vựccủa đời sống xã hội, khi đông đảo quần chúng nhân dân được thu hút tham giamột cách tự giác vào công cuộc xây dựng xã hội mới.

- Nhân tố bên ngoài, là sự phản ánh phía mặt ngoài của sự vật, hiện tượng,

mà cảm giác của con người thu nhận được hoặc phản ánh hiện thực tồn tại bênngoài sự vật, hiện tượng

- Nhân tố bên trong, là phạm trù chỉ cái bên trong, phản ánh mặt thực chất

của sự vật, hiện tượng Cái bên trong không được tiếp thu một cách trực tiếp, mànhận thức thông qua cái bên ngoài, thông qua những biểu hiện của sự vật, hiệntượng Những mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng được quy định bởi cái bêntrong, bởi quy luật, bởi bản chất và thông qua những cái đó mà người ta pháthiện và nhận thức được chúng Việc xem xét bản chất bên trong của sự vật đưađến những hiểu biết về những mâu thuẩn bên trong của sự vật, về nguồn gốcphát triển và những quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

Ngoài ra, ở góc độ nhận thức luận, người ta còn phân biệt nhiều loại nhân

tố, yếu tố khác nhau nữa Các nhân tố này thường biểu hiện ra như là những mặtđối lập nhưng lại thống nhất trong một sự vật, hiện tượng như: Nhân tố vật chất,nhân tố tinh thần, nhân tố cơ bản và nhân tố không cơ bản, nhân tố chủ yếu vànhân tố thứ yếu, nhân tố chi phối - quyết định và nhân tố tác động - ảnh hưởng.Nhân tố ở góc độ xã hội học hay là tiếp nhận các nhân tố, các yếu tố từ đời sống

xã hội, từ góc độ của một hình thái kinh tế - xã hội, người ta lại thấy các nhân tố,yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội

Ở góc độ chính trị học, tiếp cận của đề tài, nhân tố, yếu tố của đời sốngchính trị, nhà nước v.v , người ta lại thấy các nhân tố về tư tưởng, về thể chế, vềphương thức hoạt động, về con người chính trị, trong đó có cán bộ chính trị Nghiên cứu các nhân tố, yếu tố về tổ chức chính trị trong đó hoạt độngchính trị của Đảng chính trị là nghiên cứu về những bộ phận cấu thành, những

Trang 24

tiền đề cần thiết lãnh đạo của Đảng đối với xã hội Việc làm sáng tỏ các nhân tố

là rất có ý nghĩa quá trình nghiên cứu của các khoa học trong đó có chính trịhọc

1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh

1.2.2.1 Nhân tố về lịch sử - xã hội

Trong lịch sử phát triển của mình, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi giaicấp, tầng lớp xã hội đều chịu ảnh hưởng chi phối của các nhân tố tự nhiên, kinh

tế - xã hội và lịch sử Các nhân tố lịch sử - xã hội này ảnh hưởng ở những mức

độ khác nhau đến hoạt động chính trị, một lĩnh vực hoạt động chính trị quantrọng của con người trong xã hội có giai cấp, có chính trị và Nhà nước

Dân tộc Việt Nam từ Văn Lang, Âu Lạc cho đến Đại Việt rồi Việt Nam,

đã trải qua mấy nghìn năm lịch sử lâu dài có thể sánh vai cùng các quốc gia, dântộc hình thành sớm trên thế giới Trong lịch sử ấy, dẫu thuở một nghìn năm Bắcthuộc đất nước vẫn chói sáng với những cuộc khởi nghĩa vũ trang, những anhhùng dân tộc, những tinh thần quật cường và quật khởi, ý chí độc lập dân tộc.Lịch sử dân tộc lại càng rạng danh hơn từ khi có Đảng ra đời, tên tuổi Việt Namkhông chỉ được khôi phục mà ngày càng thêm rạng rỡ trước toàn thế giới Dântộc Việt Nam ngẩng cao đầu đi lên

Có được trang sử vẻ vang mấy ngàn năm lịch sử đó chính là nhờ dân tộcViệt Nam có tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết dân tộc vững chắc

và truyền thống đánh giặc giữ nước anh hùng bất khuất Những nhân tố quantrọng này được thấm nhuần, ngấm sâu đối với mỗi con người Việt Nam trongsuốt cả chiều dài lịch sử Nhìn lại lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước củadân tộc Việt Nam; đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,chúng ta càng khẳng định vai trò to lớn của giá trị truyền thống lịch sử - xã hội,cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản việt Nam

Trang 25

Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế, Việt Nam vẫn là một quốc gia có lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và địavăn hoá, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và khó khăn thách thức lớn đan xennhau, thì việc phát huy và nhân lên sức mạnh lịch sử - xã hội, kế thừa có chọnlọc và phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng trong sự nghiệp đổimới là vấn đề cần kíp, được quan tâm lãnh đạo của Đảng ta, bởi lẽ đây là nhữngnhân tố để vun đắp và xây dựng nên của bao thế hệ cha ông, chính vì thế mà họnâng niu, quý trọng Các giá trị truyền thống trong Đảng càng có ảnh hưởng trựctiếp đến mỗi cá nhân, đảng viên trong các tổ chức cơ sở đảng ở Đảng bộ khốicác cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh hoá và tăng thêm vai trò lãnh đạo của Đảng ởtừng tổ chức cơ sở đảng cũng như khả năng, năng lực lãnh đạo của đảng viêntrong các chi bộ Tuy nhiên, cũng phải chú trọng khắc phục những mặt trái củanhân tố lịch sử - xã hội như tính chất họ hàng, dòng tộc, cục bộ địa phương, giatrưởng độc đoán, thói quen tập quán cũ đã ăn sâu bén rễ trong mỗi cán bộ, đảngviên, đây chính là những nhân tố gây cản trở sự phát triển của lịch sử và làmgiảm uy tín của Đảng đối với nhân dân

1.2.2.2 Nhân tố về tổ chức, cán bộ và hoạt động của tổ chức cơ sở đảng

Công tác tổ chức, cán bộ là một trong những nhân tố quan trọng, bảo đảm

sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

Thuật ngữ “tổ chức” (organization) bắt nguồn từ chữ Hy Lạp (organon),

có nghĩa là công cụ, dụng cụ, khái niệm công cụ ở đây chỉ chức năng của cácloại hình tổ chức; tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức đoàn thể v.v Trênthực tế cho đến nay tuỳ góc độ nhận thức khác nhau mà người ta đưa ra nhữngđịnh nghĩa khác nhau Ở phương diện chung nhất có thể nhận thấy rằng tổ chứcluôn phản ánh hình ảnh của xã hội, là sợi dây liên kết, gắn bó con người, cácthành viên lại với nhau, thành các nhóm, các bộ phận xã hội tồn tại và hoạt độngtrên cơ sở mục tiêu chung, có sự quy định của pháp luật Vì thế, khái niệm tổchức được hiểu như sau: Tổ chức là một nhóm xã hội (một tập thể) bao gồm

Trang 26

những cá nhân được tập hợp theo sự phân công lao động thống nhất về mục đích

và hành động chặt chẽ, trên cơ sở pháp quy quy định

Cán bộ là một danh xưng, xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta mấychục năm gần đây, để chỉ một lớp người là những chiến sĩ cách mạng, lớp ngườimới, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sựnghiệp cao cả, giành độc lập, tự do cho dân Trong Từ điển tiếng Việt cán bộđược định nghĩa là: “Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quanNhà nước, Đảng, Đoàn thể, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan,một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” [42; 105]

Công tác tổ chức, cán bộ là công tác đối với con người, đối với các nhâncách khác nhau Đây là nhân tố tác động, rất quan trọng, bảo đảm vai trò lãnhđạo của Đảng nói chung cũng như tổ chức cơ sở đảng nói riêng Tuy nhiên, đâycũng là công việc hết sức khó khăn, đòi hỏi phải có tính khoa học và nghệ thuậtcao

Xét quan điểm tích cực về thủ lĩnh chính trị trong lịch sử phương Tâynhư: Xê-nô-phôn, Pla-ton, Ôgruxtanh, Môngtetxkiơ v.v thì thủ lĩnh chính trịphải là người thông thái, người biết chỉ huy, là người giỏi thuyết phục, biết vì lợiích chung, biết tập hợp mà nhân lên sức mạnh của mọi người, biết đưa ra nhữngquyết định đúng ở những thời điểm bước ngoặt, phải đặt uy quyền vào việc phục

vụ nhân dân, lấy công bằng làm gốc, từ thiện làm ngọn, cầm quyền làm gánhnặng, địa vị cao nhất, cũng là nguy hiểm và nặng nề nhất Họ phải biết chỉ huymình trước khi chỉ huy người khác, phải biết phân biệt lợi ích của quốc gia vớinhững đòi hỏi sai lạc của nhân dân, có đủ năng lực, có tài, có đức tham gia vào

bộ máy quyền lực Nhà nước

Xét những quan điểm tích cực về Thủ lĩnh chính trị trong lịch sử tư tưởngchính trị phương Đông, chúng ta thấy điểm chung là đi tìm mẫu hình lý tưởng.Khổng Tử cho rằng người cai trị dân phải có đức độ, công bằng, độ lượng, vìnhân hậu nên được lòng dân, thành thực nên trăm họ tín nhiệm, cần mẫn nên

Trang 27

thành công, công bằng nên mọi người vui vẻ Thủ lĩnh phải tu dưỡng, phấn đấukhông ngừng để trở thành người có đủ: Trí, Nhân, Trung, Nghĩa, Tín để hoàntoàn xứng đáng là người cai trị dân, có trách nhiệm làm gương cho dân, chăm locho dân, bảo vệ dân và phải giáo hoá dân, tạo niềm tin cho dân; Mạnh Tử cũngcho rằng kẻ cai trị phải có đức, có tài; Hàn Phi Tử lại đề ra tiêu chuẩn thủ lĩnhchính trị là phải biết đề cao pháp luật Hiểu đạo và cai trị theo đạo; Mặc Tử cũngcho rằng thủ lĩnh phải là người: Vui với lợi ích của thiên hạ, trừ họa cho thiên

hạ, phép tắc kỷ cương, đối xử tốt đẹp với mọi người xung quanh

Như vậy, xét về mặt lịch sử, từ phương Tây đến phương Đông, tiêu chíbao quát nhất đối với thủ lĩnh chính trị là đạo đức, trí tuệ và sức khoẻ, biết thuphục nhân tâm, biết tổ chức và phát huy sức mạnh cộng đồng, nếu loại trừnhững hạn chế, thì những tư tưởng đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị

V.I.Lênin ngay từ đầu thành lập Nhà nước Xô Viết đã rất coi trọng côngtác tổ chức, theo Ông lĩnh vực trọng yếu nhất của cuộc cách mạng xã hội chủnghĩa, tức là nhiệm vụ tổ chức và khi đường lối, chính sách đã được xác định,phương hướng đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lênhàng đầu và “điều chủ yếu là chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh vàmệnh lệnh (đấy là chúng ta u mê đến ngu xuẩn) sang việc lựa chọn và kiểm tra

sự thực hiện Đó là vấn đề then chốt” [30; 450]

Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam trong quá trìnhlãnh đạo cách mạng Việt Nam đã xác định vị trí, vai trò của công tác tổ chức vàcán bộ, Người khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [34; 269],

“muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” [34; 240]

Phát triển tư tưởng đó, Đảng ta luôn coi trọng công tác tổ chức cán bộ vàxem đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng nước ta,Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI Đảng ta nhấn mạnh: Đổi mới cán

bộ lãnh đạo các cấp, là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc đểthúc đẩy các cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng Tại Đại hội Đảng toàn quốc

Trang 28

lần thứ X, Đảng ta tiếp tục xác định “Đổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cánbộ” và “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, xâydựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng Chú ý đào tạo cán bộ nữ, cán

bộ dân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân từ công nhân, chuyên gia trên các lĩnhvực”, “Có cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọngdụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài; thay thế kịp thời những ngườikém năng lực và kém phẩm chất, có khuyết điểm nghiêm trọng” [15; 135, 136,137]

Tổ chức và cán bộ có sự khác nhau về chức năng nhiệm vụ, nhưng lại cómối quan hệ chặt chẽ và sự tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau trongquá trình tồn tại và phát triển Đối với tổ chức cơ sở đảng, công tác tổ chức vàcán bộ là nhân tố quan trọng nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sởđảng, nếu tổ chức tốt và có đội ngũ cán bộ tốt thì tổ chức đảng mạnh, nếu mộttrong hai yếu tố đó yếu hoặc cả hai đều yếu thì sẽ gây ảnh hưởng đến vai tròlãnh đạo của tổ chức đảng, làm cho tổ chức cơ sở đảng đó suy yếu dần, đồngthời có nguy cơ đánh mất vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị Chính vì thế màtrong công tác lãnh đạo của Đảng có một nội dung rất quan trọng đó là: Đảnglãnh đạo toàn diện công tác tổ chức, cán bộ và lãnh đạo toàn thể hệ thống chínhtrị thông qua công tác tổ chức và cán bộ

1.2.2 3 Nhân tố nhận thức về Đảng và xây dựng tổ chức cơ sở đảng

Nhận thức mới về Đảng và đổi mới nhận thức trong xây dựng chỉnh đốnĐảng là nhân tố trọng tâm nhằm bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Nhận thức

là điểm khởi đầu quan trọng, nhận thức đúng mới đổi mới đúng, nhận thức mới

về Đảng là căn cứ đổi mới, chỉnh đốn Đảng, vấn đề trung tâm của sự nghiệp đổimới của nước ta Từ bài học thành công và thất bại của các Đảng Cộng sản trênthế giới, trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng

ta đã có quan điểm, nhận thức đúng về Đảng, về vai trò lãnh đạo của Đảng và

Trang 29

đưa ra một hệ thống quan điểm ngày càng hoàn chỉnh về Đảng và công tác xâydựng Đảng.

Khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạngcủa dân tộc Để đảm đương được vai trò lãnh đạo trong thời kỳ mới, Đảng phảithường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đổi mới và chỉnh đốn là yêu cầu kháchquan, gắn chặt với nhau, không thể chỉnh đốn nếu không đổi mới, không thể đổimới mà không chỉnh đốn Đổi mới không phải làm cho Đảng biến màu, biếnchất mà làm cho Đảng càng vững vàng bản chất, tăng cường sức chiến đấu củaĐảng, đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới

Nhận thức mới về Đảng ta còn thể hiện ở sự khẳng định lấy chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hànhđộng của cách mạng Việt Nam Đảng ta kiên trì và làm phong phú thêm chủnghĩa Mác - Lênin qua thực tiễn cách mạng Việt Nam, biểu hiện rõ trong đườnglối đổi mới, không khô cứng, giáo điều mà là một hệ thống tư tưởng sống động,

có khả năng kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinhhoa văn hoá nhân loại, bổ sung giữa lý luận và thực tiễn Không từ bỏ chủ nghĩaMác - Lênin, nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng ta nhận thức đầy đủ hơn, pháttriển nhân tố ảnh hưởng tích cực thực hiện nền dân chủ hoá một cách rộng rãi;xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Đảng có quyềnlực chính trị, nhưng không để trở thành quan quyền, đây là nhận thức mới nhất,sâu sắc nhất của Đảng ta v.v

Điều nổi bật trong nhận thức mới của Đảng ta là nhận thức hoàn thiện vềmối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, coi đây là nhân tố quan trọng nhằm pháthuy vai trò lãnh đạo của Đảng Ngay từ đầu mới thành lập đã được nhân dân ủng

hộ, yêu thương, đùm bọc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để

xây dựng Đảng Trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, đã biết dựa vàosức mạnh của nhân dân, phát huy tính tích cực của quần chúng nhân dân, giữmối quan hệ chặt chẽ với dân như cá với nước Trong lúc khó khăn nhất, Đảng

Trang 30

ta lại nhờ nhân dân mà tồn tại và phát triển Đảng ta luôn coi dân là nhân tốquyết định tạo nên thắng lợi của cách mạng

“Dễ trăm lần không dân cũng chịu

Khó vạn lần dân liệu cũng xong”

Đảng ra đời từ dân, trở lại phục vụ nhân dân, đảng viên là những người ưu

tú trong nhân dân, trưởng thành từ phong trào của dân, gắn bó và phát huy sứcmạnh toàn dân tộc đó là bài học cách mạng quan trọng cũng là nhân tố bảo đảmcho sự lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằngmột khi Đảng xa dân, không được dân ủng hộ giúp đỡ thì sự nghiệp cách mạng

sẽ gặp khó khăn, vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ mất hiệu lực, thậm chí Đảng phảichịu nhiều tổn thất, sai lầm nghiêm trọng Để phát huy vai trò lãnh đạo củaĐảng, Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo thông qua cương lĩnh, chiếnlược, các định hướng chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyêntruyền thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫucủa đảng viên Đảng phải giới thiệu những đảng viên ưu tú có năng lực và phẩmchất tốt hoạt động trong cơ quan lãnh đạo chính quyền, đoàn thể Đảng khônglàm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị

Nhờ những nhân tố mới trong nhận thức và đổi mới xây dựng chỉnh đốnĐảng, thời gian qua vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khốicác cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hoá được củng cố, giữ vững Đảng bộ khối các cơquan tỉnh Thanh Hóa đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các đảng bộ, chi bộ cơ sởphát huy vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo cán bộ, đảng viên, công chức, viênchức và người lao động trong cơ quan, đơn vị Tổ chức cơ sở đảng trong các cơquan đã lãnh đạo cán bộ, công chức nâng cao chất lượng tham mưu triển khai,thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, xây dựng các chương trình phát triểnkinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tổ chức các phong trào thiđua Các tổ chức cơ sở đảng trong các đơn vị sự nghiệp, bệnh viện, trường học

đã tăng cường lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ được giao theo hướng nâng cao

Trang 31

chất lượng hoạt động, đẩy mạnh xã hội hoá và thực hiện chuẩn hoá Tổ chức cơ

sở đảng trong các doanh nghiệp đã lãnh đạo đơn vị phát huy tính năng độngsáng tạo, thực hiện nhiều biện pháp đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.Những kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của Đảng bộ khối các

cơ quan tỉnh đã góp phần quan trọng vào những thành tựu chung của tỉnh Thanhhóa, đó là; Kinh tế tăng trưởng khá, văn hóa, xã hội có chuyển biến tích cực,chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, an sinh xã hội được chăm

lo nhiều hơn, đời sống nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệthống chính trị đạt nhiều kết quả

1.2.2.4 Nhân tố về đường lối và phương thức lãnh đạo của Đảng

Điềm quan trọng nhất trong nhân tố phương thức lãnh đạo của Đảng đó làĐảng phải có đường lối chính trị đúng đắn Cách mạnh Tháng Tám năm 1945thành công và lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là do cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 đãkhẳng định được con đường cứu nước chân chính, gắn liền giải phóng dân tộcvới giải phóng giai cấp và xã hội, gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội Từ chiến lược đó, Đảng ta đã chú trọng xác định đường lối cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân, đường lối kháng chiến, đường lối chủ nghĩa xã hội,đường lối đổi mới với thành tựu 28 năm qua, đã tạo nên sự chuyển biến vượt bậctoàn diện trên tất cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh vàđối ngoại của Đảng ta Đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân cũngnhư đường lối kháng chiến, Đảng đã xác định rõ kẻ thù, mục tiêu của cáchmạng, sắp xếp và tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng, sử dụng đúng đắn vàphát triển sáng tạo phương pháp cách mạng để tạo nên sức mạnh tổng hợp,giành thắng lợi từng bước tiến tới thắng lợi hoàn toàn của quá trình đấu tranhcách mạng Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xãhội, Đảng ta đã xác định rõ mục tiêu, biện pháp thực hiện, những hình thức vàbước đi thích hợp Đường lối của Đảng đã khẳng định những vấn đề có tính

Trang 32

nguyên tắc về con đường và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, những vấn đềcần đổi mới trong nhận thức và hành động Đổi mới chủ yếu là trong giải pháp,hình thức và bước đi thích hợp để thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hộiđạt được hiệu quả cao, chính vì vậy đường lối chính trị đúng đắn là nhân tố đầutiên bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng, sai lầm về đường lối có thể dẫn đến sựtổn thất, làm chệch hướng hoặc làm chậm lại sự phát triển của đất nước, dẫn đếnnguy cơ đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng Thực tiễn cách mạng nhiều nước

đã minh chứng điều đó

Phương thức lãnh đạo của Đảng được xác định khi Đảng và Nhà nước XôViết chuyển trọng tâm vào lãnh đạo xây dựng kinh tế, V.I.Lênin nói: “Khi tìnhhình thay đổi và chúng ta phải giải quyết những nhiệm vụ thuộc loại khác thìkhông nên nhìn đằng sau và sử dụng những phương pháp của ngày hôm qua”[32; 248]

Hồ Chí Minh cũng đưa ra thuật ngữ “phương thức” trong cuốn “Đườngcách mệnh” và được nhắc lại trong cuốn “Sửa đổi lề lối làm việc” Người đềnghị phải xây dựng, cải tiến “cách lãnh đạo” của Đảng Người chỉ rõ:

1 Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng

2 Phải tổ chức sự thi hành cho đúng

3 Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải cóquần chúng giúp mới được [34; 285]

Theo Hồ Chí Minh thì: “chẳng phải lãnh đạo quần chúng, mà lại phải họchỏi quần chúng v.v ; đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giảiquyết” Phải đưa chính trị vào giữa nhân dân Trước kia, việc gì cũng từ “trêndội xuống” Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên” [34; 298]

Tiếp cận tư tưởng đó, thuật ngữ phương thức được Đảng ta sử dụng trongnghị quyết hội nghị cán bộ miền Bắc Đông Dương ngày 25/5/1948 Từ hội nghịTrung ương VI (khoá VI) tháng 3 năm 1989 và cho đến nay khái niệm phươngthức được hiểu một cách đầy đủ là: “Phương thức là biện pháp và hình thức tiến

Trang 33

hành” [42; 766] Phương thức lãnh đạo là hệ thống các hình thức, biện pháp,cách thức mà chủ thể lãnh đạo vận dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạonhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu lãnh đạo trong từng giai đoạn cách mạng.

Phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các phương pháp, cách thứcĐảng vận dụng để tác động vào hệ thống chính trị - xã hội nhằm đạt được mụctiêu, nội dung lãnh đạo của Đảng, là công nghệ lãnh đạo của Đảng trong thựchiện thắng lợi những nội dung lãnh đạo Phương thức lãnh đạo phụ thuộc là bịchi phối bởi nội dung lãnh đạo của Đảng vì do sự tác động của điều kiện, hoàncảnh, hệ thống tổ chức, cơ chế vận hành và năng lực phẩm chất, thực tiễn củađội ngũ đảng viên, cán bộ Phương thức lãnh đạo có vai trò quan trọng quyếtđịnh sự thành bại của cách mạng Kinh nghiệm cho thấy phong trào cách mạngdẫm chân tại chỗ, thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu phương hướng vàmục tiêu rõ ràng, mà chủ yếu là thiếu phương pháp cách mạng thích hợp

Nhân tố về phương thức lãnh đạo của Đảng có ảnh hưởng lớn đến quátrình lãnh đạo của Đảng, chính vì thế đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng lànội dung mà trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng luôn được nhấn mạnh vàtập trung chỉ đạo thực hiện Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Đảng takhẳng định: “Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổimới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế; thực hiện đúngnguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng.Tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước” [15; 137]

Hạn chế lớn nhất hiện nay trong phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sởĐảng là chưa phát huy được vai trò lãnh đạo của mình, chậm cụ thể hoá việc xâydựng các quy định, quy chế lãnh đạo, chậm đổi mới điều hành, lẫn lộn giữa côngtác chuyên môn với công tác lãnh đạo của Đảng Tác hại lớn nhất của vấn đềnày là đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cónơi chưa thực sự đi vào cuộc sống, vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ởmột số đơn vị cơ sở bị chính quyền lấn át, có nơi tổ chức đảng lại lấn sân chính

Trang 34

quyền, xẩy ra bao biện làm thay, dẫn đến cải cách hành chính hiệu quả thấp,hiệu quả lãnh đạo quản lý của Đảng trên một số lĩnh vực kết quả hạn chế Chấtlượng tổ chức cơ sở đảng, chất lượng đảng viên đánh giá chưa đúng với thựcchất, thậm chí cá biệt có tổ chức cơ sở đảng tồn tại hình thức, đánh mất vai tròlãnh đạo.

1.2.2.5 Nhân tố về bản lĩnh chính trị

Lịch sử cách mạng Việt Nam là lịch sử của một quá trình đấu tranh gay

go, quyết liệt và có thời điểm phải đứng trước những thử thách, nhưng có bảnlĩnh chính trị của Đảng nên con thuyền cách mạng Việt Nam luôn cập bến vinhquang Bản lĩnh chính trị thể hiện trước hết là sự kiên định con đường cáchmạng, kiên trì thực hiện mục tiêu Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không biquan, dao động trước những khó khăn, thử thách, giữ vững niềm tin, lý tưởngcách mạng và con đường xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Bản lĩnhchính trị vững vàng còn thể hiện ở sự thẳng thắn thừa nhận những sai lầm,khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm đó Bản lĩnhchính trị còn thể hiện ở tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, đấu tranh đểbảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phê phán và bác bỏnhững quan điểm sai trái, thù địch Như vậy, bản lĩnh chính trị là nhân tố gópphần bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và của tổ chức cơ sở đảngnói riêng, vì vậy mà nâng cao bản lĩnh chính trị là một nội dung được Đảng taquan tâm chú trọng, việc đó được cụ thể hoá trong đường lối nghị quyết của các

kỳ Đại hội cũng như nhiều văn bản chỉ thị, hướng dẫn của Đảng Văn kiện Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta nhấn mạnh: “Nâng cao bản lĩnh chínhtrị và trình độ trí tuệ của Đảng Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Vận dụng và phát triểnsáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động củaĐảng Thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyếtđúng đắn những vấn đề do cuộc sống đặt ra ” [15; 131]; Đại hội Đảng toàn

Trang 35

quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn ViệtNam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Nâng cao bản lĩnhchính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết

là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; không giao động trong bất cứ tình huốngnào Kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủquan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc” [16; 255]

Nhận thức được vai trò quan trọng của nhân tố bản lĩnh chính trị củaĐảng, vì thế thời gian qua các tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóanói chung và trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh Thanh Hóa nói riêng, đã pháthuy được trí tuệ của đội ngũ đảng viên trong tham gia xây dựng đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là tham gia xâydựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết, kết luận của BCH Trungương khoá XI Đổi mới việc nghiên cứu, học tập các nghị quyết của Đảng, việctuyên truyền giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,làm cho chủ trương của Tỉnh, của Trung ương được cụ thể hoá, có sức sống gắnvới thực tiễn, các tổ chức cơ sở đảng đã tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyếtTrung ương V (khoá VIII) và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị Trungương IV (khoá XI)

Để phát huy vai trò của nhân tố bản lĩnh chính trị trong cán bộ, đảng viên,các tổ chức cơ sở đảng đã triển khai thực hiện tốt Quy định số 54 - QĐ/TW ngày12/5/1998 của Bộ Chính trị (khoá VIII); Hướng dẫn số 09 - HD/TTVH ngày17/03/2004 của Ban tư tưởng Văn hoá; Quy định số 05 của BTV Tỉnh uỷ về chế

độ học tập lý luận trong Đảng và chương trình thực hiện Nghị quyết Trung ương

V (khoá IX) Triển khai học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minhtheo tinh thần Chỉ thị số 03 - CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị

Nhược điểm lớn nhất hiện nay trong phát huy nhân tố xây dựng bản lĩnhchính trị của Đảng đó là việc triển khai học tập các nghị quyết của Đảng chưa

Trang 36

nghiêm và còn thiếu giải pháp cụ thể, cá biệt còn cơ sở rút ngắn thời gian, triểnkhai chiếu lệ, chương trình hành động còn chung chung, chưa đi vào thực tiễn.Một số cơ sở giảng viên hạn chế về năng lực truyền đạt làm giảm hiệu quả tiếpthu Việc giáo dục chính trị, tư tưởng còn thiếu giải pháp sắc bén dẫn đến một

bộ phận cán bộ, đảng viên bị tác động bởi mặt trái kinh tế thị trường nên mơ hồtrước những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, thiếu lòng tin vào Đảng,vào đường lối sự nghiệp đổi mới, quay đầu kích động, tham gia, tiếp tay cho cácthế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng Nếu không kiềm chếđược những nhân tố gây tác động xấu đến bản lĩnh chính trị thì trong mỗi tổchức cơ sở đảng, trong mỗi cán bộ, đảng viên, đều luôn tiềm ẩn những yếu tốkhó lường, làm ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng

Bảo đảm nhân tố bản lĩnh chính trị đã làm cho các tổ chức cơ sở đảngtrong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh Thanh Hoá phát huy tốt vai trò lãnh đạo.Trước những diễn biến phức tạp, khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội, nhữngphức tạp, sự chống phá của các thế lực thù địch diễn ra trên nhiều lĩnh vực, nhất

là trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, nhưng cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ khốicác cơ quan tỉnh Thanh Hóa luôn nhận thức đúng và có lập trường tư tưởngvững vàng, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàđường lối đổi mới của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội Đa số đảng viên tích cực học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyênmôn, nghiệp vụ và nâng cao năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tronggiai đoạn cách mạng mới; thực hiện tốt việc tuyên truyền, vận động gia đình vànhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước, chủ trương của Tỉnh; mạnh dạn đấu tranh chống suy thoái về

tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, bảo vệ lẻ phải, bảo vệ người tốt Đội ngũđảng viên của Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh đã thể hiện khá tốt vai trò tiênphong, gương mẫu, thông qua lời nói và việc làm; thể hiện trong việc đi đầu

Trang 37

thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

và các phong trào thi đua yêu nước, phong trào quần chúng

1.2.2.6 Nhân tố về phát huy vai trò hệ thống chính trị và điều kiện cần thiết bảo đảm vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

Hệ thống chính trị bao gồm Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các đoàn thể chính trị xã hội Vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảngtrong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh tại tỉnh Thanh Hoá đối với hệ thống chínhtrị cơ sở chỉ trong phạm vi Chính quyền, Công đoàn, Đoàn Thanh niên và HộiCựu chiến binh Điểm khác với tổ chức cơ sở đảng cấp xã là không có tổ chứcDân vận, Mặt trận Tổ quốc, Hội nông dân Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo củamình thông qua đường lối, chính sách, thông qua công tác tổ chức cán bộ, thôngqua công tác kiểm tra và tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên Mối quan

hệ và điều kiện cần thiết là nhân tố góp phần bảo đảm vai trò lãnh đạo của tổchức cơ sở đảng Đảng muốn phát huy vai trò là hạt nhân lãnh đạo chính trị, thìtrước hết phải tạo được mối quan hệ cần thiết và điều kiện cần thiết làm chỗ dựavững chắc và tạo nên sức mạnh tổng hợp để phát huy vai trò lãnh đạo của chính

tổ chức mình Trong lãnh đạo, điều hành tổ chức cơ sở đảng sẽ không phát huyđược vai trò lãnh đạo của mình nếu thiếu đi sự phối hợp và điều kiện cần thiếtcho hoạt động của tổ chức đảng

Vấn đề đặt ra hiện nay của tổ chúc cơ sở đảng trong việc lãnh đạo cácđoàn thể chính trị xã hội là cơ chế phối hợp còn nhiều chồng chéo, trùng lặp,chức năng, nhiệm vụ của các thành viên trong hệ thống chính trị có lúc chưa rõràng, còn hiện tượng nhận thức thì tốt nhưng thực tế làm còn mang tính thời vụ,

có những hoạt động còn mang tính hình thức

Khó khăn trong điều kiện hoạt động hiện nay là kinh phí của tổ chức đảng

cơ sở quá hạn hẹp, không đủ để chi phí Các khoản chi phí phần lớn xin chuyênmôn, phụ thuộc vào chuyên môn, mà trực tiếp là giám đốc hay thủ trưởng cơquan, trong khi đó chức danh đều là kiêm nhiệm, điều kiện thời gian lại bị động,

Trang 38

cơ sở đảng phải phụ thuộc vào sự sắp xếp của chuyên môn nên lãnh đạo, điềuhành và thực thi quyền lực lãnh đạo của mình bị động Đây là điểm yếu nhấthiện nay cần khắc phục trong việc lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng đối với hệthống chính trị cơ sở.

Trang 39

Kết luận Chương 1

Tổ chức cơ sở đảng gồm chi bộ cơ sở hoặc đảng bộ cơ sở, là nền tảng củaĐảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cấp cuối cùng trong hệ thống tổ chức bốncấp của Đảng Tổ chức cơ sở đảng vừa là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đồng thời cũng là nơigóp phần phát triển và hoàn thiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

Là một thành viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở, tổ chức cơ sở đảng có vị trí,vai trò đoàn kết, lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở Sức mạnhcủa Đảng là sự gắn bó, liên hệ mật thiết với nhân dân Trong mối liên hệ giữaĐảng với nhân dân, vai trò của tổ chức cơ sở đảng là những “sợi dây chuyền”nối liền Đảng với dân

Trong thời kỳ đổi mới của đất nước - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì tổ chức cơ sở đảng luôn phải làm tốt vaitrò là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở, quan tâm đến những nhân tố ảnhhưởng đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng Chính những nhân tố này đóngvai trò quan trọng và mang tính quyết định vì nó ảnh hường trực tiếp đến vai tròlãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng Chỉ khi chúng ta vận dụng tốt những mặt tíchcực, hạn chế tối đa mặt tiêu cực của những ảnh hưởng đó thì sẽ thành công, tổchức cơ sở đảng sẽ thực hiện tốt vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở củamình và ngược lại

Trang 40

Chương 2 Thùc tr¹ng TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

TRONG ĐẢNG BỘ KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH

Ở TỈNH THANH HOÁ HIỆN NAY

2.1 Tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay

2.1.1 Tỉnh Thanh Hoá và Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá

2.1.1.1 Khái quát về tỉnh Thanh Hoá

Thanh Hoá là một tỉnh nằm giữa miền Bắc và miền Trung, có vĩ độ Bắc:

190,33 – 200,30”, kinh Đông: 1040 – 1060,30”, là Tỉnh có vị trí quan trọng về địachính trị, địa kinh tế, địa quân sự và địa văn hoá Toàn tỉnh có 27 huyện, thị,thành phố; 637 xã, phường, thị trấn; 6.042 thôn, bản, phố; có dân số là3.412.600 người; tổng diện tích tự nhiên 11.168km2 và 18.760km2 thềm lục địa.Phía Bắc Thanh Hoá giáp 3 tỉnh là: Sơn La, Ninh Bình, Hoà Bình; phía Namgiáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa Dân chủ nhândân Lào); phía Đông giáp biển Thái Bình Dương

Thanh Hoá có đủ các vùng: trung du, miền núi, đồng bằng, ven biển vàvùng thềm lục địa Ở mỗi vùng có thế mạnh khác nhau và có điều kiện liên kết

để phát triển một cách toàn diện Trung du miền núi có diện tích tự nhiên bằng2/3 diện tích tự nhiên toàn tỉnh Ba mặt Bắc - Tây - Nam núi rừng trùng điệptrọng yếu, phía Bắc và phía Nam núi rừng xuyên thẳng ra biển Vùng trung du lànhững dãy đồi đất liền kề xen kẽ với miền núi có diện tích tự nhiên khoản500km2 Trong vị thế chiến lược chung của cả tỉnh, trung du miền núi là khu vựctrọng yếu về quốc phòng - an ninh, là địa bàn có nhiều điều kiện phát triển kinh

tế

Ngày đăng: 11/01/2016, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Lê Đức Bình (2003), Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt
Tác giả: Lê Đức Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
12. Trường Chinh (2007), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2007
13. Lê Duẩn (1975), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Nxb sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb sự thật
Năm: 1975
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ IX, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ X, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2011
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Chỉ thị 06 - CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 07/11/2006, về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Chỉ thị 03 - CT/TW, ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
21. Đảng Cộng Sản Việt Nam, BCH Trung ương Đảng (2012), Nghị Quyết Trung ương IV (Khoá XI), Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết Trung ương IV (Khoá XI), Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam, BCH Trung ương Đảng
Năm: 2012
22. Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh Thanh Hóa (2000), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ Khóa V, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ Khóa V
Tác giả: Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh Thanh Hóa
Năm: 2000
24. Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh Thanh Hóa (2010), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ Khóa VII, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ Khóa VII
Tác giả: Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh Thanh Hóa
Năm: 2010
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Nghị quyết số 10 - NQ/TW ngày 02/02/1999 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 10 - NQ/TW ngày 02/02/1999 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1999
29. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2010), Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ khóa XVII, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ khóa XVII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
Năm: 2010
31. V.I Lênin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 44
Tác giả: V.I Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
32. V.I Lênin (1978), Toàn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 45
Tác giả: V.I Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
33. C.Mác - Ph.Ăngghen (1975), Toàn tập, Tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội 34. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 3", Nxb Sự thật, Hà Nội34. Hồ Chí Minh (1995), "Toàn tập, tập 5
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen (1975), Toàn tập, Tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội 34. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1995
35. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 7
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
36. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 10
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
37. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 12
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w