1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu môi trường pháp lý trong thanh toán quốc tế tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

76 1,5K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 413,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết cấu khoá luận Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của của đề tài này được trìnhbàythành ba chương: Chương I: Cơ sở lý thuyết về thanh toán quốc tế và môi trường pháp lý trong hoạ

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ 6

1 Tổng quan về thanh toán quốc tế 6

1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế 6

1.2 Các yếu tố cấu thành thanh toán quốc tế 6

1.2.1 Chủ thể tham gia thanh toán quốc tế 6

1.2.1.1 Ngân hàng trung ương 6

1.2.1.2 Ngân hàng thương mại 7

1.2.1.3 Các chủ thể khác 8

1.2.2 Tiền tệ dùng trong thanh toán quốc tế 8

1.2.3 Các công cụ thanh toán quốc tế 9

1.2.4 Các phương thức thanh toán quốc tế 9

1.3 Vai trò của thanh toán quốc tế 12

1.3.1 Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại 12

1.3.2 Đối với các ngân hàng thương mại 13

1.3.3 Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu 14

2 Khái quát về môi trường pháp lý trong hoạt động thanh toán quốc tế 14

2.1 Tầm quan trọng của môi trường pháp lý đối với hoạt động thanh toán quốc tế 14

2.2 Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh thanh toán quốc tế trên thế giới 16

2.2.1 Luật và công ước quốc tế 16

2.2.2 Luật các quốc gia 17

2.2.3 Văn bản dưới luật 20

2.3 Cơ chế đảm bảo thực thi và giải quyết tranh chấp 25

CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI TRUNG QUỐC 29

Trang 2

1 Tổng quan hoạt động thanh toán quốc tế tại Trung Quốc 29

1.1 Đôi nét về hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại Trung Quốc 29

1.2 Các phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng chủ yếu tại Trung Quốc 32 1.2.1 Trả tiền trước 32

1.2.2 Tín dụng chứng từ 32

1.2.3 Nhờ thu kèm chứng từ 32

1.2.4 Ghi sổ 33

2 Thực trạng môi trường pháp lý trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Trung Quốc 33

2.1 Hệ thống văn bản pháp luật Trung Quốc về thanh toán quốc tế 33

2.1.1 Các văn bản luật 33

2.1.1.1 Các nguyên tắc chung cho Pháp Luật Dân sự của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa 33

2.1.1.2 Luật hợp đồng 34

2.1.1.3 Luật của nước CHNNDTH về việc lựa chọn luật áp dụng đối với những mối quan hệ dân sự có yếu tố nước noài 36

2.1.1.4 Luật ngân hàng thương mại 38

2.1.1.5 Luật công cụ chuyển nhượng 38

2.1.2 Văn bản dưới luật 43

2.1.2.1 Các văn bản dưới luật liên quan đến công cụ chuyển nhượng 43

2.1.2.2 Các văn bản về quản chế ngoại hối 46

2.1.2.3 Quy định về việc xét xử những tranh chấp liên quan đến thư tín dụng 49

2.2 Cơ chế đảm bảo thực thi và giải quyết tranh chấp 53

2.2.1 Cơ chế đảm bảo thực thi 53

2.2.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp 55

CHƯƠNG III:BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 58

1 Môi trường pháp lý trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại Việt Nam 58

1.1 Hoạt động thanh toán quốc tế tại Việt Nam 58

Trang 3

1.2 Môi trường pháp lý trong thanh toán quốc tế tại Việt Nam 60

1.2.1 Hệ thống pháp luật Việt Nam về thanh toán quốc tế 60

1.2.2 Cơ chế đảm bảo thực thi và giải quyết tranh chấp 63

2 So sánh với Trung Quốc và một số giải pháp rút ra cho Việt Nam 67

2.1 So sánh với Trung Quốc về môi trường pháp lý trong thanh toán quốc tế 67

2.2 Một số giải pháp rút ra cho Việt Nam 68

2.2.1 Hoàn thiện hệ thống luật pháp về TTQT, trước hết là phương thức thư tín dụng L/C 68

2.2.2 Hoàn thiện các phương thức thanh toán quốc tế, đặc biệt là UCP 69

2.2.3 Các NHTM tham gia TTQT phải ban hành và thường xuyên bổ sung, hoàn chỉnh quy chế quy định TTQT chặt chẽ, rõ ràng, cụ thể 69

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, Việt Nam không thể đứng ngoài xu thếđó; ra nhập WTO năm 2007- đó là một bước tiến trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế của nước ta, kế tiếp con đường mở cửa mà Đảng và Nhà nước đã lựachọn từ 1986 Hợp tác trao đổi với các nước là tất yếu nếu chúng ta muốn pháttriển nền kinh tế quốc dân vì nó giúp Việt Nam: phát huy được lợi thế cạnhtrạnh, tận dụng được nguồn vốn, công nghệ cũng như trình độ quản lý của cácnước phát triển, giao lưu, hợp tác văn hoá giữa các nước với nhau và có cơ hộitiếp cận sự tiến bộ văn minh trên thế giới

Để hoạt động ngoại thương phát triển thì thanh toán quốc tế giữ một vị trí vôcùng quan trọng, giúp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thuận tiện hơn trongviệc thanh toán, từ đó kích thích quá trình trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa cácnước với nhau Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tếtrong đó có môi trường pháp lý của hoạt động này Môi trường pháp lý với hệthống luật, văn bản hướng dẫn thực thi hệ thống ấy là nhân tố có thể tạo thuận lợicho một hoạt động và cũng có thể gây ra những hạn chế không cần thiết đối vớichính hoạt động đó Trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đang nỗ lựctrong việc đổi mới, cải thiện hệ thống luật pháp cũng như hoàn thiện môi trườngpháp lý giúp đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế tuy nhiên vẫn không thểtránh khỏi nhiều thiếu xót trong việc làm luật, thực thi luật cũng như những bấtcập trong quá trình áp dụng các điều luật, tập quán quốc tế vào việc thực hiệnhoạt động này Do đó việc nghiên cứu, tham khảo, học hỏi từ các quốc gia cómôi trường pháp lý vững chắc, hiệu quả trong thanh toán quốc tế có thể là mộtbiện pháp tốt cho nước ta Và trong những quốc gia đó phải kể đến Trung Quốc-một cường quốc đang vươn mình mạnh mẽ trở thành nền kinh tế đứng thứ haitrên thế giới; trong thành công đó của Trung Quốc có sự đóng góp không nhỏ

Trang 5

của môi trường pháp lý hiệu quả trong thanh toán quốc tế giúp việc xuất nhậpkhẩu của nước này diễn ra rất thuận lợi.

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài“Nghiên cứu môi trường

pháp lý trong thanh toán quốc tế tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” cho khoá luận tốt nghiệp của mình.

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là môi trường pháp lý trong thanh toánquốc tế và phạm vi nghiên cứu là tại Trung Quốc, trên cơ sở đó so sánh với ViệtNam và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho nước ta

3 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu và tìm tòi cách trình bày ý kiến giúp đạt hiệu quả tốt, trongkhoá luận có sử dụng tập hợp các phương pháp duy vật biện chứng, phân tích,tổng hợp, thống kê, so sánh… cùng với việc tham khảo sách báo, tài liệu có liênquan

4 Kết cấu khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của của đề tài này được trìnhbàythành ba chương:

Chương I: Cơ sở lý thuyết về thanh toán quốc tế và môi trường pháp lý trong

hoạt động thanh toán quốc tế

Chương II: Thực trạng môi trường pháp lý trong thanh toán quốc tế tại

Trung Quốc

Chương III: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Mặc dù trong quá trình thực hiện khoá luận, tác giả đã hết sức tìm tòi vànghiên cứu, song kiến thức còn hạn chế và đây là một đề tài khá mới mẻ, khókhăn trong việc lấy tư liệu nên không thể tránh khỏi thiếu xót và sai lầm, mongnhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy cô và các bạn

Trang 6

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS-TS Đặng Thị Nhàn đã nhiệttình hướng dẫn, xem xét, đóng góp ý kiến trong suốt quá trình để tác giả hoànthành khoá luận này Tác giả cũng xin gửi lời cảm đến: Ban Giám Hiệu, các thầy

cô thuộc khoa Tài Chính Ngân Hàng, Đại Học Ngoại Thương Hà Nội đã cungcấp các kiến thức nền tảng và tạo điều kiện cho tác giả trong suốt thời gian họctập và thực hiện đề tài

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CHXHCNVN Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa

Việt Nam

The Social Republic of Viet

NamCHNDTH Cộng Hoà Nhân Dân Trung

UCP

Các quy tắc thực hành thốngnhất về thư tín dụng

Uniform Customs andPractice for Documentary

Credit

ICC Phòng thương mại Quốc tế

The International Chamber of

Commerce

PBOC Ngân hàng Nhân dân Trung

CBRC Uỷ ban điều hành ngân hàng

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ CÁC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ

Bảng 1 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc từ năm 2007

Bảng 2 Khối lượng thanh toán quốc tế do 4 ngân hàng thương mại

lớn nhất Trung Quốc thực hiện trong năm 2010 31Bảng 3 Doanh số TTQT trong hoạt động ngoại bảng của ngân

hàng Nông nghiệp Trung Quốc từ năm 2009 đến 2011 32Hình 1

Khối lượng thanh toán quốc tế của Ngân hàng Trung Quốc

do các chi nhánh trong nước và nước ngoài thực hiện năm

2010

32

Trang 9

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG

PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ

******************

1 Tổng quan về thanh toán quốc tế

1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế

Với xu thế hội nhập hiện nay, các quốc gia ngày càng tăng cường hợp tác vớicác nước trên thế giới để tiếp tục tồn tại và phát triển Trong tổng thể các mốiquan hệ trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học- kỹ thuật…thì quan hệ kinh tế (ngoại thương) chiếm vị trí chủ đạo và là cơ sở cho các mốiquan hệ khác

Những mối quan hệ này làm phát sinh nhu cầu chi trả, thanh toán tiền tệ giữacác chủ thể tham gia quan hệ ở các nước khác nhau, nhưng do sự xa cách về mặtđịa lý, khác biệt về chính trị, văn hoá nên các chủ thể này không thể tự mình thựchiện việc thanh toán trên phạm vi quốc tế Do đó đã hình thành việc thanh toánqua các ngân hàng thương mại- một trung gian tài chính quan trọng của nền kinhtế

Vậy, TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền

tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước nàyvới tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với một tổ chức kinh tế,thông qua quan hệ giữa ngân hàng của các nước liên quan

1.2 Các yếu tố cấu thành thanh toán quốc tế

1.2.1 Chủ thể tham gia thanh toán quốc tế

1.2.1.1 Ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương tham gia vào TTQT với tư cách là người thay mặtChính phủ ký kết và thực hiện các Hiệp định về tiền tệ và tín dụng quốc tế và là

Trang 10

Ngân hàng của các ngân hàng trong hoạt động tiền tệ và TTQT Với tư cách đó,NHTW thực hiện các nhiệm vụ như:

+ Chủ trì lập và theo dõi việc thực hiện cán cân thanh toán quốc tế

+ Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối

+ Thay mặt Chính phủ ký kết các Điều ước quốc tế, luật quốc tế về tiền tệ vàtín dụng

+ Đại diện cho Chính phủ tại các tổ chức tiền tệ và ngân hàng quốc tế

+ Tổ chức hệ thống thanh toán qua Ngân hàng và thực hiện các dịch vụ thanhtoán trong và ngoài nước

+ Quản lý và cung ứng các công cụ lưu thông tín dụng sử dụng trong thanhtoán quốc nội và quốc tế

+ Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng

1.2.1.2 Ngân hàng thương mại

Các ngân hàng thương mại chính là chủ thể chủ yếu của TTQT: có mạng lướirộng khắp toàn quốc, nắm hầu hết của cải xã hội dưới hình thức bằng tiền và cómạng lưới đại lý ở hầu hết các quốc gia đối tác trên phạm vi toàn cầu NHTMhoạt động trên 3 chức năng chủ yếu:

Chức năng trung gian tín dụng: huy động được các nguồn vốn tạm thời nhànrỗi hình thành trong xã hội để phân phối lại cho nền kinh tế quốc dân theonguyên tắc tín dụng

Chức năng trung gian thanh toán: tiền gửi vào ngân hàng của các chủ thểtrong nền kinh tế thường được lưu trữ trong hệ thống tài khoản và thông qua hệthống tài khoản này, các chủ tài khoản có thể uỷ thác cho ngân hàng nắm giữ tàikhoản thu hộ chi hộ các khoản tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh của mìnhvới các chủ tài khoản mở tại ngân hàng khác ở trong và ngoài nước

Trang 11

Chức năng tạo ra những công cụ lưu thông tín dụng thay thế cho tiền mặtthực hiện có hiệu quả chức năng phương tiện lưu thông của tiền tệ: những công

cụ lưu thông tín dụng như séc, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được đãđược ngân hàng sáng tạo ra dựa trên cơ sở nghiệp vụ tiền gửi và cho vay

1.2.1.3 Các chủ thể khác

Tham gia vào hoạt động TTQT còn có các chủ thể khác như các pháp nhân,thể nhân hoạt động trong các lĩnh vực phi ngân hàng như kinh doanh xuất nhậpkhẩu hàng hoá, xuất nhập khẩu lao động và chuyên gia, du lịch, vận tải, giaonhận, bảo hiểm, đầu tư và các hoạt động ngoại giao, quân sự, giao lưu văn hoá,nghệ thuật, khoa học kỹ thuật và xã hội

Các chủ thể này là người uỷ thác cho ngân hàng thu hộ những khoản phải thuhoặc ra lệnh cho ngân hàng chi các khoản phải chi cho nước ngoài

1.2.2 Tiền tệ dùng trong thanh toán quốc tế

Trong thanh toán quốc tế các bên phải sử dụng đơn vị tiền tệ nhất định củamột nước nào đó Vì vậy, trong các hiệp định và hợp đồng đều có quy định tiền

tệ Điều kiện này quy định việc sử dụng đồng tiền nào để thanh toán trong hợpđồng ngoại thương và hiệp định ký kết giữa các nước Đồng thời điều kiện nàycũng quy định cách xử lý khi giá trị đồng tiền đó biến động Người ta có thể chiathành hai loại tiền sau:

- Đồng tiền tính toán: để tính ra lượng tiền tệ chính thức dùng trong thanhtoán, các bên có thể thoả thuận với nhau chọn một đồng tiền khác làm chuẩn giátrị cho hàng hoá và từ đó tính ra số ngoại tệ dùng thanh toán cho nhau Thườngngười ta có xu hướng chọn một đồng tiền ổn định cao làm đồng tiền tính toán

- Đồng tiền thanh toán: Là loại tiền để chi trả nợ nần, hợp đồng mua bánngoại thương Đồng tiền thanh toán trước tiên phải là đồng tiền tự do chuyển đổi,

có thể là đồng tiền của nước nhập khẩu, của nước xuất khẩu hoặc có thể là đồngtiền quy định thanh toán của nước thứ ba

Trang 12

1.2.3 Các công cụ thanh toán quốc tế

Các công cụ tín dụng ra đời là sản phẩm riêng có của các quan hệ tín dụngtương ứng:

Quan hệ tín dụng thương mại sản sinh ra công cụ tín dụng thương phiếu(Commercial bill) gồm có Hối phiếu thương mại (Bill of exchange) và Kỳ phiếuthương mại (Promissory note)

Quan hệ tín dụng ngân hàng sản sinh ra các công cụ tín dụng ngân hàng nhưHối phiếu ngân hàng (Bank draft), séc (Check), Chứng chỉ tiền gửi (Certificate

of deposit), Thư tín dụng (Letter of credit), Thư bảo lãnh (Letter of guarantee),Biên lai tín thác (Trust receipt), Thẻ tín dụng (Credit card)…

Quan hệ tín dụng đầu tư sản sinh ra Cổ phiếu (stock), trái phiếu (bond) và cácchứng từ phái sinh (derivative documents) như Quyền mua cổ phần (rightcertificate), chứng quyền (warrant), hợp đồng quyền chọn (option contract) vàhợp đồng tương lai (future contract)…

Những công cụ tín dụng nào có thể thay thế cho tiền mặt chấp hành chứcnăng phương tiện lưu thông tiền tệ thì được gọi là công cụ lưu thông tín dụngnhư thương phiếu, séc, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng…, hay còn gọi

là công cụ chuyển nhượng (Negotiable instruments)

1.2.4 Các phương thức thanh toán quốc tế

Có rất nhiều phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng ngày này, và nổibật trong số đó là:

Phương thức chuyển tiền

Khi có một khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mìnhchuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người thụ hưởng) ở một địađiểm nhất định thì gọi là chuyển tiền của ngân hàng

Để thực hiện việc chuyển tiền thì ngân hàng chuyển tiền phải thông qua đại lýcủa mình ở nước người thụ hưởng

Trang 13

Phương thức chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai cách:

- Chuyển tiền bằng điện

- Chuyển tiền bằng thư

Hai cách chuyển tiền trên chỉ khác nhau ở chỗ là: chuyển tiền bằng điệnnhanh hơn chuyển tiền bằng thư, nhưng chi phí chuyển tiền bằng điện cao hơn.Tiền chuyển đi có thể là tiền của nước người thụ hưởng hoặc là tiền của nướcngười trả hoặc là tiền của nước thứ ba Nếu là tiền của nước người thụ hưởng vàtiền của nước thứ ba thì gọi là thanh toán bằng ngoại tệ Trong trường hợp thanhtoán bằng ngoại tệ thì người chuyển tiền phải mua ngoại tệ theo tỷ giá hối đoáicủa nước đó

Phương thức chuyển tiền ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc

tế Nó được sử dụng chủ yếu trong thanh toán phi mậu dịch, cũng như các dịch

vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như cước vận tải, bảo hiểm, bồithường…

Phương thức nhờ thu

Người xuất khẩu sau khi hoàn thành nhiệm vụ xuất chuyển hàng hoá chongười nhập khẩu thì uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở ngườinhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra

Các thành phần chủ yếu tham gia phương thức thanh toán này như sau:

- Người xuất khẩu

- Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu

- Ngân hàng đại lý của ngân hàng phục vụ người xuất khẩu (đó là ngân hàngquốc gia của người nhập khẩu)

- Người nhập khẩu

Phương thức nhờ thu được phân ra làm hai loại như sau:

Trang 14

- Nhờ thu phiếu trơn: Người xuất khẩu sau khi xuất chuyển hàng hoá, lập cácchứng từ hàng hoá gửi trực tiếp cho người nhập khẩu (không qua ngân hàng),đồng thời uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu

Theo phương thức này ngân hàng không chỉ là người thu hộ tiền mà còn làngười khống chế bộ chứng từ hàng hoá Với cách khống chế này quyền lợi củangười xuất khẩu được đảm bảo hơn

Trang 15

Thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng thương mại, tức là phảicăn cứ vào nội dung, yêu cầu của hợp đồng để người nhập khẩu làm thủ tục yêucầu ngân hàng mở thư tín dụng Nhưng sau khi đã được mở, thư tín dụng lạihoàn toàn độc lập với hoạt động thương mại đó Điều đó có nghĩa là khi thanhtoán, ngân hàng chỉ căn cứ vào nội dung thư tín dụng mà thôi.

Phương thức ghi sổ

Đây thực chất là một hình thức mua bán chịu Phương thức này áp dụng trongmua bán hàng hóa quốc tế như sau: Nhà xuất khẩu (người ghi sổ) sau khi hoànthành nghĩa vụ của mình (thường là nghĩa vụ giao hàng) quy định trong hợpđồng ngoại thương (hợp đồng cơ sở) sẽ mở một quyển sổ nợ để ghi nợ Nhà nhậpkhẩu (người được ghi sổ), bằng một đơn vị tiền tệ nhất định và đến từng định kỳnhất định do hai bên thỏa thuận, sử dụng phương thức chuyển tiền thanh toáncho người ghi sổ

Phương thức này hoàn toàn có lợi cho nhà nhập khẩu (người được ghi sổ).Nhà xuất khẩu sẽ phải gánh chịu rủi ro khi bên nhập khẩu không thanh toán hoặcchậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ

Để hạn chế rủi ro, chỉ áp dụng phương thức này khi cả hai bên là các bạnhàng có mối quan hệ làm ăn lâu dài, thực sự tin cậy lẫn nhau Để bảo đảm antoàn cho nhà xuất khẩu, các bên có thể áp dụng biện pháp bảo đảm như thư bảolãnh ngân hàng, thư tín dụng dự phòng, đặt cọc…

Ngoài những phương thức kể trên, các nhà xuất nhập khẩu còn có thể sử dụngcác phương thức khác như bảo lãnh, tín dụng dự phòng hay thư uỷ thác mua

1.3 Vai trò của thanh toán quốc tế

1.3.1 Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại

Thanh toán quốc tế là khâu then chốt, cuối cùng để khép kín một chu trìnhmua bán hàng hoá hoặc trao đổi dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc cácquốc gia khác nhau

Trang 16

Thanh toán quốc tế là cầu nối trong mối quan hệ kinh tế đối ngoại, nếu không

có hoạt động thanh toán quốc tế thì cũng không có hoạt động kinh tế đối ngoại

Do đó, nó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển Việc tổ chức TTQTđược tiến hành nhanh chóng, chính xác sẽ làm cho các nhà sản xuất yên tâm vàđẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh

tế đối ngoại, đặc biệt là hoạt động ngoại thương

Đồng thời, hoạt động TTQT góp phần hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiệnhợp đồng ngoại thương Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý củacác đối tác xa nhau nên việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng thanh toáncủa người mua gặp nhiều khó khăn Nếu tổ chức tốt công tác TTQT thì sẽ giúpcho các nhà kinh doanh hàng hoá XNK hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiệnhợp đồng, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển hơn nữa

Tóm lại, có thể nói rằng kinh tế đối ngoại có được mở rộng hay không mộtphần nhờ vào hoạt động TTQT có tốt hay không TTQT tốt sẽ đẩy mạnh hoạtđộng XNK, phát triển sản xuất trong nước, khuyến khích các doanh nghiệp nângcao chất lượng hàng hoá

1.3.2 Đối với các ngân hàng thương mại

Trước hết, hoạt động TTQT giúp ngân hàng thu hút them được khách hàng cónhu cầu giao dịch quốc tế Trên cơ sở đó, ngân hàng phát triển thêm quy mô,tăng thêm nguồn thu nhập, tăng khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường.Thứ hai, thông qua hoạt động TTQT, ngân hàng có thể đẩy mạnh hoạt độngtài trợ XNK cũng như tăng được nguồn vốn huy động tạm thời do quản lý đượcnguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân có quan hệ TTQT với ngân hàng.Thứ ba, giúp ngân hàng thu được một nguồn ngoại tế lớn từ đó ngân hàng cóthể phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh và nghiệp vụ ngân hàngquốc tế khác

Thứ tư, hoạt động TTQT giúp ngân hàng tăng tính thanh khoản thông qualượng tiền ký quỹ Mức ký quỹ phụ thuộc vào độ tin cậy, an toàn của từng khách

Trang 17

hàng cụ thể Song xét về tổng thể thì các khoản ký quỹ này phát sinh một cáchthường xuyên và ổn định Vì vậy trong thời gian chờ đợi thanh toán, ngân hàng

có thể sử dụng các khoản này để hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết, thậm chí cóthể sử dụng để kinh doanh, đầu tư ngắn hạn để kiếm lời

Hơn thế nữa, hoạt động này còn giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu củakhách hàng trển cơ sở nâng cao uy tín của ngân hàng

1.3.3 Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Đối với nhà xuất khẩu: TTQT giúp cho việc thanh toán được thuận tiện, antoàn hơn so với nhận tiền mặt, đặc biệt đối với các hợp đồng có giá trị lớn Mặtkhác, doanh nghiệp còn nhận được sự hỗ trợ từ ngân hàng thông qua hình thứcchiết khấu chứng từ xuất khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu thu hồi vốn kịp thời củadoanh nghiệp

Đối với nhà nhập khẩu: TTQT giúp cho việc thanh toán được dễ dàng hơn,tiết kiệm các chi phí về vận chuyển, bảo quản, hạn chế rủi ro so với việc thanhtoán trực tiếp bằng tiền mặt Ngoài ra, trong trường hợp doanh nghiệp không đápứng được nhu cầu tài chính để đáp ứng các yêu cầu giao dịch với đối tác thì ngânhàng có thể tài trợ cho doanh nghiệp thông qua hình thức như: cho vay, bảo lãnhthanh toán mở L/C… để giao dịch vẫn có thể diễn ra thuận tiện

Mặt khác, bên cạnh hình thức tài trợ về tín dụng, doanh nghiệp còn được cácngân hàng bảo vệ quyền lợi, nhận được sự tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ về mặt kỹthuật từ phía các ngân hàng nhằm đạt được các thoả thuận có lợi nhất về các điềukhoản thanh toán

2 Khái quát về môi trường pháp lý trong hoạt động thanh toán quốc tế 2.1 Tầm quan trọng của môi trường pháp lý đối với hoạt động thanh toán quốc tế

Xét trên góc độ quốc tế, môi trường pháp lý trong TTQT bao gồm hệ thốngluật lệ nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên tham gia trong hoạt động

Trang 18

TTQT gồm có điều ước quốc tế, luật quốc gia và tập quán thương mại quốc tế và

cơ chế đảm bảo việc thực thi và xử lý vi phạm, tranh chấp trong hoạt động này Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 80 quốc gia chưa có luật riêng vềTTQT Tuy nhiên, cũng có rất nhiều nước đã xây dựng được cho mình một hệthống luật để điều chỉnh như Mỹ, Anh, Áo, Canada, Colombia… Và vai trò củamôi trường pháp lý đối với hoạt động TTQT được thể hiện như sau:

Một là, tạo cơ sở pháp lý để hạn chế rủi ro và giải quyết tranh chấp trong

thanh toán quốc tế.

Nếu không có các quy chế thống nhất, cụ thể, rõ ràng thì mỗi chủ thể có thểvin vào đặc điểm của nước mình mà cố tình vi phạm Chính nhờ các quy ướcTTQT như UCP, URC, SWIFT và hệ thống ngôn ngữ thống nhất nên các bêntham gia đều phải chấp hành nghiêm chỉnh

Hai là, tạo cơ sở pháp lý để các bên trong nước thực hiện nghĩa vụ và giải

quyết tranh chấp.

TTQT, trong phạm vi một nước, khi thực hiện thường có chủ thể tham gia,nên khi có tranh chấp hoặc rủi ro, thì có thể có nhiều bên trong nước bị ảnhhưởng cả vật chất và trách nhiệm pháp lý Vì vậy môi trường pháp lý đối vớihoạt động TTQT có vai trò rất lớn đối với các bên liên quan trong nước Nó xácđịnh rõ ràng, cụ thể trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi bên trong nướctham gia TTQT

Ba là, tạo điều kiện cho các NHTM thực hiện tốt TTQT.

Trong mọi trường hợp khi xảy ra tranh chấp, rủi ro, NHTM đều phải có mặt

và chịu trách nhiệm tương ứng, nếu môi trường pháp lý không rõ ràng, NHTM sẽluôn phải đối mặt với các hậu quả xảy ra Trong bối cảnh đó, NHTM sẽ hạn chế,thậm chí đóng của hoạt động TTQT

Trang 19

2.2 Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh thanh toán quốc tế trên thế giới 2.2.1 Luật và công ước quốc tế

Thanh toán quốc tế được coi là khâu quan trọng nhất trong một hợp đồng xuấtnhập khẩu nên tất nhiên nó chịu sự điều chỉnh của các bộ luật liên quan đếnthương mại quốc tế, và một trong số đó là công ước của Liên hợp quốc về muabán hàng hoá quốc tế năm 1980 bao gồm 4 phần, 101 điều áp dụng cho các quốcgia thành viên

Vào năm 1996, Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UnitedNations Commission on International Trade Law – UNCITRAL) đã soạn thảocông ước Liên hợp quốc về các bảo lãnh độc lập và Tín dụng dự phòng (UnitedNaitons Convention on Independent Guarantee and Standby Letter of Credit).Tuy nhiên hiện nay công ước này vẫn chưa có hiệu lực thi hành vì theo quy định

ở điều 28 mục 1 của công ước này thì công ước này cần phải có 5 lần phê chuẩnthông qua và chỉ có hiệu lực sau 1 năm kể từ ngày phê chuẩn cuối cùng

Về các công cụ thanh toán quốc tế chủ yếu như hối phiếu, kỳ phiếu và séc,trên thế giớicó các luật điều chỉnh như sau:

Thứ nhất là luật về hối phiếu, kỳ phiếu và séc quốc tế do uỷ ban luật thươngmại quốc tế của Liên hợp quốc ban hành, kỳ họp 15, New York, từ ngày 26tháng 7 đến 6 tháng 8 năm 1982, tài liệu số A/CN ngày 18/2/1982 trong đó quyđịnh phạm vi áp dụng, hình thức, phương tiện thanh toán, cách diễn đạt hốiphiếu, quyền hạn trách nhiệm, chuyển nhượng các phương tiện thanh toán này

Về séc, bộ luật quy định quyền hạn, trách nhiệm của người cầm séc, ngườiphát hành séc, cách xuất trình và truy đòi của séc, các loại séc trong thanh toánnhư séc gạch chéo, séc thanh toán vào tài khoản…Luật này được hầu hết cácquốc gia đều tham gia và mang tính chất toàn thế giới

Thứ hai là luật thống nhất về hối phiếu (Uniform Law for Bill of Exchange,viết tắt là ULB 1930) ULB là công ước quốc tế mang tính chất khu vực thuộcchâu Âu, nhưng văn bản này được nhiều nước trên thế giới áp dụng ULB quy

Trang 20

định rõ về hình thức và nội dung lập hối phiếu (người ký phát, người trả tiền,người hưởng lợi, người chuyển nhượng, người cầm hối phiếu) và các vấn đề vềchấp nhận, ký hậu, chuyển nhượng, bảo lãnh hối phiếu.

Thứ ba là công ước Liên Hợp Quốc 1988 về hối phiếu và lệnh phiếu quốc tế(International Bill of Exchange and International Promissory Note – UnitedNations Convention 1988) gồm 9 chương, 90 điều nêu ra những quy định dànhcho hối phiếu và kỳ phiếu quốc tế

Công ước Geneve 1931 về Séc quốc tế (Uniform law check, viết tắt ULC1931) cũng được nhiều nước áp dụng Công ước này ra đời vào năm 1931 donhiều nước như Đức, Anh, Pháp, Thuỵ Điển, Hà Lan họp tại Geneve để ký côngước quốc tế về Séc

2.2.2 Luật các quốc gia

a) Luật quản chế ngoại hối

Về quản chế ngoại hối, không phải quốc gia nào cũng có một bộ luật riêng(như Hàn Quốc, Malaysia) mà thường nằm dưới dạng các văn bản dưới luật đểđiều chỉnh trong từng giai đoạn, thời điểm vì nó thuộc chính sách quản lý ngoạihối mà mỗi quốc gia theo đuổi

Như Hàn Quốc ban hành đạo luật về giao dịch ngoại hối gồm 6 chương, 30điều quy định cụ thể về các vấn đề liên quan đến mua, bán, trao đổi ngoại tệ…Văn bản này thường xuyên được sửa đổi nhằm phù hợp với chính sách ngoại hốicủa Hàn Quốc

b) Luật công cụ chuyển nhượng

Các quốc gia đều có luật điều chỉnh riêng cho từng công cụ thanh toán và sauđây là hai bộ luật điển hình:

Luật Hối phiếu Anh quốc 1882

Ban hành năm 1882, Đạo luật hối phiếu Anh Quốc trở thành bộ luật đầy đủnhất điều chỉnh hối phiếu Bộ luật gồm 4 phần, 100 điều trong đó phần đầu là sơ

Trang 21

bộ, phần hai với 70 điều quy định về hối phiếu, phần ba đưa ra các quy định choséc, còn phần 4 thìdành cho kỳ phiếu.

Trong khoản 1, điều 3, phần 2 đạo luật này định nghĩa “Hối phiếu là mộtmệnh lệnh vô điều kiện của một người ký phát cho một người khác, yêu cầungười này khi nhìn thấy hối phiếu hoặc đến một ngày cụ thể nhất định hoặc đếnmột ngày có thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho mộtngười nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác hoặc trả chongười cầm hối phiếu”

Luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ

Lần đầu tiên được ban hành vào năm 1952, bộ luật trải qua nhiều lần sửa đổinhưng cấu trúc thì cơ bản vẫn gồm 9 chương điều chỉnh rất nhiều mảng khácnhau trong thương mại bao gồm cả mua bán hàng hoá, ngân hàng và chứngkhoán áp dụng tại tất cả 50 bang Hoa Kỳ Mục đích của UCC chỉ nhằm giảiquyết những vấn đề mà các bên không thoả thuận hoặc quên không thoả thuậnkhi ký hợp đồng mua bán hàng hoá Trên thực tế người bán và người mua phầnlớn chỉ thoả thuận về số lượng, giá cả, đôi khi có thêm phương thức giao hàng và

kỳ hạn thanh toán Chỉ khi các vấn đề phát sinh, các bên mới thoả thuận đếnnhững nội dung chi tiết hơn như giao hàng ở đâu hoặc nghĩa vụ của người muakhi hàng bị nghi vấn có vấn đề UCC được đánh giá là đã trả lời được hầu hếtcác vấn đề thuộc loại như vậy Các bên có toàn quyền thoả thuận về mọi vấn đề

và không bị ràng buộc bởi UCC, nghĩa là cả khi thoả thuận của các bên khác vớiquy định của UCC thì những thoả thuận này vẫn có giá trị áp dụng Nghĩa vụ củacác bên trong UCC được mô tả rất chung Nó chỉ dừng ở thuật ngữ “hợp lý” hoặc

“thông thường được chấp nhận trong thực tiễn kinh doanh” Nếu giữa người bán

và người mua không thống nhất với nhau về cách thực thi công việc và mâuthuẫn phải đưa ra Toà án hoặc Trọng tài Lúc này, Toà án hoặc Trọng tài sẽ đượctoàn quyền chi tiết hoá nội dung luật áp dụng

Trong bộ luật này, chương 3 là chương quy định về các công cụ chuyểnnhượng, bao gồm 6 phần:

Trang 22

Phần 1: Các quy định chung và định nghĩa

Phần 2: Chuyển giao, chuyển nhượng và ký hậu

Phần 3: Thực hiện công cụ chuyển nhượng

Phần 4: Trách nhiệm các bên

Phần 5: Từ chối

Phần 6: Miễn trừ và thanh toán

Theo điều 3, phần 1 Luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ bản sửa đổi năm

1995 đưa ra một khái niệm chung về công cụ chuyển nhượng gồm hối phiếu, kỳphiếu, séc, giấy gửi tiền Khái niệm chỉ rõ “Phương tiện chuyển nhượng có nghĩa

là một lệnh hoặc một lời hứa thanh toán một số tiền nhất định có hoặc khôngkèm lãi suất hoặc các chi phí khác cho Người cầm phiếu”… ”Một phương tiện làmột kỳ phiếu, nếu nó là một lời hứa và là một hối phiếu, nếu nó là một lệnh”…

”Lệnh là một yêu cầu thanh toán bằng văn bản do người yêu cầu phát hành Yêucầu này có thể gửi cho bất cứ ai, bao gồm cả người đưa ra yêu cầu hoặc được gửicho một hay nhiều người”

Mặc dù mỗi nước đều ban hành luật điều chỉnh CCCN riêng, nhưng nhìnchung trên thế giới đang song song tồn tại hai hệ thống luật chính điều chỉnh vềCCCN nói chung, đó là: Geneva Legal System và Anglo-American LegalSystem Hệ thống Geneva Legal System là hệ thống luật chịu ảnh hưởng củaCông ước Geneva 1930 điều chỉnh hối phiếu, kỳ phiếu và Công ước Geneva

1931 điều chỉnh Séc bao gồm các nước vốn là thành viên cùa Công ước, cácnước XHCN Đông Âu trước đây như Ba Lan, Hungary, Albani, Bulgari,Rumani… và các nước mới dành được độc lập kể từ sau đại chiến thế giới thứ 2nguyên là thuộc địa của những nước thành viên Công ước này gồm: Việt Nam,Indonesia, Mông Cổ, Đài Loan, Hàn Quốc, Oman, Thái Lan, Yemen… Còn hệthống Anglo-American Legal System lại là hệ thống luật điều chỉnh về CCCNchịu ảnh hưởng của luật Anh-Mỹ bao gồm luật của Anh, Hoa Kỳ, các nước vốn

là thuộc địa của Anh, Mỹ trước đây như Hồng Kông, Ấn Độ, Singapore, Isarel,

Trang 23

Malaysia, Scotland, Ireland… Về cơ bản thì hai hệ thống luật này là tương tựnhau, tuy nhiên vẫn có những nội dung khác nhau tạo nên những điểm riêng biệtcho từng hệ thống.

c) Luật về bảo lãnh

Một vài quốc gia đã ban hành những luật, những quy định về nghiệp vụ bảolãnh Những quy định này định nghĩa, mô tả nội dung bảo lãnh, điều kiện thanhtoán và quy định trách nhiệm của các bên trong một nghiệp vụ bảo lãnh Chẳnghạn như Uniform Commercial Code ở Mỹ; Luật bảo lãnh của Anh; Chương 665-

674 Luật thương mại quốc tế (International Trade Code) của Cộng Hoà Séc vàSlovakia; Chương 252-255 Luật hợp đồng thương mại quốc tế (InternationalCommercial Contract Act 1976) ở Đức; Chương 1087 của Luật nghĩa vụ (Law ofObligations) của Yugoslavia; những quy định về bảo lãnh ở Hà Lan, Ả Rập…

2.2.3 Văn bản dưới luật

Hoạt động thanh toán quốc tế được điều chỉnh đồng thời bởi các nguồn luậtquốc tế, công ước quốc tế và cả luật quốc gia Tuy nhiên, cho đến nay, đa số cácphương thức thanh toán quốc tế chưa có một văn bản luật quốc tế nào trên thếgiới có hiệu lực để điều chỉnh mà thay vào đó là các thông lệ, tập quán quốc tế

do Phòng thương mại quốc tế ICC ban hành, đó là:

 Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ (Uniform Customsand Practice for Documentary Credit, viết tắt UCP)

ICC được thành lập năm 1999 với mục đích ban đầu là thúc đẩy thương mạiquốc tế vào thời điểm mà chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa bảo hộ đang đe doạnghiêm trọng đến hệ thống thương mại thế giới Thông qua việc tác động tới tất

cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế quốc tế bao gồm thương mại, công nghiệp,vận tải và tài chính, ICC cố gắng cải thiện các điều kiện quan hệ kinh tế giữa cácnước và giải quyết các vấn đề kinh tế quốc tế, thiết lập các mối giao tiếp quốc tếgiữa các nền kinh tế và các tổ chức để trên cơ sở đó giữ gìn nền hoà bình và củng

cố tình hữu nghị giữa các dân tộc Với tinh thần đó, UCP được ban hành đã làm

Trang 24

giảm bớt bất đồng do mỗi quốc gia cố gắng áp dụng một nguyên tắc riêng vềThư tín dụng và đã đạt được mục tiêu là tạo ra một bộ quy tắc hợp đồng từ đóthiết lập sự thống nhất trong thực hành tín dụng chứng từ Nhờ vậy, những xungđột pháp luật không đáng có giữa các quốc gia sẽ được đẩy lùi khi thanh toánbằng phương thức này Với việc UCP được chấp nhận rộng rải trên cả các nước

có hệ thống kinh tế và pháp luật rất khác biệt đã khẳng định sự thành công củaquy tắc này

Tuy nhiên, đây là sản phẩm của một tổ chức quốc tế tư nhân chứ không phải

là cơ quan, chính phủ, do các chuyên gia thuộc khu vực tư nhân soạn thảo nên.Hơn 60 năm hình thành và sửa đổi, với bản UCP đầu tiên được phát hànhnăm 1933 nhằm khắc phục các xung đột về luật điều chỉnh Tín dụng chứng từgiữa các quốc gia, UCP đã qua 6 lần sửa đổi để phù hợp hơn với tình hình pháttriển kinh tế, tài chính, ngân hàng… Văn bản mới nhất là UCP 600 có hiệu lực từngày 1/7/2007 với 39 điều khoản quy định quyền hạn trách nhiệm của các bênliên quan

So với UCP 500, UCP 600 có một số thay đổi cơ bản như: thứ nhất, UCP 600

đã bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm rõ nghĩa của cácthuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500; thứ hai, thuật ngữ “thời gian hợplý” cho việc từ chối hoặc chấp nhận các tài liệu đã được thay thế bằng khoảngthời gian cố định là “5 ngày làm việc ngân hàng”; thứ ba, UCP 600 bổ sung themcác quy định mới cho phép chiết khấu tín dụng thư trả chậm; và thứ tư, theo UCP

600, các ngân hàng có thể chấp nhận tài liệu bảo hiểm có các nội dụng dẫn chiếuđến các điều khoản miễn trừ

Vì chỉ là tập quán quốc tế nên UCP không mang tính chất ràng buộc đối vớicác bên liên quan mà các bên có thể lựa chọn để điều chỉnh giao dịch thanh toánbằng Tín dụng chứng từ của mình hoặc không Chỉ khi trong L/C có dẫn chiếu

áp dụng UCP thì nó mới trở nên có hiệu lực pháp lý bắt buộc điều chỉnh các bêntham gia Tuy nhiên, một khi đã dẫn chiếu phải nêu rõ cụ thể bản UCP nào được

áp dụng vì tất cả bốn bản UCP đều còn nguyên giá trị, phiên bản sau chỉ khắc

Trang 25

phục chứ không phủ quyết phiên bản trước Đặc biệt, các bên có thể thoả thuậnthực hiện hoặc không thực hiện một số điều khoản quy định trong UCP hoặccũng có thể bổ sung thêm một số điều khoản mà UCP không đề cập Ví dụ điều18a UCP 600 quy định “Hoá đơn thương mại không cần phải ký” nhưng quyđịnh này không phù hợp với thông lệ giao dịch thương mại của doanh nghiệpViệt Nam, có thể dẫn đến rủi ro cho người nhận và người giao hàng nên khidoanh nghiệp mở L/C khi áp dụng UCP 600 có thể không áp dụng điều 18a này.

 Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo thư tíndụng (International Standard Banking Practice for Examination of Documentsunder Document Credit, viết tắt ISBP)

Tại cuộc họp tháng 5/2000, Uỷ ban kỹ thuật và thực hành ngân hàng củaphòng thương mại quốc tế đã thành lập nhóm công tác để soạn thảo văn bản

“Tiêu chuẩn quốc tế về thực hành ngân hàng trong kiểm tra chứng từ” xuất trìnhtheo phương thức TDCT được ban hành kèm UCP Đến tháng 10/2002 Uỷ bảnngân hàng của ICC đã thông qua tập quán này với ISBP phiên bản 645 ban hànhkèm UCP 500 và ISBP 681 ban hành kèm UCP 600

ISBP ra đời nhằm cụ thể hoá những quy định trong UCP, thể hiên sự nhấtquán với UCP cũng như các quan điểm và quyết định của Uỷ ban ngân hàng củaICC ISBP không sửa đổi mà chỉ giải thích rõ ràng cách thực hiện UCP đối vớinhững người làm thực tế liên quan đến tín dụng chứng từ Nhờ vậy, thông quaISBP, những thanh toán viên kiểm tra chứng từ ở các ngân hàng, đặc biệt là ngânhàng thanh toán trên toàn thế giới sẽ dễ dàng tìm thấy tiếng nói chung hơn, thốngnhất hơn trong nghiệp vụ

 Bản phụ trương UCP về việc xuất trình chứng từ điện tử (Supplement tothe Uniform customs and practice for documentary credit for electronicpresentation, viết tắt eUCP)

Trang 26

Nhằm đáp ứng xu thế của thương mại điện tử, ngày 1/4/2002 ICC đã banhành eUCP 1.0 cho UCP 500 và cùng với sự sửa đổi UCP 600 thì eUCP 1.0 cũng

đã được sửa đổi thành eUCP 1.1 cho phù hợp

Về bản chất, eUCP là bản phụ Bản phụ trương này bổ sung vào các Quy tắcthực hành thống nhất Tín dụng chứng từ - UCP nhằm điều chỉnh việc xuất trìnhchứng từ điện tử hoặc kết hợp với việc xuất trình chứng từ bằng văn bản Do đóeUCP không phải bản sửa đổi hoặc thay thế UCP mà chỉ là bản phụ trương, bổsung cho khâu xuất trình giấy tờ

 Quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo thư tín dụng(Uniform rules for Bank-to-Bank Reimbursement under Document Credit, viếttắt URR)

URR gồm những quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theothứ tín dụng Cho đến nay đã có 2 phiên bản URR là URR 725 và URR 525 doICC ban hành URR được áp dụng cho tất cả các giao dịch hoàn trả tiền giữa cácngân hàng, khi mà các điều khoản này là bộ phận cấu thành của uỷ quyền hoàntrả Quy tắc này ràng buộc các bên tham gia, trừ khi có thoả thuận khác rõ ràngtrong Uỷ quyền hoàn trả Ngân hàng phát hành có trách nhiệm quy định trongthư tín dụng là yêu cầu hoàn trả tuân thủ quy tắc này

Khi tuân thủ nguyên tắc này trong việc hoàn trả giữa các ngân hàng, ngânhàng hoàn trả hành động theo các chỉ thị và quy tắc này không có ý định loại bỏhoặc thay đổi các điều khoản của UCP

 Quy tắc thông nhất về nhờ thu (Uniform Rules for Collection, viết tắtURC)

Được phòng thương mại quốc tế ban hành đầu tiên vào năm 1956 và sửa đổimới nhất là năm 1995, URC 522 bao gồm 26 điều khoản quy định rõ về: cáchthức và cấu trúc nhờ thu, các nghĩa vụ và trách nhiệm trong nhờ thu, thanh toánnhờ thu, lãi suất chi phí cho thanh toán nhờ thu

Trang 27

 Quy tắc thống nhất bảo lãnh theo yêu cầu (Uniform Rules for ContractGuarantees, viết tắt URCG)

Năm 1978, phòng thương mại quốc tế đã ban hành quy tắc thống nhất về bảolãnh hợp đồng, ấn phẩm số 325 Ngoài việc, đưa ra những tiêu chuẩn chung, mụcđích của URCG 325 là làm giảm bớt khả năng phát sinh tranh chấp trong hoạtđộng bảo lãnh bằng việc đưa ra các quy tắc công bằng, hợp lý Mục đích quy tắcnày là làm một chuẩn mực thực hành bảo lãnh và tạo đà phát triển cho giao dịchthương mại Nhưng thực tế URCG lại không được đón nhận rộng rãi, nhượcđiểm của nó là yêu cầu người thụ hưởng khi đòi thanh toán phải xuất trình phánquyết của toà án hay quyết định trọng tài, thậm chí cả văn bản chấp nhận việcđòi tiền của người được bảo lãnh Đến tháng 11/1988, ICC đã có những văn bảngiải thích, bổ sung nhưng quy tắc này vẫn không được chấp nhận rộng Thực tếnày đòi hỏi sự nghiên cứu xem xét của ICC và đến tháng 12/1991, ấn phẩm số458- Quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu (URDG 458, ICC 1992) đãđược hoàn tất và ban hành tháng 4/1992

Quy tắc mới tổng hợp những tiến bộ của quy tắc thống nhất về bảo lãnh hợpđồng Nó quy định việc người phát hành thanh toán bảo lãnh chỉ dựa trên cácchứng từ yêu cầu thanh toán và chứng từ khác, không cần phải xác định việc viphạm thật sự của người được bảo lãnh bằng những chứng từ của một bên thứ banhư quyết định của trọng tài, phán quyết của toà án Tuy nhiên để công bằnggiữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh, quy tắc này cũng quyđịnh một yêu cầu thanh toán phải được thành lập bằng văn bản và ít nhất phảikèm theo thông báo của người thụ hưởng thể hiện rằng ở một khía cạnh nào đóngười được bảo lãnh đã vi phạm hợp đồng

URDG 458 không chỉ điều tiết mối quan hệ giữa người bảo lãnh và ngườihưởng mà cũng quy định những điểu khoản liên quan đến bảo lãnh đối ứng(Counter Guarantee)

 Quy tắc quốc tế về tín dụng dự phòng (International Standby Practice, viếttắt ISP)

Trang 28

Văn bản này cũng do ICC ban hành, cung cấp các quy tắc về thực hànhnghiệp vụ ngân hàng tiêu chuẩn đối với thư tín dụng và các cam kết độc lập cóliên quan đến thư tín dụng dự phòng ISP 98 là một sản phẩm mang tính cáchmạng về việc áp dụng UCP đối với thư tín dụng dự phòng ISP đưa ra một lờigiải thích rõ ràng, dễ được chấp nhận đối với các vấn đề thưởng nảy sinh và mặc

dù có những điểm trùng lặp với UCP nhưng ISP chính xác hơn và đưa ra nhữngnội dung mà UCP giải thích chưa rõ ràng để thư tín dụng dự phòng thực sự cóthể được tin cậy khi có yêu cầu thanh toán Tuy nhiên, thư tín dụng dự phòngvẫn có thể được phát hành theo UCP nếu các bên quyết định như vậy

Nhìn chung các quy ước, thông lệ quốc tế trên được áp dụng rộng rãi tronghoạt động thương mại quốc tế và trong thanh toán xuất nhập khẩu ở nhiều nước.Một số nước đã coi những công ước, luật, thông lệ, quy tắc quốc tế như một bộphận của luật pháp quốc gia như Mỹ Ở nhiều nước khác nhìn nhận UCP là vănbản nằm trong hệ thống thông lệ, tập quán quốc tế mà khách hàng các nướcmuốn trao đổi với nhau đều phải tuân thủ Tuy vậy, trong lý luận và thực tiễnpháp luật từng nước riêng biệt có thể gặp những quan điểm khác nhau về bảnchất pháp lý của các nguyên tắc thông kệ thống nhất Mức độ vận dụng cácthông lệ này tuỳ thuộc vào hệ thống pháp luật từng quốc gia Khi có sự khác biệt,thậm chí đối nghịch giữa hệ thống luật quốc gia và thông lệ, quy tắc, văn bảnpháp lý quốc tế thì luật quốc gia thường sẽ được tôn trọng trước hết

2.3 Cơ chế đảm bảo thực thi và giải quyết tranh chấp

Để khung pháp lý được áp dụng hiệu quả, các văn bản pháp luật điều chỉnh

có tác dụng đối với hoạt động thanh toán quốc tế thì cần phải có các cơ quanthực hiện cơ chế đảm bảo thực thi những văn bản này đồng thời cần phải có một

cơ chế xử lý cụ thể, rõ ràng đối với những sai phạm xảy ra

a) Về cơ chế đảm bảo thực thi

NHTW là cơ quan thực hiện việc tổ chức, giám sát, điều chỉnh nghiệp vụthanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại Theo luật ngân hàng nhà

Trang 29

nước, pháp lệnh ngoại hối của các quốc gia, NHTW có nhiệm vụ quản lý ngoạihối, quản lý các giao dịch vãng lai trên lãnh thổ mà ở đây phần lớn là việc thanhtoán chuyển tiền liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ nơi thanh toánquốc tế là một khâu then chốt.

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quan tâm sâu sắc đến sự hoạt độngthông suốt của các hệ thống thanh toán trên cơ sở giảm thiểu các rủi ro hệ thống.Việc đánh giá về sự phù hợp trong thiết kế với mục đích kiểm soát rủi ro hệthống của các hệ thống thanh toán ở châu Âu căn cứ trên các chuẩn mực do Ủyban các hệ thống thanh toán và quyết toán (CPSS) của Ngân hàng Thanh toánquốc tế (BIS) đưa ra, bao gồm 10 nguyên tắc then chốt

Tại Pháp, pháp luật quy định vị thế pháp lý của Ngân hàng Trung ương(NHTW) Pháp đối với hệ thống thanh toán theo các điều khoản của Hiệp ước

Maastricht Theo đó, NHTW Pháp có trách nhiệm đảm bảo cho hoạt động thông

suốt và sự an toàn của các hệ thống thanh toán trong khuôn khổ nhiệm vụ của hệthống các Ngân hàng Trung ương châu Âu liên quan đến hoạt động của các hệthống thanh toán NHTW Pháp đảm bảo sự an toàn của các phương tiện thanhtoán, đồng thời đảm bảo sự thích hợp về các chuẩn mực được áp dụng trong hoạtđộng thanh toán

Bộ và các cơ quan ngang bộ có trách nhiệm quản lý Nhà nước về hoạt độngngoại hối trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, báo cáo thông tin, sốliệu về hoạt động ngoại hối cho ngân hàng nhà nước nhằm phục vụ công tácquản lý ngoại hối của Nhà nước và lập cán cân thanh toán quốc tế

Bên cạnh đó, NHTW cùng với Bộ và các cơ quan ngang Bộ có trách nhiệmthanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công cụ chuyểnnhượng có liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng

b) Về cơ chế xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp

Các tranh chấp, vi phạm liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế có thểđược giải quyết tại Toà án hoặc Trọng tài thương mại Tuy nhiên, các doanh

Trang 30

nghiệp cũng có thể lựa chọn các phương thức khác không trái luật như hoà giải,thương lượng trước khi phải nhờ cậy đến toà án và trọng tài.

Với những tranh chấp liên quan đến các hợp đồng thương mại quốc tế thì Toà

án thường ít được lựa chọn do phải xét xử công khai, mất nhiều thời gian, và cácquyết định thường mang tính pháp lý cao hơn là hướng đến kinh doanh Trình tự

và thủ tục giải quyết tại toà án được thực hiện theo luật tố tụng dân sự tại nước

sở tại

Khuynh hướng phổ biến ngày nay trên thế giới là sử dụng trọng tài với năm

ưu điểm lớn:

Thứ nhất, các bên có nhiều quyền tự định đoạt, chẳng hạn như được tự do lựa

chọn trọng tài (thậm chí được tự mình lập ra trọng tài), quy tắc tố tụng, luật ápdụng, địa điểm, ngôn ngữ, thời gian tiến hành các hoạt động tố tụng của trọngtài

Thứ hai, có nhiều trọng tài viên là các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực

như hàng hải, sở hữu trí tuệ, ngoại thương, công nghệ thông tin… Vì vậy, đốivới các tranh chấp đòi hỏi chuyên môn cao, doanh nghiệp hoàn toàn có quyềnchủ động tìm và lựa chọn những trọng tài đáp ứng yêu cầu nói trên

Thứ ba, việc xét xử tại trọng tài được giữ bí mật Điều này rất có lợi cho các

bên, nhất là trong các tranh chấp liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanhhay các yếu tố khác mà doanh nghiệp không muốn cho người ngoài cuộc biết

Thứ tư, tính minh bạch cao trong xét xử Theo đó, tất cả tài liệu, chứng cứ của

một bên đều được trọng tài gửi ngay cho các đương sự còn lại để họ phản biệnhay kiện lại Trong tố tụng dân sự của toà án cũng có quy định cho các bênquyền này nhưng thực tế hầu như không thực hiện được

Cuối cùng là thuận lợi trong việc rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp.Nếu giải quyết bằng con đường toà án, đương đơn có thể mất rất nhiều thời gian

do phải qua hàng loạt cấp xét xử như sơ thẩm, phúc thẩm, thậm chí giám đốcthẩm, tái thẩm Trong khi đó quyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm và có

Trang 31

hiệu lực cưỡng chế ngay Ngày nay, về việc chấp hành quyết định của trọng tàingười ta thường dẫn chiếu tới công ước New York năm 1958 về việc “Côngnhận và cưỡng chế chấp hành các quyết định của trọng tài nước ngoài” Trình tự,thủ tục tố tụng trọng tài được thực hiện theo luật về trọng tài thương mại mỗinước.

Trang 32

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG

THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI TRUNG QUỐC

********************

1 Tổng quan hoạt động thanh toán quốc tế tại Trung Quốc

1.1 Đôi nét về hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại Trung Quốc

Trước năm 1949, hệ thống ngân hàng Trung Quốc bao gồm Ngân hàng Quốcgia Trung Quốc (nay là Ngân hang Trung ương Trung Quốc), ba ngân hàngthương mại lớn là Ngân hàng Viễn thông, Ngân hàng Nông nghiệp và Ngân hàngTrung Quốc và một số ngân hàng nhỏ, tổ chức tài chính độc lập khác Năm 1949khi nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa được thành lập thì ba ngân hàng lớnnày được sáp nhập hoặc liên kết với Ngân hàng Trung ương trở thành hệ thốngngân hàng một cấp, cung cấp phần lớn dịch vụ ngân hàng trong đó có hoạt độngTTQT nhưng hoạt động này không phát triển

Năm 1979 theo chương trình cải cách kinh tế từ mô hình tập trung quan liêubao cấp sang mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý tậptrung cao độ sang cơ chế quản lý có mức tự do hoá và phân cấp cao hơn Ngânhàng Nông nghiệp, Ngân hàng Xây dựng và Ngân hàng Trung Quốc tách riêngkhỏi hoạt động của Ngân hàng Trung ương cung cấp dịch vụ tài chính cho mộtngành nhất định của nền kinh tế Năm 1984 Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa với

tư cách là NHTW được xác định rõ nhiệm vụ của mình là thực thi chính sáchtiền tệ, quản lý thị trường tài chính, phát hành tiền… nên không còn là một ngânhàng thương mại nữa Đường lối cải cách đổi mới đã giúp cho nền kinh tế TrungQuốc tăng trưởng mạnh, đặc biệt là hoạt động kinh tế đối ngoại:

Trang 33

Bảng 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc từ năm 2007 đến năm

“Nguồn: Tổng cục Hải quan Trung Quốc”

Cùng với tăng trưởng kinh tế đối ngoại thì doanh số hoạt động TTQT cũnggia tăng mạnh với việc ngày càng nhiều NHTM thực hiện hoạt động này Trong

đó, bốn ngân hàng lớn nhất Trung Quốc bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp,Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Xây dựng và Ngân hàng Trung Quốc luôndẫn đầu cả nước về hoạt động TTQT, đặc biệt là việc phát hành L/C

Bảng 2: Khối lượng thanh toán quốc tế do 4 ngân hàng thương mại lớn nhất

Trung Quốc thực hiện trong năm 2010

Đơn vị: tỷ USD

Ngân

hàng

Ngân hàng Xâydựng TrungQuốc

Ngân hàngNông nghiệpTrung Quốc

Ngân hàngCông thươngTrung Quốc

Ngân hàngTrung Quốc

Doanh số

“Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2010 tại 4 ngân hàng”

Trong đó Ngân hàng Trung Quốc (Bank of China) đã thực hiện được hơn

1970 tỷ USD khối lượng các giao dịch thanh toán quốc tế và trở thành ngân hàngđứng đầu trên thế giới về hoạt động này

Trang 34

Hình 1: Khối lượng thanh toán quốc tế của Ngân hàng Trung Quốc do các chi nhánh trong nước và nước ngoài thực hiện năm 2010

“Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2010 của Ngân hàng Trung Quốc”

Đóng góp TTQT vào hoạt động ngoại bảng của ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc như sau:

Bảng 3: Doanh số TTQT trong hoạt động ngoại bảng của ngân hàng Nông

nghiệp Trung Quốc từ năm 2009 đến 2011

Đơn vị: triệu CNY

“Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2009, 2010 và 2011của ngân hàng Nông

nghiệp Trung Quốc”

Trang 35

1.2 Các phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng chủ yếu tại

Trung Quốc

1.2.1 Trả tiền trước

Người mua hàng tại Trung Quốc có thể gặp khá nhiều khó khăn trong việc trảtiền trước do ngoại hối thanh toán phải được sự đồng ý của Cục quản lý ngoạihối Trung Quốc (SAFE) Tuy nhiên, phương thức thanh toán này không phải làkhông thể áp dụng được khi người mua là các công ty tư nhân và cho các đơnhàng với chu kỳ sản xuất dài hay các đơn hàng đặt riêng Trong trường hợp này,người mua hàng có thể yêu cầu các hình thức đảm bảo thực hiện hợp đồng đểgiảm thiểu rủi ro, do đó, nhà xuất khẩu sẽ có thể phải lập một thư tín dụng dựphòng cho người mua hưởng

1.2.2 Tín dụng chứng từ

Tín dụng chứng từ được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế tại TrungQuốc và có xu hướng là phương pháp thanh toán được ưa chuộng nhất trong hầuhết các giao dịch Thư tín dụng chủ yếu được yêu cầu được mở tại các ngân hàng

có uy tín tại Trung Quốc như ngân hàng Nông nghiệp, ngân hàng Xây dựng,ngân hàng Trung Quốc, ngân hàng Viễn thông, ngân hàng Công thương hayngân hàng Phát triển Tuy nhiên hầu hết các thư tín dụng được mở đều là thư tíndụng không có xác nhận của ngân hàng thứ ba

1.2.3 Nhờ thu kèm chứng từ

Cũng như tại các nước khác, đây không phải là phương pháp thanh toán phổbiến cho các sản phẩm hàng hoá tại Trung Quốc, đặc biệt là cho các hợp đồng cóthể kéo dài hàng tháng với giá có thể thường xuyên dao động Rủi ro của ngườixuất khẩu là người nhập khẩu có thể không thanh toán hoặc không đồng ý thanhtoán khi giá trong hợp đồng cao hơn đáng kể giá hiện hành trên thị trường Vớikịch bản này, các điều khoản nhờ thu sẽ đem lại cho nhà xuất khẩu cơ hội đểđàm phán lại giá hợp đồng Tương tự, phương thức này cũng không được sửdụng đối với các mặt hàng nhạy cảm về thời gian hay đặt riêng Đặc biệt làngười mua có thể vịn vào cớ mặt hàng có thể hỏng hóc hay không có người mua

Trang 36

đặt riêng khác Tuy nhiên, phương thức này có thể được sử dụng với những đơnhàng có giá trị không lớn hay các mặt hàng thiết yếu quan trọng với nhập khẩucủa Trung Quốc (đặc biệt là nhà xuất khẩu phải hỗ trợ về kỹ thuật và cài đặt) hay

có sự tin tưởng lớn giữa các doanh nghiệp Trung Quốc và nước bạn hàng

1.2.4 Ghi sổ

Phương thức ghi sổ đang được yêu cầu ngày càng nhiều hơn và thường xuyênhơn bởi các nhà nhập khẩu Trung Quốc Các ngân hàng nước ngoài lúc này sẽcung cấp các bảo hiểm tín dụng giúp nhà xuất khẩu tránh rủi ro và nó phải đượcchấp nhận trước khi đàm phán các điều khoản về ghi sổ

2 Thực trạng môi trường pháp lý trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Trung Quốc

2.1 Hệ thống văn bản pháp luật Trung Quốc về thanh toán quốc tế

Trong văn bản này có 1 chương (chương thứ tám) gồm 9 điều từ điều 142 đếnđiều 150 quy định về việc áp dụng pháp luật trong quan hệ dân sự với ngườinước ngoài:

Về việc áp dụng các Hiệp ước quốc tế, Luật dân sự Trung Quốc hay thông lệquốc tế, điều 142 có quy định:

Nếu bất kỳ hiệp ước quốc tế nào được kí kết hoặc chấp thuận bởi nướcCHNDTH mà có điều khoản trái với các điều khoản trong luật dân sự của nướcCHNDTH thì các quy định trong hiệp ước quốc tế được áp dụng, trừ trường hợpcác quy định này đã được nêu trước là áp dụng luật của Trung Quốc

Trang 37

Các thông lệ quốc tế có thể được áp dụng đối với các vấn đề mà trong luậtcủa nước CHNDTH lẫn các hiệp ước quốc tế được kí kết hay chấp thuận bởinước CHNDTH không quy định.

Theo quy định tại Điều 145: Các bên tham gia hợp đồng liên quan đến lợi íchnước ngoài có thể lựa chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp trong hợp đồngcủa họ, trừ khi có quy định khác của pháp luật

Nếu các bên tham gia hợp đồng liên quan đến lợi ích nước ngoài không quyđịnh trước, pháp luật của nước mà hợp đồng liên quan gần nhất sẽ được áp dụng

Và theo Điều 150: Việc áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc thông lệ quốc tếphù hợp với quy định của Chương này không được vi phạm các lợi ích côngcộng của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Điều 5 quy định: Các bên tham gia hợp đồng có thể lựa chọn pháp luật phùhợp để giải quyết các tranh chấp trong hợp đồng Trong trường hợp không có lựachọn giữa các bên, luật của quốc gia liên quan gần nhất với hợp đồng sẽ được ápdụng

Luật pháp Trung Quốc sẽ được áp dụng đối với các hợp đồng được thực hiệntrên lãnh thổ Trung Quốc, cụ thể là các hợp đồngcholiên doanh vốn giữa nướcngoài với Trung Quốc, liên doanh theo hợp đồng giữa nước ngoài với TrungQuốc và hợp đồng hợp tác về khai thác và phát triển tài nguyên thiên nhiên củaTrung Quốc với nước ngoài

Trang 38

Đối với những vấn đề không được đề cập trong pháp luật của Trung Quốc thìtập quán quốc tế sẽ được áp dụng.

Còn theo điều 6: Trường hợp một hiệp ước quốc tế mà Trung Quốc kí kết haychấp thuận có liên quan đến hợp đồng mà có quy định khác với quy định trongluật pháp Trung Quốc thì khi đó hiệp ước quốc tế sẽ được ưu tiên, trừ trường hợpcác với các điều khoản đã quy định trước là áp dụng luật của Trung Quốc

Luật Hợp đồng của nước CHNDTH

Các nguyên tắc trên cũng được nhắc lại ở điều 126 chương 8 của Luật Hợpđồng nước CHNDTH ban hành bởi Quốc Hội năm 1999 quy định: Các bên thamgia hợp đồng với nước ngoài có thể lựa chọn luật áp dụng để giải quyết tranhchấp trong hợp đồng Trường hợp các bên trong hợp đồng không lựa chọn phápluật áp dụng thì sẽ áp dụng luật của nước liên quan gần nhất

Đối với các hợp đồng liên doanh vốn nước ngoài với Trung Quốc, liên doanhtheo hợp đồng nước ngoài với Trung Quốc và hợp đồng hợp tác về khai thác vàphát triển tài nguyên thiên nhiên nước ngoài với Trung Quốc thì luật của TrungQuốc sẽ được áp dụng

Theo quy định tại điều 160 và điều 161 liên quan đến việc thanh toán tronghợp đồng:

Người mua phải thanh toán tại địa điểm đã thoả thuận Trường hợp địa điểmthanh toán không được đồng ý hoặc thỏa thuận này là không rõ ràng, và cũngkhông thể được xác định theo quy định tại Điều 61 của Luật này, người mua phảithanh toán tại địa điểm kinh doanh của người bán, cung cấp nếucác bên đã đồng

ý thanh toán có điều kiện khi giao hàng của đối tượng hoặc tài liệu cho việc giaohàng, thanh toán được thực hiện tại nơi đối tượng, hoặc tài liệu cho việc giaohàng, được phân phối

Người mua phải thanh toán tại thời điểm đã thoả thuận Trường hợp thời gianthanh toán không đồng ý hoặc thỏa thuận này là không rõ ràng, và cũng không

Ngày đăng: 11/01/2016, 13:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc từ năm 2007 - Nghiên cứu môi trường pháp lý trong thanh toán quốc tế tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 1 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc từ năm 2007 (Trang 8)
Bảng 2: Khối lượng thanh toán quốc tế do 4 ngân hàng thương mại lớn nhất - Nghiên cứu môi trường pháp lý trong thanh toán quốc tế tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2 Khối lượng thanh toán quốc tế do 4 ngân hàng thương mại lớn nhất (Trang 33)
Bảng 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc từ năm 2007 đến năm - Nghiên cứu môi trường pháp lý trong thanh toán quốc tế tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 1 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc từ năm 2007 đến năm (Trang 33)
Hình 1: Khối lượng thanh toán quốc tế của Ngân hàng Trung Quốc do  các chi nhánh trong nước và nước ngoài thực hiện năm 2010 - Nghiên cứu môi trường pháp lý trong thanh toán quốc tế tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hình 1 Khối lượng thanh toán quốc tế của Ngân hàng Trung Quốc do các chi nhánh trong nước và nước ngoài thực hiện năm 2010 (Trang 34)
Bảng 3: Doanh số TTQT trong hoạt động ngoại bảng của ngân hàng Nông - Nghiên cứu môi trường pháp lý trong thanh toán quốc tế tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 3 Doanh số TTQT trong hoạt động ngoại bảng của ngân hàng Nông (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w