1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nƣớc đang phát triển và bài học dành cho Việt Nam

85 423 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống con người, tín dụng và tiết kiệm vi mô đã và đang giúp cải thiện đời sống, nâng cao quyền lợi của rất nhiều phụ nữ ở các đất nước đang

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-o0o -

Công trình tham dự Cuộc thi

Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2012

Tên công trình: Kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng

và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nước đang phát triển và bài học dành cho Việt Nam

Nhóm ngành: KD3

Hà Nội , tháng 04 năm 2012

Trang 2

VIẾT TẮT

Tên viết tắt Tên đầy đủ

BRAC Base Realignment and Closure

CDC Bình Minh Công ty Tư vấn Phát triển Cộng đồng Bình Minh

CEP Capital aid fund for employment of the poor

CFRC Central Florida Reception Center

CHVs team of Community Health Volunteers

CHWs Community Health Workers

EHC Essential Health Care programme

ILO Trung tâm đào tạo quốc tế

M7 National Microfinance Network

PFD Partners for Development

PPA Participatory Poverty Assessment

ROSCAs Rotating Savings and Credit Associations

SAS Special Air Service

TYM Tổ chức tài chính quy mô nhỏ TNHH MTV Tình thương

UNDP United Nations Development Program

VASS Vietnam Academy of Social Sciences

VBSP Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Xã hội ngày càng phát triển, thu nhập và mức sống của người dân ngày càng được nâng lên và tỉ lệ nghèo của các quốc gia trên thế giới đang ngày càng giảm xuống Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia, đặc biệt ở các nước đang phát triển, tỉ lệ dân số nghèo vẫn ở mức cao và cuộc chiến chống đói nghèo tại các quốc gia này vẫn gặp nhiều khó khăn Trong đó, tỉ lệ phụ nữ nghèo thường cao hơn tỉ lệ nghèo của nam giới,

vì thế mục tiêu giảm tỉ lệ phụ nữ nghèo cũng một trong những mục tiêu hàng đầu trong chính sách giảm đói nghèo tại các quốc gia Với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống con người, tín dụng và tiết kiệm vi mô đã và đang giúp cải thiện đời sống, nâng cao quyền lợi của rất nhiều phụ nữ ở các đất nước đang phát triển.Tuy nhiên, sự đói nghèo và sự bất bình đẳng trong giới khiến phụ nữ ở các đất nước này được tiếp cận tài chính vi mô một cách hạn chế và còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống Vậy tín dụng và tiết kiệm vi mô đóng vai trò như thế nào và làm thế nào để nâng cao tính hiệu quả, tầm ảnh hưởng của tài chính vi mô đến phụ nữ ở các nước đang phát triển?

Đó là những câu hỏi cần được nghiên cứu một cách chuyên sâu, kỹ càng và lời giải cho các câu hỏi này sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển bền vững của các quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển

Tại Việt Nam, tài chính vi mô đã ra đời và phát triển từ những năm 90 của thế kỷ trước và hiện nay đã có nhiều đóng góp trong sự phát triển của phụ nữ Việt Nam nói riêng và người dân Việt Nam nói chung Tuy nhiên, đến nay ở Việt Nam vẫn ít người biết đến tài chính vi mô và các tài liệu, bài viết nghiên cứu về vai trò của tài chính vi

mô đối với phụ nữ nghèo còn chưa nhiều Vì thế tôi mong muốn đưa ra một số về kinh nghiệm nâng cao vai trò của tài chính vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nước đang phát triển và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả, vai trò của tài chính vi

mô ở Việt Nam Bởi “ tài chính vi mô” là một khái niệm khá rộng, bao gồm nhiều hoạt động, trong đó tín dụng và tiết kiệm vi mô là hai hoạt động lớn và phổ biến nhất trong

Trang 4

các chương trình tài chính vi mô Vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài cho

bài nghiên cứu khoa học của mình là “Kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nước đang phát triển và bài học dành cho Việt Nam”

2 Tầm quan trọng của đề tài:

Phụ nữ ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế của gia đình

và cộng đồng và tài chính vi mô là một công cụ hữu hiệu giúp phụ nữ phát huy quyền lợi và vai trò của mình Đánh giá một cách chính xác và đưa ra được các biện pháp tăng cường tính hiệu quả, vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đến phụ nữ nghèo ở các nước đang phát triển sẽ là một mắt xích quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội ở các nước đang phát triển nói riêng và toàn thế giới nói chung

Tại Việt Nam, sự tổng hợp các kinh nghiệm từ các chương trình tài chính vi mô thành công ở các nước khác trên thế giới sẽ là một bài học cần thiết trong quá trình tăng cường hiệu quả và vai trò của tài chính vi mô như kinh nghiệm nào Việt Nam cần học hỏi, kinh nghiệm nào có thể ứng dụng vào thực tiễn ở Việt Nam hoặc những kinh nghiệm nào có thể giúp Việt Nam tránh được những sai lầm của các chương trình tài chính vi mô trước Bên cạnh đó, bài viết này sẽ là một tài liệu để Việt Nam có thể so sánh về sự phát triển của tài chính vi mô ở Việt Nam so với một số nước đang phát triển khác trên thế giới Ngoài ra, em hy vọng những giải pháp được đưa ra trong bài viết này sẽ là một gợi ý, ý tưởng để ngành tài chính vi mô ở Việt Nam có thế phát triển

và nâng cao được vai trò, hiệu quả hoạt động của mình trong tương lai

3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu:

Trên thế giới, đã có nhiều học giả, các nhà kinh tế học nghiên cứu chuyên sâu về tín dụng và tiết kiệm vi mô

- “Women, Microfinance, and Savings:Lessons and Proposals” của Rebecca M Vonderlack and Mark Schreiner (9/2001) Thông qua bài nghiên cứu, tác giả đã đánh giá và làm nổi bật vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô, đặc biệt là tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo và doanh nhân nữ Ngoài ra, tác giả còn đưa ra một số mô hình

Trang 5

tiết kiệm vi mô hiệu quả trên thế giới, từ đó đưa ra các bài học kinh nghiệm quý báu về xây dựng các mô hình tiết kiệm vi mô dành cho phụ nữ

- “The impact of microfinance programs for poor people: A comparative study of Grameen Bank, BRAC and ASA som selected areas in Bangladesh” của Md Ruhul Amin &Md Rashidul (2011) Bài nghiên cứu đã so sánh một cách toàn diện và sâu sắc

về ba tổ chức tài chính vi mô lớn nhất Bangladesh với các chương trình tín dụng và tiết kiệm vi mô thành công về đặc điểm, vai trò đối với người nghèo Bài nghiên cứu đã mang lại một cái nhìn tổng quát bức tranh toàn cảnh về những thành tựu mà ngành tài chính vi mô Bangladesh đã đạt được, từ đó đưa ra các kinh nghiệm cho sự phát triển tài chính vi mô ở các nước khác

Ngoài ra còn rất nhiều bài nghiên cứu về tín dụng và tiết kiệm vi mô khác Mỗi bài nghiên cứu lại đưa ra những bài học, những kinh nghiệm cần thiết cho sự phát triển hoạt động tín dụng và tiết kiệm vi mô Tuy nhiên, chưa có bài nghiên cứu nào tổng hợp

về kinh nghiệm nâng cao vai trò của cả tín dụng vi mô và tiết kiệm vi mô đối với phụ

nữ nghèo ở các nước đang phát triển

Tuy ở nước ngoài, đã có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề này, nhưng ở Việt Nam các bài nghiên cứu về kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô nói riêng đối với phụ nữ nghèo còn khá ít, lẻ tẻ, chưa có bài viết tổng hợp để từ đấy đưa ra các bài học, biện pháp dành cho Việt Nam Một số bài nghiên cứu tiêu biểu là:

- “Báo cáo đánh giá về ngành tài chính vi mô Việt Nam” (7/2008) Báo cáo đã cung cấp bức tranh tổng thể của ngành tài chính Việt Nam đến đầu năm 2008, đánh giá chuyên sâu về tình hình tài chính vi mô Việt Nam và đánh giá triển vọng phát triển của ngành tài chính vi mô Việt Nam trong tương lai

- “Phát triển tài chính vi mô ở khu vực nông nghiệp, nông thôn” của TS Nguyễn Kim Anh (2011) Đây là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành và bài nghiên cứu

đã đánh giá rất sâu sắc về thực trạng và kết quả hoạt động của tài chính vi mô ở nông thôn Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp thực tế và hiệu quả để phát triển ngành tài chính vi mô ở nông thôn Việt Nam

Trang 6

4 Mục tiêu nghiên cứu:

Bài nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ lý luận chung về tín dụng và tiết kiệm vi mô

và các đặc điểm khiến phụ nữ nghèo ở các nước đang phát triển phù hợp trở thành đối tượng chủ yếu của tín dụng và tiết kiệm vi mô; phân tích kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nước đang phát triển; đánh giá tình hình hoạt động tín dụng và tiết kiệm vi mô ở Việt Nam, chỉ ra những điểm mạnh và hạn chế cần khắc phục trong công tác nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở Việt Nam; từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả của hoạt động tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo

ở Việt Nam nhằm cải thiện đời sống của phụ nữ nghèo và góp phần giúp ngành tài chính vi mô Việt Nam phát triển một cách hiệu quả và bền vững hơn

5 Đối tƣợng nghiên cứu:

Bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao vai trò của các chương trình tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nước đang phát triển Đồng thời, nghiên cứu thực trạng hoạt động tín dụng và tiết kiệm vi mô ở Việt Nam tác động hiệu quả và đóng vai trò như thế nào đối với phụ nữ nghèo để nhìn

ra các điểm mạnh, phát hiện các điểm yếu, hạn chế còn tồn tại trong công tác nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở Việt Nam nhằm đưa ra

các biện pháp khắc phục, hoàn thiện

6 Phạm vi nghiên cứu:

Bài nghiên cứu tập trung nói về tín dụng và tiết kiệm vi mô – hai hoạt động cơ bản và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngành tài chính vi mô Trong bài nghiên cứu, cụm từ “tài chính vi mô” sẽ được sử dụng nhiều và có thể hiểu là bài nghiên cứu đang nói tới hoạt động tín dụng và tiết kiệm vi mô mà không phải là toàn bộ các hoạt động trong tài chính vi mô

Bài nghiên cứu tập trung rà soát các tư liệu liên quan được thực hiện ở một số nước đang phát triển có ngành tài chính vi mô phát triển: Ấn Độ, Bangladesh, Nigieria, Ghana, Indonesia, Mexico

Trang 7

7 Phương pháp nghiên cứu:

- Dựa trên những nghiên cứu sẵn có kết hợp với tư liệu thực tế để tổng hợp, đánh giá, phân tích, so sánh tình hình, kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm

vi mô đối với phụ nữ ở một số nước đang phát triển

- Đi khảo sát địa bàn, đi thực tế ở một số tỉnh còn khó khăn ở Việt Nam nhằm thu nhận những ý kiến, đánh giá thực tế từ người dân, đặc biệt là phụ nữ về vai trò của tài chính vi mô, đồng thời tiếp nhận những mong muốn, kỳ vọng của họ về vấn đề này

- Sử dụng các sơ đồ, nguồn số liệu và tình hình thực tế ở Việt Nam kết hợp với rà soát, nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước về kinh nghiệm, các chương trình tín dụng và tiết kiệm vi mô thành công; từ đó chọn lọc và phát triển những phương pháp, chương trình mang tính thực tế, có hiệu quả cho việc nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở Việt Nam

8 Kết cấu của bài nghiên cứu

Kết cấu của bài nghiên cứu: ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung cơ bản của bài nghiên cứu gồm 3 chương

- Chương 1: Tổng quan về tín dụng và tiết kiệm vi mô Đặc điểm của phụ nữ

nghèo ở các nước đang phát triển

- Chương 2: Kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối

với phụ nữ nghèo của một số nước đang phát triển

- Chương 3: Bài học dành cho Việt Nam

9 Kết quả nghiên cứu dự kiến:

- Đánh giá toàn diện và sâu sắc về kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nước đang phát triển

- Tìm hiểu được thực trạng, nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại trong vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở Việt Nam, từ đó đưa ra được những giải pháp phù hợp và hiệu quả để nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo nói riêng và đối với người dân nghèo ở Việt Nam nói chung

Trang 8

NỘI DUNG

CHƯƠNG I TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG VÀ TIẾT KIỆM VI MÔ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHỤ NỮ NGHÈO Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

1 Đặc điểm của tín dụng và tiết kiệm vi mô

1.1 Khái niệm của tín dụng và tiết kiệm vi mô

1.1.1 Tín dụng vi mô

Tín dụng vi mô là những khoản vay nhỏ dành cho người nghèo cho các dự án việc làm tự tạo ra thu nhập, cho phép họ chăm sóc bản thân và gia đình của họ Hầu hết các điều khoản và điều kiện cho vay tín dụng vi mô là linh hoạt, dễ dàng để hiểu và

phù hợp với điều kiện địa phương của cộng đồng (The Virtual Library on Microcredit,

- Tín dụng vi mô dựa trên các nhóm thức truyền thống (Totin, Susu, ROSCA,…)

- hoạt động dựa trên tín dụng vi mô thông qua các ngân hàng thông thường hoặc chuyên ngành (tín dụng nông nghiệp, tín dụng chăn nuôi, tín dụng thủy sản, …)

- Hợp tác xã tín dụng vi mô (tín dụng hợp tác xã, tín dụng công đoàn, tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm, …)

- Tín dụng vi mô cho người tiêu dùng

- Ngân hàng - tổ chức phi chính phủ quan hệ đối tác dựa trên tín dụng vi mô

- Tín dụng Grameen

- Các loại tín dụng vi mô khác của các tổ chức phi chính phủ

Trang 9

- Các loại tín dụng vi mô khác của các tổ chức của chính phủ không cần thế chấp Trong phạm vi bài nghiên cứu, tín dụng vi mô được hiểu là hình thức tín các khoản vay nhỏ dành cho người nghèo được cung cấp bởi các tổ chức tài chính vi mô Các tổ chức tài chính vi mô là các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô cho đối tượng khách hàng là người nghèo Trong đó, hoạt động tín dụng vi mô chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dịch vụ tài chính vi mô được cung cấp bởi các tổ chức này

1.1.2 Tiết kiệm vi mô

Tiết kiệm vi mô là những khoản nhận tiền gửi rất nhỏ từ người nghèo nhằm mục đích khuyến khích người nghèo tiết kiệm tiền Những người tham gia tiết kiệm vi mô

sẽ được cung cấp một tài khoản tiết kiệm như hình thức tiết kiệm thông thường, nhưng tài khoản được thiết kế nhỏ hơn để phù hợp với lượng tiền gửi nhỏ Có hai hình thức của tài khoản tiết kiệm vi mô là tài khoản yêu cầu có tiền gửi tối thiểu ở mức thấp và tài khoản không yêu cầu mức tiền gửi tối thiểu Thông thường, trong các hoạt động tiết kiệm vi mô, các tổ chức tài chính vi mô không tính phí dịch vụ

(http://www.businessdictionary.com/definition/microsavings.html)

Tiết kiệm vi mô có một số hình thức tiết kiệm như tiết kiệm vi mô theo phương thức truyền thống (chơi hụi, chơi họ…), tiết kiệm hợp tác xã, tiết kiệm vi mô thông qua ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính vi mô Tương tự như tín dụng vi mô, trong phạm

vi bài nghiên cứu, tiết kiệm vi mô được hiểu là hình thức của một hoạt động dành cho người nghèo được cung cấp bởi các tổ chức tài chính vi mô

Tín dụng và tiết kiệm vi mô được dựa trên tiền đề là người nghèo có khả năng làm việc nhưng họ không có vốn và cơ hội để sử dụng những kỹ năng đó để mang lại thu nhập Tín dụng và tiết kiệm vi mô là hai dịch vụ tài chính quan trọng và phổ biến nhất trong tài chính vi mô Tài chính vi mô là các dịch vụ tài chính cho các khách hàng người nghèo và người có thu nhập thấp Những dịch vụ này bao gồm tiết kiệm, tín

dụng, bảo hiểm, chuyển tiền, thanh toán… (CGAP,2011) Thông thường, tài chính vi

mô thường được sử dụng với phạm trù hẹp hơn để nói về tín dụng và tiết kiệm vi mô

Trang 10

bởi tín dụng và tiết kiệm vi mô chiếm tỉ trọng lớn nhất trong các loại hình dịch vu của tài chính vi mô

1.2 Đặc điểm của tín dụng và tiết kiệm vi mô

1.2.1 Khách hàng của tín dụng và tiết kiệm vi mô

Khách hàng của tín dụng và tiết kiệm vi mô thường là những người nghèo Những người được coi là nghèo là những người có mức sống từ 2USD/ngày trở xuống theo quy định mới của Liên Hiệp Quốc được áp dụng từ ngày 01/01/2011 Theo số liệu thống kê của WB, vào năm 2008 trên thế giới có 1.29 tỷ người sống dưới mức nghèo khổ Đa số người nghèo trên thế giới tập trung ở các nước đang và kém phát triển Đây

là một lượng khách hàng lớn cho các hoạt động tín dụng và tiết kiệm vi mô phát triển ở các nước đang và kém phát triển

Khách hàng của tín dụng và tiết kiệm vi mô là những người luôn gặp phải những khó khăn khi tiếp cận với những loại hình dịch vụ của các tổ chức tài chính chính thức

Vì khách hàng là người nghèo nên họ thường không có nhiều tài sản, giá trị tài sản của

họ cũng rất thấp và nhiều tài sản không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc rõ ràng nên

họ không đủ các tài sản thế chấp và các điều kiện pháp lý để vay tín dụng từ các ngân hàng thương mại hoặc các quỹ tín dụng thông thường

Khách hàng của tín dụng và tiết kiệm vi mô tuy là người nghèo nhưng vẫn cần phải có đầy đủ năng lực pháp lý, năng lực hành vi, năng lực lao động và có ý thức trả

nợ Năng lực pháp lý là khả năng của cá nhân được pháp luật thừa nhận các quyền và nghĩa vụ, năng lực hành vi dân sự cá nhân là khả năng của một người, thông qua các hành vi của mình để xác lập hoặc/và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với

người khác (bộ Luật Dân sự Việt Nam, 2005) Những người không đủ năng lực pháp

lý, năng lực hành vi như đang bị phạt tù, bị tâm thần thì mặc dù là người nghèo nhưng cũng không thể trở thành khách hàng của tín dụng và tiết kiệm vi mô Năng lực lao động là khả năng lao động, làm việc của mỗi người để từ đó tạo ra thu nhập, tạo ra nguồn trả nợ cho các khoản tín dụng vi mô Thông thường, trước khi quyết định cho vay, các nhân viên của tổ chức tài chính vi mô phải thẩm định khách hàng có đủ các

Trang 11

năng lực yêu cầu không, có kế hoạch sử dụng vốn vay đúng mục đích và khả quan không và sau khi cho vay vốn, họ sẽ giám sát quá trình lao động, sản xuất của khách hàng Những người không có khả năng làm việc tạo ra thu nhập như mắc bệnh nặng, không đủ sức khỏe để lao động hoặc những người không có ý thức làm việc để thoát nghèo thường rất khó tiếp cận với dịch vụ của tín dụng và tiết kiệm vi mô Thông thường, 10% các hộ gia đình, cá nhân nghèo nhất của dân số, bao gồm cả những người cùng cực không phải là khách hàng truyền thống của tín dụng và tiết kiệm vi mô vì họ

không có dòng tiền ổn định để hoàn trả vốn vay (CGAP,2011) Phụ nữ thường chiếm tỉ

lệ cao trong số lượng khách hàng vì dịch vụ tín dụng và tiết kiệm vi mô khá phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của phụ nữ nghèo ở các nước đang phát triển

1.2.2 Mục tiêu của tín dụng và tiết kiệm vi mô

Mục tiêu của tín dụng và tiết kiệm vi mô nói riêng và các hoạt động tài chính vi

mô nói chung là hướng vào việc xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống và phát triển con người, từ đó hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững thì cách tiếp cận này còn khá đơn giản Mục tiêu của tín dụng và tiết kiệm vi mô nên được xem xét theo hai góc độ sau:

Đứng trên góc độ các ngân hàng vi mô, tổ chức tài chính vi mô, mục tiêu được biểu thị qua sáu khía cạnh theo phương pháp của ông Mark Schereiner (2002)

- Chiều rộng: phục vụ càng nhiều người càng tốt

- Chiều sâu: hướng tới giúp đỡ những người chưa tiếp cận được với dịch vụ của

các tổ chức tài chính, đặc biệt là phụ nữ ở các vùng nông thôn nhằm giảm nghèo, trao quyền cho phụ nữ và tạo công ăn việc làm

- Độ lâu dài: tạo ra nguồn thu đủ để bù đắp các chi phí đem lại lợi nhuận thỏa

đáng cho những người đầu tư để duy trì sự hỗ trợ từ phía họ

- Chí phí: kiểm soát chi phí Phát huy tối đa năng suất và hiệu quả để làm giảm lãi

suất đến mức thấp nhất

- Giá trị: làm cho khách hàng hài lòng để họ tiếp tục sử dụng dịch vụ của tổ chức

tài chính vi mô

Trang 12

- Phạm vi: thấu hiểu được các nhu cầu của khách hàng đối với các dịch vụ tài

chính vi mô, từ đó cung cấp đa dạng các sản phẩm để thỏa mãn các nhu cầu nói trên

(nguồn: ILO,2010)

Đây là những cơ sở cần thiết để hướng tới một tổ chức tài chính vi mô bền vững Trên góc độ của một nhà kinh tế học, mục tiêu của tín dụng và tiết kiệm vi mô là

- Đưa người nghèo nói chung và phụ nữ nghèo nói riêng thoát khỏi cảnh

nghèo,cải thiện cuộc sống

- Phát triển các chỉ số con người thông qua các hoạt động đào tạo, chăm sóc y

tế…

- Giảm bất bình đẳng xã hội thông qua sự trao quyền cho nữ giới và giảm khoảng

cách chênh lệch giàu nghèo

- Hướng tới một xã hội phát triển bền vững

1.2.3 Phương pháp hoạt động của tín dụng và tiết kiệm vi mô:

Các khách hàng tham gia vay vốn thường vay theo nhóm nhỏ từ 3-10 người Các

cá nhân có thể tự tìm đến với nhau theo nhóm, tự giám sát nhau Một phần của nhóm được cho vay trước, sau đó số các thành viên được vay tăng dần Việc vay theo nhóm

là tiền đề quan trọng để người nghèo thoát khỏi sự cô độc, hướng tới việc trao đổi, liên kết với các phụ nữ khác có cùng hoàn cảnh khó khăn và tiến tới mở rộng các mối quan

hệ xã hội khác Các tổ chức cung cấp tín dụng và tiết kiệm vi mô thường tập trung vào bồi dưỡng kỷ luật trả nợ tốt hơn Nếu một thành viên trong nhóm không trả được nợ thì các thành viên khác trong nhóm cũng sẽ không được tiếp tục vay trong những đợt tín dụng tiếp theo Điều này giúp tăng cường ý thức trả nợ, giảm thiểu nợ xấu cho các tổ chức tài chính vi mô Bên cạnh đó, làm việc với các tổ chức tín dụng vi mô theo nhóm

sẽ góp phần giảm chi phí giao dịch, chi phí quản lý

Các khoản vay thường không phải thế chấp các tài sản vật chất và thay bằng bảo lãnh nhóm Điều này khá phù hợp với người nghèo vì họ thường không có hoặc có rất

ít các tài sản thế chấp Các khoản vay thường chỉ yêu cầu những người nghèo tham gia vay có một vài điều kiện đơn giản như có ruộng hoặc có tay nghề truyền thống Trong

Trang 13

nhiều trường hợp, nếu người nghèo không có cả ruộng hay tay nghề thì họ sẽ được đào tạo trước hoặc trong quá trình vay vốn

Tất cả các khoản vay dù được cho vay một lần hoặc thành từng đợt đều được trả lại nhiều lần Thông thường các khoản vay được trả lại theo một tuần hoặc hai tuần, lâu nhất là một tháng Thời gian đáo hạn lúc đầu ngắn, sau sẽ được gia tăng thời gian đáo hạn Mức độ gia tăng tùy thuộc vào nhóm trả nợ đúng hạn hay không hoặc trả chậm trong thời gian bao lâu

Các hoạt động tín dụng vi mô thường đi kèm với các hoạt động tiết kiệm bắt buộc

và tự nguyện Mục đích của các tổ chức tài chính vi mô khi bắt buộc khách hàng tham gia tiết kiệm vi mô khi tham gia vào tín dụng vi mô là tăng ý thức tiết kiệm của khách

hàng, giảm thiểu rủi ro cho khách hàng trong quá trình vay vốn (CESR Việt Nam,

2011)

1.2.4 Lãi suất của tín dụng và tiết kiệm vi mô

Lãi suất giữa các tổ chức tài chính vi mô đối với tín dụng và tiết kiệm vi mô là rất khác nhau phụ thuộc mục tiêu và phương hướng hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

đó

Về cơ bản, vì tín dụng và tiết kiệm vi mô được thực hiện nhằm mục đích giúp cho người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo có phương tiện để thoát nghèo, cải thiện cuộc sống nên lãi suất của các khoản vay thường khá “mềm” và phù hợp với hoàn cảnh của

họ Ngân hàng Agribank từ 12/9/2011dành cho người nghèo lãi suất cho vay ngắn hạn

là từ 17%-19%, lãi suất cho vay trung hạn tối thiểu là 18,5%, lãi suất dài hạn là 20,5%

(theo agribank.com.vn) Đối với nhiều tổ chức tín dụng được nhà nước trợ giá lãi suất

như ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam (VBSP) thì mức lãi suất khách hàng vay là rất thấp: năm 2009 đối với những khoản vay có lãi suất cho vay đang thực hiện lớn hơn 4%/năm, áp dụng mức lãi suất hỗ trợ cho khách hàng vay là 4%/năm, tính trên số

dư nợ vay và thời hạn cho vay thực tế; đối với những khoản vay có lãi suất cho vay đang thực hiện nhỏ hơn hoặc bằng 4%/năm, thì mức lãi suất hỗ trợ là toàn bộ lãi suất tiền vay tính trên số dư nợ vay và thời hạn cho vay thực tế (lãi suất cho vay là 0%/năm)

Trang 14

(http://www.vbsp.org.vn/viewarticle.php?artid=1341) Mô hình tín dụng của ngân

hàng Grammen áp dụng theo công thức tỉ lệ lãi suất cao nhất không được vượt quá chi phí của món vay cộng với 15% giá trị món vay 15% này được sử dụng để chi phí cho vận hành và sinh lời Trong trường hợp của ngân hàng Grammen, chi phí cho món vay

là 10% thì tỉ lệ lãi suất cao nhất là 25% nhưng ngân hàng chỉ áp dụng mức lãi suất

20%(http://www.cfrc.vn/NewsDetail.aspx?NewsID=201&iNS=5&LevelID=337&sLN

=V%C3%B2ng%20quanh%20th%E1%BA%BF%20gi%E1%BB%9Bi)

Bên cạnh đó, lại có rất nhiều tổ chức tài chính thực hiện tín dụng và tiết kiệm vi

mô nhằm mục đích chủ yếu là tìm kiếm lợi nhuận Đối với các tổ chức tín dụng này, lãi suất mà họ áp đặt cho các khoản vay là rất cao Một số tổ chức đã áp dụng mức lãi suất cho vay tới 100%, thậm chí cao hơn nhằm thu lợi từ các khoản tín dụng vi mô Tại Mexico, mức lãi suất trung bình của một khoản tín dụng vi mô vào khoảng 70% so với mức trung bình của thế giới là khoảng 37% ( bao gồm cả lãi suất lẫn phí)

(http://www.nytimes.com/2010/04/14/world/14microfinance.html?scp=6&sq=interest+ rate+of+microcredit&st=nyt) Tại Ấn Độ, chính quyền đã phải ban hành các biện pháp

nhằm bảo vệ người nghèo khỏi những mức lãi suất cắt cổ của các tổ chức tài chính vi

mô nhưng nhiều cơ sở tài chính vi mô tiêu biểu vẫn tính mức lãi suất trong khoảng từ 24-36% Một số báo cáo đã nêu lên rằng nhiều nhà cho vay không bị kiểm soát lãi suất cho vay lên đến 60% Tình trạng áp đặt mức lãi suất cao cắt cổ đối với người nghèo đang đe dọa đến sự tồn tại của ngành tín dụng vi mô ở Ấn Độ vào thời gian gần đây

(http://www.ssireview.org/blog/entry/akhuwat_making_microfinance_work) Vào ngày 15/1/2011, tiến sĩ Muhammad Yunus – giám đốc điều hành của Grammen Bank đã có

bài viết về vấn nạn lãi suất cao, sau đây là một trích đoạn của bài viết: “Vào những

năm 70, khi tôi bắt đầu làm việc trong lĩnh vực mà hiện nay được gọi là “tín dụng vi mô”, một trong những mục tiêu của tôi đó là làm sao để xóa đi sự hiện diện của những

kẻ cho vay nặng lãi, những người trở nên giàu có nhờ vào bóc lột người nghèo Năm

1983, tôi thành lập ngân hàng Grameen nhằm cung cấp những khoản vay nhỏ cho người nghèo, đặc biệt là phụ nữ, để giúp họ thoát nghèo Thời điểm đó, tôi không bao

Trang 15

giờ tưởng tượng được rằng một ngày kia, tín dụng vi mô lại trở thành cơ hội giúp những kẻ cho vay nặng lãi vớ bẫm Nhưng điều đó đã xảy ra” Sự thương mại hóa và

việc đặt cao vấn đề lợi nhuận đã khiến nhiều tổ chức tài chính vi mô trở thành những người cho vay nặng lãi đối với người nghèo-đặc biệt là phụ nữ nghèo Điều này không những không giúp người nghèo cải thiện cuộc sống càng khiến họ rơi vào cùng cực và

bế tắc vì họ không đủ khả năng chi trả lãi vay

Mặc dù đối với người nghèo, lãi suất không phải là điều kiện quan trọng nhất, mà cách thức phân phối và thủ tục nhanh chóng thuận tiện và đơn giản để nắm bắt được cơ hội đầu tư, sản xuất mới là hàng đầu, tuy nhiên lãi suất quá cao sẽ là một rào cản lớn, gánh nặng lớn đối với người nghèo, khiến họ e ngại tiếp cận các khoản tín dụng vi mô

và tiết kiệm vi mô Cần phải có sự cân đối lãi suất để có thể vừa bù đắp được chi phí hoạt động cho tổ chức vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo hoàn trả nợ và tiếp tục sản xuất, làm ăn

1.3 Tài chính vi mô bền vững

Tài chính vi mô bền vững là một trong những mục tiêu quan trọng nhất mà các tổ chức tài chính vi mô luôn hướng tới Một tổ chức được coi là tổ chức tài chính vi mô bền vững khi nó vẫn có thể hoạt động đúng với vai trò giảm nghèo và tạo ra lợi nhuận một cách ổn định sau khi các nguồn viện trợ, trợ cấp dành cho tổ chức ấy không còn Hiện nay, hầu hết các tổ chức tài chính vi mô mà vẫn đảm bảo được mục tiêu giảm nghèo thường không đạt được nhiều lợi nhuận và vẫn phải phụ thuộc nhiều vào các

nguồn trợ cấp từ các chính phủ, tổ chức phi chính phủ… (CGAP,2011)

Hoạt động của tín dụng và tiết kiệm vi mô là công cụ, hoạt động quan trọng nhất mang đến sự bền vững cho tài chính vi mô Các tổ chức tài chính vi mô ngày nay muốn phát triển phải vừa đảm bảo được mục tiêu giảm nghèo, vừa tạo ra được lợi nhuận để

có thể thu hút nhiều vốn cũng như phục vụ được nhiều người hơn Điều này dẫn đến sự căng thẳng triền miên trong chính sách tín dụng và tiết kiệm vi mô dành cho người nghèo Họ luôn luôn phải đối mặt với hai câu hỏi: “liệu chúng ta nên cố gắng tiếp cận với nhiều người hơn, với những người nghèo hơn nữa, hay cố gắng tạo ra nhiều lợi

Trang 16

nhuận hơn? Với mực giá như thế nào thì người nghèo đủ sức chi trả cho dịch vụ của

chúng ta?” (ILO,2010) Nhận định về vấn đề này, Rhyme (1998) đã nhận xét: “đối với

những tổ chức hoạt động hiệu quả thì không có sự tương quan giữa mức nghèo của khách hàng… và khả năng đứng vững về mặt tài chính của tổ chức đó Rõ ràng là sẽ khó khăn hơn khi phải phục vụ những khoản vay rất nhỏ, hay phải tiếp cận khách hàng

ở những vùng nông thôn xa xôi Tuy nhiên, ngay cả trong những hoàn cảnh không thuận lợi thì những tổ chức này vẫn tìm ra được những phương thức cung cấp dịch vụ rất thích hợp và hiệu quả để khách hàng của họ có thể thanh toán đầy đủ các chi phí của dịch vụ, và làm cho các tổ chức này đứng vững về mặt tài chính” Qua nhận định

của ông Rhyme, chúng ta thấy được rõ ràng rằng vấn đề cốt lõi của tài chính vi mô bền vững chính là hiệu quả hoạt động của tín dụng và tiết kiệm vi mô Trong đó vấn đề nâng cao được vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với người nghèo chính là một nền tảng cho sự phát triển tài chính vi mô bền vững Chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở các nước đang phát triển ở chương II của bài nghiên cứu này

2 Đặc điểm của phụ nữ ở các nước đang phát triển

2.1 Tỷ lệ phụ nữ nghèo ở các nước đang phát triển còn ở mức cao

Theo báo cáo của Worldbank, năm 2008, trong số 1,274 tỷ người nghèo trên thế giới, tỷ lệ phụ nữ nghèo chiếm tới gần 70% số người nghèo Đa số phụ nữ nghèo tập trung ở các nước đang và kém phát triển

Biểu đồ 1: tỷ lệ nghèo theo giới tính ở Châu Phi (năm 2008)

Trang 17

(nguồn: Department of Economics and Social Affairs, 2010)

Biểu đồ 2: tỷ lệ nghèo của nữ giới và nam giới ở các nước Mỹ Latinh (năm 2008)

(nguồn: Department of Economics and Social Affairs, 2010)

Qua hai biểu đồ trên ta có thể thấy tỷ lệ phụ nữ nghèo ở các nước đang và kém phát triển còn khá cao Đặc biệt ở một số nước như Nigieria, Cong go, tỷ lệ nghèo của phụ nữ lên tới hơn 50% Ở đa số các nước, tỷ lệ nghèo của phụ nữ luôn cao hơn tỷ lệ nghèo của nam giới Ở Colombia, tỷ lệ nghèo của phụ nữ cao gần gấp đôi nam giới Phụ nữ ở một số nước đang phát triển trên thế giới còn đang bị vướng mắc, bế tắc trong vòng luẩn quẩn của đói nghèo Nếu không có các chương trình, biện pháp nhằm đưa phụ nữ thoát khỏi đói nghèo thì họ sẽ còn bị nằm trong vòng luẩn quẩn đói nghèo qua nhiều thế hệ Đây là một phần nguyên nhân khiến phụ nữ là đối tượng được ưu tiên, tập trung hướng tới các hoạt động tín dụng và tiết kiệm vi mô

Trang 18

2.2 Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế ngày càng tăng và

họ có nhu cầu về vốn để bước vào các hoạt động kinh tế

Ngày nay, không chỉ nam giới mà phụ nữ cũng tham gia rất nhiều vào hoạt động kinh tế xã hội Tỷ lệ nữ giới chỉ ở nhà làm công việc nội trợ đang có xu hướng giảm đi

và họ có thể tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh tế hơn Kết hợp với trình độ học vấn và

kỹ năng của phụ nữ đã được tăng lên đáng kể trong những năm trở lại đây nên điều kiện để họ tham gia vào lao động càng cao Từ năm 1980-2008, khoảng cách về giới trong tỷ lệ tham gia lao động đã thu hẹp từ 32% -> 26% Trên thế giới, tỷ lệ phụ nữ tham gia lao động là 40%, trong khu vực nông nghiệp tỷ lệ phụ nữ tham gia là 43% Tỷ

lệ phụ nữ tham gia lao động ở Trung Đông và Bắc Phi là thấp nhất 26%, tại Nam Phi là

35%, tại Đông Á là 64%, tại Châu Phi là 61% (Liên Hiệp Quốc, 2012) Ở Việt Nam, tỷ

lệ phụ nữ trong độ tuổi lao động tham gia vào các hoạt động kinh tế là 70%

Tỷ lệ phụ nữ nghèo ở các nước đang phát triển vẫn còn khá cao, đa số phụ nữ nghèo sống ở khu vực nông thôn Ở những vùng miền xa xôi, khó khăn như nông thôn, miền núi thì số lượng việc làm khá ít nên phụ nữ thường phải tự tạo việc làm cho mình bằng cách trồng trọt, chăn nuôi hoặc mở một xưởng tiểu thủ công nhỏ hay một doanh nghiệp nhỏ Để có thể tự tạo công ăn việc làm cho mình phụ nữ thường có nhu cầu về vốn để bước vào trồng trọt, sản xuất, kinh doanh Không phải phụ nữ nào cũng có thể

tự đáp ứng nhu cầu về vốn của mình Gia đình và người thân xung quanh họ cũng thường không đủ khả năng cung cấp vốn cho họ Chính vì lẽ đó nên nhu cầu về vốn vay của phụ nữ nghèo khá cao Tín dụng và tiết kiệm vi mô là loại hình dịch vụ phù hợp với nhu cầu này của phụ nữ

Bên cạnh đó, mặc dù tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế ngày càng tăng những số lượng phụ nữ thất nghiệp vẫn không nhỏ Họ cũng có nhu cầu tìm việc làm nhưng không tìm được công việc hoặc công việc quá vất vả không phù hợp với khả năng của họ Bởi vậy phụ nữ nghèo cần các khoản tín dụng và tiết kiệm vi mô từ các tổ chức tài chính vi mô để giúp họ tìm công ăn việc làm hoặc tự sản xuất, kinh doanh

Trang 19

2.3 Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào khu vực phi chính thức của nền kinh tế cao hơn nam giới nên khả năng tiếp cận đƣợc những nguồn vốn vay khó khăn hơn nam giới

Phụ nữ ngày nay tham gia vào khá nhiều lĩnh vực kinh tế, tuy nhiên tỷ lệ phụ nữ tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức cao

Bảng 1: Phân bổ việc làm nữ giới/nam giới ở các ngành nghề (%)

Bán lẻ, khách sạn và nhà hàng 21 17

(nguồn: Liên Hiệp Quốc, 2012)

Vì phụ nữ ở nhiều nước còn bị phân biệt đối xử, tỷ lệ được đi học đầy đủ còn thấp nên họ thường không đủ khả năng được tham gia vào khu vực kinh tế chính thức Ở các nước đang phát triển, các cơ quan, công ty, nhà nước… thường ưa thích tuyển dụng nam giới hơn phụ nữ

Tại khu vực kinh tế phi chính thức, hiệu suất lao động thường thấp hơn tại khu vực kinh tế chính thức bởi khu vực này thường nhận được ít hơn lợi ích từ sự phát triển kinh tế nhưng lại chịu nhiều rủi ro, dễ bị tổn thương hơn khi kinh tế bị suy thoái hoặc bất ổn Khu vực kinh tế phi chính thức thường không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu

tố khách quan như thiên nhiên, thời tiết, biến động kinh tế… Khu vực phi chính thức nhận được ít sự bảo vệ hơn khỏi những tác động từ các yếu tố bên ngoài, đồng thời những người dân làm việc trong khu vực này lại chưa đủ khả năng tự bảo vệ mình khỏi

Trang 20

các nguy cơ bất ổn, rủi ro Vì thế nên hiệu suất của khu vực kinh tế phi chính thức thấp hơn khu vực kinh tế chính thức

Nắm được đặc điểm này, các chương trình tín dụng và tiết kiệm vi mô đã thiết kế phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của phụ nữ, để họ có thể tiếp cận vốn vay một cách

dễ dàng đồng thời nâng cao khả năng và ý thức trả nợ của họ thông qua các chương trình đào tạo và giáo dục, chăm sóc sức khỏe… cho phụ nữ nghèo

2.4 Phụ nữ bị cản trở bởi nhiều yếu tố nhƣ nghèo đói, trình độ thấp, phân biệt đối xử khiến hiệu suất kinh doanh của họ bị thấp xuống nên cầu về vốn của họ càng cao để có thể vƣợt qua đƣợc những cản trở đó

Hiệu suất sản xuất, kinh doanh của phụ nữ thường thấp hơn nam giới Nguyên nhân bởi phụ nữ không được học tập, đào tạo đầy đủ bằng nam giới Măt khác, tại các nước đang phát triển, do quan niệm “ trọng nam khinh nữ” nên nam giới thường được

ưu tiên hơn trong các dịch vụ, hoạt động hơn phụ nữ Để có một nền tảng vận hành đúng tiềm năng, những kỹ năng và tài năng của phụ nữ cần phải được sử dụng vào những hoạt động cho phép những khả năng đó phát huy được tối đa hiệu quả Nhưng, như đã thấy qua câu chuyện của nhiều phụ nữ, điều này trên thực tế không phải lúc nào cũng được thực hiện Sự phân biệt đối xử trên thị trường cùng với các thể chế xã hội khiến phụ nữ học hành dang dở, phải làm một số nghề nhất định, không có được cùng mức thu nhập như nam giới Khi người phụ nữ nông thôn không được bảo đảm quyền

sử dụng đất như ở nhiều nước, đặc biệt là Châu Phi, thì kết quả là khả năng tiếp cận tín dụng , đầu vào thấp, cũng như hiệu quả sử dụng đất thấp, năng suất giảm Chính vì thế, cầu về vốn của phụ nữ thường cao hơn nam giới để vượt qua được những cản trở đó

(Liên Hiệp Quốc, 2012)

Theo số liệu của học viện kinh tế xã hội Trung Quốc, thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc năm 2009 là 3769 USD, trong đó thu nhập của nữ giới chỉ bằng 77,1% thu nhập của nam giới; có 67,4% nữ giới trong độ tuổi lao động tham gia vào lực lượng lao động, tỷ lệ này ở nam giới là 79,7% Nam giới và nữ giới được tiếp cận với những cơ hội kinh tế khác nhau và có mức thu nhập không đồng đều Với cùng một

Trang 21

lượng tri thức như nhau, nữ giới vẫn có thu nhập thấp hơn nam giới Mức lương trung bình một giờ của phụ nữ chỉ bằng 78% so với nam giới Thu nhập bình quân hàng tháng của phụ nữ tương đương 85% thu nhập của nam giới Các kết quả điều tra cho thấy, lao động nữ chỉ nhận được 86% mức tiền lương cơ bản so với nam giới Chính vì vậy, mặc dù được nhận thêm các khoản phụ cấp theo các quy định của luật lao động nhưng tổng thu nhập của lao động nữ vẫn thấp hơn lao động nam Tính gộp cả tiền lương và các khoản trợ cấp bằng tiền của lao động nữ thì tổng thu nhập của họ cũng chỉ tương đương với 87% so với lao động nam Chưa kể điểm chung của người sử dụng

lao động là đều muốn giảm chi phí thuê lao động nữ (http://www.beta.undp.org/) Phụ

nữ ít được tiếp cận thị trường lao động hơn so với nam giới và nếu đi làm thì bao giờ cũng bị trả lương thấp hơn

Tại các vùng châu Phi cận Sahara và Nam Á, phụ nữ và trẻ em gái được tiếp cận với giáo dục ít hơn nam giới và trẻ em trai Trong các khu vực này, tương ứng chỉ có

67 và 76 cô gái trên 100 chàng trai được ghi danh vào các trường đại học Tỷ lệ phụ nữ làm việc ở lĩnh vực phi nông nghiệp tại các vùng này rất thấp Ở Nam Á, Bắc Phi và Tây Á tỉ lệ chỉ đạt 20%, tại Châu Phi cận Sahara tỷ lệ này đạt 32% Ngay cả khi phụ nữ được tuyển dụng, họ cũng thường được trả tiền ít hơn và có được sự an ninh tài chính

và xã hội ít hơn nam giới Trong đó, Tây Á và Bắc Phi là hai vùng mà cơ hội việc làm

và mức lương mà người chủ trả cho các phụ nữ là thấp nhất trên thế giới

(http://www.undp.org/content/undp/en/home/where do we stand)

Ở Việt Nam, khoảng 70% phụ nữ trong độ tuổi lao động (từ 16 đến 35 tuổi) tham gia vào lực lượng lao động, song phụ nữ chỉ chiếm 40% tổng số lao động được trả

lương (tổng cục thống kê VN) Qua nghiên cứu mức sống dân cư Việt Nam cho thấy

phụ nữ ở tất cả các độ tuổi đều phải làm việc trong thời gian dài gấp đôi nam giới

2.5 Phụ nữ nghèo thiếu khả năng tiết kiệm nhƣng tiết kiệm là cần thiết

để bảo vệ thu nhập, nhƣ một hoạt động an ninh cho vay và có thể tái đầu tƣ vào các hoạt động kinh tế của phụ nữ nghèo

Trang 22

Phụ nữ nghèo thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu vốn, thiếu nguồn lực để chi tiêu hoặc đầu tư vào các công việc trong đời sống Đối với một phụ nữ nghèo, mức sống của họ chỉ dưới 1$/ngày 1$ là số tiền quá ít, hầu như không đủ chi tiêu cho cuộc sống thường ngày của họ với những nhu cầu tối thiểu nhất như ăn uống, nhà ở, nghỉ ngơi… Với số tiền ít ỏi như vậy, phụ nữ hầu như không thể tiết kiệm Ngoài lý do trên, phụ nữ còn thường xuyên phải phụ thuộc vào chồng và gia đình, các khoản thu nhập thường phải nộp, đưa cho chồng và gia đình, khó được quản lý tài chính, tiền bạc trong gia đình nên rất khó có thể đưa tiền vào tiết kiệm Chưa kể khi các rủi ro xảy ra như ốm đau bệnh tật hoặc thiên tai, phụ nữ lại mất thêm cho các khoản chi tiêu trong

quỹ eo hẹp của gia đình

Trên thực tế, tín dụng không phải là nhu cầu duy nhất của phụ nữ nghèo ở các nước đang phát triển Ngoài vốn vay, họ còn cần nhiều loại hình dịch vụ khác để đảm bảo cho công việc sản xuất, trồng trọt, kinh doanh của họ Dù họ không có nhiều tiền nhưng nhiều khi họ vẫn để dư ra được một số tiền, dù là ít ỏi và sẽ rất lãng phí khi để đồng tiền đó nhàn rỗi không dùng vào việc gì Với số tiền nhỏ, phụ nữ nghèo thường

có tâm lý ngại gửi tiết kiệm trong khi nếu không gửi tiết kiệm thì họ sẽ chịu rủi ro mất

số tiền đó cao hơn Ngoài ra, vì lạm phát ở các nước đang phát triển khá cao nên số tiền

dù nhỏ nhưng không đưa vào lưu thông hoặc tiết kiệm cũng sẽ gây thiệt hại cho phụ nữ nghèo Từ các đặc điểm này, hình thức hoạt động của tiết kiệm vi mô rất phù hợp và cần thiết với phụ nữ nghèo Tiết kiệm vi mô là cần thiết để số tiền thu nhập của phụ nữ nghèo được an toàn, tránh được nguy cơ bị cưỡng bức, lấy mất số tiền họ làm ra được

từ người chồng hoặc người thân trong gia đình Tiết kiệm vi mô là cần thiết để khi có nhu cầu, phụ nữ nghèo có thể dùng số tiền đó để tái đầu tư

Trang 23

CHƯƠNG II KINH NGHIỆM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG VÀ TIẾT KIỆM VI

MÔ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

1 Kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô của một số nước đang phát triển về mặt kinh tế

1.1 Bổ sung nguồn vốn cho phụ nữ nghèo

Nguồn vốn luôn là yếu tố điều kiện để con người bước vào hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất kinh doanh Nguồn vốn giống như “dòng máu” nuôi dưỡng cơ thể Nếu thiếu vốn thì các hoạt động của cơ thể sẽ không thể diễn ra, duy trì và phát triển được Có những hoạt động sản xuất kinh doanh cần nhiều vốn, cũng có những hoạt động cần ít vốn Tuy nhiên, hoạt động nào cũng cần bỏ ra các chi phí cần thiết ban đầu như mua máy móc, công cụ, nguyên liệu… Trong quá trình trồng trọt, sản xuất kinh doanh, vốn cũng không thể thiếu Kể từ khi bắt đầu đến khi thu về lợi nhuận và đạt được điểm hòa vốn, mỗi cá nhân hoặc doanh nghiệp đều cần một khoảng thời gian nhất định Trong thời gian đó luôn có các chi phí phát sinh để có thể duy trì hoạt động như chi phí bán hàng, chi phí lưu thông hàng hóa… Để chi trả cho các chi phí này, cá nhân cũng cần có nguồn vốn để đảm bảo đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát sinh trong quá trình trồng trọt, sản xuất, kinh doanh Bên cạnh đó, nguồn vốn cũng là một đệm đỡ giúp cá nhân và doanh nghiệp giảm thiểu và vượt qua các rủi ro có thể xảy ra

1.1.1 Chương trình tín dụng của ngân hàng Grameen

Ngân hàng Grameen được coi là tổ chức tài chính vi mô chính thức đầu tiên trên thế giới Đến nay, ngân hàng Grameen vẫn là một trong những tổ chức tài chính vi mô lớn nhất và có ảnh hưởng nhiều nhất trên thế giới Ngân hàng được dựa trên sự hình thành dựa trên ý tưởng về các khoản tín dụng nhỏ dành cho người nghèo của giáo sư Mahamad Yunus Ngân hàng hoạt động dựa trên sự tự nguyện của các nhóm nhỏ đảm bảo có sự ràng buộc về mặt đạo đức thay thế tài sản thế chấp theo yêu cầu của ngân hàng thông thường Lúc đầu chỉ có hai thành viên của một nhóm được áp dụng cho

Trang 24

khoản vay Tùy thuộc vào hiệu suất của họ trong việc trả nợ các khách hàng tiếp theo

sẽ được cho vay Nếu khách hàng vay cá nhân được tiếp cận tín dụng, họ sẽ có khả nguồn vốn để tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập khả thi như chế biến đơn giản (xay xát, làm đồ gốm, dệt may…)

Theo báo cáo của mới nhất của ngân hàng Grameen, đến tháng 03/2012 ngân hàng đã có 8,385,247 thành viên, trong đó 8,062,991 thành viên là phụ nữ Tổng dư nợ cho vay đạt 944.56 triệu USD, tăng 1.56 triệu USD so với năm 2010

(http://www.grameeninfo.org/index.php?option=com_content&task=view&id=453&It emid=527) Phụ nữ - khách hàng chủ yếu của ngân hàng Grameen được tiếp cận bình

đẳng với các đề án và họ đã chứng minh được họ là những người đi vay đáng tin cậy Kết quả là phụ nữ đã thay đổi tình trạng đời sống của họ, giảm bớt sự phụ thuộc vào người chồng; cải thiện nhà của họ và các tiêu chuẩn dinh dưỡng cho những đứa con

Sự thành công của mô hình tín dụng vi mô này cho thấy những lo ngại cho vay đối với người nghèo có thể được khắc phục nếu giám sát và quản lý cẩn thận Ví dụ, trước đó

đa số mọi người đã nghĩ rằng người nghèo sẽ không có thể tìm thấy nghề phù hợp Trong thực tế, khách hàng vay Grameen đã thực hiện thành công với tỉ lệ hoàn trả đạt 97% Trước đó, đa số mọi người đã nghĩ rằng phụ nữ nghèo nông thôn nói riêng không thể xin tài trợ và tiếp cận với nguồn vốn tín dụng, nhưng thực tế, họ chiếm 96.36% của khách hàng vay vốn tín dụng vi mô của ngân hàng Grameen vào năm 2010; đa số mọi người cũng nghĩ rằng người nghèo không có thể tiết kiệm, trong thực

tế, mô hình tiết kiệm theo nhóm cũng thành công như mô hình cho vay theo nhóm Ngân hàng Grameen có thể phát triển mạnh và cho số lượng lớn phụ nữ vay như vậytrước tiên bởi ngân hàng Grameen có các biện pháp để bổ sung, quản lý và luân chuyển nguồn vốn một cách hiệu quả Tổng tài sản và nguồn vốn của ngân hàng Grameen đều tăng trưởng qua các năm Năm 2010, tổng tài sản và tổng nguồn vốn của ngân hàng Grameen đạt 1,781 triệu USD Trong đó, tiền gửi và các quỹ khác đạt hơn 1,551 triệu USD, các khoản tiền vay từ các ngân hàng và các tổ chức khác và các

khoản nợ khác là 1,254 triệu USD, tỷ lệ tự cung cấp tài chính đạt 99.2% (http://www

Trang 25

grameen-info.org/data and report) Số liệu trên cho thấy ngân hàng Grameen có sự tự

chủ, bền vững về tài chính là rất cao Ngân hàng thường duy trì tỷ lệ vốn an toàn xung quanh mức 10% Năm 2010, tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng là 9.3% Tỷ lệ này đảm bảo cho ngân hàng vừa luân chuyển vốn hiệu quả, vừa đảm bảo tỷ lệ an toàn cho các hoạt động của ngân hàng Qua các số liệu của ngân hàng Grameen, có thể thấy hiệu quả quản lý, duy trì và luân chuyển nguồn vốn của ngân hàng Grameen là rất cao

(http://www.grameeninfo.org/index.php?option=com_content&task=view&id=24&Ite mid=127)

Trong hoạt động tín dụng và tiết kiệm vi mô, khách hàng vay được tổ chức thành các nhóm nhỏ đồng nhất Đặc điểm này tạo thuận lợi cho nhóm đoàn kết và tương tác

có sự tham gia Tổ chức các nhóm chính của năm thành viên và liên đoàn vào trung tâm đã được các nền tảng của hệ thống Ngân hàng Grameen Điều này giúp các khách hàng tăng cường tính tổ chức, để họ có thể đạt được khả năng lập kế hoạch và thực hiện các quyết định mức độ phát triển vi mô Các trung tâm có chức năng liên kết với Ngân hàng Grameen, khách hàng phải tham dự các cuộc họp trung tâm mỗi tuần

(http://www.grameeninfo.org/index.php?option=com_content&task=view&id=24&Ite mid=127) Nhờ các cơ chế vay theo nhóm kết hợp với sự phù hợp của các khoản vay vi

mô, tỷ lệ hoàn trả các khoản vay của người nghèo là rất cao, lên tới 97% và nguồn vốn của ngân hàng Grameen được duy trì hiệu quả, bổ sung vốn đến được nhiều người dân nghèo hơn

Ngân hàng Grameen thực hiện các điều kiện cho vay đặc biệt rất thích hợp cho người nghèo Chúng bao gồm: các khoản vay rất nhỏ được đưa ra mà không có tài sản thế chấp bất kỳ; khoản vay được hoàn trả trong đợt hàng tuần trải rộng trên một năm;

đủ điều kiện cho một khoản vay tiếp theo phụ thuộc vào hoàn trả khoản vay đầu tiên;

cá nhân nhanh chóng tạo ra thu nhập từ các hoạt động có sử dụng các kỹ năng mà khách hàng vay đã có, giám sát chặt chẽ tín dụng theo nhóm cũng như nhân viên ngân hàng; nghiêm túc về kỷ luật tín dụng và khách hàng vay chịu trách nhiệm tập thể, áp lực bạn bè; lưu trữ an toàn đặc biệt thông qua tiết kiệm bắt buộc và tự nguyện để giảm

Trang 26

thiểu rủi ro cho người nghèo; minh bạch trong tất cả các giao dịch ngân hàng hầu hết đều diễn ra tại các cuộc họp trung tâm Các dịch vụ đặc trưng, chuyên sâu cho hoạt động của Ngân hàng Grameen, được thực hiện bởi " vòng tròn ngân hàng" trong các đơn vị chi nhánh với phân cấp đáng kể trong hoạt động tín dụng và tiết kiệm vi mô Ngoài ra, ngân hàng Grameen còn chú trọng mở rộng danh mục cho vay để đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của người nghèo Các chương trình tín dụng mở rộng bao gồm: tín dụng cho xây dựng nhà vệ sinh, tín dụng cho lắp đặt giếng khoan cung cấp nước uống và tưới tiêu vườn; tín dụng cho canh tác theo mùa để mua vật tư nông nghiệp; cho vay đối với thuê thiết bị máy móc; các dự án tài chính được thực hiện bởi toàn bộ gia đình của một khách hàng lâu năm Việc mở rộng danh mục cho vay tạo điều kiện cho người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo được bổ sung nguồn vốn trong quá trình tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh của mình

Người ta ước tính rằng thu nhập của hộ gia đình trung bình của các thành viên Ngân hàng Grameen là khoảng cao hơn 25% so với nhóm mục tiêu không thành viên trong làng Ngân hàng Grameen Điều này đã dẫn đến việc giảm mạnh số lượng thành viên của Ngân hàng Grameen mà phải sống dưới mức nghèo khổ đến mức 20% so với mức 56% cho các thành viên không thuộc ngân hàng Grameen Ngoài ra,cũng đã có được một sự thay đổi từ tiền lương lao động nông nghiệp để người nghèo tự làm chủ trong kinh doanh Những gì bắt đầu như là một sáng kiến địa phương, "một bong bóng nhỏ của hy vọng", đã làm nên thành công của ngân hàng Grameen ngày nay ( Md Ruhul Amin, Md Rashidul 2011)

1.1.2 BRAC

BRAC là một trong những tổ chức tài chính vi mô lâu đời nhất và lớn nhất trên thế giới hiện nay Bắt đầu từ năm 1972 tại Bangladesh, đến nay BRAC đã phát triển trên toàn thế giới, cung cấp cho 5,452,195 người nghèo trên thế giới những khoản tín dụng vi mô mà người nghèo không thể tiếp cận với các ngân hàng do thiếu tài sản đảm bảo và sự giới thiệu từ các tổ chức có uy tín Đối tượng BRAC tập trung hướng tới là

Trang 27

phụ nữ nghèo trên thế giới - những người bị ảnh hưởng tồi tệ nhất bởi đói nghèo, chiến tranh và sự bất bình đẳng trong xã hội Hơn 92,48% các thành viên của BRAC là phụ

nữ BRAC tin rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo của phụ nữ và các nguyên nhân đó đều liên quan đến nhau, vì thế để phụ nữ nghèo thoát khỏi cảnh đói nghèo, BRAC cần phát triển toàn diện các dịch vụ hỗ trợ người nghèo trên tất cả các lĩnh vực như quyền con người, trợ giúp pháp lý, giáo dục, chăm sóc sức khỏe… trước tiên lĩnh vực tín dụng và tiết kiệm vi mô để phụ nữ nghèo có thể tiếp cận với nguồn vốn để khởi đầu cho công việc sản xuất, kinh doanh của họ

danh mục đầu tƣ có nguy cơ >90 ngày kể từ ngày vay 7,56%

(nguồn:mixmarket.org/mfi/BRAC/report)

Trong chương trình tín dụng và tiết kiệm vi mô, trọng tâm của BRAC là bổ sung nguồn vốn cho phụ nữ nghèo giúp họ tự tạo công ăn việc làm, tạo ra thu nhập và cải

Trang 28

thiện đời sống Các khoản vay dành cho phụ nữ nghèo thường có phạm vi từ 50-700 USD BRAC tổ chức các phụ nữ tham gia vào hai nhóm người nghèo là Village và Polli Shomaj hoạt động như một bảo lãnh không chính thức để tạo ra áp lực thành toán kịp thời Khách hàng trả nợ thông qua các đợt hàng tuần Các khoản vay vi mô thường được sử dụng cho các hoạt động kinh doanh nhỏ như nuôi gia cầm, trồng cây ăn quả,trồng rau, thủ công mỹ nghệ hoặc thương mại Village (VOS) có số lượng 30-40 phụ nữ trong mỗi nhóm và Polli Shomaj có số lượng 60-65 phụ nữ trong mỗi nhóm Các nhóm hoạt động trên nền tảng tập trung, đoàn kết phụ nữ nghèo với nhau, giúp họ

tiếp cận tín dụng và tiết kiệm vi mô cũng như trao đổi các thông tin 96% thành viên của Village và Polli Shomaj là phụ nữ ( http://www.brac.net/content/who-we-are)

Bảng 3: các chương trình tài chính vi mô của BRAC Tên

tố đầu vào cơ bản thông qua tài chính vi

Các phụ nữ nghèo nhất được nhận viện trợ lương thực theo chính

sách của Bangladesh/chương trình thực phẩm thế giới (WFP) và chương trình Phát triển nhóm dân số dễ bị tổn thương (VGD)

- Viện trợ hàng tháng trong 2 năm

- Đào tạo nhận thức xã hội và hoạt động tạo th nhập (IGA)

- Y tế hỗ trợ

- Tiết kiệm

- Tín dụng vi mô(khoản tín dụng đầu tiên là 2.000 BDT)

Dabi 1974 Các phụ nữ nghèo có

thể sử dụng và hoàn

phụ nữ nghèo ở các hộ gia đình trung bình

- Tín dụng sẽ hoàn trả trong 46 đợt hàng tuần

Trang 29

trả vốn vay thành công

không sở hữu quá 50%

đất đai

- Khoản tín dụng đầu tiên là 5.000 BDT

Progoti 1996

Doanh nhân vi mô phải đối mặt với sự hạn chế tín dụng trong việc mở rộng kinh doanh

Sự mở rộng của các doanh nghiệp vi mô

có thể tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế địa phương

Các doanh nhân vi mô trong khu vực nông thôn và ven đô thị

- Các khoản vay được hoàn trả theo các đợt hàng tháng

và các lĩnh vực phi nông nghiệp thông qua tiền mặt

Mở rộng cơ hội việc làm cho người nghèo

và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp

“nông dân nhỏ” (sở hữu 3 mẫu đầu hoặc nhiều hơn) liên quan

- Khoản vay kéo dài trong một năm được hoàn trả theo các đợt hàng tuần

- Kích thước cho vay với khoản vay đầu tiên

là 12.000 BDT

(nguồn: Imran Matin, 2004)

Trang 30

Đến 12/2008, chương trình IGVGD đã thu hút 860,300 hộ gia đình cực kỳ nghèo tham gia Hầu hết đối tượng tham gia là phụ nữ nghèo IGVGD đã cung cấp một liên kết quan trọng cho phép các thành viên trong đó phát triển các hoạt động chủ đạo thông qua việc cung cấp tín dụng vi mô, bổ sung nguồn vốn, cho phép họ sử dụng những kỹ năng mà họ được đào tạo để xây dựng các hoạt động tạo thu nhập Các tổ chức Village BRAC cũng đạt được 293,016 tổ chức với 8,090,000 thành viên vào năm 2008, tăng trường 10% so với năm 2007 Nhờ được bổ sung nguồn vốn kịp thời và đa dạng dưới nhiều chương trình, nhiều phụ nữ nghèo tham gia vào BRAC đã cải thiện đời sống và

vươn lên thoát nghèo (BRAC, 2010)

1.1.3 ASA Bangladesh

ASA nổi lên nhữ một trong những học viện tài chính vi mô lớn nhất và hiệu quả nhất trên thế giới Kể từ khi thành lập vào năm 1978 đến nay, ASA đã làm việc không ngừng nghỉ để hỗ trợ cho người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo nhằm mang lại cho phụ nữ nghèo nguồn vốn để cải thiện đời sống

71% khách hàng tín dụng vi mô của ASA là phụ nữ, hầu hết các thành viên không

có đất Phụ nữ nông thôn giai đoạn ban đầu được cấp tín dụng trị giá 70-110 $ và phụ

nữ thành thị được cấp khoản tín dụng ban đầu là 150-310 cao ( Md Ruhul Amin, Md Rashidul 2011) Dự án tạo thu nhập mà phụ nữ thường đầu tư tiền tín dụng là nuôi gia súc, gia cầm, lúa xay xát, hàng thủ công mỹ nghệ, ngư nghiệp, kinh doanh nhỏ Nhiệm kỳ của tín dụng này thường là một năm, hoàn trả góp hàng tuần Bởi vì các trở ngại hầu như không có và dễ dàng nên phụ nữ cảm thấy thoải mái với hình thức tín dụng này Đến tháng 6 năm 2008, số lượng khách hàng vay tín dụng là phụ nữ của ASA đã lên đến 45 vạn

Chương trình tín dụng bổ sung (BDS)

Bởi vì nghèo đói theo mùa và khủng hoảng bất ngờ khiến nhiều thành viên không thể trả được nợ mặc dù họ thực sự mong muốn được hoàn trả nợ Đặc biệt, các thiên tai như hạn hán, lũ lụt, lốc xoáy… khi xảy ra thường để lại những hậu quả hết sức

Trang 31

nặng nề đến thành quả làm ăn, tài sản và thu nhập của người nghèo khiến họ không thể trả góp Sau khi xảy ra những rủi ro bất ngờ, ASA thường đồng ý cho người nghèo lùi thời hạn trả góp, đồng thời sẵn sàng cung cấp thêm vốn cho họ để họ có thể tái xây dựng, bắt đầu lại hoạt động kinh doanh của mình Trong nhiều trường hợp khác, ASA thay vì bổ sung tín dụng đã giới thiệu việc làm dành cho những người bị mất việc để họ

có cơ sở kiếm được tiền, tích lũy vốn cho hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, kinh doanh trong tương lai của mình Đến tháng 4 năm 2008, số lượng thành viên của chương trình BDS đã lên đến 6500 người cao ( Md Ruhul Amin, Md Rashidul 2011)

Chương trình tín dụng Hardcore

Một chương trình tín dụng rất thành công khác của ASA là “tín dụng lõi cứng dành cho người nghèo” Đây là chương trình tín dụng của ASA dành cho những người cực kỳ nghèo Cên cơ chế của hệ thống tín dụng này rất linh hoạt Các thành viên vay vốn có thể hoàn trả các khoản vay trên cơ sở hàng tháng, hàng quý hoặc nửa năm và thời gian tùy theo sự thuận tiện và khả năng của họ mà không nhất thiết phải hoàn trả hàng tuần như các chương trình tín dụng khác Lãi suất của khoản vay dành cho những người nghèo khó nhất là 10%/năm ở Bangladesh Chương trình tín dụng này đặc biệt phù hợp với những người nghèo, đặc biệt là phụ nữ vì đa số họ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp Đây là lĩnh vực có tính thời vụ cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro cao ( Md Ruhul Amin, Md Rashidul 2011)

1.1.4 Ngân hàng trực tuyến Kiva

Kiva là một tổ chức phi lợi nhuận của Hoa Kỳ có nhiệm vụ kết nối mọi người thông qua cho vay xoá đói giảm nghèo Kiva đã tận dụng internet và một mạng lưới thành viên trên toàn thế giới của các tổ chức tài chính vi mô, kinh doanh trong lĩnh vực cho phép cá nhân cho vay ít nhất là $ 25 để giúp tạo ra cơ hội cho người nghèo trên toàn thế giới Kiva cho vay chống đói nghèo hàng ngày bằng cách tạo ra các khoản vay nhỏ cho khách hàng vay trên khắp thế giới Có nghĩa là, Kiva kêu gọi cộng đồng, mọi người dân ở khắp nơi trên thế giới cho người nghèo vay những khoản tiền nhỏ Sau đó,

Trang 32

khoản tiền nhỏ cho vay từ mọi người sẽ được tập hợp lại thành một khoản tiền lớn hơn

và đưa đến tay người nghèo có nhu cầu vay vốn Mỗi người trong số họ có thể chỉ cho vay một khoản tiền nhỏ nhưng với số lượng cực lớn 735.417 người( số liệu năm 2005)

thì số tiền cho vay là rất lớn (http://www.kiva.org/about us) Với phương thức bổ sung

nguồn vốn rất độc đáo này, Kiva đã tự tăng cường nguồn vốn cho vay của mình mà không cần hoặc ít phải nhận tài trợ, trợ giúp từ chính phủ hoặc tổ chức nào (ngoại trừ hãng mỹ phẩm Dermalogica nổi tiếng của Hoa Kỳ) Nhờ đó, Kiva mở rộng được số lượng khách hàng cho vay, dư nợ trên mỗi khách hàng vay và người nghèo sẽ được hưởng nhiều nguồn vốn cho vay hơn từ Kiva

Tổ chức Kiva tin rằng sự tiếp cận nguồn vốn một cách công bằng với giá cả phải chăng sẽ giúp người dân cải thiện cuộc sống của mình Chỉ với một khoản tiền tương đối nhỏ, người nghèo sẽ có khả năng nâng cao thu nhập, sản lượng và cải thiện cuộc sống của mình Kiva làm việc, liên kết với một loạt các tổ chức tài chính vi mô trên toàn cầu để người nghèo được cung cấp vốn mà không cần truy cập vào hệ thống ngân hàng truyền thống 100% các khoản tiền mà thành viên và khách hàng của Kiva cho vay sẽ được gửi đến các tổ chức tài chính vi mô (Đối tác thực địa của Kiva) và những người quản lý các khoản vay trong lĩnh vực này Mỗi đồng đô la mà thành viên và khách hàng của Kiva cho vay sẽ đến trực tiếp tới các khoản tài trợ vay dành cho người nghèo và không bị cắt giảm một xu nào

 Cách thức hoạt động của Kiva (kiva.org/overview)

 Bước 1: Kiva đăng trên trang web kiva.org về các hoàn cảnh và người nghèo có nhu cầu vay vốn

 Bước 2: thành viên, đối tác… của Kiva thực hiện những khoản cho vay nhỏ dành cho người nghèo ( mỗi người cho vay một khoản nhỏ thì nhiều người sẽ tạo nên một khoản cho vay lớn cho người nghèo)

 Bước 3: trong suốt thời hạn của khoản cho vay, mọi thông tin sẽ được cập nhật

 Bước 4: khi người nghèo trả lại các khoản được vay, tiền sẽ được trả lại vào tài khoản cá nhân của người cho vay

Trang 33

 Bước 5: các thành viên, đối tác, người thoát khỏi nghèo… tiếp tục cho những người nghèo khác vay hoặc sử dụng vào nhu cầu khác

Các thành viên, đối tác, người thoát khỏi nghèo từ chương trình của Kiva sẽ tiếp tục cho những người nghèo khác vay hoặc sử dụng vào nhu cầu khác

1.2 Mở rộng cơ hội đầu tƣ cho phụ nữ nghèo

Tín dụng và tiết kiệm vi mô cung cấp các cơ hội cần thiết cho các doanh nghiệp nhỏ để bắt đầu hoặc cải thiện kinh doanh Khả năng của các phụ nữ nghèo để sử dụng các cơ hội được cung cấp với các yếu tổ của tín dụng và tiết kiệm vi mô để đảm bảo hiệu suất làm việc của họ phụ thuộc vào thái độ trước rủi ro của họ Đó là khả năng họ

truy cập thông tin và sẵn sàng hành động trên các thông tin (Rebecca M Vonderlack

and Mark Schreiner , 2001) Như vậy, vốn tín dụng và tiết kiệm vi mô có thể tác động

tích cực về cơ hội kinh doanh hoạt động của các phụ nữ nghèo

Trên thực tế, do sự bất bình đẳng giới tính nên phụ nữ khó được quyền quyết định trong kinh tế và việc không nhận được sự giáo dục đào tào đầy đủ như nam giới kết hợp với sự thiếu thông tin khiến phụ nữ đã phải bỏ qua rất nhiều cơ hội cải thiện cuộc sống Dù phụ nữ nhận ra những cơ hội nhưng họ cũng rất khó nắm bắt vì có rất nhiều yếu tố cản trở họ đầu tư vào các cơ hội như thiếu vốn, thiếu kỹ năng Trong hoàn cảnh

đó, tiếp cận với các chương trình tín dụng và tiết kiệm vi mô là một con đường trợ giúp phụ nữ nghèo tiếp cận với được với nguồn vốn để đầu tư Trong phần trên, chúng ta đã cùng tìm hiểu các kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô trong việc bổ sung nguồn vốn cho phụ nữ nghèo trong lĩnh vực kinh doanh, trồng trọt, chăn nuôi… Trong phần này, chúng ta sẽ tìm hiểu kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở các nước đang phát triển về mở rộng

cơ hội đầu tư cho phụ nữ nghèo thông qua kinh nghiệm của chương trình tín dụng vi

mô và kinh doanh của PFD ở Nigieria

Chương trình phát triển tín dụng vi mô và kinh doanh của PFD ở Nigieria đã được bắt đầu vào năm 2008 Chương trình được sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính

Trang 34

phủ địa phương và các cố vấn viên, kết hợp với sự hỗ trợ từ ngân hàng thế giới và quỹ Fantasaum

Mục tiêu của chương trình là giúp trao quyền cho cộng đồng và cho phép các phụ nữ nghèo tận dụng lợi thế của cơ hội kinh tế tại địa phương của họ Mục tiêu này được thực hiện thông qua ba loại chính của dịch vụ: dựa vào cộng đồng doanh nghiệp, các chương trình tín dụng vi mô và kinh doanh các chương trình phát triển thanh niên Trong đó, chương trình sẽ tập trung vào các chương trình tín dụng vi mô Chương trình thực hiện bằng cách sử dụng các mô hình nhóm và hợp tác xã với phương pháp cho vay theo vòng Có nghĩa là trong một nhóm các người nghèo, phụ nữ nghèo tham gia vào chương trình, họ sẽ luân phiên được vay vốn tín dụng theo các đợt Các phụ

nữ tham gia chương trình đều được tập huấn, đào tạo các kỹ năng để bắt đầu khởi nghiệp Đặc biệt, họ được định hướng các lĩnh vực nên đầu tư, các ngành nghề phù hợp với họ và phù hợp với điều kiện địa phương

Sự thành công của chương trình đã được chứng minh qua các số liệu thực tế và các câu chuyện của các cá nhân Đến năm 2009, chương trình tín dụng vi mô đã giúp hơn 35.000 người thành lập hoặc mở rộng kinh doanh, trong đó 90% là phụ nữ Họ đã

để lại nhiều câu chuyện thành công tiêu biểu cho kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo về mở rộng cơ hội đầu tư

Một trong số các câu chuyện thành công của các phụ nữ tham gia chương trình

có thể kể đến câu chuyện của Margaret Cô là một nông dân trồng sắn, thông qua các buổi đào tạo của chương trình cô đã nhận ra rằng trong mùa mưa, nhu cầu về sắn có

xu hướng giảm và cô có nhiều lựa chọn để thay thể cho sắn trong thời gian này Chương trình đã cho cô vay một khoản tín dụng nhỏ và hướng dẫn cô đầu tư vào các loại cây trồng khác như đậu phộng, dưa hấu và cô có thêm được một khoản thu nhập khá lớn từ sự đa dạng hóa các loại cây trồng

Câu chuyện thứ hai là của cô Alice Năm 2005, Alice bắt đầu tham gia vào chương trình với khoản vay là 10,000 nảia (tương đương khoảng 65$) Cô kết hợp khoản vay của mình với số lượng nhỏ tiền tiết kiệm của mình để mua các sản phẩm

Trang 35

như đậu phộng, gạo, ngô và hạt giống dưa với số lượng lớn để bán lại Thông qua đào tạo kinh doanh, một phần không thể thiếu của hoạt động tín dụng và tiết kiệm vi mô, Alice đã học được cách làm thế nào để quản lý tín dụng, đa dạng hóa sản phẩm của mình và đầu tư một cách khôn ngoan Đến năm 2010, sau 5 năm tham gia chương trình, công việc kinh doanh của Alice rất phát đạt với một gian hàng thường trú tại Rimi Uku và các quầy hàng du lịch tại các thị trường hàng tuần trong BAD, Assakio

Cô nói rằng chìa khóa để thành công của cô là chú ý đến nhu cầu thị trường trong khi

đa dạng hóa sản phẩm của mình

Câu chuyện thứ ba là của cô Naisula ở Tanzania trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm Trước khi đến với chương trình tín dụng vi mô và kinh doanh của PFD, cô cũng giống như nhiều người dân trong địa phương không muốn đầu tư nhiều trong chăn nuôi gà kể từ khi hầu hết trong số gà nuôi bị chết vì bệnh Newcasle Kể từ khi tham gia chương trình, Naisula được cung cấp vốn cho tái đầu tư vào gia cầm, đồng thời được tham gia chương trình tiêm chủng cho gia cầm Chương trình tiêm chủng đã giảm đáng kể tổn thất gà và giúp sản lượng gà tăng cao Đến nay, Naisula đã tăng số lượng gà lên 200% và thu nhập 15 trứng mỗi ngày Khoản tiền này từ gà và trứng giúp

cô đủ khả năng mua nhiều thực phẩm hơn cho gia đình và đủ học phí cho hai con của

cô Ngoài ra, hiện nay cô còn được tin tưởng là người tiêm vacxin chính cho đàn gà của cả địa phương Đến nay, các câu chuyện thành công từ sự tham gia PFD của phụ

nữ Nigieria vẫn là những bài học kình nghiệm quý giá cho các tổ chức tài chính vi mô trong công tác nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo

về mở rộng đầu tư (http://www.pfd.org/learn-more/stories)

1.3 Phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro cho phụ nữ nghèo

Người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo luôn đối mặt với rất nhiều rủi ro bất ngờ như thiên tai, tai nạn, xung đột, bị bỏ rơi… Do đó, họ rất cần có cơ chế phù hợp để phòng ngừa, kịp thời phản ứng trước các rủi ro Tín dụng và tiết kiệm vi mô là một trong những công cụ, biện pháp giúp phụ nữ nghèo phòng ngừa rủi ro

Trang 36

Một số tiền tích lũy hay một khoản tín dụng, dù chỉ là lượng tiền nhỏ cũng có thể giúp được phụ nữ vượt qua thời kỳ khó khăn sau khi rủi ro xảy ra Ví dụ, vào mùa cấy, khi người nông dân vừa gieo mạ xong thì đột ngột có cơn bão lớn xảy ra làm mạ gieo cấy bị hỏng hết Trong hoàn cảnh đó, nếu phụ nữ có một khoản tiền tiết kiệm hoặc được vay một khoản tín dụng nhỏ thì họ sẽ có khả năng mua thóc giống và gieo mạ lại

để kịp thời gian cấy của vụ mùa

Ngoài ra, tiết kiệm còn là một “tấm đệm” cho những chi phí dự kiến hoặc bất ngờ trong gia đình như chi phí cho sinh đẻ, học hành, ốm đau bệnh tật hoặc sửa chữa nhà cửa hay bạo lực gia đình Đặc biệt, khi phụ nữ luôn phải chịu rủi ro là đối xử bất công

từ người chồng hoặc gia đình người chồng thì tiết kiệm vi mô là một cứu cánh đối với

họ Thông thường ở nông thôn, phụ nữ hầu như không được ghi tên mình trong quyền

sở hữu tài sản như nhà cửa, đất đai… Mặc dù thực tế là “của chồng công vợ” nhưng pháp luật sẽ rất khó hoặc không thể đòi lại quyền lợi cho phụ nữ trong trường hợp họ

bị đuổi đi, hoặc bị đối xử bất công đến mức buộc phải rời khỏi nhà Khi đó, một khoản tiền tiết kiệm không chỉ giúp phụ nữ vượt qua được những ngày tháng khó khăn đấy về mặt vật chất mà còn là liều thuốc để xoa dịu nỗi đau, cú sốc tình thần mà họ phải chịu đựng, giúp họ nhanh chóng lấy lại thăng bằng và vượt lên trong cuộc sống hơn

Hiện nay, trên thế giới đã có khá nhiều tổ chức tài chính vi mô cung cấp dịch vụ tiết kiệm an toàn và hiệu quả dành cho phụ nữ nghèo như ngân hàng Rakyat ở Indonesia, M-Pesa ở Kenya, RoSCAs… Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sâu hơn các hoạt động tín dụng và tiết kiệm vi mô đã giúp phụ nữ phòng ngừa rủi ro như thế nào và kinh nghiệm nâng cao vai trò ngăn ngừa, hạn chế rủi ro của một số nước đang phát triển ra sao

Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI)

BRI là một trong năm ngân hàng nhà nước lớn nhất ở Indonesia có trách nhiệm chính trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng nông thôn và đặc biệt là thúc đẩy sự phát triển của nền nông nghiệp nông thôn.Trong tháng 4 năm 1986, BRI giới thiệu một sản phẩm tiết kiệm thiết kế đặc biệt cho người nghèo: SIMPEDES (tiết kiệm nông

Trang 37

thôn) Đây là một bước đi quyết định hướng tới sự phát triển của hệ thống ngân hàng nông thôn toàn diện và đầy đủ hơn (Don Johnston & Jonathan Morduch, 2007) Sau

khi nghiên cứu một cách cẩn thận các tài khoản tiết kiệm không chính thức, ngân hàng Rakyat đã phát triển tài khoản sổ tiết kiệm với tỷ lệ lãi suất dương nhất định, không có

số dư tối thiểu và có thể rút tiền ngay lập tức (Robinshon,1994) Chi phí giao dịch thấp

bởi các chi nhánh ngân hàng nhỏ có thể đặt ở các thôn, xã Trong dịch vụ tiết kiệm của ngân hàng Rakyat, các khoản tiết kiệm được mặc nhiên bảo hiểm bởi chính phủ và tài

khoản có thể được giữ bí mật (Don Johnston & Jonathan Morduch , 2007) Đối với phụ

nữ, điều này khá quan trọng bởi sự an toàn và bí mật sẽ giúp khoản tiền tiết kiệm của phụ nữ tránh được sự tham lam hay đòi hỏi từ gia đình hoặc từ người chồng

Đến cuối năm 2005, BRI đã phục vụ 3,3 triệu khách hàng có thu nhập thấp vay

vốn và hơn 32,3 triệu người có thu nhập thấp gửi tiền tiết kiệm(Don Johnston & Jonathan Morduch , 2007) Ngược lại với hầu hết các tổ chức tài chính vi mô khác, tỷ

lệ khách hàng tham gia tiết kiệm vi mô của BRI cao hơn rất nhiểu so với tỷ lệ khách hàng tham gia tín dụng vi mô của Tại sao số lượng khách hàng gửi tiết kiệm tại BRI lại gấp 10 lần so với số lượng khách hàng vay vốn như vậy? Nguyên nhân không phải

vì tiết kiệm là dịch vụ cốt lõi duy nhất của BRI hay BRI chỉ tập trung phát triển dịch vụ tiết kiệm vi mô Nguyên nhân chính trong trường hợp này là do tâm lý lo ngại nợ của

người dân

Bảng 4: Hành vi tiết kiệm trong các nhóm thu nhập (%)

Dưới mức nghèo

Thu nhập bình quân gấp 1-3 lần so với chuẩn nghèo

Thu nhập bình quân gấp hơn 3 lần chuẩn nghèo

số người tiết kiệm:

Tiết kiệm nhưng không

vay vốn

Trang 38

Đủ tiêu chuẩn vay nợ 46 66 86

Đủ tiêu chuẩn vay nợ

nhƣng lo ngại nợ

(nguồn: microcredit vs microsaving: edivence from Indonesia, 2007)

Bảng 4 cho thấy rằng 38,7% số người dưới mức nghèo, 39,4% người có thu nhập gấp 1-3 lần so với chuẩn nghèo, 64% người có thu nhập bình quân gấp hơn 3 lần chuẩn nghèo đủ tiêu chuẩn vay nợ nhưng không muốn vay nợ Các nghiên cứu từ BRI đã cho thấy rằng khoản tín dụng vi mô là một trong những công cụ cần thiết giúp người dân thoát nghèo, nhưng xét ở phương diện khác, tín dụng vi mô cũng gây ra những rủi ro cho người đi vay khi họ bị biến thành con nợ và luôn luôn tồn tại những nguy cơ, rủi ro khiến họ không thể trả được nợ Trong khi đó, tiết kiệm tại các tổ chức tài chính vi mô

có uy tín, người dân không hoặc chịu rất ít rủi ro, áp lực từ nguy cơ mất số tiền tiết kiệm Như thế có nghĩa là tiết kiệm thường an toàn hơn so với vay vốn tín dụng Nhiều

hộ gia đình, người dân nghèo đã tiếp cận với dịch vụ tiết kiệm vi mô trước khi tiếp cận

dịch vụ tín dụng Với những quan điểm rất xác đáng, Marguerite Robinson (2001,

trang 22) đã mô tả quá trình này như sau: đầu tiên các hộ gia đình cực kỳ nghèo đã

làm việc và có được một khoản tiền nho nhỏ, sau đó họ có thể mở một tài khoản tiết kiệm nhỏ; một số hộ gia đình sau khi mở tài khoản tiết kiệm và tiếp tục làm việc, sau

đó mới bắt đầu thêm các khoản vay nhỏ; một số khách hàng có thể mở rộng và đa dạng hóa ngành nghề hoặc sản phẩm nông nghiệp hoặc thủ công, công nghiệp của họ và đủ điều kiện đối với các khoản vay lớn hơn

Hiệp hội tín dụng (ROSCAs)

Một trong những mô hình tiết kiệm vi mô rất thành công là các hiệp hội tín dụng (ROSCAs) ROSCAs là nhóm nhỏ những người thay phiên nhau đóng góp một khoản tiền cố định trong một khoảng thời gian nhất định Ví dụ, 12 người có thể đáp ứng

Trang 39

hàng tháng để đóng góp 100 lempiras (Rebecca M Vonderlack and Mark Schreiner,

2001) ROSCAs rất phổ biến trong số các phụ nữ nghèo bởi ROSCAs cung cấp chi phí

giao dịch thấp và áp lực để tiết kiệm thường xuyên Chi phí giao dịch thấp bởi hình thức ROSCAs hoạt động dựa trên những người biết và tin tưởng lẫn nhau và những người đã gặp gỡ nhau thường xuyên hoặc sống và làm việc gần nhau ROSCAs đã đưa

ra hai loại dịch vụ tiết kiệm Loại hình dịch vụ thứ nhất là cho phép phụ nữ tích lũy tài sản một cách an toàn bên ngoài phạm vi hộ gia đình Loại hình thứ hai là trợ cấp tiền tiết kiệm đối với một số yếu tố sinh sản của hộ gia đình mà phụ nữ thường phải gánh

trách nhiệm chính (Rebecca M Vonderlack and Mark Schreiner, 2001) Những người

phụ nữ có gia đình thường sử dụng hình thức ROSCAs để bảo vệ tiết kiệm gia đình,

chống lại những tuyên bố và sự ảnh hưởng từ người chồng (Anderson and Baland,

đã góp phần quan trọng trong sự thành công của các mô hình tín dụng và tiết kiệm vi

mô, từ đó nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo

2.1 Tăng cường việc trao quyền cho phụ nữ nghèo

Nhìn chung, do sự bất bình đẳng về giới tính, ở các nước đang phát triển, người đàn ông thường sử dụng bạo lực và các thành kiến xã hội để áp đặt ý muốn của họ lên người phụ nữ Trong một hộ gia đình, bao lực hoặc sự đe dọa bạo lực thường vẫn còn

là một cách mà người đàn ông khẳng định đặc quyền hơn người phụ nữ Đối với phụ

Trang 40

nữ có thể chống lại bạo lực gia đình hay sự lộng quyền của đàn ông thì sẽ xuất hiện các hình phạt và trở ngại khác khiến cho cuộc hôn nhân trở nên xấu đi và rơi vào nguy cơ tan rã Đa số phụ nữ ở các nước đang phát triển đều không mong muốn xảy ra điều này bởi quan niệm, định kiến xã hội về vấn đề hôn nhân đối với phụ nữ còn rất nặng nề Nếu một người phụ nữ rời khỏi một cuộc hôn nhân hoặc không lấy chồng, người phụ

nữ đó có thể gặp lại những bất lợi nghiêm trọng trong thị trường lao động (Rebecca M Vonderlack and Mark Schreiner , 2001)

Tín dụng và tiết kiệm vi mô có thể làm gì để tăng cường và trao quyền cho phụ nữ? Trước hết, các mô hình tín dụng và tiết kiệm vi mô đã mang đến nguồn vốn cho phụ nữ Có nguồn vốn để bắt đầu trồng trọt, chăn nuôi hoặc kinh doanh, sản xuất là bước đầu tiên mang đến cho phụ nữ nghèo quyền tự quyết định Tiếp theo, một khoản tiền tiết kiệm nhỏ hoặc một khoản cho vay nhỏ là một “tấm đệm” làm giảm bớt hậu quả của rủi ro giúp phụ nữ có thể tự tin và sẵn sàng quyết định hơn trong công việc và gia đình dù quyết định đó có thể chịu sự phản ứng không đồng tình từ phía người chồng hoặc từ gia đình Cùng với đó, một loạt các dịch vụ đi kèm như đào tạo, chăm sóc sức khỏe, tạo công ăn việc làm của các tổ chức tài chính vi mô mang đến cho phụ

nữ tầm hiểu biết và thông tin rộng và sâu hơn, từ đó họ tự ý thức và biết cách làm thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích của họ

Sau đây là một số kinh nghiệm từ các dự án, chương trình có tác động hiệu quả tới công tác nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nước đang phát triển về vấn đề tăng cường trao quyền cho phụ nữ

SHGs

SHGs là dự án thí điểm phối hợp với các tổ chức phi chính phủ đối tác để trao quyền cho phụ nữ kinh tế và do đó giúp ngăn chặn các tội ác chống lại phụ nữ SHG

gồm những người ở các vùng nông thôn nghèo kết hợp cùng nhau tạo thành một nhóm

để cải thiện tình trạng xã hội và kinh tế của các thành viên SHG hoạt động dựa trên

nguyên tắc tiết kiệm, tín dụng và tự trợ giúp (SHGs, 2012) Các thành viên của SHG

Ngày đăng: 11/01/2016, 13:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân bổ việc làm nữ giới/nam giới ở các ngành nghề (%) - Kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nƣớc đang phát triển và bài học dành cho Việt Nam
Bảng 1 Phân bổ việc làm nữ giới/nam giới ở các ngành nghề (%) (Trang 19)
Bảng 2: Một số chỉ số về tình hình hoạt động của BRAC - Kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nƣớc đang phát triển và bài học dành cho Việt Nam
Bảng 2 Một số chỉ số về tình hình hoạt động của BRAC (Trang 27)
Bảng 3: các chương trình tài chính vi mô của BRAC  Tên - Kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nƣớc đang phát triển và bài học dành cho Việt Nam
Bảng 3 các chương trình tài chính vi mô của BRAC Tên (Trang 28)
Bảng 4: Hành vi tiết kiệm trong các nhóm thu nhập (%) - Kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nƣớc đang phát triển và bài học dành cho Việt Nam
Bảng 4 Hành vi tiết kiệm trong các nhóm thu nhập (%) (Trang 37)
Bảng 6: Những sửa đổi cơ bản của Nghị định 165  Hiện tại (Nghị định 28/165 và các Thông tư hướng dẫn)  Công ty 1 thành - Kinh nghiệm nâng cao vai trò của tín dụng và tiết kiệm vi mô đối với phụ nữ nghèo ở một số nƣớc đang phát triển và bài học dành cho Việt Nam
Bảng 6 Những sửa đổi cơ bản của Nghị định 165 Hiện tại (Nghị định 28/165 và các Thông tư hướng dẫn) Công ty 1 thành (Trang 48)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w