1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự cần thiết việc hình thành phát triển số tập đoàn kinh tế nhà nước kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa việt nam

48 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 488,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

http://svnckh.com.vn 5 - Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, liên kết với nhau bằng vốn, tài chính, công nghệ, thị trường, thương hiệu, thông tin, ngh

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học ngoại th-ơng

-o0o -

Đề tài

Công trình dự thi cuộc thi:

Sinh viên nghiên cứu khoa học tr-ờng đại học ngoại th-ơng năm 2006

Tên công trình:

Sự cần thiết của việc hình thành và phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà n-ớc

trong nền kinh tế thị tr-ờng

định h-ớng xã hội chủ nghĩa

ở việt nam hiện nay

Nhóm ngành: xh1a

Hà Nội, tháng 7 năm 2006

Trang 2

http://svnckh.com.vn 2

LỜI NÓI ĐẦU

Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, trước sự hội nhập quan hệ quốc tế, việc hỡnh thành cỏc Tập đoàn kinh tế là một tất yếu khách quan Điều này

đó được nêu trong Nghị quyết Trung Ương khoá IX: “Hình thành một số tập đoàn

kinh tế mạnh trên cơ sở các Tổng công ty Nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế”

6 doanh nghiệp trọng điểm được lựa chọn là:

- Tổng công ty Than và Khoáng sản Việt Nam

- Tổng cụng ty Bảo hiểm Việt Nam

- Tổng công ty Bưu chính viễn thông

- Tổng công ty Điện lực

- Tổng cụng ty Dệt may

- Tổng cụng ty Công nghiệp Tàu thủy

Đây là một bước đột phá quan trọng trong quản lý kinh tế ở tầm quốc gia, đánh dấu mốc cho sự năng động và phát triển của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Vì vậy, đề tài này sẽ đi vào nghiên cứu sự cần thiết của việc hình thành và phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng

Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Trang 3

http://svnckh.com.vn 3

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN

TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1 Khái niệm và đặc điểm Tập đoàn kinh tế

1.1.1 Định nghĩa về Tập đoàn kinh tế :

1.1.1.1 Cơ sở lí luận cho sự ra đời của các tập đoàn kinh tế:

Kinh tế thị trường phát triển dẫn đến nhu cầu tích tụ, tập trung, chuyên môn hoá, hợp tác hoá trong quá trình sản xuất - kinh doanh Do đó, đã từ lâu tại các nước

có nền kinh tế thị trường phát triển, nhiều doanh nghiệp đã tìm cách liên kết lại với nhau để hình thành những tổ hợp doanh nghiệp có qui mô lớn hơn, đa dạng về ngành nghề kinh doanh, mở rộng phạm vi hoạt động từ địa phương đến cả quốc gia

và vươn ra nhiều nước trên thế giới Những tổ hợp này được gọi là tập đoàn kinh tế, chúng có vai trò chi phối và tác động mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế của nhiều nước, khu vực và thế giới

Lịch sử hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế cho thấy, chúng có sức sống mãnh liệt và phát triển không ngừng; bởi vì nó phù hợp với những qui luật tất yếu khách quan và những xu thế phát triển của nền sản xuất xã hội Đó là:

- Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất : dưới tác động của tiến bộ khoa học, công nghệ và liên kết kinh

tế quốc tế, lực lượng sản xuất đã có bước phát triển mạnh mẽ :

+ phân công lao động xã hội sâu, rộng hơn;

+ qui mô sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mang tính xã hội hoá, toàn cầu hoá cao hơn;

+ trình độ công nghệ và phương tiện sản xuất được cải tiến rất nhanh chóng

Do đó, các tập đoàn kinh tế – một loại hình tổ chức kinh tế, một hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất đã ra đời để đáp ứng yêu cầu và thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất

- Qui luật tích tụ, tập trung vốn và sản phẩm: trong cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp luôn cạnh tranh để tồn tại và phát triển Vì vậy, chúng phải không ngừng tái sản xuất mở rộng, tích tụ, tập trung vốn vào sản xuất Doanh nghiệp tích luỹ vốn thông qua lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hoặc từ việc

đi vay, liên kết kinh doanh, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, hoặc thông qua việc doanh nghiệp mạnh thôn tính, tiếp nhận sự sáp nhập của các doanh nghiệp yếu và nhỏ hơn; nhờ đó, vốn và năng lực sản xuất của doanh nghiệp được nâng lên Quá trình vận động khách quan này làm ra đời và phát triển các tập đoàn kinh tế

- Qui luật cạnh tranh, liên kết và tối đa hoá lợi nhuận: qua trình cạnh tranh khốc liệt để giành ưu thế trong cơ chế thị trường dẫn đến hai xu hướng chính là:

Trang 4

http://svnckh.com.vn 4

+ (1) các doanh nghiệp thất bại trong cạnh tranh sẽ bị sáp nhập vào các doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh ( bằng nhiều biện pháp như: độc chiếm nguồn nguyên liệu, nguồn nhân công, phương tiện vận tải, tín dụng, hạ giá có

hệ thống ), nhờ đó, trình độ tập trung hoá sản xuất và qui mô của doanh nghiệp chiến thắng được nâng lên;

+ (2) nếu cuộc cạnh tranh bất phân thắng bại và kéo dài thì sẽ có một

số doanh nghiệp tìm đến sự thoả hiệp liên kết với nhau để tăng khả năng cạnh tranh hơn nữa, đồng thời thông qua đó mà tối đa hoá lợi nhuận sản xuất kinh doanh

- Tiến bộ khoa học và công nghệ, trong đó có khoa học quản lý: sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng của khoa học công nghệ làm cho việc nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trở thành một trong những yếu tố quyết định để nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả của doanh nghiệp Tuy nhiên, để đổi mới công nghệ một cách căn bản cần phải có nhiều vốn và một lực lượng cán bộ nghiên cứu đủ mạnh để tiến hành nghiên cứu lâu dài và hệ thống, trong khi đó độ rủi ro lại cao Điều này một doanh nghiệp nhỏ riêng rẽ không thể đủ sức làm Do

đó, cần phải có một doanh nghiệp lớn mà tập hợp các doanh nghiệp – tập đoàn doanh nghiệp là một loại hình tiêu biểu

1.1.1.2 Định nghĩa về Tập đoàn kinh tế:

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về tập đoàn kinh tế: có quan điểm cho rằng, tập đoàn kinh tế không phải là một hình thức pháp lí cụ thể (không có tư cách pháp nhân ) mà chỉ là một tổ hợp các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có mối liên kết với nhau về vốn, tài chính, công nghệ, thị trường, thương hiệu, thông tin, đào tạo, nghiên cứu; trong đó có một doanh nghiệp giữ quyền chi phối các doanh nghiệp khác Quan điểm khác cho rằng, tập đoàn kinh tế là một thực thể kinh

tế, thực hiện sự liên kết giữa các đơn vị thành viên là các doanh nghiệp có quan hệ với nhau về mặt công nghệ và lợi ích Nguyên nhân của những quan điểm khác nhau này là do có sự khác nhau về phương thức hình thành, nguyên tắc tổ chức hoạt động và tư cách pháp nhân của tập đoàn

Bản chất của tập đoàn kinh tế là sự liên kết của các doanh nghiệp có pháp nhân độc lập, do đó không có hình mẫu chung về tập đoàn kinh tế trong cơ chế thị trường Tuy nhiên, qua nghiên cứu mô hình các tập đoàn trên thế giới, có thể đưa ra một số định nghĩa có tính điển hình nhất về tập đoàn kinh tế như sau:

- Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu sở hữu, có qui mô lớn; tổ chức va kinh doanh đa dạng, vừa có chức năng sản xuất – kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường khả năng tích tụ tập trung cao nhất các nguồn lực ban đầu ( vốn, sức lao động, công nghệ, thông tin, ) để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hoá lợi nhuận Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp doanh nghiệp độc lập

về mặt pháp lý, trong đó có một doanh nghiệp ( được gọi là công ty mẹ ) nắm quyền lãnh đạo, chi phối về nguồn lực ban đầu, chiến lược phát triển, kinh doanh đa ngành, hoạt động trên phạm vi nhiều vùng lãnh thổ khác nhau và nhiều công ty con hoặc chi nhánh chịu sự chi phối của công ty mẹ Tập đoàn kinh tế kiểu này không

có tư cách pháp nhân

Trang 5

http://svnckh.com.vn 5

- Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, liên kết với nhau bằng vốn, tài chính, công nghệ, thị trường, thương hiệu, thông tin, nghiên cứu, đào tạo và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các doanh nghiệp tham gia liên kết , nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung, khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận, trong đó có một doanh nghiệp ( được gọi là công ty mẹ ) nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các doanh nghiệp khác ( được gọi là công ty con )

về tài chính và chiến lược phát triển

Mặc dù có những cách định nghĩa khác nhau như trên, nhưng có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về tập đoàn kinh tế như sau:

Tập đoàn kinh tế là tổ hợp doanh nghiệp hoạt động trong một hay nhiều lĩnh vực khác nhau, ở phạm vi một hay nhiều nước; trong đó có một doanh nghiệp ( được gọi là công ty mẹ ) nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các doanh nghiệp khác ( gọi là công ty con) về mặt tài chính và chiến lược phát triển Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, nâng cao khả năng cạnh tranh

và tối đa hoá lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của Tập đoàn kinh tế:

1.1.2.1 Qui mô rất lớn về vốn, lao động ,doanh thu và phạm vi hoạt động:

- Về vốn: do tập đoàn kinh tế vừa có sự tích tụ của bản thân doanh nghiệp,

lại vừa có sự tập trung giữa các doanh nghiệp nên vừa nâng cao được trình độ xã hội hoá sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, vừa tạo ra năng lực cạnh tranh mạnh hơn từng doanh nghiệp đơn lẻ Cũng vì vậy, qui mô vốn của tập đoàn là rất lớn vì nó được tích tụ, tập trung không ngừng từ nhiều nguồn khác nhau, được bảo toàn và luôn luôn phát triển Chẳng hạn như : vào năm 2000 trị giá cổ phiếu của tập đoàn General Electric (Mỹ) là 298 tỷ USD, tập đoàn Exton là 197 tỷ USD, tập đoàn Coca Cola là 165 tỷ USD, tập đoàn Philipmorit là 145 tỷ USD, tập đoàn Toyota Motor là 92 tỷ USD

- Về lao động: do quá trình tập trung của các doanh nghiệp thành viên hoạt

động trong nhiều lĩnh vực khác nhau và phạm vi rộng lớn nên tập đoàn có một số lượng lao động rất lớn; được tuyển chọn và đào tạo một cách nghiêm ngặt nên chất lượng lao động khá cao Năm 2000, tập đoàn Sam Sung có 350.000 người, tập đoàn

LG có 444.000 người, tập đoàn General Motor có 360.000 người

- Về doanh thu: do có vốn rất lớn, phạm vi hoạt động rộng, tập đoàn có khả

năng nhanh chóng mở rộng qui mô sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, củng cố và mở rộng chiếm lĩnh các thị trường mới nên đạt được doanh thu rất lớn Năm 2000, tập đoàn Exton đạt 115 tỷ USD, tập đoàn dầu lửa Royal Dutch – Shell (Anh – Hà Lan) đạt 145 tỷ USD, tập đoàn Toyota (Nhật) đạt 67 tỷ USD, tập đoàn General Motor (Mỹ) đạt 212 tỷ USD Đến năm

2005, tập đoàn Toyota đã đạt 120 tỷ USD, tập đoàn General Motor đạt 306 tỷ USD, tập đoàn Royal Dutch – Shell đạt gần 307 tỷ USD

Trang 6

http://svnckh.com.vn 6

- Về phạm vi hoạt động: tập đoàn không chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh

thổ một quốc gia mà còn mở rộng sang nhiều quốc gia hoặc trên toàn cầu Với qui

mô lớn, nhiều lao động, có khả năng áp dụng nhanh chóng các tiến bộ khoa học kĩ thuật hiện đại, nắm bắt kịp thời thông tin, các tập đoàn kinh tế đã thực hiện phân công lao động một cách hợp lí trong nội bộ tập đoàn thông qua việc bố trí các điểm sản xuất, xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, các công đoạn sản xuất khác nhau của sản phẩm trên phạm vi toàn thế giới

Thực hiện chiến lược cạnh tranh, chiếm lĩnh và khai thác thị trường quốc tế, các tập đoàn kinh doanh còn mở rông phạm vi hoạt động ở nhiều quốc gia bằng cách tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết, thực hiên phân công quốc tế, do đó, phạm vi hoạt động của tập đoàn ngày càng được mở rộng Năm 2000, tập đoàn dầu hoả Royal Dutch – Shell có vốn đầu tư ở 2000 công ty trên 130 quốc gia, tập đoàn Honda của Nhật Bản có 490 công ty ở 45 quốc gia

1.1.2.2 Hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực:

Hầu hết các tập đoàn kinh tế trên thế giới ngày nay đều hoạt động kinh doanh

đa ngành, đa lĩnh vực hoặc phát triển dần từ đơn ngành lên đa ngành, có chiến lược sản phẩm và định hướng đầu tư luôn thay đổi phù hợp với yêu cầu của thị trường, môi trường kinh doanh và sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, mỗi tập đoàn đều có ngành, lĩnh vực chủ đạo với những sản phẩm có thương hiệu đặc trưng của tập đoàn Ví dụ như, tập đoàn Mitsubishi – là một trong những tập đoàn kinh tế lớn của Nhật Bản, hoạt động kinh doanh trải rộng trên nhiều lĩnh vực như sắt thép, cơ khí, đóng tàu, điện, hoá chất và các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, ngoại thương, vận tải, năng lượng, trong đó có ngành mũi nhọn là công nghiệp nặng và phát triển tài nguyên; tập đoàn Petronas (Malaysia) hoạt động trong nhiều lĩnh vực như: thăm dò

và khai thác dầu khí, lọc dầu, hoá dầu, kinh doanh thương mại các sản phẩm dầu khí, hàng hải, kinh doanh bất động sản, siêu thị, vui chơi giải trí, trong đó có ngành mũi nhọn là công nghiệp khai thác và chế biến dâu khí Bên cạnh các doanh nghiệp sản xuất, tập đoàn kinh tế thường có các tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, dịch vụ, nghiên cứu, đào tạo, với xu hướng chung là các tổ chức này ngày càng được chú ý hơn vì đó là đòn bẩy cho sự phát triển của tập đoàn kinh tế hiện đại

Hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực của tập đoàn nhằm phân tán rủi ro cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh doanh khác nhau, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của tập đoàn luôn được an toàn và hiệu quả, đồng thời tận dụng được cơ sở vật chất

và khả năng lao động phong phú của toàn tập đoàn Song cũng có một số tập đoàn kinh tế chỉ hoạt động trong một vài lĩnh vực tương đối hẹp nhằm khai thác thế mạnh

về chuyên môn, bí quyết công nghệ, uy tín đặc biệt trong ngành

1.1.2.3 Có sự liên kết bằng quan hệ về tài sản và quan hệ hiệp tác giữa các

doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn:

Đây là đặc trưng cơ bản, là tiền đề cần thiết để hình thành tập đoàn kinh tế

Nó cũng thể hiện xu thế tất yếu trong việc nâng cao trình độ xã hội hoá và phát triển

Trang 7

http://svnckh.com.vn 7

của lực lượng sản xuất; liên kết thành tập đoàn có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc theo qui luật cạnh tranh Quá trình xã hội hoá sản xuất theo các cấp độ từ thấp đến cao là tất yếu khách quan nhằm hợp lí hoá về kinh tế, phối hợp thống nhất phân công và chuyên môn hoá, trong đó sự liên kết giữa các doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu kinh doanh và lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp là cơ sở của quan hệ xã hội hoá Liên kết này là tiền đề hình thành nên những tập đoàn kinh tế

- Về phạm vi liên kết:

+ Liên kết các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề kinh doanh

(Cartel, Syndicate, Trust, Keiretsu – Nhật Bản) hay còn gọi là liên kết ngang Hình

thức này không còn phổ biến do các doanh nghiệp phải đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng phong phú, đa dạng và biến đổi nhanh chóng nên khó đem lại hiệu quả cao khi chỉ liên kết với nhau thuần tuý trong một ngành, lĩnh vực kinh doanh; nguồn vốn tập trung vào một ngành sẽ đem lai rủi ro lớn; các chính phủ thường ngăn cấm, hạn chế vì nó thường tạo ra xu hướng độc quyền, đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường( dựa trên nguyên tắc tự do cá nhân)

+ Liên kết các doanh nghiệp giữa các ngành trong cùng dây chuyền

công nghệ (Concern, Conglomerate, Keiretsu, Chaebol) hay còn gọi là liên kết dọc

Hình thức này hiện vẫn còn phổ biến trên thế giới vì chúng hoạt động có hiệu quả cao và bành trướng hoạt động sản xuất kinh doanh sang hầu hết các nước trên thế giới Để hình thành tập đoàn kinh tế loại này cần phải có một công ty đủ lớn và đủ

uy tín để có thể quản lý và kiểm soát các công ty khác; có một ngân hàng đủ khả năng đảm bảo phần lớn tín dụng cho toàn tập đoàn; có mối liên hệ nhiều mặt và vững chắc với Nhà nước; có thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ; có hệ thống thông tin toàn cầu đủ khả năng xử lí tổng hợp những thông tin về thị trường, đầu tư, vì vậy, các nước đang phát triển ( như Việt Nam ) chỉ mới có khả năng hình thành các tập đoàn chủ yếu ở lĩnh vực sản xuất và thương mại

+ Liên kết các doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực kể cả

những ngành, lĩnh vực không liên quan đến nhau, hay là liên kết hỗn hợp Hình

thức này đang được ngày một ưa chuộng trên thế giới và trở thành xu hướng phát triển các tập đoàn hiện nay Cơ cấu tập đoàn bao gồm một ngân hàng hoặc một công

ty tài chính lớn và nhiều doanh nghiệp sản xuất, thương mại, trong đó hoạt động tài chính, ngân hàng xuyên suốt, bao trùm mọi hoạt động kinh doanh của tập đoàn

- Về trình độ liên kết: bao gồm những kiểu liên kết sau:

+ Liên kết “mềm”, xuất phát từ Châu Âu, được biết đến như các

Cartel và Syndicate Đây là hình thức tập đoàn của các doanh nghiệp độc lập, cùng sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm hoặc dịch vụ hiệp tác sản xuất – kinh doanh với nhau thông qua một Hiệp định chung nhằm hạn chế cạnh tranh (lũng đoạn thị trường) bằng việc thống nhất về giá cả, phân chia thị trường tiêu thụ, thống nhất về chuẩn mực, mẫu mã, chủng loại, kích cỡ sản phẩm, dịch vụ (Cartel), hoặc thoả thuận về lượng sản phẩm tiêu thụ chung, giá nguyên liệu cung ứng (Syndicate) Nguyên nhân thúc đẩy sự liên kết và liên minh giữa các doanh nghiệp là do những thay đổi của nền kinh tế trong nước và thế giới, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các hoạt động kinh doanh không ngừng mở rộng, đòi hỏi qui mô lớn hơn về

Trang 8

+ Liên kết “cứng”: xuất phát là hình thức Trust ở Mỹ Trong tập đoàn

loại này, các doanh nghiệp thành viên kết hợp trong tổ chức thống nhất và mất tính độc lập về tài chính, sản xuất và thương mại Tập đoàn được cấu tạo dưới dạng đa

sở hữu theo kiểu công ty cổ phần với sự góp vốn của nhiều chủ sở hữu khác nhau Các doanh nghiệp thành viên hoạt động trong cùng một ngành nghề hoặc có liên quan với nhau về chu kì công nghệ sản xuất, bổ sung cho nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh liên tục, thống nhất theo chiến lược chung của tập đoàn, trong đó doanh nghiệp có lợi thế (công ty mẹ) nắm giữ cổ phần chi phối các doanh nghiệp thành viên khác (công ty con) để giữ quyền lãnh đạo, ra quyết định quan trọng tại các doanh nghiệp khác Ví dụ, tập đoàn General Motor sản xuất – kinh doanh rất nhiều loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau nhưng sản xuất ô tô là hạt nhân của tập đoàn

+ Liên kết “hỗn hợp”: là sự liên kết của cả hai loại liên kết trên, đây

là hình thức phát triển cao của tập đoàn kinh tế Tập đoàn được hình thành trên cơ

sở xác lập và kiểm soát thống nhất về tài chính, các doanh nghiệp thành viên chịu

sự chi phối về tài chính của một công ty gọi là Holding Company (công ty mẹ của

cả tập đoàn) Sự phát triển cao của thị trường tài chính và công nghệ thông tin cho phép công ty mẹ chi phối các công ty con về tài chính thông qua quyền sở hữu cổ phiếu chi phối; hoạt động của cả tập đoàn và các công ty con được mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực từ tài chính đến các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ khác nhau và giữa các công ty con trong tập đoàn không nhát thiết phải có mối liên hệ về sản phẩm, công nghệ hay kĩ thuật Hình thức công ty mẹ thuộc loại này đang trở nên phổ biến

- Về hình thức biểu hiện: có các kiểu sau đây:

+ Cartel (Các-ten): là một tập đoàn kinh tế bao gồm các công ty cùng sản xuất một loại sản phẩm hoặc dịch vụ kinh doanh, thực hiện mối liên kết theo chiều ngang nhằm hạn chế sự cạnh tranh bằng sự thoả thuận thống nhất về giá cả, phân chia thị trường tiêu thụ, nguyên liệu, thống nhất về chuẩn mực, kiểu cách, mẫu

mã Trong Cartel, các công ty thành viên đều có tính pháp lý độc lập Họ chỉ cam kết làm đúng hiệp nghị, nếu làm sai sẽ bị phạt tiền theo qui định của hiệp nghị Vì vậy, sự liên minh của Cartel thường không vững chắc Trong nhiều trường hợp, những thành viên thấy ở vào vị trí bất lợi đã rút ra khỏi Cartel, làm cho Cartel thường tan vỡ trước thời hạn

+ Syndicate (Xanh-đi-ca): là tổ chức thực hiện mối liên kết theo chiều ngang, thành lập một tổ chức thương mại chung để đảm trách toàn bộ việc tiêu thụ sản phẩm Các công ty thành viên độc lập về pháp lí nhưng không độc lập về thương mại Mục đích của Syndicate là thống nhất đầu mối mua và bán để mua

Trang 9

http://svnckh.com.vn 9

nguyên liệu với giá rẻ, bán hàng hoá với giá đắt nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao Đây là loại liên minh độc quyền cao hơn, ổn định hơn so với Cartel

+ Trust (Tờ-rớt): là một hình thức tổ chức độc quyền cao hơn Cartel

và Syndicate, nhằm thống nhất cả việc sản xuất, tiêu thụ, tài vụ đều do một ban quản trị thống nhất quản lý Trust mang hình thức công ty cổ phần Các thành viên tham gia Trust trở thành những cổ đông thu lợi nhuận theo số lượng cổ phần

+ Cosortium (Công-xoóc-xiom): là hình thức phổ biến hiện nay với

mô hình công ty mẹ đầu tư vào các công ty khác thành các công ty con, nhằm tạo thế lực tài chính mạnh để kinh doanh Việc đầu tư vào nhiều lĩnh vực là để hạn chế rủi ro, đồng thời hỗ trợ mạnh mẽ trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới, phương pháp quản lý hiện đại Các công ty con là doanh nghiệp thành viên hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất nhưng có quan hệ gần gũi về mặt công nghệ, độc lập về mặt pháp lý, chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn kinh doanh, nhưng không được độc lập về mục tiêu hoạt động nhằm thực hiện lợi ích chung giữa công

ty mẹ và công ty con Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con chủ yếu là chiến lược kinh doanh và tài chính, gồm cả liên kết dọc và liên kết ngang giữa các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm

+ Conglomerate: là tập đoàn kinh doanh đa ngành Các công ty thành viên có ít mối quan hệ hoặc không có quan hệ về công nghệ nhưng có quan hệ chặt chẽ về tài chính Tập đoàn này thực chất là một tổ chức tài chính đầu tư vào các công ty kinh doanh để tạo ra một tổ hợp doanh nghiệp tài chính – công nghiệp để hỗ trợ vốn đầu tư cho các công ty thành viên hoạt động có hiệu quả

+ Concern : là một tổ chức tập đoàn kinh tế được áp dụng phổ biến hiện nay ở nhiều nước dưới hình thức công ty mẹ đầu tư vào các công ty con và điều hành hoạt động của tập đoàn Mục tiêu hình thành tập đoàn là tạo sức mạnh tài chính để phát triển kinh doanh, hạn chế rủi ro, hỗ trợ mạnh mẽ nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới, phương pháp quản lý hiện đại Các công ty con hoạt động trong nhiều lĩnh vực như sản xuất, thương mại, ngoại thương, dịch vụ có liên quan; chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn điều lệ của mình, có địa vị pháp

lí độc lập, phụ thuộc vào tập đoàn về mục tiêu hoạt động nhằm thực hiện lợi ích chung của cả tập đoàn thông qua các hợp đồng kinh tế, các khoản vay tín dụng hoặc đầu tư Mô hình này có nhiều tác dụng tích cực và khả năng hoạt động tốt, thúc đẩy được sự phát triển và liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ, xuất nhập khẩu của cả tập đoàn

+ Tập đoàn đa quốc gia (TNC): là tổ chức tập đoàn tư bản độc quyền, thực hiện chiến lược chiếm lĩnh thị trường thế giới và tìm kiếm lợi nhuận độc quyền bằng cách thiết lập hệ thống chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh dưới sự kiểm soát của công ty mẹ Vốn của công ty mẹ có thể của một nước hoặc của nhiều nước khác nhau

+ Tập đoàn xuyên quốc gia: trong những thập kỷ gần đây, việc hợp nhất, liên kết các doanh nghiệp đã vượt ra khỏi biên giới một quốc gia, dẫn đến việc hình thành các tập đoàn xuyên quốc gia Đây là sản phẩm của sự liên minh giữa những nhà tư bản có thế lực nhất.Các tập đoàn này có qui mô mang tầm cỡ quốc tế,

có hệ thống chi nhánh dày đặc ở nước ngoài với mục đích nâng cao tỉ suất lợi nhuận

Trang 10

http://svnckh.com.vn 10

thông qua việc bành trướng quốc tế Cơ cấu tổ chức của tập đoàn này gồm có công

ty mẹ thuộc sở hữu của các nhà tư bản nước chủ nhà và hệ thống các công ty con ở nước ngoài Mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty con ở nước ngoài là quan

hệ phụ thuộc lẫn nhau, chủ yếu về tài chính, công nghệ, kỹ thuật Các công ty con ở nước ngoài có thể mang hình thức công ty 100% vốn nước ngoài, cũng có thể mang hình thức công ty hỗn hợp, công ty liên doanh với hình thức góp vốn cổ phần Tuy nhiên, dù dưới hình thức nào thì các công ty con đó thực chất cũng là những bộ phận của một tổ hợp, quyền kiểm soát chủ yếu về đầu tư, sản xuất kinh doanh vẫn thuộc về những nhà tư bản nước mẹ

- Về liên kết và tổ chức: Tổ chức liên kết trong hầu hết các tập đoàn kinh tế

đều thông qua mối liên kết chính yếu là liên kết công ty mẹ – công ty con, trong đó:

+ Công ty mẹ đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn chi phối vào các công ty con, mức độ chi phối tuỳ thuộc vào tỷ lệ vốn đầu tư; các công ty con sẽ đầu

tư tiếp vào các công ty cháu

+ Công ty con, công ty cháu đều có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập với công ty mẹ

+ Mối liên kết được duy trì hoặc chấm dứt qua việc công ty mẹ tiếp tục duy trì hay rút vốn đã đầu tư vào công ty con

+ Quyền và mức độ chi phối của công ty mẹ với các công ty con được qui định trong điều lệ của công ty con phù hợp với pháp luật về loại hình công ty của nước mà công ty con đăng kí Tuy nhiên, hầu hết các công ty mẹ trong tập đoàn, thường nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển Quyền lợi kinh tế của công ty mẹ được đảm bảo thông qua chế độ phân chia lợi nhuận theo phần vốn góp

Ngoài liên kết bằng vốn theo hình thức công ty mẹ – công ty con, một số tập đoàn còn liên kết bằng tài chính nhưng chưa đến mức độ quan hệ công ty mẹ – công

ty con ( tỷ lệ góp vốn chưa đến mức độ chi phối các công ty tham gia liên kết) và thu hút các doanh nghiệp không có liên kết về vốn vào các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp trong tập đoàn như gia công, cung cấp bán thành phẩm, phân phối, tiêu thụ sản phẩm hoặc chuyển giao công nghệ, thương hiệu của tập đoàn

1.1.2.4 Cơ cấu tổ chức đa dạng :

Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các doanh nghiệp liên kết với nhau gồm công

ty mẹ và các công ty con, công ty cháu phần lớn được mang họ của công ty mẹ, trong đó công ty mẹ sở hữu đa số vốn cổ phần của các công ty con, chi phối các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển Cơ cấu tổ chức của tập đoàn kinh tế rất đa dạng: có loại tập đoàn trong đó các công ty con độc lập về tính pháp

lý, việc huy động vốn và các hoạt động kinh tế trong tập đoàn được duy trì bằng các hợp đồng kinh tế; có loại tập đoàn trong đó các công ty con mất quyền độc lập về tính thương mại và sản xuất, các chủ sở hữu trở thành cổ đông của công ty mẹ

1.1.2.5 Đa sở hữu :

Trang 11

http://svnckh.com.vn 11

Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các công ty bao gồm công ty mẹ và các công

ty con, công ty cháu phần lớn được mang họ của công ty mẹ Công ty mẹ sở hữu đa

số cổ phần trong các công ty con, công ty cháu Như vậy, sở hữu vốn của tập đoàn

là sở hữu hỗn hợp (nhiều chủ) nhưng có một chủ sở hữu lớn, đó là công ty mẹ đóng vai trò khống chế, chi phối về mặt tài chính Dạng phổ biến của doanh nghiệp trong tập đoàn kinh tế là các công ty cổ phần để dễ dàng huy động vốn, tăng năng lực cạnh tranh và phân tán rủi ro

1.1.2.6 Quản lí điều hành tập đoàn :

Các tập đoàn kinh tế thường xây dựng một “Holding company” và một ngân hàng độc quyền lớn - hoặc công ty tài chính, hoặc công ty mẹ Đó là dạng các công

ty khống chế, nắm cổ phần chi phối với các công ty thành viên Tập đoàn kinh tế tiến hành hoạt động và quản lý tập trung vào một số mặt như: điều hoà, huy động vốn, quản lý vốn, nghiên cứu triển khai xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược thị trường, chiến lược sản phẩm, chiến lược đầu tư, đào tạo nhân sự cho tập đoàn Các chiến lược này được soạn thảo từ cơ quan đầu não của tập đoàn và thực hiện thống nhất trong các công ty thành viên Việc thực hiện chiến lược chung tổng quát vừa tạo ra sức mạnh tập trung, thống nhất lại vừa tạo ra sự năng động, linh hoạt của các công ty thành viên trong việc lựa chọn chiến lược phát triển riêng cho mình và

tự chủ trong sản xuất kinh doanh

Tập đoàn kinh tế được hình thành từ sự phát triển các quan hệ liên kết kinh tế giữa các chủ thể kinh tế, trong đó quan trọng nhất là sự liên kết về tài chính Các tập đoàn kinh tế thông qua ngân hàng độc quyền hoặc công ty tài chính hoặc công ty

mẹ (trường hợp không có công ty tài chính) thực hiện vai trò chủ đạo, chi phối và kiểm soát các công ty thành viên Các công ty thành viên trong tập đoàn phải thông qua công ty đứng đầu (công ty mẹ) mới có thể vay được các khoản vốn với những điều kiện ưu đãi của các ngân hàng trong nước và ngân hàng quốc tế, do vậy họ chịu sự chi phối của công ty mẹ Đối với các công ty con mà tập đoàn sở hữu 100% vốn, hàng năm tập đoàn phê duyệt kế hoạch, dự án đầu tư, nguồn vốn đầu tư thuộc các công ty con, quy định tỷ lệ sinh lời để các công ty con căn cứ vào đó mà hoạch định mức doanh thu, chi phí Tập đoàn còn quản lý tập trung cả lợi nhuận và trực tiếp điều hành dòng tiền luân chuyển của các công ty con này Đối với các công ty con mà tập đoàn có góp vốn, tập đoàn thực hiện việc bảo lãnh để các công ty này vay vốn ngân hàng Điều này làm ràng buộc quyền lợi và trách nhiệm giữa các thành viên trong tập đoàn

Như vậy, tập đoàn kinh tế làm cả hai chức năng cơ bản là kinh doanh như một doanh nghiệp và thực hiện liên kết kinh tế

Cơ quan quyền lực của tập đoàn bao gồm: Đại hội cổ đông, hội đồng quản trị hoặc hội đồng giám đốc, ban giám đốc ở cả công ty mẹ, công ty con, cháu ( tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp: công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn ) Hội đồng quản trị do Đại hội cổ đông bầu, có thể có cả các thành viên là người của chính phủ nếu chính phủ có vốn góp Các thành viên hội đồng quản trị không được hưởng lương, chỉ được hưởng phụ cấp Hội đồng quản trị có thể cử 1 hoặc nhiều thành viên tham gia điều hành công ty, hoặc làm giám đốc điều hành,

Trang 12

http://svnckh.com.vn 12

nếu cử theo nhiệm kỳ thì nhiệm kỳ đó không được quá 5 năm Chủ tịch hội đồng quản trị có thể kiêm tổng giám đốc công ty Công ty mẹ cử cán bộ của mình tham gia Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng giám đốc các công ty thành viên theo tỷ lệ vốn góp của công ty mẹ trong các công ty thành viên

1.2 Vai trò và xu hướng phát triển của Tập đoàn kinh tế:

1.2.1 Vai trò và vị trí của tập đoàn kinh tế :

Trong nền kinh tế của một quốc gia, hoạt động của các tập đoàn kinh tế có vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn, thể hiện chủ yếu trên những mặt sau đây:

1.2.1.1 Tập đoàn kinh tế tạo điều kiện huy động và phát huy rộng rãi các

nguồn lực trong xã hội đầu tư vào phát triển kinh tế Thông qua mô hình tập đoàn, Nhà nước có điều kiện hơn đê điều chỉnh kết cấu ngành, kết cấu sản phẩm và kết cấu tổ chức doanh nghiệp Việc hình thành các tập đoàn kinh tế lớn đã hạn chế tối

đa sự canh tranh giữa các doanh nghiệp thành viên, tối đa hóa lợi nhuận, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế

Mô hình tập đoàn cũng có lợi cho việc lưu động tài sản, phân phối hợp lí các yếu tố sản xuất trong phạm vi rộng, thúc đẩy sự tự điều chỉnh tài sản trong xã hội; nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản Có lợi cho việc lấy dài bù ngắn, bổ sung lợi thế cho nhau, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy nâng cao trình độ quản lí chung

Với các nước đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, mở cửa, hội nhập, có nền công nghiệp trong nước chưa mạnh, hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh còn là giải pháp chiến lược để chống lại sự thâm nhập một cách ồ ạt của các tập đoàn khổng lồ trên thế giới, giúp cho sản xuất trong nước đứng vững và từng bước vương ra thị trường khu vực và thế giới

1.2.1.2 Với phạm vi và qui mô tổ chức sản xuất – kinh doanh rất lớn, TĐKT

có khả năng tập trung được nguồn vốn đầu tư vào những lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn, nhất là những ngành công nghệ hiện đại mà các doanh nghiệp đơn lẻ với nguồn vốn hạn hẹp không đủ sức đầu tư để tạo ra những bước phát triển nhảy vọt và trở thành động lực của tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các ngành công nghệ mới, là trung tâm giáo dục các tri thức về khoa học – công nghệ và quản lí tiên tiến cho cả nền kinh tế

Với tiềm lực kinh tế mạnh có sự phân công, phối hợp của các doanh nghiệp thành viên hoạt động trong nhiều lĩnh vực và phạm vi rộng lớn, tập đoàn có khả năng liên tục chiếm lĩnh, mở rộng và củng cố thị trường; nâng cao khả năng cạnh tranh của tập đoàn và các doanh nghiệp thành viên; đồng thời có thể giảm bớt và phân tán rủi ro cho các doanh nghiệp thành viên kinh doanh trong các ngành và vavs quốc gia khác nhau do những bất trăvs của thị trường và thay đổi cơ cấu gây

ra Thông qua vai trò điều hòa vồn của tập đoàn, vốn của các doanh nghiệp thành viên được sử dụng vào những dự án tốt nhất, tránh tình trạng vốn bị phân tán đầu tư tràn lan, trùng lặp, hiệu quả không cao, từ đó nâng cao tính hiệu quả của nền kinh

tế

Trang 13

http://svnckh.com.vn 13

Phát huy lợi thế của kinh tế qui mô lớn, khai thác một cách triệt để thương hiệu tập đoàn, hệ thống tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của các doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn không những không bị phụ thuộc vào các nhà cung cấp nguyên liệu độc quyền mà còn có thể nhận được nguyên vât liệu cần thiết một cách đều đặn, với chất lượng và khối lượng theo yêu cầu Các doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn có thể dễ dàng chia sẻ thông tin và nguồn nhân lực khan hiếm, đẩy nhanh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học – công nghệ, đồng thời từ đó tạo điều kiện mở

ra các nguồn vốn và cơ hội kinh doanh mới

1.2.1.3 Với tiềm lực mạnh, TĐKT có khả năng tổ chức nghiên cứu các đề tài

khoa học – công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư lớn và cần sự phối ợp của nhiều nhà khoa học, phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu mà từng doanh nghiệp đơn lẻ không thể thực hiên được Mặt khác, qui mô và phạm vi hoạt động rộng lớn của tập đoàn sẽ làm cho việc triên rkhai ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất có hiệu quả cao hơn với chi phí giảm Tập đoàn có tác dụng lớn trong việc cung cấp, trao đổi thông tin, trao đổi ngững kinh nghiệm tốt trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu triển khai kết quả nghiên cứu vào sản xuất giữa các doanh nghiệp thành viên

1.2.1.4 Với các nước phát triển, sự thống nhất trong tập đoàn sẽ góp phần thúc

đẩy chuyển giao công nghệ ra nước ngoài một cách có hiệu quả nhất, thay đổi cơ cấu sản xuất một cách hợp lí

Với các nước đang phát triển, các tập đòan kinh tế mạnh là cầu nối để tiếp thu nhanh chóng cấcthnhf tựu khoa học công nhệ trên thế giới, làm thu hẹp khoảng cách về trình độ với các nước phát triển, thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế Các tập đòan công nghiệp giữ vai trò quan trọng để các nước đi sau tiến kịp các quốc gia phát triển về kinh tế Đây là bài học thành công của Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước trong phát triển kinh tế vào những năm của thập kỉ 70, 80 thế

kỉ XX

1.2.1.5 Việc hình thành các tập đoàn kinh tế lớn sẽ giải quyết được việc làm

cho một bộ phận dân cư tại khu vực, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyên môn hóa các ngành nghề, thúc đẩy phát triển các đặc khu kinh tế, các khu công nghiệp, qua đó làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội cho từng địa phương hay một quốc gia

1.2.2 Xu hướng phát triển các Tập đoàn kinh tế trên thế giới

1.2.2.1 Xu hướng phát triển các Tập đoàn kinh tế trên thế giới:

Việc hình thành và phát triển các Tập đoàn kinh tế trên thế giới nói chung là

tự nhiên ( không có sự can thiệp của Nhà nước như ở Việt Nam) Từ một công ty

mẹ ban đầu phát triển dần lên với hình thức công ty cổ phần Khi đã phát triển tương đối, Công ty này bắt đầu đầu tư hay thôn tính những công ty nhỏ hơn cùng ngành để giảm cạnh tranh Đồng thời, Công ty mẹ này có xu hướng thành lập các công ty tài chính riêng để tăng sức mạnh tài chính và khả năng chi phối thông qua vốn với các công ty con

Trang 14

* Vốn : quay vòng từ lợi nhuận và huy động từ thị trường cổ phiếu ( các

công ty đều là công ty cổ phần – đa sở hữu) và vốn vay ngân hàng

* Hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực : các TĐKT có xu hướng mở

rộng phạm vi hoạt động của mình trong nhiều ngành, lĩnh vực để không những tận dụng được về liên kết cứng về công nghệ giữa các công ty thành viên, còn để tăng tầm ảnh hưởng và giảm rủi ro khi đầu tư vào một ngành

* Mở rộng, phình to qua việc mua lại các công ty nhỏ hơn và đầu tư vào một

số công ty và dần nắm quyền chi phối hoạt động

Trên thế giới hiện nay có rất nhiều các Tập đoàn kinh tế với nhiều hình thức

tổ chức khác nhau nhưng điều mang bản chất chung là “một tổ hợp các doanh

nghiệp có tư cách pháp nhân, có mối liên kết với nhau về vốn, tài chính, công nghê, thị trường, thương hiệu, thông tin, nghiên cứu, đào tạo; trong đó có một doanh nghiệp giữ quyền chi phối các doanh nghiệp khác.” Và xu hướng phát triển của các

Tập đoàn kinh tế trên thế giới là ngày càng phình to và mở rộng tầm ảnh hưởng và thị trường ra toàn cầu

Một số ví dụ về các Tập đòan kinh tế thế giới được đề cập và phân tích ở mục 1.2.3

1.2.2.2 Vai trò của Nhà nước với sự hình thành và phát triển của các tập

đoàn kinh tế:

Lịch sử hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế trên thế giới cho thấy, Nhà nước có vài trò to lớn đối với sự tồn tại vầphts triển của các tập đoàn kinh tế, thể hiện qua việc tạo dựng, duy trì và thúc đẩy môi trường kinh tế, xã hội cần thiết cho sự ra đời và hoạt động của các TĐKT Bằng những chính sách, công cụ quản lí, Nhà nước đã tác động đến TĐKT để phát huy những mặt tích cực của nó, hạn chế những mặt tiêu cực mà TĐKT có thể gây ra cho nền kinh tế, xã hội Vai trò đó được thể hiện ở các nội dung chủ yếu :

* Tạo tiền đề cho sự ra đời các TĐKT thông qua những chính sách thúc đẩy

sự phát triển của nền kinh tế như những cơ chế, chính sách về kinh doanh, thị trường, xuất nhập khẩu, khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, qui định về bỏa vệ bản quyền đối với những phát minh, sáng chế, chiính sách bỏa hộ công nghiệp, cung cấp các khoản tài chính ưu đãi và dành độc quyền hco một số công ty của chính phủ…v v Điều này đã làm các doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn trong việc tồn tại và phát triển, buộc phải tìm cách liên kết lại với nhau, đã tạo điều kiện cho các loại hình kinh doanh lớn ( tập đoàn ) ra đời và phát triển

Trang 15

http://svnckh.com.vn 15

Chẳng hạn như ở Hàn Quốc: chiến lược phát triển của Hàn Quốc là định hướng xuất khẩu vào cho rằng các doanh nghiệp lớn là không thể thiếu được cho sự tăng trưởng kinh tế, chính định hướng này đã gây trở ngại cho các doanh nghiệp nhỏ Vào những năm 1950, viện trợ nước ngoài, những khoản hỗ trợ đặc biệt của Chính phủ được phân bố ưu tiên cho những doanh nghiệp lớn, có quan hệ gần gũi với chính phủ, các doanh nghiệp lớn cũng được ưu tiên mua cổ phần của các doanh nghiệp khác và phát triển thành các “Chaebo”

ở Malaysia, để thực hiện kế hoạch kinh tế quốc gia và tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp mới như ngành chế tạo ô tô, điện tử,…Chính phủ đã thành tlập các công ty quốc doanh bao gồm các công ty cảu chính phủ và các công

ty theo luật công ty ban hành năm 1965 Năm 1969, một công ty nhà nước lớn (Petronas) được thành lập đã thâu tóm cổ phần của nhiều công ty nước ngoài mạnh, tham gia vào việc nâng cấp hạ tầng cơ sở kinh tế và đã trở thành tập đoàn kinh tế mạnh của Malaysia

* Xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, khuyến khích các

doanh nghiệp trong đó có các TĐKT phát triển theo các định hướng chiến lược của đất nước Chính phủ các nước đã hỗ trợ các TĐKT với nhiều hình thức khác nhau như tạo khung pháp lí kinh doanh thuận lợi ở cả trong nước và ở nước ngoài; sử dụng các chính sách tài chính, tiền tệ, hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp về vốn, công nghiệ, kĩ thuật, đào tạo nhân lực, thực hiện chính sách bảo hộ sản xuất trong nước, nâng cao khả năng canh tranh của các TĐKT… Đã tạo điều kiện để các TĐKT ngày càng lớn mạnh, tham gia vào phát triển kinh tế đất nước

Để khuyến khích các công ty lớn và các tập đòan trong các ngành công nghiệp nặng (như hóa chất cơ bản, luyện thép, chế tạo, điện tử v v) Chính phủ Hàn Quốc đã cho phép miễn thuế, giảm thuế, cấp các khoản tín dụng ưu đãi, bảo lĩnh tín dụng, trợ cấp xuất khẩu… Chính phủ còn lập riêng một quĩ đầu tư quốc gia chuyeen cấp tín dụng dài hạn cho việc nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ cho sự phát triển các ngành trên ……

Đồng thời, Nhà nước cũng sẵn sàng can thiệp vào hoạt động của các TĐKT nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của nó Sự phát triển của các TĐKT thường dẫn đến độc quyền, gây những tác hại cho nên kinh tế, xã hội Để hạn chế tính độc quyền của chúng, Chính phủ ở các nướcđã ban hành nhiều đạo luật chống độc quyền Và nói chung hiện nay thì hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường đã áp dụng các đạo luật đó nhằm tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng

* Quản lí vĩ mô nền kinh tế, thể hiện trước hết ở việc định hướng phát triển

nền kinh tế của đát nước Mối tập đoàn kinh tế đều phải xây dựng chiến lược phát triển của mình trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế chung này Trên thực tế cho thấy định hướng phát triển kinh tế của Chính phủ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của các tập đoàn kinh tế Chính phủ Nhật Bản, Hàn Quốc khi chuyển hướng chiến lược ưu tiên phát triên công nghiệp nặng thì hàng loạt các tập đoàn thương

Trang 16

http://svnckh.com.vn 16

mại của Nhật đang hoạt động mạnh trên thị trường thế giới cũng lâm vào tình trạng

bế tắc và suy yếu

* Nhà nước thực hiện chức năng chủ sở hữu về vốn tại các doanh nghiệp có

vốn của Nhà nước với vai trờ là nhà đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp, cổ phần đặc biệt, cổ phần chi phối hoặc chỉ là cổ đông bình thường

Qua đây ta thấy, Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế Tuy nhiên, sự tác động của mỗi Chính phủ đối với sự phát triển của tập đoàn kinh tế ở các nước cũng khác nhau, có thể chỉ

là chất xúc tác nhưng cũng có thể là chi phối mang tính chiến lược

1.2.3 Một số tập đoàn kinh tế trên thế giới:

Tập đoàn Microsoft đã vươn tầm toàn cầu Liên kết giữa các công ty thành viên rất đa dạng, hỗn hợp cả Liên kết cứng và Liên kết mềm Công ty mẹ là Công ty phần mềm Microsoft và đầu tư vào các công ty con với tỉ lệ vốn là 100% hoặc một phần vồn Các công ty con, công ty thành viên tương đối độc lập với nhau, hạch toán độc lập

Công ty Microsoft được điều hành bởi một Ban Giám đốc gồm 10 người, đưa ra hầu hết các quyết định của công ty Ban Giám đốc đương nhiệm gồm có: Steve Ballmer, James Cash, Jr., Dina Dublon, Bill Gates, Raymond Gilmartin, Ann Korologos, David Marquardt, Charles Noski, Helmut Panke, and Jon Shirley Ban Giám đốc này được bầu chọn lại mỗi năm trong Hội nghị cổ đông

Từ năm 1994 đến nay, Microsoft đã mua lại 60 công ty, trong đó có nhiều công ty khá nổi tiếng trên thị trường Microsoft cũng đã đầu tư vào hơn 140 công ty trên toàn cầu với nhiều dự án đem lại lợi nhuận khổng lồ

1.2.3.2 Tập đoàn Sony :

Tập đoàn Sony là một trong những tập đoàn lớn nhất không chỉ ở Nhật mà còn trên toàn thế giới Công ty mẹ của tập đoàn Sony là Sony Co với 6 lĩnh vực chính là : Điện tử, Trờ chơi, Âm nhạc, Hình ảnh, Dịch vụ tài chính và một số lĩnh vực khác

Trang 17

http://svnckh.com.vn 17

Doanh thu của Công ty Sony năm 2004 là 71,216 tỉ đô la với khoảng 151

400 nhân công trên toàn cầu

Tổng giám đốc và chủ tịch hội đồng quản trị : Howard Stringer và Ryoji Chubachi Trụ sở chính tại thành phố Shinagawa, Nhật Bản

Sony Co được thành lập vào tháng 5 năm 1946 và đến năm 1958 thì chính thức lấy tên hiện tại – Sony Trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ đó đến nay thì Sony Co ngày càng lớn mạn và phình to ra, vươn tầm ảnh hưởng và mở rộng thị trường ra toàn thế giới

Sony đã mua lại khá nhiều công ty làm công ty con và phát triển tầm ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế Các công ty con : tập đoàn truyền thông CBS (Columbia), nay là Sony Music Entertainment; Hãng phim Columbia ( mua lại từ tập đoàn Coca Cola với giá 3,4 tỉ đô la năm 1989), nay là Sony Picture Entertainment; Công ty Aiwa… Tập đoàn Sony còn đầu tư vốn vào một số công

ty giải trí khác như BMG mà nay là Sony BMG Music và Universal Music Group

Trang 18

http://svnckh.com.vn 18

CHƯƠNG 2

SỰ HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM 2.1 Tính tất yếu của việc hình thành Tập đoàn kinh tế Nhà nước

- Xu hướng mở của, hội nhập, hợp tác trong phạm vi toàn cầu đã là một yêu cầu tất yếu khách quan đối với nước ta trong việc tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhỏ bé, phân tán và manh mún thành những doanh nghiệp lớn để đủ khả năng đối tác cũng như cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Xu hướng phát triển khoa học công nghệ cũng như việc áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới và đào tạo nhân lực có trình độ cao cũng đòi hỏi chỉ có những doanh nghiệp qui mô đủ lớn, tiềm năng đủ mạnh hoạt động trong nước

và quốc tế mới có thể phát triển được

- Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta mà một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường là phải chấp nhận cạnh tranh Tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế tất yếu dẫn đến quá trình tích tụ và tập trung Việc tích

tụ và tập trung vốn vào sản xuất giữa các doanh nghiệp tất yếu dẫn đến hình thành các doanh nghiệp lớn Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và bối cảnh quốc tế các doanh nghiệp lớn không chỉ ra đời mà còn phát triển mạnh về qui mô và hình thức tổ chức thành những tập đoàn kinh tế hoạt động trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong nước và xuyên quốc gia

- Để tăng cường vị trí của DNNN trong việc bảo đảm vai trò chủ đạo, dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác hoạt động theo định hướng XHCN, Nhà nước cần có các DNNN mạnh, hoạt động trong một số lĩnh vực ngành nghề quan trọng có mối liên kết với nhau chặt chẽ về lợi ích kinh tế, công nghệ, từ những yêu cầu đó đòi hỏi phải hình thành các tập đoàn kinh tế hoạt động

có hiệu quả và làm nòng cốt trong nền kinh tế xã hội nước ta

Trang 19

kỹ thuật, khai thác thị trường để nhanh chóng tích lũy vốn tạo điều kiện phát triển ra các lĩnh vực mới Đó là điều mà doanh nghiệp cá thể hay những sự liên kết lỏng lẻo không thể có được

ở Việt Nam trong những năm vừa qua, một số tập đoàn đã được hình thành ở những lĩnh vực trọng yếu Các tập đoàn này hình thành là do sự điều tiết của Nhà nước Đây là sự hình thành tập đoàn không tự nhiên, không giống với chiều hướng tập đoàn hóa chung của các nước khác trên thế giới Tuy nhiên, với điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện tại là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì các tập đoàn lớn đi đầu đó phải có sự điều tiết của Nhà nước Có như vậy mới đảm bảo cho nền kinh tế phát triển đúng hướng Bên cạnh đó còn có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển như đã trình bày ở trên Do đó, việc thành lập các Tập đoàn kinh

tế Nhà nước ở Việt Nam là một tất yếu, phù hợp với quá trình phát triển hiện nay của nền kinh tế trong nước và để thâm nhập vào thị trường thế giới

2.2 Sự hình thành tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

2.2.1 Quá trình nhận thức của Đảng và Nhà nước về tập đoàn kinh tế

2.2.1.1 Những điều kiện cơ bản hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế

ở Việt Nam

- Về trình độ tích tụ, tập trung hoá sản xuất kinh doanh:

Đa số các tập đoàn kinh tế thế giới đều có quy mô lớn về vốn, doanh thu, lao động, máy móc thiết bị, số các doanh nghiệp thành viên So với các tập đoàn kinh tế trên thế giới và khu vực, các TCT của ta chưa thực sự là tập đoàn kinh tế xét theo tiêu chí quy mô (trước hết là về vốn) Do mỗi nước có trình độ tích tụ, tập trung hoá sản xuất và có những mục tiêu, yêu cầu cụ thể riêng, nên sự so sánh đơn giản ấy sẽ

có thể dẫn tới nghi ngờ hoặc phủ định khả năng hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp này

- Về mối quan hệ liên kết:

Về thực chất, tập đoàn kinh tế là công ty cổ phần với mối liên kết kiểu công

ty mẹ - công ty con Hiện nay, mô hình công ty mẹ - công ty con là hình thức liên kết phổ biến của tập đoàn kinh tế ở các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời cũng phù hợp với yêu cầu, mục đích xây dựng tập đoàn kinh tế ở nước ta

- Về môi trường kinh doanh:

Bất cứ một loại hình tổ chức nào muốn ra đời, tồn tại và phát triển đều đòi hỏi phải có môi trường thích hợp Môi trường kinh doanh vừa tác động tích cực,

Trang 20

http://svnckh.com.vn 20

vừa tác động tiêu cực đến tập đoàn Vì lẽ đó, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động của tập đoàn là đòi hỏi búc xúc và quan trọng Đó chính là điều kiện sống còn để hình thành và phát triển tập đoàn Môi trường để tập đoàn kinh tế hình thành và hoạt động có hiệu quả bao gồm:

+ Môi trường pháp lý: Gồm hệ thống pháp lý và các văn bản pháp quy, trong

đó đặc biệt quan trọng là các luật về kinh doanh, chống độc quyền và các quy chế khung về tổ chức và hoạt động của các loại hình tổ chức kinh doanh Chúng ta cần phải có hệ thống pháp luật tạo điều kiện cho các đơn vị kinh doanh tự do liên kết kinh tế để hình thành lợi nhuận bình quân, và có chính sách phân phối lợi nhuận theo vốn đầu tư Hệ thống pháp luật có liên quan đến tập đoàn kinh tế phải có tác dụng tạo điều kiện cần thiết, khuyến khích tập đoàn kinh tế phát triển, đồng thời ngăn ngừa, hạn chế và xử lý các mặt tiêu cực phát sinh trong hoạt động của tập đoàn kinh tế

+ Môi trường kinh tế: Bao gồm sự phát triển của thị trường và các quan hệ kinh tế trên thị trường, sự phát triển của các quan hệ cạnh tranh và liên kết kinh tế giữa các chủ thể, sự khẳng định các quan hệ sở hữu tồn tại hợp pháp, sự phát triển của các quan hệ phân công, hiệp tác

- Về trình độ cán bộ quản lý:

Tập đoàn kinh tế có quy mô lớn và độ phức tạp cao trong tổ chức quản lý, nên đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành thực sự có năng lực, trình độ cao, phong cách lãnh đạo và phẩm chất đạo đức tốt, để quản lý điều hành bộ máy của tập đoàn hoạt động có hiệu quả Sẽ là vô cùng nguy hiểm khi Nhà nước trao một lượng vốn lớn hàng ngàn tỷ đồng vào tay nhà quản lý, kinh doanh chưa đủ tầm, chưa đủ tài và kinh nghiệm để tổ chức quản lý quy mô tập đoàn kinh tế Mặt khác,

sẽ là quá mạo hiểm khi doanh nghiệp tư nhân nào lại đem doanh nghiệp và vốn của mình gia nhập tập đoàn kinh tế nhà nước mà đội ngũ cán bộ ở đó yếu kém Cho nên, một trong những điều kiện cơ bản để hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế là phải có đội ngũ chủ doanh nghiệp, cũng như đội ngũ các nhà quản lý điều hành có tài, giàu kinh nghiệm quản lý và quản trị kinh doanh trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường để ngang tầm với quy mô tập đoàn kinh tế

2.2.1.2 Quá trình nhận thức của Đảng và Nhà nước về tập đoàn kinh tế:

Vào những năm 1990, 1991, chúng ta đã thực hiện một cuộc cải tổ rất cơ bản đối với các Doanh nghiệp nhà nước Hàng loạt Tổng công ty nhà nước được thành lập, gọi là tổng công ty 90-91 Nhưng sau gần 15 năm hoạt động các tổng công ty

đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết nội tại:

- Sự minh bạch về sở hữu vẫn không được tôn trọng, tình trạng tham ô, tham nhũng trong các DNNN nói chung, trong các TCT nói riêng xẩy ra ngày càng nhiều, càng nghiêm trọng (như tình trạng ở TCT vàng, bạc, đá quí; TCT dâu tằm tơ; TCT dầu khí Việt Nam; Tổng TCT hàng hải Việt Nam )

- Phần lớn TCT ở nước ta là đơn ngành và được hình thành theo mệnh lệnh hành chính

Trang 21

http://svnckh.com.vn 21

- Vai trò của TCT ty đối với các công ty thành viên rất mờ nhạt Bởi lẽ, vốn của TCT chính là vốn nhà nước trên sổ kế toán của các công ty thành viên cộng lại Mỗi công ty thành viên là một pháp nhân độc lập Vì vậy, vai trò điều phối vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của TCT chỉ tồn tại trên văn bản Việc hỗ trợ về công nghệ, tạo thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các công ty thành viên của TCT cũng không đạt được hiệu quả như mong muốn

- Mặc dù đã có khá nhiều văn bản pháp qui dưới luật nhằm hướng dẫn hoạt động của các TCT Và để kiểm soát hoạt động của bộ máy điều hành, ở một số TCT

có thêm tổ chức là Hội đồng quản trị nhưng hiện tượng tham ô, tham nhũng, gian lận trong kinh doanh vẫn cứ xảy ra Hơn nữa, một hệ thống quản lí hành chính, cồng kềnh đã tác động xấu đến hoạt động kinh doanh ở các công ty thành viên

Nói tóm lại, trong việc hình thành và quản lí các TCT, chúng ta đã sử dụng các biện pháp hành chính, xa lạ với những qui luật khách quan của kinh tế thị trường Vì vậy, phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc và toàn diện và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, tìm ra một phương án khắc phục những yếu kém nội tại của các TCT nhà nước là một tất yếu khách quan Một trong những biện pháp quan trọng đang được thực hiện nhằm cải tổ hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước nói chung và các TCT nói riêng, là thành lập các tập đoàn kinh tế Dựa vào những điều kiện cơ bản trong việc hình thành tập đoàn kinh tế ở Việt Nam nói trên, Đảng và nhà nước đã

có những nhận thức mới về yêu cầu hình thành tập đoàn kinh tế

Tập đoàn kinh tế đối với các nước phát triển không có gì là mới lạ, nhưng đối với nước ta thì hoàn toàn mới Mới ở cấp độ lãnh đạo, điều hành vĩ mô, mới về cách xây dựng thương hiệu mạnh, mới về cách kinh doanh và cạnh tranh thị trường trong nước và quốc tế… Ơ các nước, các tập đoàn hình thành qua cả một quá trình, như một kết quả tất yếu của cạnh tranh và phát triển kinh doanh; ngay cả thôn tính lẫn nhau theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé” hay sát nhập hoặc mua lại cũng đều phải tuân thủ những quy luật của thị trường, cũng đều xuất phát từ phục vụ cho lợi tích kinh

tế của các công ty là chính” Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta còn đang thời kỳ chuyển đổi, khi sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế theo sở hữu còn rất đáng kể, tư duy, phương thức quản lý Nhà nước đối với các tổ chức kinh doanh còn nhiều chỗ cần được cải thiện, thì vấn đề tổ chức mô hình, quản lý các tập đoàn như thế nào cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế ở nước ta và có đủ sức cạnh tranh với thị trường quốc tế là chuyện đáng quan tâm nhất, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải hiểu thấu đáo mọi vấn đề

Trong hơn 10 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và nền kinh tế còn nhiều khó khăn , doanh nghiệp nhà nước đã vượt qua nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới

và phát triển đất nước; đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước cũng còn những mặt hạn chế, yếu kém, có mặt rất nghiêm trọng như; quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa thật

Trang 22

http://svnckh.com.vn 22

tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt; nhìn chung, trình độ công nghệ còn lạc hậu, quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh; kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với các nguồn lực

đã có và sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước; hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, nợ không có khả năng thanh toán tăng lên, lao động thiếu việc làm và dôi dư còn lớn Hiện nay, doanh nghiệp nhà nước đang đứng trước thách thức gay gắt của yêu cầu đổi mới, phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế 1 trong các biện pháp để cải thiện tình hình đó là đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổng công

ty nhà nước; hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh

Theo Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ 3 ban chấp hành TW Đảng khóa IX:

“TCT nhà nước phải có vốn điều lệ đủ lớn, có thể huy động vốn từ nhiều nguồn,

trong đó vốn nhà nước là chủ yếu; thực hiện kinh doanh đa ngành, có ngành chính chuyên sâu; có liên kết giữa các đơn vị thành viên về sản xuất, tài chính, thị trường ; có trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến, năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế”

“Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có

sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh Thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như; dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng ”

2.2.2 Tình hình hoạt động của các tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện nay:

Chính Phủ Việt Nam đã phê duyệt 1 số đề án thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế dựa trên cơ sở các TCT nòng cốt Dưới đây chúng tôi xin đưa ra 6 tập đoàn kinh tế, đó là:

1 Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam

2 Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Việt Nam

3 Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam

4 Tập đoàn Điện lực

5 Tập đoàn Dệt may Việt Nam

6 Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Trong phần này chúng tôi sẽ khái quát những đặc điểm cơ bản của việc hình thành và tình hình của 6 tập đoàn kinh tế trên ở VN

1 Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Tập đoàn công nghiệp than và khoáng sản Việt Nam được hình thành trên cơ

sở xát nhập Tập đoàn than Việt Nam với TCT khoáng sản Việt Nam

Trang 23

http://svnckh.com.vn 23

a)Tập đoàn Than Việt Nam được hình thành trên cơ sở TCT Than Việt

Nam theo quyết định số 198/2005/QĐ-TTg ngày 01/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ

Năm 2004, sau 10 năm hoạt động, Tổng công ty Than Việt Nam đã thu được

những kết quả đáng khích lệ Một trong những thành tựu quan trọng TCT Than Việt

Nam đạt được đó là đã hình thành rõ nét cơ cấu kinh doanh đa ngành bao gồm: công nghiệp than - điện lực - cơ khí - vật liệu nổ công nghiệp - xây dựng, vật liệu xây dựng - thương mại dịch vụ, trong đó công nghiệp than chiếm 64,8%, các ngành

khác chiếm 35,2% trong tổng doanh thu 15.178 tỷ đồng

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và xu thế phát triển của TCT Than Việt Nam hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 198/2005/QĐ-TTg ngày 08/8/2005 về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Than Việt Nam với mục đích “nhằm tạo ra một tập đoàn kinh tế mạnh, có trình độ công nghệ cao, quản lý hiện đại, kinh doanh đa ngành trên nền sản xuất than, nhiệt điện đốt than, vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí năng lượng và mỏ, đóng tàu và ô tô, khai thác, chế biến khoáng sản”

b)TCT Khoáng sản Việt Nam ( VIMICO ) là doanh nghiệp sở hữu Nhà

nước, được thành lập theo quyết định số 1118/QĐ-TCCBĐT ngày 27/10/1995 của

Bộ Công nghiệp, trên cơ sở hợp nhất TCT Khoáng sản quí hiếm Việt Nam và TCT Phát triển khoáng sản TCT khoáng sản Việt Nam được chuyển sang mô hình công

ty mẹ – con theo Quyết định số 12/2006 QĐ- BCN của Bộ công nghiệp ra ngày 27/4/2006

Ngày 14/7/2006, Thủ Tướng Chính phủ chính thức công bố Quyết định số 345/2005/QĐ-TTg ra ngày 26/12/2005 về việc thành lập Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con với nội dung như sau:

- Đổi tên công ty mẹ - Tập đoàn Than Việt Nam thành công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; Chuyển TCT Khoáng sản Việt Nam thành công ty con của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

- Tập đoàn Công nghiệp than - Khoáng sản Việt Nam là công ty nhà nước,

có tư cách pháp nhân, con dấu, biểu tượng, điều lệ tổ chức và hoạt động; được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng theo quy định của pháp luật, được tự chủ kinh doanh, có chức năng đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp khác; giữ quyền chi phối các công ty con thông qua vốn, tài nguyên khoáng sản được Nhà nước giao quản lý, công nghệ, thương hiệu và thị trường

- Ngành nghề kinh doanh của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam: là khảo sát, thăm dò, đầu tư xây dựng, khai thác, sàng tuyển, chế biến, vận tải, mua, bán, xuất nhập khẩu các sản phẩm than, khí mỏ, nước ngầm và khoáng sản khác đi cùng với than

- Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam có trách nhiệm kế thừa các quyền và nghĩa vụ pháp lý của Tập đoàn Than Việt Nam và TCT Khoáng sản Việt Nam theo quy định của pháp luật

Trang 24

http://svnckh.com.vn 24

Năm 2005, tổng doanh thu ước của tập đoàn đạt trên 21.500 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế dự kiến đạt 2.600 tỷ đồng, sản lượng than thương phẩm bán ra tăng 21% so với năm 2004 Song trong năm 2005 doanh nghiệp còn để xảy ra nhiều tai nạn lao động, số người chết và thương tật còn cao Trong đầu năm 2006, giá thành sản xuất than tăng 7% so với thời gian này năm 2005 (tăng 10.000 đồng/tấn)

do ảnh hưởng chủ yếu của yếu tố đầu vào

Có thể thấy rằng khai thác than và khoáng sản là 1 ngành công nghiệp quan trọng trong nền kinh tế của đất nước Nhưng đến thời điểm này, khai thác than và khoáng sản vẫn đang là họat động kinh doanh độc quyền dưới sự quản lý và giám sát của nhà nước Dưới sự bảo hộ của nhà nước, TCT than Việt Nam đã đa dạng hóa được ngành nghề kinh doanh của mình – điều kiện thuận lợi để phát triển lên theo mô hình tập đoàn kinh tế mạnh Nhưng điều bất cập ở đây là Tập đoàn chưa

có công ty tài chính nội bộ, lãnh đạo chủ chốt còn kiêm nhiệm Điều đó có thể dẫn đến những khó khăn trong việc hình thành 1 tập đoàn vững mạnh , đồng thời nguy

cơ tham nhũng của các quan chức là rất cao- đây cũng chính là căn bệnh đã ăn sâu vào các quan chức của các TCT 90-91

2 Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt ( BAOVIET HOLDINGS )

Ngày 17/1/2006 tại Hà Nội, TCT bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) đã công bố chính thức Quyết định số 310/2005 QĐ-TTg ngày28/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án cổ phần hoá TCT Bảo hiểm Việt Nam và thí điểm thành lập Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt (gọi tắt là tập đoàn Bảo Việt) hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con

Tiền thân của Bảo Việt ngày nay là Công ty bảo hiểm Việt Nam được thành lập theo quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 Trong thời gian đầu hoạt động kinh doanh của Công ty chỉ trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa xuất - nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển.Năm 1989:Công ty bảo hiểm Việt Nam được Chính phủ chuyển đổi thành TCT bảo hiểm Việt Nam.Trong giai đoạn tiếp theo Bảo Việt tiếp tục phát triển mở rộng mạng lưới , đa dạng hóa hoạt động kinh doanh trên phạm vi toàn quốc và phát triển ra thị trường quốc tế( Thành lập Công ty đại lý bảo hiểm BAVINA tại Vương Quốc Anh năm 1992) Đến giai đoạn này Bảo Việt trở thành doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ hàng đầu của Việt Nam Với nguồn tài chính mạnh mẽ, Bảo Việt tiếp tục tham gia vào thị trường đầu tư tài chính (Thành lập Công ty Chứng khoán Bảo Việt - Công ty chứng khoán đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1999) Kể từ tháng 10-2003 hoạt độnh kinh doanh của Bảo Việt đã được tổ chức lại theo mô hình tập đoàn tài chínhvới vốn điều lệ 3000 tỷ đồng (200 triệu USD)

Theo chiến lược phát triển thị trường Bảo hiểm Việt Nam, đến năm 2010 của Chính phủ, Bảo Việt sẽ được xây dựng thành một Tập đoàn tài chính đa ngành sau năm 2005 Cụ thể là:

- TCT Bảo hiểm Việt Nam (BHVN) sẽ được cổ phần hoá theo hình thức phát hành cổ phiếu ra công chúng, trong đó Nhà nước giữ tối thiểu 51% vốn điều lệ, các nhà đầu tư nước ngoài sở hữu không quá 30% vốn điều lệ

Ngày đăng: 11/01/2016, 12:54

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w