1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN

111 316 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 894,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Sau hơn 8 năm gia nhập WTO, thị trường bán lẻ Việt Nam đã có nhiềuchuyển biến mạnh mẽ, là một trong những thị trường có nhiều thay đổi nhấttrong toàn bộ n

Trang 1

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”

NĂM 2015

Tên công trình: Phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam để

tham gia vào cộng đồng ASEAN Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lí 2 (KD2)

4 Lê Thu Trang

5 Lương Hoàng Ninh

Trang 2

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Sau hơn 8 năm gia nhập WTO, thị trường bán lẻ Việt Nam đã có nhiềuchuyển biến mạnh mẽ, là một trong những thị trường có nhiều thay đổi nhấttrong toàn bộ nền kinh tế, được nhìn nhận đầy tiềm năng và thu hút nhiều sựquan tâm đầu tư của cả các doanh nghiệp trong nước cũng như các nhà bán lẻnước ngoài Việt Nam luôn được xếp thứ hạng cao về chỉ số phát triển kinhdoanh bán lẻ (GRDI) Cùng với việc mở cửa thị trường bán lẻ Việt Nam từ ngày1/1/2009, một số nhà sản xuất – phân phối hàng đầu thế giới với quy mô lớn, khảnăng cạnh tranh cao, có sức hút mạnh với khách hàng cả trong bán lẻ và bánbuôn đã tham gia hoạt động tại Việt Nam như: Big C, Lotte Mart, Aeon, Parkson,

… Đến nay, mặc dù Việt Nam không còn nằm trong Top 30 thị trường bán lẻ hấpdẫn nhất thế giới, nhưng việc nhiều tập đoàn bán lẻ nước ngoài đẩy mạnh mởrộng hệ thống phân phối đang tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với doanh nghiệp trong nước Đặc biệt

là trước bối cảnh cuối năm 2015, cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ thành lập,năm 2017, hàng rào thuế quan được gỡ bỏ hoàn toàn theo cam kết gia nhậpWTO, tận dụng mốc thời gian này, các nhà phân phối ngoại đã đổ bộ vào nhiềuhơn Trước hết có thể kể đến thương vụ tập đoàn Metro ( Đức) ký thỏa thuận vớitập đoàn Berli Jucker (BJC) của Thái Lan về việc bán lĩnh vực kinh doanh sỉ( bán buôn) tại Việt Nam Theo đó, BJC sẽ tiếp quản toàn bộ hoạt động kinhdoanh của Công ty Metro Cash & Carry Việt Nam (MCC Việt Nam) bao gồm 19trung tâm phân phối và danh mục bất động sản có liên quan với giá trị 655 triệueuro (tương đương 879 triệu USD) Đại diện Metro cho biết dự kiến thương vụ sẽhoàn tất trong nửa đầu năm 2015 Trong tháng 3/2014, Tập đoàn bán lẻ CentralGroup (Thái Lan) khai trương chuỗi siêu thị Robinsons Department Store vớidiện tích 10.000m2 tại khu mua sắm Royal City (Hà Nội) Trước đó, tháng1/2014, nhà bán lẻ Nhật Bản Aeon Mall đã khai trương trung tâm mua sắm AeonMall Tân Phú Celadon tại TP Hồ Chí Minh Họ đều là những ông lớn có khánhiều lợi thế cạnh tranh so với Việt Nam, thuận lợi về vốn và mặt bằng nhiều

Trang 5

hơn so với doanh nghiệp Việt Trong khi đó, thị trường bán lẻ Việt Nam bộc lộnhiều khiếm khuyết như mô hình phân phối chủ yếu mang tính chất truyền thốngcủa nền sản xuất nhỏ lẻ, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ công tác bán lẻthiếu thốn, nhưng lớn nhất đó là thiếu tính liên kết giữa các lực lượng tham giathị trường bán lẻ, các nhà cung cấp mạnh ai nấy rao, các nhà bán lẻ mạnh ai nấybán, cạnh tranh lẫn nhau, dẫn tới tất cả đều phát triển manh mún, thiếu bài bản.Những doanh nghiệp bán lẻ tạo được niềm tin đối với nhà sản xuất, người cungcấp, đảm bảo nguồn cung ổn định phục vụ người tiêu dùng không nhiều, chỉ cómột vài doanh nghiệp thuần Việt như: Coop Mart, Hapro Mart, Coop Foods,…Trước các đối thủ giàu cả về tiềm lực tài chính lẫn kinh nghiệm, các doanhnghiệp Việt Nam cần phải làm gì để không bị thua ngay trên “sân nhà”? Đây làmột câu hỏi mang tính thời sự, thu hút sự quan tâm không chỉ của các cơ quanchức năng, cộng đồng các doanh nghiệp mà cả đông đảo người tiêu dùng Từthực tiễn này, việc nghiên cứu sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam đểđưa ra những chiến lược phát triển phù hợp là rất cần thiết Bởi vậy, nhóm chúng

em chọn quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu : “ Phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN”.

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích các cách hiểu khác nhau để làm rõ quan niệm về thị trường trongnền kinh tế quốc dân và nội dung phát triển thị trường

- Phân tích thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam và sự chuẩn bị của ViệtNam để tham gia vào AEC, từ đó rút ra kết luận về những thành tựu và nhượcđiểm còn tồn tại

- Đề xuất những phương hướng và giải pháp phát triển thị trường bán lẻViệt Nam để tham gia vào AEC và đưa ra một số kiến nghị

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển thịtrường bán lẻ của Việt Nam, trong đó bao gồm các thành phần tham gia và cácyếu tố cấu thành thị trường

Trang 6

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Thị trường bán lẻ trong nước của Việt Nam

+ Về thời gian: Thị trường bán lẻ trong nước của Việt Nam từ năm 2007đến năm 2014 và giải pháp phát triển thị trường đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện chủ yếu dựa trên các phân tích, đánh giáđịnh lượng và định tính thông qua một số phương pháp nghiên cứu như:

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp tổng hợp - phân tích, biểu đồ để làm sáng tỏ, phong phúthêm lý luận nhằm giải quyết các nhiệm vụ đã đề ra

5 Các kết quả dự kiến đạt được

- Làm rõ các quan niệm về thị trường trong nền kinh tế quốc dân và nộidung phát triển thị trường

- Rút ra được kết luận về những thành tựu đạt được và nhược điểm còn tồntại của thị trường bán lẻ Việt Nam

- Những đề xuất, kiến nghị về phương hướng và giải pháp phát triển thịtrường bán lẻ Việt Nam sẽ góp phần hoàn thiện công tác chuẩn bị của Việt Nam

để tham gia vào AEC

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề chung về phát triển thị trường bán lẻ để gia nhập Cộng đồng ASEAN

Chương II: Thực trạng phát triển thị trường bán lẻ ở VN để tham gia AEC Chương III: Phương hướng và giải pháp phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam để tham gia AEC

Trang 7

1 CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN THỊ

TRƯỜNG BÁN LẺ ĐỂ GIA NHẬP CỘNG ĐỒNG ASEAN

1.1 Quan niệm về thị trường trong nền kinh tế quốc dân.

Thị trường ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, nó là môi trường đểtiến hành các hoạt động giao dịch mang tính chất thương mại của mọi doanhnghiệp công nghiệp Trong một xã hội phát triển, thị trường không nhất thiết chỉ

là địa điểm cụ thể gặp gỡ trực tiếp giữa người mua và người bán mà doanhnghiệp và khách hàng có thể chỉ giao dịch, thoả thuận với nhau thông qua cácphương tiện thông tin viễn thông hiện đại Cùng với sự phát triển của sản xuấthàng hoá, khái niệm thị trường ngày càng trở nên phong phú và đa dạng

Khái niệm thị trường hoàn toàn không tách rời khái niệm phân công laođộng xã hội Các Mác đã nhận định: “hễ ở đâu và khi nào có sự phân công laođộng xã hội và có sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy sẽ có thị trường Thịtrường chẳng qua là sự biểu hiện của phân công lao động xã hội và do đó có thểphát triển vô cùng tận” Sự hình thành của hàng hóa đồng nghĩa với việc hìnhthành nên thị trường Sản xuất dư thừa nhu cầu tiêu dùng cá nhân họ muốn traođổi lấy cái mình cần khi đó thị trường ra đời Đó là nơi diễn ra các hoạt động traođổi, mua bán hàng hóa của các chủ thể kinh tế, hay nói cách khác là nơi gặp gỡgiữa người mua và người bán

Trong khi đó Philip Kotler lại nêu lên quan điểm về thị trường ở một khíacạnh khác “ Thị trường bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhucầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏamãn nhu cầu hay mong muốn đó” Ông chia người bán thành ngành sản xuất cònngười mua họp thành thị trường Theo quan niệm này thị trường không đơn giản

là một khu vực , không gian hay một phạm vi địa lý cụ thể nào

Còn các nhà kinh tế Việt Nam “ Thị trường là lĩnh vực trao đổi mà ở đóngười mua và người bán cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hóa và dịchvụ” Ở đây thị trường được xác định rõ các yếu tố cấu thành thị trường là cung,cầu và giá cả

Trang 8

Dưới giác độ của các doanh nghiệp không thể miêu tả cụ thể các thànhphần và yếu tố cấu thành nên thị trường Ở phạm vi doanh nghiệp thương mại

“thị trường được mô tả là một hay nhiều nhóm khách hàng tiềm năng với nhữngnhu cầu tương tự nhau và những người bán cụ thể nào đó mà doanh nghiệp vớitiềm năng của mình có thể mua hàng hóa, dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu trên củakhách hàng”

Các thành phần của thị trường đã được làm rõ Thứ nhất là khách hàng,

người có nhu cầu và vẫn chưa được thỏa mãn Có thể là khách hàng hiện tại

hoặc khách hàng tiềm năng trong tương lai Thứ hai, nảy sinh nhu cầu phải có

người đáp ứng nhu cầu, người bán hay tập hợp những người sản xuất có vai trò

quan trọng làm cân đối cho thị trường Thứ ba, đối tượng của thị trường là hàng

hóa, sự đa dạng và chất lượng của các sản phẩm, hay dịch vụ là nhân tố quantrọng nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

1.2 Nội dung phát triển thị trường

1.2.1 Phát triển sản phẩm.

Là việc đưa thêm ngày càng nhiều dạng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhằmthỏa mãn nhu cầu, thị hiếu của thị trường, đặc biệt là sản phẩm mới – chất lượngcao Đó chính là phương thức kinh doanh có hiệu quả và cũng là phương thứcthỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng

Sản phẩm của doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất các yếu tố có liên

hệ chặt chẽ với nhau nhằm thỏa mãn đồng bộ nhu cầu của khách hàng bao gồmsản phẩm vật chất (hiện vật), bao bì, nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ, cách thức bánhàng Sản phẩm mà người tiêu dùng nhận được bao gồm hàng hóa cứng (hànghóa hiện vật) và hàng hóa mềm (dịch vụ)

Có thể phát triển sản phẩm theo hai hướng sau:

Phát triển sản phẩm mới hoàn toàn

+ Phát triển sản phẩm mới hoàn toàn theo công năng và gía trị sử dụng, điềunày đòi hỏi trình độ kĩ thuật và công nghệ của doanh nghiệp Kinh doanh sản

Trang 9

phẩm mới đòi hỏi phải có sự đầu tư mới và đương đầu với những thách thức mới,sản phẩm mới có thể đưa vào thị trường mới hoặc cho thị trường hiện tại với việcchia sẻ kênh phân phối, tiếp thị hoặc thương hiệu.

+ Phát triển các thế hệ sản phẩm mới theo ý đồ và thiết kế mới Đối vớidoanh nghiệp thương mại các sản phẩm này có nguồn gốc từ nhà sản xuất, vì vậyđưa sản phẩm mới vào thị trường cần tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn kỹ để đưa

ra thị trường

Cải tiến, hoàn thiện sản phẩm, thay thế sản phẩm hiện có, bao gồm

+ Cải tiến chất lượng, tạo ra nhiều loại sản phẩm với phẩm cấp,chất lượngkhác nhau

+ Cải tiến kiểu dáng sản phẩm như thay đổi bao bì, nhãn hiệu, hình ảnhmới nhằm làm thay dổi hình dáng, kích thước của sản phẩm để tạo ra sự khácbiệt

+ Thay đổi tính năng sản phẩm, bảo đảm sử dụng thuận tiện an toàn hơn + Tìm ra giá trị sử dụng mới của sản phẩm để tăng khách hàng sử dụng + Đổi mới và hoàn thiện dịch vụ liên quan đến sản phẩm như phương thứcbán hàng, thanh toán, bảo hành, vận chuyển và sửa chữa nhằm thỏa mãn tốtnhu cầu của khách hàng Đây là hướng quan trọng để tạo ra sự khác biệt so vớisản phẩm cùng loại trên thị trường

1.2.2 Phát triển thị trường về khách hàng.

Quan điểm kinh doanh hiện tại nhằm vào nhu cầu của khách hàng để sắpxếp tiềm lực và mọi sự cố gắng của doanh nghiệp là để tìm ra sự thỏa mãn vớikhách hàng Thị trường của doanh nghiệp thường là tập hợp các khách hàng rất

đa dạng khác nhau về lứa tuổi, giới tính, thu nhập, sở thích tiêu dùng nhưng cóthể phân chia thành các nhóm khác nhau có đặc trưng riêng, phản ánh quá trìnhmua sắm của họ Có thể chia thành các nhóm sau:

Căn cứ vào hành vi tiêu thụ: khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng và

người tiêu thụ trung gian Người tiêu thụ cuối cùng mua sản phẩm để thỏa mãnnhu cầu của bản thân, còn người tiêu thụ trung gian là bất kì người mua nào giữa

Trang 10

các nhà sản xuất và người tiêu thụ cuối cùng Người trung gian có thể là nhà sảnxuất, nhà buôn Họ mua sản phẩm để bán lại nhằm mục đích sinh lời.

Căn cứ vào khối lượng hàng hóa mua: khách hàng mua với khối lượng lớn

và khách hàng mua với khối lượng nhỏ Về mặt kinh tế, cần khuyến khích nhữngngười mua với khối lượng lớn, về mặt hình thức quan hệ không được đối xửphân biệt giữa hai loại khách hàng này

Căn cứ vào phạm vi địa lý: khách hàng trong nước và khách hàng ngoài

nước Khách hàng trong nước thể hiện quy mô của thị trường tiêu thụ nội địa,khách hàng nước ngoài thể hiện mối quan hệ đối ngoại và phạm vi của thị trường

mà doanh nghiệp tham gia

Căn cứ vào mối quan hệ khách hàng - doanh nghiệp: khách hàng truyền

thống và khách hàng mới Khách hàng truyền thống là những khách hàng có mốiquan hệ thường xuyên, liên tục với doanh nghiệp Khách hàng mới là khách hànglần đầu tiên đến với doanh nghiệp, nếu gây được niềm tin họ sẽ trở thành kháchhàng truyền thống

Một khách hàng hài lòng sẽ:

+ Mua lại các lần tiếp sau nếu có nhu cầu

+ Nói nhiều điều tốt đẹp với người khác về doanh nghiệp

+ Ít quan tâm đến nhãn hiệu và sự quảng cáo của các đối thủ cạnh tranh vớidoanh nghiệp

+ Mua nhiều sản phẩm của doanh nghiệp

Cần phát triển khách hàng theo hai hướng cả về số lượng và chất lượng

Phát triển về mặt số lượng khách hàng

Để phát triển số lượng khách hàng doanh nghiệp phải chú trọng hoạt độngMarketing nhằm tìm ra những phân khúc thị trường mới, khách hàng mới thông

Trang 11

qua kênh phân phối mới Doanh nghiệp tăng số lượng khách hàng thông qua lôikéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh bằng việc hoàn thành sản phẩm, giá cả, hệthống phân phối và dịch vụ

Phát triển khách hàng về chất lượng

Tăng cường khách hàng về chất lượng thông qua tăng sức mua sản phẩmcủa khách hàng thông qua tăng tần suất mua hàng và khối lượng sản phẩm mỗilần mua Tăng cường khách hàng mua với khối lượng lớn, ổn định thường xuyên

và những khách hàng có quan hệ truyền thống với doanh nghiệp Tỷ trọng củanhững khách hàng này trong tổng số là những chỉ tiêu đánh giá chất lượng kháchhàng của doanh nghiệp

Tóm lại, phát triển thị trường của doanh nghiệp trên góc độ khách hàng làphát triển khách hàng cả về số lượng, chất lượng, phạm vi, không gian, thời gian,địa điểm, cả khách hàng bán buôn và bán lẻ, người tiêu dùng cuối cùng và ngườitiêu dùng trung gian, khách hàng mới và khách hàng truyền thống

1.2.3 Phát triển thị trường về phạm vi địa lý (địa bàn kinh doanh).

Nhu cầu thị trường đối với một sản phẩm là tổng khối lượng sẽ mua, đượcmua bởi một nhóm khách hàng đã xác định, trong một vùng xác định, trong mộtthời điểm và một môi trường xác định Phát triển thị trường của doanh nghiệpkhông chỉ là phát triển về sản phẩm, về khách hàng mà cả về mặt không gian.Phát triển thị trường về mặt không gian là mở rộng và phát triển thị trường theolãnh thổ bằng các biện pháp khác nhau

Mở rộng mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp: mạng lưới bán hàng là hệthống các đại lý, cửa hàng, quầy hàng, điểm bán của doanh nghiệp được bố trí

và sắp xếp liên kết với nhau trong hệ thống nhằm tiêu thụ hàng hóa của doanhnghiệp Cần phát triển mạng lưới bán hàng cả chiều rộng và chiều sâu (nâng caochất lượng phục vụ) Việc phân bổ mạng lưới cần tính đến hiệu quả chung của cả

hệ thống, tức là đảm bảo nâng cao năng lực tiêu thụ của từng điểm cũng như của

Trang 12

cả hệ thống, tránh sự loại trừ hoặc tiêu diệt nhau, bảo đảm sự vận động hợp lí củasản phẩm, giảm chi phí và rút ngắn thời gian bán hàng.

Tại đầu mối giao thông, nơi tập trung dân cư có thể thành lập trung tâmgiao dịch hay cửa hàng giới thiệu sản phẩm hoặc chi nhánh của doanh nghiệpnhằm phát triển thị trường

Phát triển thị trường về không gian còn được thực hiện thông qua lựa chọncác kênh phân phối thích hợp Tùy vào mục tiêu chiến lược bán hàng, các doanhnghiệp có thể quan hệ với người bán lẻ, người bán buôn và cả người trung gian

để mở rộng phạm vi bán hàng

1.2.4 Phát triển về số lượng chủ thể mua bán trên thị trường

Tỷ trọng bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội được giữ vững, chiếm khoảng10% năm 2010 Tỷ trọng khu vực doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam ngoài quốcdoanh giảm nhẹ, chiếm 74-76%; tỷ trọng của khu vực doanh nghiệp vốn FDItăng đáng kể, chiếm 12-14% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hộicủa cả nước

Cần đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung vốn kinh doanh của các doanhnghiệp 10% vốn Việt Nam nhằm hình thành và phát triển các nhà sản xuất, nhàphân phối hàng hóa lớn, có tính chuyên nghiệp cao

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI: đối xử bình đẳng vói cácdoanh nghiệp trong nước, kích thích sự tham gia đóng góp chung vào sự pháttriển của thị trường trong nước Khuyến khích các doanh nghiệp FDI mở rộng sựliên kết với các nhà sản xuất trong nước, góp phần xóa đói giảm nghèo và chuyểndịch tích cực cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

Huy động các nguồn lực và sự tham gia đóng góp của các thành phần kinh

tế vào hoạt động kinh doanh trên thị trường nội địa, xóa bỏ hay đơn giản hóa cácđiều kiện gia nhập và rút khỏi thị trường đối với các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế

Trang 13

1.2.5 Về cơ sở hạ tầng thương mại.

Chợ

Đối với địa bàn khu vực nông thôn, miền núi: tập trung gia tăng số lượngchợ có quy mô loại II, loại III để đáp ứng nhu cầu mua bán của dân cư, cung cấpvật tư, nguyên liệu cho sản xuất nông nghiệp và thúc đẩy lưu thông hàng hóagiữa các địa bàn

Đối với các thị trấn, thị xã: tập trung mở rộng và đầu tư xây mới các hệthống chợ, hạn chế tăng số lượng các chợ có quy mô nhỏ nhằm thúc đẩy các hìnhthức mua bán hàng hóa, nông sản với số lượng lớn

Các chủ thể tham gia xây dựng và khai thác chợ được Nhà nước khuyếnkhích theo hướng xã hội hóa, không phân biệt thành phần kinh tế, đồng thời nângcao tính chuyên môn hóa của các chủ thể kinh doanh nhằm tăng cường hiệu quảhoạt động của hệ thống chợ Tỷ trọng giao dịch hàng hóa thông qua hệ thống chợchiếm khoảng 50% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội

Siêu thị và trung tâm thương mại

Tập trung củng cố mở rộng và nâng cao chất lượng của hệ thống siêu thịtrên cả nước, hình thành nên các trung tâm mua bán đa dạng, hiện đại phục vụ tốtnhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước

Hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại vươn tới các thành phố, khu độthị mới, khu công nghiệp, khu chế xuất và một số thị xã huyện lỵ

Hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại trở thành xương sống của hệthống phân phối bản lẻ ở Việt Nam trong giai đoạn tới, đồng thời kích thích pháttriển mạnh mẽ các loại hình bán lẻ khác kể cả chợ truyền thống Không phân biệtcác thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng và kinh doanh siêu thị và trungtâm thương mại

Cửa hàng bán lẻ

Trang 14

Ở khu vực đô thị, các cửa hàng bán lẻ chuyển hướng tập trung vào kinhdoanh các mặt hàng đặc sản truyền thống tại khu chuyên doanh phục vụ khách dulịch Các đối tượng tham gia chủ yếu có quy mô vốn nhỏ Tỷ trọng hàng hóa giaodịch thông qua các cửa hàng bán lẻ chiếm khoảng 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa

và dịch vụ xã hội

+ Hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại:

Phát triển kết cấu hạ tầng thương mại gồm hệ thống kho bãi, trung tâmđóng gói, phân loại hàng hóa… để phục vụ tốt hơn cho sản xuất và lưu thônghàng hóa giữa các vùng, miền trong cả nước với chi phí hợp lý, đảm bảo khảnăng cạnh tranh

Đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại gắn liềnvới hệ thống chợ, siêu thị, trung tâm thương mại… cũng như các khu vực sảnxuất hàng hóa

Huy động tối đa các nguồn lực và sự tham gia của các thành phần kinh tế

để đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng hỗ trợ thương mại

+ Hệ thống kết cấu hạ tầng trong thương mại điện tử:

Bên cạnh hệ thống kết cấu hạ tầng trong thương mại truyền thống, hệthống kết cấu hạ tầng trong thương mại phi truyền thống như thương mại điện tử

sẽ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển thương mại ở Việt Nam Hệ thốngkết cấu hạ tầng này gồm có: hệ thống máy tính, mạng viễn thông, các thiết bị tinhọc và các chương trình, phần mềm công nghệ

Khoảng 60% doanh nghiệp có quy mô lớn tiến hành giao dịch thương mạiđiện tử dưới hình thức doanh nghiệp - doanh nghiệp (B2B); khoảng 80% doanhnghiệp có quy mô vừa và nhỏ tiến hành giao dịch thương mại điện tử dưới hìnhthức doanh nghiệp - người tiêu dùng (B2C); khoảng 10% hộ gia đình tiến hànhgiao dịch thương mại điện tử dười hình thức B2C hay C2C (người tiêu dùng –người tiêu dùng)

Trang 15

Tập trung đầu tư củng cố hệ thống kết cấu hạ tầng trong thương mại điện

tử thông qua hoạt động đầu tư của khu vực Nhà nước và các doanh nghiệp FDI

1.2.6 Hoàn thiện về quan lý nha nước, thể chế thị trường công khai minh

bạch.

Cơ chế điều tiết vĩ mô của Nhà nước trên thị trường nội địa phải tuân thủcác nguyên tắc thị trường và gắn liền với điều hành, hỗ trợ xuất nhập khẩu pháttriển

Bổ sung và hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp luật bao quát mọi hoạtđộngvà hành vi kinh doanh trên thị trường nội địa, bảo đảm tính minh bạch rõràng, nhất quán và ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại trong nướcphát triển Hệ thống pháp lý này phải bảo đảm thực hiện tốt hoạt động kiểm tra,kiểm soát và xử lý những vấn đề nảy sinh về tranh chấp, bảo vệ quyền lợi cácbên tham gia thị trường…

Trong những giai đoạn nhất định, đối với những mặt hàng cụ thể, Nhànước có thể sử dụng một số biện pháp hành chính cấm, hạn chế nhập khẩu, kinhdoanh để can thiệp thị trường nhằm bảo đảm sự bình ổn của thị trường trongnước

Sử dụng các biện pháp kinh tế như thuế, ưu đãi, khuyến khích đầu tư, kinhdoanh đối với một số lĩnh vực, mặt hàng cụ thể trong những giai đoạn nhất định Bên cạnh các công cụ điều tiết trên, trong thời gian tới Nhà nước cần tăngcường sử dụng công cụ thông tin định hướng thị trường đối với cả nhà sản xuất,kinh doanh và người tiêu dùng như thông tin về cung, cầu, giá cả thị trường trongnước và quốc tế, xu hướng sản xuất và tiêu dùng trên thị trường… để nâng caohiệu quả hoạt động của thị trường trong nước

1.3 Kinh nghiệm phát triển thị trường bán lẻ của các nước trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm từ ông vua bán lẻ thế giới

Tập đoàn Wal- Mart

Trang 16

Năm 1962, Sam Walton chỉ là một công nhân làm thuê cho một tiệm giặt

là tại thị trấn Bentonville bang Arkansas nước Mỹ Hằng ngày, người thanh niên

28 tuổi này có nhiệm vụ cùng 3 nhân viên khác đem những món đồ đã được là ủisạch sẽ trao tận tay cho khách hàng

Khi đó thống trị hệ thống cửa hàng bán lẻ tại Arkansas và các bang lân cận

là hai tập đoàn bán lẻ khổng lồ Kmart và Sears Sau nhiều lần đi giao hàng, trựctiếp "va chạm" với đủ các loại khách hàng, Sam Walton đã phát hiện Kmart vàSears không hề xuất hiện ở các thị trấn nhỏ bé hẻo lánh như thị trấn Benton quêmình

Với phản xạ kinh doanh nhạy bén, Sam Walton lập tức dốc toàn bộ số tiền

150 đôla thuê 8 công nhân và thành lập một cửa hàng bán lẻ lấy tên là Wal-Martngay tại thị trấn Bentonville quê ông

Thời gian đầu tiên do vốn liếng ít ỏi, kinh nghiệm thiếu, cửa hàng của Samchủ yếu kinh doanh buôn sỉ bán lẻ theo phương châm lấy công làm lãi, buôn bánnhững nhu yếu phẩm cần thiết nhất Sam Walton đã thu hút số lượng lớn kháchhàng trong thị trấn bằng tác phong phục vụ nhiệt tình chu đáo, chất lượng hàngbảo đảm, giá cả phải chăng Cho tới năm 1965, Wal-Mart đã trở thành một trongnhững cửa hàng bán lẻ thu hút nhiều khách hàng tại thị trấn Benton

Dưới tài lãnh đạo của Sam Walton, Wal-Mart đã phát triển rất nhanhchóng và trở thành đối thủ cạnh tranh ngang ngửa với đối thủ Kmart vào đầuthập niên 1970 Hiện nay, hệ thống cửa hàng siêu thị bán lẻ thuộc quyền sở hữucủa tập đoàn Wal-Mart đã lên tới hàng chục nghìn chiếc nằm rải rác khắp Bắc

Mỹ, châu Âu và tích cực vươn sang châu Á Quy mô khổng lồ hiện nay của Mart đã được giới kinh doanh Mỹ thừa nhận Theo thống kê của Hiệp hội thươngmại Mỹ, doanh số bán hàng của Wal-Mart đạt 216 tỷ đôla một năm, vượt quadoanh số bán hàng của hãng điện tử gia dụng nổi tiếng GE và chỉ chịu đứng sautập đoàn kinh doanh xăng dầu khổng lồ lớn thứ 2 thế giới là Exxon-Mobil

Trang 17

Theo bảng xếp hạng tạp chí danh tiếng Fortune vừa công bố, tập đoàn bán

lẻ Wal-Mart lần thứ tư liên tiếp đứng đầu danh sách 500 công ty lớn nhất thếgiới Wal-Mart ở vị trị số một với doanh số vượt trội 288 tỷ đôla, trong đó lợinhuận đạt 10,2 tỷ đôla Suốt từ năm 2002 đến nay, Wal-Mart luôn đứng đầu danhsách Fortune 500 và được xem là “công ty được ngưỡng mộ nhất tại Mỹ”

Trong danh sách 25 nhà kinh doanh có khả năng làm thay đổi thế giới dohãng CNN và tạp chí Fortune bình chọn và công bố hồi đầu tháng 4 năm 2005,người sáng lập Wal-Mart Sam Walton được xếp thứ 2, chỉ sau Bill Gates, tỷ phúgiàu nhất thế giới và là chủ tập đoàn Microsoft

Wal-Mart có doanh thu lớn nhất trong số các công ty bán lẻ trên thế giới,vượt xa công ty đứng thứ nhì là Carrefour Doanh thu của công ty bán lẻ Phápnày chỉ gần bằng một nửa của Wal-Mart Hệ thống Wal-Mart gồm hơn 4.688 cửahàng khắp thế giới, với hơn hai phần ba ở tại nước Mỹ

Ra đời năm 1962 thì đến năm 1979, Wal-Mart lần đầu đạt doanh thu một

tỷ đô la một năm Đến năm 1993, doanh thu đã đạt được con số một tỷ đôla mỗituần Năm 2001, doanh thu mỗi ngày của Wal-Mart đã gần bằng con số ấy Sovới thời điểm 1992, Wal-Mart nay lớn hơn gấp năm lần trước đây, tuyển dụngmột lượng lao động gấp ba lần hãng General Motors Chỉ riêng một mặt hàngnhư bột giặt, mỗi năm Wal-Mart bán được một lượng trị giá 1,4 tỷ đôla

Nếu xem Wal-Mart như một quốc gia thì đây là đối tác thương mại lớn thứ

8 của Trung Quốc, vượt qua cả Nga và Anh và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 6của Trung Quốc (sau Đức) Với giá cả hết sức chặt chẽ và yêu cầu cao đối vớinhà phân phối, Wal-Mart đã làm thay đổi phương thức làm ăn kinh doanh củaTrung Quốc

Nhiều chuyên gia kinh tế dự báo rằng với tốc độ tăng trưởng như hiện nay,trong một thập kỷ nữa, doanh số hằng năm của Wal-Mart có thể vượt 1.000 tỷđôla Những số liệu này chỉ một quốc gia mạnh mới có thể có được Năm 1997,Wal-Mart trở thành tập đoàn thuê nhiều lao động nhất ở Mỹ với gần 570.000

Trang 18

người Cũng trong năm này, doanh số hàng năm của hãng vượt 100 tỷ đôla Năm

1999, Wal-Mart trở thành tập đoàn lớn nhất thế giới về nhân sự với 1.140.000người

Nếu như giai đoạn giữa thế kỷ 20 được xem là kỷ nguyên của hãng sảnxuất xe hơi General Motors và giai đoạn cuối thế kỷ 20 là của hãng phần mềmMicrosoft thì đầu thế kỷ 21 này rõ ràng đã là của Wal-Mart Tập đoàn này hiện

có 4.688 siêu thị trên toàn thế giới, trong đó 80% là ở Mỹ Bình quân mỗi ngày

có khoảng 20 triệu người đến các siêu thị của Wal-Mart Tại Mỹ, hơn 80% hộ giađình mỗi năm mua ít nhất vài sản phẩm từ các cửa hàng của hãng

Khi đứng ra thành lập công ty kinh doanh siêu thị bán hàng giảm giá tối đaWal-Mart vào năm 1962 tại Bentonville, bang Arkansas, chắc hẳn Sam Waltonkhông ngờ có ngày công ty của ông lại đứng trên cả những đại gia trong cácngành công nghiệp dầu khí (Exxon-Mobil), xe hơi (General Motors, FordMotors), máy bay (Boeing…) và trở thành công ty số một của nền công nghiệp

Mỹ và thế giới

Wal-Mart là công ty dịch vụ đầu tiên leo đến vị trí hạng nhất trên danhsách của Fortune (bắt đầu công bố từ năm 1955) Ngoài ra, Wal-Mart cũng hiệndiện trong danh sách Fortune 100 công ty được giới lao động Mỹ ưa thích xinvào làm việc nhất

Một trong những tính cách đặc biệt của ông là luôn khuyến khích tinh thầncủa nhân viên Như năm 1975, nhân một chuyến công tác tới Hàn Quốc,S.Walton đã cao hứng sáng tác bài hát riêng cho Wal-Mart có tên là “Wal-MartCheer” để cổ động tinh thần làm việc của nhân viên cũng như nâng cao tính đoànkết trong nội bộ Bài ca vẫn được lưu truyền rộng rãi trong Wal-Mart cho tớingày nay Tính đến năm 2005, Wal-Mart có tất cả 1.300.000 công nhân viên trêntoàn thế giới, trở thành tập đoàn tư nhân đông nhân viên nhất thế giới

Trang 19

Công thức làm ăn của ông đã được truyền tụng từ đời này sang đời khác làcắt giảm chi phí + giảm giá + dịch vụ tối ưu + khai thác hiệu quả công nghệthông tin + đảm bảo cuộc sống nhân viên.

Dưới bảng hiệu Wal-Mart, có hai dòng chữ sau này trở thành phương cáchlàm việc nổi tiếng: “Chúng tôi bán với giá thấp hơn” và “Đảm bảo thỏa mãnkhách hàng” Trong cuộc đời kinh doanh sóng gió của mình, Sam vẫn giữ vữngphương châm ấy

Bài học từ Wal-mart cho thấy: cách thức nhìn nhận thị trường bán lẻ vàmục tiêu của các nhà bán lẻ cần có sự nhanh nhạy, chính xác và biết chớp thời

cơ Nếu đem ra so sánh với Việt Nam, các vùng nông thôn, miền núi ở nước tacũng là một thị trường bán lẻ đáng được quan tâm Hình thức bán lẻ chủ yếu ởcác vùng này là chợ, chợ tạm, chợ phiên, với xuất xứ hàng hóa cũng như chủngloại và chất lượng không được đầy đủ, đảm bảo, hệ thống phân phối không rõràng liên tục Vì vậy, cần có hướng đi đúng đắn hơn cho bán lẻ tại các vùng nôngthôn, miền núi, cũng như việc thay đổi loại hình chợ truyền thống sang các hìnhthức bán lẻ mới

1.3.2 Kinh nghiệm từ các nước khác trên thế giới.

Bài học của thị trường bán lẻ Ấn Độ

Tại Ấn Độ hiện có khoảng 12 triệu cửa hàng bán lẻ quy mô nhỏ vẫn kinhdoanh kiểu truyền thống, thiết lập nên một trật tự trong chính sự ồn ào và lộnxộn Tuy nhiên, khi Ấn Độ trở thành một trong những nền kinh tế phát triểnmạnh nhất thế giới, các tập đoàn lớn bắt đầu tìm kiếm cơ hội tại đây, với nỗ lựcđưa thị trường bán lẻ nước này vào “khuôn khổ”, theo chuẩn hiện đại Bất chấp

nỗ lực của các tập đoàn lớn trong việc hiện đại hóa thị trường bán lẻ Ấn Độ, hệthống cửa hàng nhỏ và chợ ngoài trời vẫn có một sức sống riêng mạnh mẽ

Mùi rau quả thực phẩm, quang cảnh mua bán nhộn nhịp, tiếng kẻ muangười bán huyên náo – đó là tất cả những gì từ lâu đã quá thân thuộc với ngườidân Ấn Độ Tại các khu chợ truyền thống, người ta có thể thoải mái chọn lựa thứ

Trang 20

mà họ cần, gì cũng có, từ gia vị, phụ kiện trang trí nhỏ nhất cho bộ sari đám cưới,cho đến pháo hoa cỡ lớn.

Không khó để bắt gặp cảnh đám đông xúm lại chỉ để xem một người đànông thả những viên bột tròn vào chảo dầu để làm bánh rán ngoài chợ Chảo dầuđược đặt trên xe đẩy – đơn giản và cơ động

+ Hình thức bán lẻ mới

Hàng loạt trung tâm mua sắm lớn mọc lên ở các thành phố lớn của Ấn Độ.Bên cạnh đó là những siêu thị nhỏ nằm rải rác trong các khu dân cư Người tiêudùng địa phương bắt đầu được tiếp cận với mô hình cửa hàng có máy lạnh vàhình thức tự phục vụ Tại thành phố Bangalore sầm uất và hiện đại ở miền nam

Ấn Độ, người tiêu dùng nhiệt tình hưởng ứng với mô hình bán lẻ mới này và làmquen với việc đi mua sắm tại siêu thị

Để có thể cạnh tranh với các khu chợ ngoài trời, hệ thống siêu thị tập trungvào độ tươi của thực phẩm Rau chân vịt ở Bangalore có mặt trên quầy thựcphẩm của siêu thị chỉ 6 tiếng sau khi thu hoạch Các loại rau dễ hỏng khác đượcchuyển đến 2 lần mỗi ngày, dù tắc đường là chuyện “cơm bữa” ở Ấn Độ Đó là

nỗ lực của các tập đoàn bán lẻ khi muốn thay đổi thói quen mua sắm của ngườitiêu dùng địa phương

+ Làn sóng phản đối

Tuy nhiên, mọi chuyện không hề “xuôi chèo mát mái” Chủ các cửa hàngtruyền thống và những người bán hàng ngoài chợ bắt đầu thấy “nóng mặt” với sựcạnh tranh của các siêu thị hiện đại Các tiểu thương ở New Delhi than phiền làlượng người mua đã giảm một nửa kể từ khi hai siêu thị mới mở cửa cách đây vàitháng

Đã xảy ra không ít cuộc biểu tình rầm rộ, nhằm yêu cầu các cửa hàng mớiđóng cửa Họ nói rằng sự “xâm lấn” của phong cách mua sắm phương Tây sẽ đedoạ kế sinh nhai của 50 triệu người dân địa phương

Trang 21

Các cửa hàng nhỏ truyền thống ở Ấn Độ không thể có nhiều hàng như cácsiêu thị, nhưng họ có lợi thế về một hình thức dịch vụ khá đặc biệt Chủ các cửahàng thường biết rất rõ khách hàng, vì họ cũng chỉ sống quanh đó Vì vậy, họ sẵnsàng phục vụ khách tại nhà, thậm chí là bán chịu, thậm chí chỉ một điếu thuốc,vào lúc 11 giờ khuya Đó là điều mà phong cách mua sắm phương Tây không có

từ hàng thập kỷ nay

Luật pháp Ấn Độ vẫn chỉ cho phép các cửa hàng nước ngoài bán nhữngsản phẩm mang nhãn hiệu riêng của họ Điều này có thể không thành vấn đề vớiNike, Body Shop, hay tập đoàn Marks & Spencer, nhưng với đa số các tập đoànbán lẻ tổng hợp khác, như Wal-Mart, thì đây lại là một trở ngại lớn Để “lách”luật, họ phải liên doanh với các công ty trong nước, để nhà cung cấp đồng ý dánnhãn sản phẩm theo tên nhà phân phối nước ngoài hoặc mở các trung tâm bánbuôn lớn, cam kết chỉ cung cấp hàng hoá cho các công ty bán lẻ, khách sạn vànhà hàng

Trong khi đó, hệ thống siêu thị mới của các doanh nghiệp bán lẻ trongnước cố gắng đánh bóng tên tuổi Phân nhánh kinh doanh bán lẻ của tập đoànBarti mở hẳn một trung tâm tập huấn kỹ thuật nông nghiệp Tại đây, nông dântrồng gạo và lúa mì ở Punjab được hướng dẫn cách xen canh gối vụ cây trồng để

có thể cung cấp các mặt hàng nông sản cho siêu thị trong cả 4 mùa

Tuy nhiên, không thể phủ nhận một thực tế là hệ thống cửa hàng nhỏ vàchợ ngoài trời vẫn có chỗ đứng vững chắc trên thị trường bán lẻ Ấn Độ Nhìnrộng hơn, đây là thói quen mua sắm đã ăn sâu vào mỗi người dân nước này Khaithác đúng điều đó, một tập đoàn bán lẻ trong nước đã thành công rực rỡ, với môhình siêu thị lớn nhưng mang phong cách mua bán gần như không có gì khác tạicác cửa hàng nhỏ hay chợ ngoài trời Đó là Pantaloon Retail Ltd, ngay từ tên gọiBig Bazaar các siêu thị của tập đoàn Pantaloon, tức là ‘chợ lớn’, đã thể hiện điềunày Ông chủ Kishore Biyani của Pantaloon đã khéo léo đưa không khí ồn ào vàlộn xộn của các cửa hàng nhỏ và chợ ướt vào hệ thống siêu thị của mình, với

Trang 22

đường đi lối lại có vẻ chật chội, hàng hóa chất trên sàn, và liên tục có chươngtrình giảm giá, khuyến mại…

“Ấn Độ là một nơi khác biệt, và đây là những gì người Ấn Độ muốn,” ôngBiyani nói với vẻ đầy tự hào khi giới thiệu hệ thống siêu thị của mình ÔngBiyani, và tập đoàn Pantaloon, đã đúng, ít nhất là trong thời điểm này Bằngchứng là Pantaloon đã trở thành tập đoàn bán lẻ lớn nhất Ấn Độ, với doanh thu

dự kiến đạt hơn 875 triệu USD trong năm tài chính 2007-08 (kết thúc vào tháng6/2008) Pantaloon hiện được định giá khoảng 630 triệu USD, trong đó, ôngBiyani và gia đình sở hữu 42%

Thị trường bán lẻ ở Việt Nam hiện nay có vẻ như gần giống với các bướcphát triển của Ấn Độ: các trung tâm thương mại sầm uất, siêu thị, đại siêu thịđang thay thế dần hình thức chợ truyền thống

Về sản phẩm: người Ấn Độ có chính sách rõ ràng về sản phẩm của mộtnhà bán lẻ, hạn chế sự xâm lấn của các nhà buôn ngoại đến thị trường sản phẩmtrong nước, đây là điều mà Việt Nam chưa làm được Hiện tại hàng ngoại tại ViệtNam tràn ngập, bán lẻ tổng hợp từ các ông lớn nước ngoài không được kiểm soátdẫn đến nhiều nguy cơ và rủi ro cho cho các doanh nghiệp trong nước Đây thực

sự là một vấn đề trong chính sách cần được học tập và cải tiến trong thị trườngbán lẻ Việt Nam

Thị trường bán lẻ Thái Lan.

Sự ra đời của các trung tâm thương mại

Các trung tâm thương mại (community malls hay lifestyle malls) là gì?Không có một định nghĩ rõ ràng cho danh từ mới này Có thể hiểu đây là cáctrung tâm lớn được đặt trong một khu dân cư, đặc biệt ở vùng ngoại ô, nơi mà ở

đó có chứa tất cả các cửa hàng và các dịch vụ mà mọi người cần trong cuộc sốnghàng ngày Tuy nhiên, ở Thái Lan, khái niệm này ít được áp dụng, đó là vì cáctrung tâm này thường nằm trong thành phố và phục vụ một số ít người mua hàng,không phải phần lớn khách hàng Có thể phân biệt siêu thị và trung tâm thương

Trang 23

mại dựa vào kích thước và thiết kế của nó “Community malls” hay “lifestylemalls” đã trở thành một trong những dự án bất động sản nổi bật của các nhà pháttriển từ 2008 Các trung tâm này ngày càng trở nên phổ biến do nó đã thay đổi lốisống của người Thái hiện đại với sự đòi hỏi về nhu cầu lớn hơn, tiện lợi hơn Khigiao thông tại thành phố Bangkok thường trong tình trạng cao điểm, các trungtâm này cung cấp cho người Thái cuộc sống dễ dàng hơn, nhanh hơn trong việc

ăn uống và mua sắm, hay tìm chỗ đậu xe Không ngạc nhiên khi những trung tâmnày trở thành sự lựa chọn hàng đầu để lui tới thường xuyên

Hiện nay, các trung tâm thương mại (mall) này chiếm tới 11% thị phần thịtrường bán lẻ, ngang bằng với thị phần các siêu thị, và được dự đoán là sẽ chiếmlĩnh thị trường này trong tương lai Do việc quy hoạch bị hạn chế, các nhà bán lẻlớn rất khó khăn để mở rộng trung tâm mua sắm và siêu thị trong khu vực thànhphố Trong khi nhờ sự gia tăng dự án nhà ở, đường giao thông và các cơ sở hạtầng trong các khu dân cư mà “mall” trở nên tiện lợi và cần thiết hơn, làm cho nókhông chỉ là một sự lựa chọn khả thi cho người tiêu dùng mà còn hấp dẫn đối vớicác nhà phát triển bất động sản Một lợi thế bổ sung khi các nhà phát triển bấtđộng sản đầu tư vào các trung tâm thương mại là các trung tâm này mang lại hiệuquả về chi phí nhiều hơn các cửa hàng bán lẻ trong thành phố Vì vậy, càng ngàycàng có nhiều nhà đầu tư thâm nhập thị trường hấp dẫn này

Chìa khóa của các nhà bán lẻ

Đối thủ lớn nhất và đầu tiên thâm nhập vào thị trường này là Siam FutureDevelopment (SF), người đã ở trong ngành công nghiệp này hơn 20 năm Cáctrung tâm thương mại đầu tiên bởi SF, Market Place Bangbon được thành lập vàhoạt động từ năm 1995 để cung cấp các sản phẩm thiết yếu và dịch vụ như nhàhàng, siêu thị hay ngân hàng Trung tâm thương mại bắt đầu được phổ biến từnăm 2005 sau sự ra mắt của J-Avenue từ Nhật Bản J- Avenue được ưa chuộng

do được xây dựng vào đúng nơi và vào đúng thời điểm Nó được xây dựng khingười dân Nhật Bản bắt đầu đến định cư và văn hóa - ẩm thực Nhật Bản đượcngười Thái đón nhận nồng nhiệt J-Avenue là trung tâm thứ hai được xây dựng

Trang 24

để phục vụ cư dân giàu có ở Thonglor sau Thonglor Market Place của SF vàonăm 2003 Tuy nhiên, vì nó là trung tâm thương mại phong cách Nhật Bản đầutiên ở Bangkok, nó thu hút mọi người từ khắp Bangkok và trở nên nổi tiếng ởThonglor Sau thành công của J- Avenue, tất cả các TTTM đã có một khái niệm

rõ ràng hơn, đó là nội địa hóa để nhằm vào mục tiêu cụ thể là khu dân cư

SF từng là kẻ độc quyền trong ngành công nghiệp một thập kỷ trước khi

KE land developer xây The Crystal Shopping Mall, đặt tại Ekamai-Ramintra KE

đã thay đổi đáng kể trong kỳ vọng của khách hàng rằng các trung tâm thươngmại chỉ dành cho cư dân sống ở đây The Crystal Mall xây dựng Californialandmark được thiết kế cầu kì với đường đi dạo làm cho nó hấp dẫn không chỉđối với người dân trong khu vực mà còn với những người từ khắp Bangkok cũngnhư khách du lịch Ngay sau đó, gần vị trí của The Crystal Shopping Mall, SFđưa ra một trung tâm thương mại gọi là La Villa, trung tâm xanh đầu tiên, cungcấp sản phẩm hợp thời trang và dịch vụ cao cấp, sang trọng Chìa khóa của SF là

vị trí thuận tiện và đặc biệt là thiết lập cây xanh bao quanh khác biệt

Tổng cộng, các nhà phát triển bất động sản lớn, nhỏ đã xây dựng khoảng

21 trung tâm thương mại từ năm 2007 đến năm 2010 Từ 2007-2010 một mình

SF đã xây dựng tổng cộng ba trung tâm, La Villa năm 2007, Major AvenueRatchayothin năm 2009 và Nawamin City Avenue năm 2010 Tất cả các trungtâm trở nên phổ biến do có vị trí tốt và kết hợp với lợi thế khu dân cư Từ năm

2010 đến năm 2012, ngành công nghiệp bán lẻ trở nên bão hòa Nhiều công tybất động sản bao gồm TCC land, Property Perferct, Sena Villa Group, và MBKGroup đã nhắm đến các khu dân cư địa phương

Thiết kế và ý tưởng

Lấy Crystal Mall làm mẫu, các trung tâm thương mại được xây dựngtrong năm 2012 đã nâng cao kỳ vọng của khách hàng cả về thiết kế và chấtlượng Ví dụ, The Park Lane ở Ekamai có phong cách kiến trúc La Mã, ThePromenade trên Fashion Island có European Landmark và Amorini trên RamintraRoad có khu vui chơi giải trí của Santorini Landmark từ Hy Lạp Hơn nữa,

Trang 25

Festival Walk Mall nằm trên Đường Nawamin đã tái hiện lại những điểm đến cổđiển châu Âu và Chocolate Ville nằm trong cùng một khu vực được thiết kếtương tự như của một ngôi làng phía tây Ý tưởng của họ là trở thành một điểmđến quốc tế, ý tưởng này trở nên rất thành công, hấp dẫn thực khách bao gồm cảngười nước ngoài

Bây giờ, hầu hết các đối thủ cạnh tranh trên thiết kế kiến trúc đặc trưnghoặc là xây một điểm đến nổi tiếng độc đáo hoặc tạo một hình ảnh đặc biệt Vàchỉ có một trung tâm nổi bật thông qua các chức năng bán lẻ như một chìa khóalợi thế cạnh tranh là Crystal Design Center, cùng một chủ với The CrystalShopping Mall CDC được xây dựng như là một trung tâm thiết kế và showroomtrang trí nội thất Ngoài ra La Villa, Festival Walk và Chocolateville, với việc ápdụng cảnh quan cây xanh theo xu hướng dân cư xanh, được đánh giá cao vì xuhướng của người tiêu dùng hiện đại ngày nay là tìm kiếm một nơi để thư giãn màkhông cần phải lái xe đến vùng quê ngoại ô Đặc biệt, các trung tâm này giúpngười dân tránh xa sự nhộp nhịp hối hả của không khí thành thị gần đó

Yếu tố tạo nên thành công là chiến lược thay đổi đa dạng

Yếu tố quan trọng tạo nên thành công của SF trong việc trở nên được ưachuộng chính là chiến lược thay đổi đa dạng Không có một kế hoạch phù hợpvới tất cả các trung tâm thương mại, một chiến lược có thể phù hợp ở nơi nàynhưng không phù hợp ở nơi khác Quan trọng là các nhà bán lẻ tìm hiểu tốt về vịtrí và dân cư trong khu vực được nhắm đến Các ý tưởng, thiết kế và việc phốihợp các cửa hàng cho thuê nên phù hợp với các tầng lớp và lối sống của cộngđồng người mà nó phục vụ Mặc dù đạt đến giai đoạn trưởng thành, các đối thủtrong ngành tin tưởng vẫn còn các phân khúc trống cần được phát triển

Chìa khóa trong ngành công nghiệp này là đổi mới và kết hợp cung cấpcho người tiêu dùng sự tiện lợi và hơn cả mong đợi của họ bằng cách cung cấptrải nghiệm đa chiều cùng với thỏa mãn nhu cầu của dân cư khu vực Các cuộcthăm dò của ABAC kết luận rằng người tiêu dùng có thái độ tích cực đối với cáctrung tâm thương mại vì thiết kế vượt trội và vị trí tốt hơn so với lớn các nhà bán

Trang 26

lẻ siêu thị lớn Từ ý tưởng chiếm lĩnh thị phần của các nhà bán lẻ lớn, nó có đãthay đổi đáng kể lối sống của người Thái trong kinh nghiệm mua sắm Các nhàphát triển hiện nay cũng đang nhắm tới mục tiêu là khách du lịch nhiều hơn đểtăng lượng khách hàng Trong tương lai, các trung tâm thương mại sẽ không chỉphục vụ các cư dân trong khu vực, mà sẽ được coi như các địa điểm du lịch saukhi AEC được thành lập

Kết luận: Cáctrung tâm thương mại hiện nay mọc lên ở khắp mọi nơi!

Dọc theo đường của BTS, các khu vực thành phố, gần khu dân cư cũ, khu vựckhu dân cư mới, xung quanh nhà ở các dự án vẫn chưa được hoàn thành, trongcác trường đại học và thậm chí ở ngoại ô Bangkok! Tuy nhiên, miếng bánh thịphần vẫn chưa được chia hết, tại sao? Yếu tố thành công quan trọng để thâmnhập thị trường chính là cạnh tranh ở sự tiện nghi, thiết kế, bầu không khí và cáctrải nghiệm đa chiều thỏa mãn hơn cả sự mong đợi của người tiêu dùng! Hãy thửtưởng tượng một trung tâm thương mại bao gồm cả rạp chiếu phim, quán bar,ngân hàng v.v… ngay trên đường đi bộ về nhà bạn, thật tuyệt làm sao !

Từ thị trường bán lẻ Thái Lan, có thể rút ra một vài bài học cho thị trường Việt Nam:

Có thể thấy các nhà bán lẻ Thái xây dựng các trung tâm thương mại rất cóbài bản và được tính toán kĩ đến quy hoạch địa điểm, thiết kế, hàng hóa… Họbiết cách thu hút không chỉ khách hàng trong nước mà còn các khách du lịchnước ngoài Ở Việt Nam, điều này không được chú trọng nhiều, các trung tâmthương mại kể cả quy mô lớn hay nhỏ đều ko tính toán bài bản ngay cả từ địađiểm thuê, khách hàng tiềm năng Đây là nguyên nhân cho sự chết dần của cácnhà bán lẻ trong nước

Về hàng hóa, người Thái có cách quản lý hàng hóa ngoại và nội tốt, đưahàng nội vào hệ thống bán lẻ, là cầu nối dẫn dắt từ người sản xuất đến người tiêudùng trong nước Ngược lại, các siêu thị, trung tâm thương mại Việt Nam lạithích hàng ngoại hơn Một số phong trào được phát động về “Người Việt dùng

Trang 27

hàng Việt’’ không ngây được hiệu quả cao vì chưa có sự liên kết chặt chẽ cung –cầu.

1.4 Khái quát về cộng đồng ASEAN

1.4.1 Lịch sử hình thành

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ASEAN – được thành lập ngày08/08/1967 tại Bangkok, Thái Lan trên cơ sở Tuyên bố ASEAN (Tuyên bốBangkok) được ký kết bởi các thành viên sáng lập là Indonesia, Malaysia,Philippines, Singapore và Thái Lan Tiếp đó, sự gia nhập của Brunei vào ngày07/01/1984, Việt Nam ngày 28/07/1995, Lào và Myanmar ngày 23/07/1997, sau

đó là Campuchia ngày 30/04/1999 đã nâng tổng số thành viên ASEAN hiện tạilên con số 10 Bản tuyên bố ASEAN nêu lên mục tiêu của hiệp hội về hợp táctrong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, kỹ thuật, giáo dục và một số lĩnh vựckhác, đồng thời cũng cho thấy mục đích đẩy mạnh và ổn định nền hòa bình trongkhu vực, được cụ thể hóa bằng sự tôn trọng quy định, luật pháp, và các cam kếtđối với nguyên tắc hiến chương Liên Hiệp Quốc

Tháng 11/2003, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 họp tại Bali,Indonexia, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua tuyên bố Hòa hợp ASEAN II,trong đó đề ra mục tiêu thành lập Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột là Cộngđồng Chính trị-An ninh ASEAN (APSC), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (ACE) vàCộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN (ASCC) vào năm 2020 Tuy nhiên , nhậnthấy tầm quan trọng của tự do hóa với phát triển, tại Hội nghị thượng đỉnhASEAN lần thứ 12 năm 2007, các nhà lãnh đạo quốc gia thành viên đã quyếtđịnh rút ngắn thời gian thực hiện hóa Cộng đồng ASEAN (AC) vào năm 2015

Trang 28

thống nhất cho các quốc gia thành viên ASEAN, thúc đẩy dòng chu chuyển tự docủa hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có tay nghề trong ASEAN Mục tiêu củaAEC là thúc đẩy phát triển kinh tế một cách công bằng, thiết lập khu vực kinh tế

có năng lực cạnh tranh cao mà với năng lực cạnh tranh này, ASEAN có thể hộinhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu

Trên cơ sở kết quả thực hiện VAP (phần về AEC) nhất là việc đã cơ bảnhoàn thành Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), ASEAN đã nhất trí thôngqua Kế hoạch tổng thể về AEC với những đặc điểm và nội dung đến năm 2015,ASEAN sẽ trở thành:

+ Một thị trường duy nhất và một cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sựlưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề + Một khu vực kinh tế có sức cạnh tranh cao

+ Một khu vực phát triển kinh tế đồng đều, nhất là thực hiện có hiệu quảsáng kiến liên kết ASEAN (IAI)

+ Một khu vực ASEAN hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu

ASEAN cũng nhất trí xác định 12 lĩnh vực ưu tiên đẩy nhanh liên kết với

lộ trình hoàn thành đến năm 2010, đó là: hàng nông sản, ô tô, điện tử, nghề cá,các sản phẩm từ cao su, dệt may, các sản phẩm từ gỗ, vận tải hàng không, thươngmại điện tử ASEAN, chăm sóc sức khoẻ, du lịch và logistics

Để đẩy mạnh các nỗ lực hình thành Cộng đồng Kinh tế (AEC), ASEAN đãthông qua kế hoạch tổng thể xây dựng trụ cột này, là một bộ phận trong lộ trìnhxây dựng Cộng đồng ASEAN được thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN-14(tháng 2/2009), với các quy định chi tiết về định nghĩa, quy mô, cơ chế và lộtrình thực hiện AEC

1.4.3 Việt Nam trong tiến trình xây dựng AEC

Là thành viên tích cực của ASEAN, Việt Nam đã và đang nỗ lực chuẩn bịgia nhập AEC Theo cam kết cắt giảm thuế của Việt Nam trong CEPT-ATIGA,

Trang 29

Việt Nam sẽ cắt giảm thuế về 0% cho tất cả các mặt hàng trao đổi trong ASEAN(ngoại trừ các mặt hàng trong Danh mục loại trừ chung) với lộ trình cho hầu hếtcác dòng thuế là cho tới năm 2015 và 7% dòng thuế còn lại cho tới năm 2018.Hải quan điện tử là một nội dung quan trọng đang được thực hiện nhằm các mụctiêu trên Việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam về cơ bản đã đạtđược các mục tiêu như rút ngắn thời gian thông quan, và giảm các yêu cầu về cácgiấy tờ kê khai Việt Nam cũng đang xây dựng chương trình “ Một cửa quốcgia’’ (Vietnam's National Single Window - VNSW) nhằm tạo thuận lợi tối đacho thương mại.

Bên cạnh các nội dung trên, Việt Nam cũng đang nỗ lực đơn giản hoá hệthống các giấy phép, giấy chứng nhận bao gồm giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu,giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), giấy chứng nhận vệ sinh kiểm dịch, giấy chứngnhận an toàn thực phẩm Các nỗ lực này thể hiện qua hệ thống eCoSys (hệ thốngxin cấp C/O qua mạng) cũng như việc cấp phép nhập khẩu tự động Hướng tới tự

do hóa dịch vụ, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi một số Luật liên quan như Luậtđầu tư, Luật Thương mại, Luật doanh nghiệp và ban hành nhiều Nghị định, vănbản hướng dẫn các Luật này

Để thực hiện trụ cột 2 của AEC, Việt Nam đã sửa đổi và ban hành mới cácchính sách để thực hiện các cam kết trong từng ngành cụ thể, điển hình là trongcác ngành dịch vụ phân phối, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, viễn thông đểphù hợp với các cam kết trong hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) cũngnhư GATS Đối với các ngành ưu tiên gồm y tế, du lịch, logistics, e-ASEAN vàhàng không, Việt Nam cũng đã tuân thủ nghiêm túc các cam kết và tích cực thamgia vào các hiệp định liên quan Hiện tại, Việt Nam được đánh giá là một trongnhững nước có Luật cạnh tranh khá toàn diện áp dụng cho cả nền kinh tế và cócác cơ quan giám sát thực hiện luật này cùng với Indonesia, Singapore và TháiLan

Trang 30

1.4.4 Cơ hội và thách thức cho Việt Nam khi gia nhập AEC

Xây dựng Cộng đồng ASEAN là nhiệm vụ trọng tâm và xuyên suốt củaHiệp hội Đối với Việt Nam, AEC đang mang lại cơ hội và cả những thách thứckhông nhỏ

AEC sẽ là cơ hội quý báu để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu tưnước ngoài, nhanh chóng bắt nhịp với xu thế và trình độ phát triển kinh tế củakhu vực và thế giới Theo Hiến chương ASEAN có hiệu lực từ 15/12/2008, AECđược thành lập vào cuối năm 2015 sẽ đánh dấu sự hội nhập toàn diện các nềnkinh tế 10 nước Đông Nam Á, tạo ra thị trường chung của một khu vực có dân số

600 triệu người và GDP hàng năm khoảng 2.000 tỉ USD Từ năm 2004 đến nay,ASEAN đã ký kết FTA với nhiều đối tác: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,Australia, New Zealand, Ấn Độ Xu thế này phù hợp với xu thế đẩy mạnh cảicách, mở cửa của Việt Nam Hiện nay, Việt Nam đang đàm phán các FTA với

EU, Liên minh Hải quan (Nga, Belarus, Kazakhstan), ASEAN+6, Hàn Quốc,Khối Thương mại tự do châu Âu (Thụy Sỹ, Na Uy, Liechtenstein, Iceland) vàHiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) AEC ra đời cùng với việc ViệtNam mở rộng các hiệp định tự do thương mại sẽ tạo động lực giúp các doanhnghiệp mở rộng giao thương, thu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, cắt giảm chiphí nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm, tiếp cận các thị trường rộng lớn hơn Việc tham gia AEC cũng sẽ là cơ hội lớn để Việt Nam đẩy mạnh cải cáchthể chế, hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao trình độ phát triển Tuy nhiên, trongnhững năm tới, Việt Nam cũng đứng trước sức ép rất lớn về cải cách thể chế, tái

cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ khoa học - công nghệ và năng lực cạnh tranh,trong bối cảnh ASEAN nhảy vọt từ nấc Khu vực thương mại tự do ASEAN(AFTA) lên nấc thang Liên minh Kinh tế AEC Hiện nay, trình độ phát triển củaViệt Nam còn kém xa nhiều quốc gia trong ASEAN như: Singapore, Malaysia,Thái Lan do vậy, sức ép cải cách đặt ra với Việt Nam là rất lớn Xếp hạng nănglực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công

bố cho năm 2014-2015 ở mức rất thấp và ít có cải thiện từ nhiều năm nay Nềnquản lý hành chính lạc hậu, nhiều thủ tục rườm rà gây ảnh hưởng tiêu cực

Trang 31

nghiêm trọng đến năng lực cạnh tranh, chi phí về thời gian và tiền bạc của doanhnghiệp Việt Nam, đơn cử như việc các doanh nghiệp Việt Nam cần đến 872giờ/năm để đóng thuế trong khi con số bình quân của dịch vụ đó ở các nướcASEAN-6 chỉ là 172 giờ/năm Thực tế này cho thấy, cải cách thể chế, tái cơ cấukinh tế, nâng cao trình độ khoa học-công nghệ và năng lực cạnh tranh đang là đòihỏi cấp thiết đặt ra cho Việt Nam khi gia nhập AEC.

AEC ra đời, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều tháchthức Việc cạnh tranh về dịch vụ đầu tư của các nước ASEAN sẽ dẫn đến một sốngành, doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, thậm chí rút khỏi thị trường Trongbối cảnh Việt Nam hội nhập mạnh mẽ, các nước sẽ mở rộng thị trường xuất khẩucho hàng hóa của Việt Nam nhưng đồng thời Việt Nam cũng phải mở cửa chohàng hóa cạnh tranh của các nước Những doanh nghiệp có lợi thế xuất khẩu sẽngày càng lớn mạnh hơn, trong khi doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh yếu đốivới hàng hóa nhập khẩu sẽ gặp thách thức nghiêm trọng Hiện nay, đa số doanhnghiệp của Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ, năng lực cạnh tranh hạn chế, bướcvào "sân chơi" AEC, các doanh nghiệp Việt Nam đối mặt không ít khó khăn,thách thức

Xếp hạng về thể chế của Việt Nam (Nguồn: Diễn đàn Kinh tế Thế giới)

Trang 32

Chi phí ngoài pháp luật và đút lót để nhận được kết

Tính minh bạch của quá trình soạn thảo chính sách

Bảng 1: Xếp hạng về thể chế của Việt Nam.

Nguồn: Diễn đàn Kinh tế Thế

giới.

Đối với lĩnh vực lao động, việc làm, Việt Nam cũng đứng trước những cơhội và thách thức lớn Để thực hiện cam kết có tính mới và đột phá về "tự do dịchchuyển của lao động có chứng chỉ đào tạo", 10 nước ASEAN đã thống nhất côngnhận giá trị tương đương của chứng chỉ đào tạo của mỗi nước thành viên đối vớitám loại nghề nghiệp: bác sỹ, nha sỹ, hộ lý, kỹ sư, kiến trúc sư, kiểm toán viên,giám sát viên và nhân viên du lịch

Về lý thuyết, khi gia nhập AEC, Việt Nam có thể đẩy mạnh xuất khẩu sangcác nước trong khu vực Việt Nam có lợi thế về nguồn lao động trẻ đông đảo,khéo tay, học nhanh và làm việc chăm chỉ, có thể cạnh tranh với các nước trongkhu vực về lao động phổ thông Tuy nhiên, lao động Việt Nam có nhược điểm làrất kém về kỷ luật lao động, kỹ năng sống và sẵn sàng chuyển việc nếu được hứahẹn tiền lương cao hơn nơi đang làm Trình độ chuyên môn và kỹ năng của laođộng trong nước đa số chưa cao Do vậy, lao động có tay nghề cao từ các nướcASEAN-6 phát triển hơn cũng có thể tràn vào Việt Nam và gây nhiều hệ lụy về

xã hội Thực tế này đòi hỏi Chính phủ, doanh nghiệp và người dân Việt Namphải có sự thuẩn bị tốt để đối phó các thách thức về dịch chuyển lao động từAEC

Trang 33

Có thể nói AEC đang đến rất gần và đặt Việt Nam cũng như các nướcĐông Nam Á khác trước những cơ hội, thách thức to lớn Thực tế này đang đòihỏi chính phủ, doanh nghiệp và người dân Việt Nam phải có sự quan tâm, chuẩn

bị kỹ lưỡng để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong quá trình tham giaAEC Trong đó, các yếu tố then chốt mà Việt Nam không thể bỏ qua là cải cáchthể chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đây cũng là hai trong ba "khâuđột phá" chiến lược để phát triển đất nước trong những thập kỷ tới mà văn kiệnĐại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ

2 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ

Ở VIỆT NAM ĐỂ THAM GIA VÀO AEC.

2.1 Sự phát triển thị trường về các thành phần tham gia.

Trong thời gian qua đã có sự tham gia đáng kể của các chủ thể sản xuất và

kinh doanh vào hệ thống phân phối bán lẻ Với mục tiêu tăng trưởng bình quânGDP năm 2015 là 6,2% năm thì quy mô về tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán

Trang 34

lẻ và dịch vụ của thị trường trong nước vào năm 2015 sẽ tăng nhan Chắc chắnvới một thị trường bán lẻ tiềm năng như nước ta, trong thời gian tới sẽ có sự giatăng lớn các chủ thể kinh tế vào hệ thống phân phối hàng hóa của Việt Namthuộc các thành phần kinh tế khác nhau.

Nếu như trước đây nền thương mại chủ yếu là do nhà nước độc quyền thì

giờ đây đã chuyển sang một nền kinh tế tư nhân và sự hội nhập kinh tế quốc tế,năm 2015 sẽ mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ, sự xuất hiện các nhà đầu tư cóvốn nước ngoài và quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã làm chongành thương mại biến đổi sâu sắc Xét trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa

và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo nền kinh tế: tỷ trọng kinh tế nước ngoài liêntục giảm xuống (năm 2007 là 3,7% ) đến năm 2010 còn 2,6% và tăng trongnhững năm trở lại đây (năm 2014 là 3,3%) Kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷtrọng cao (năm 2007 là 85,6%) và đến nay năm 2014 là 86,5% Trong đó, kinh

tế tập thể chiếm tỷ trọng không đáng kể Kinh tế cá thể chủ yếu là chợ và các cửahàng nhỏ lẻ vẫn còn chiếm tỷ trọng khá lớn, đây chính là thị phần sẽ có nhiềuthay đổi trong thời gian tới bởi cả nền kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài đều muốn “thu phục” Trong những năm trở lại đây hệ thống phânphối bán lẻ hiện đại ngày càng phổ biến: siêu thị và trung tâm thương mại, cửahàng tiện lợi, thương mại điện tử phát triển dần thay thể các khu chợ truyểnthống Tuy nhiên thì hình thức phân phối truyền thống vẫn rất phổ biến và chiếm

tỷ trọng cao trong hệ thống phân phối ở Việt Nam do văn hóa của người dânViệt

Dưới đây ta sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về các nhóm đối tượng chính tham giavào thị trường bán lẻ Việt Nam

2.1.1 Các nhà phân phối bán lẻ trong nước

Các nhà phân phối bán lẻ trong nước gồm có các chợ đã được hình thànhmột cách tự nhiên trong đời sống dân cư và các doanh nghiệp phân phối bán lẻcần đăng ký giấy phép kinh doanh

Chợ truyền thống

Trang 35

Số lượng và thứ hạng của chợ tại Việt Nam

Trang 36

Hình 1: Số lượng chợ phân theo hạng và phân theo địa phương chia theo

hạng và chia theo địa phương.

Nguồn : Tổng cục thống

Hệ thống chợ Việt Nam có thể được hình thành từ lâu đời hoặc quy mô lớnhoặc chỉ đơn giản cung cấp lương thực thiết yếu hàng ngày Ta có thể kể tới têncủa một số chợ nổi tiếng như sau:

Chợ Bến Thành: rất đỗi quen thuộc với người dân Việt và du khách quốc

tế khi đến tham quan du lịch TP.HCM, là một trung tâm buôn bán lớn không chỉcủa TP.HCM mà còn của các tỉnh phía Nam Hiện nay, chợ Bến Thành gồm cónhững quầy sạp: quầy ăn, quầy bán vải sợi dành cho tư nhân, bách hóa, mỹphẩm, quầy bán hàng vải hợp doanh, hàng bánh kẹo quốc doanh, quầy hàng bántrái cây cao cấp, các quấy trái cây và hàng khô, quầy guốc dép và dụng cụ giađình, quầy hoa tươi, quầy cá, thịt gà, quầy thịt heo, gà, bò, giò, chả, quầy gà vịtsống

Trang 37

Chợ Đồng Xuân: nằm cạnh ga đầu cầu Long Biên, lại ở ngay sát sông

Hồng, chợ Đồng Xuân là điểm thuận lợi để hàng hoá bốn phương dồn về đâycũng như từ đây toả đi các nơi Ở chợ Đồng Xuân hầu như có đủ tất cả các mặthàng phục vụ đời sống và sản xuất đồng thời nó là chợ bán buôn lớn nhất miềnBắc Ngày nay, chợ Đồng Xuân được xây dựng lại với qui mô lớn hơn gồm 3tầng khang trang, rộng rãi nhưng vẫn giữ lại một phần kiến trúc mặt tiền của chợcũ

Các doanh nghiệp phân phối bán lẻ trong nước, bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp ngoài nhà nước

Đây đa phần là các công ty, tổng công ty hoạt động trong lĩnh vực phânphối, có trình độ chuyên nghiệp và mạng lưới phân phối bán lẻ rộng khắp trênnhiều tỉnh, thành phố trên cả nước Có thể kể ra một vài doanh nghiệp tiêu biểu:

Liên hiệp HTX Thương mại và Dịch vụ TP.HCM (Sài Gòn Co.op): khởi

nghiệp từ năm 1989, sau đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế đất nước chuyển từ

cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, môhình kinh tế hợp tác xã kiểu cũ thật sự khó khăn và lâm vào tình thế khủng hoảngphải giải thể hàng loạt Trong bối cảnh như thế, ngày 12/5/1989 - UBND Thànhphố Hồ Chí Minh có chủ trương chuyển đổi Ban Quản lý hợp tác xã Mua BánThành phố trở thành Liên hiệp hợp tác xã Mua bán Thành phố Hồ Chí Minh -Saigon Co.op với 2 chức năng trực tiếp kinh doanh và tổ chức vận động phongtrào hợp tác xã Saigon Co.op là tổ chức kinh tế hợp tác xã theo nguyên tắc xáclập sở hữu tập thể, hoạt động sản xuất kinh doanh tự chủ và tự chịu trách nhiệm.Trong năm 2014, Saigon Co.op đã phát triển mới thành công 6 Co.opmart, 17Co.op Food, hơn 30 Cửa hàng Co.op và Trung tâm thương mại Sense City, nângtổng số điểm bán lên hơn 365 Trong đó, việc đưa vào hoạt động Co.opmart CaoLãnh tại tỉnh Đồng Tháp có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn chỉnh hệ thốngchuỗi phân phối hàng bình ổn và quảng bá hàng Việt phủ khắp tất cả 13 tỉnh,thành miền Tây Nam Bộ Đặc biệt, năm 2014 đã đánh dấu một bước phát triểnmới trong việc đa dạng hóa các mô hình bán lẻ của Saigon Co.op bằng việc đưa

Trang 38

vào hoạt động Trung tâm thương mại Sense City đầu tiên tại Cần Thơ Mục tiêuphấn đấu của Saigon Co.op đến năm 2015 sẽ mở được 100 siêu thị trên toànquốc.

Công ty CP Tập đoàn Phủ Thái (Phú Thái Group): Được thành lập từ năm

1993, đến nay công ty Cổ phần Tập đoàn Phú Thái đã trở thành một mô hình Tậpđoàn phân phối và bán lẻ hàng tiêu dùng hàng đầu tại Việt Nam Với gần 3000nhân viên, Phú Thái đã xây dựng được mạng lưới phân phối bán sỉ rộng khắptrên phạm vi cả nước Hiện nay, tập đoàn Phú Thái có gần 30 đơn vị trực thuộcgồm các công ty thành viên, trung tâm phân phối và trung tâm kho vận trên toànquốc Với định hướng chiến lược đúng đắn, Phú Thái đã và đang đạt tốc độ tăngtrưởng liên tục đạt trên 40% năm Mạng lưới khách hàng rộng khắp toàn quốcvới gần 200.000 đại lý các cấp bao gồm các nhà phân phối phụ, các đại lý bán sỉ,cửa hàng trọng điểm, các siêu thị, các đại lý bán lẻ và hàng ngàn khách hàng trựctiếp như nhà hàng, khách sạn, cơ quan, người tiêu dùng Phú Thái cũng đangduy trì mối quan hệ tốt đẹp với gần 100 đối tác trong và ngoài nước

Công ty CP xuất nhập khấu INTIMEX (Intimex Hochiminh) : Công ty Cổ

phần Xuất Nhập Khẩu Intimex (Intimex Hochiminh) tiền thân là Chi nhánh Công

ty Xuất Nhập Khẩu Intimex tại TP HCM, được thành lập vào tháng 9 năm 1995

Từ chỗ chỉ là một chi nhánh nhỏ nhưng sau hơn một thập niên xây dựng và pháttriển, Intimex Hochiminh đã có sự trưởng thành vượt bậc Intimex Hochiminhbước vào hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần từ ngày 01 tháng 07 năm

2006 và đang quản lý hàng chục công ty cổ phần chi phối và các chi nhánh ở HàNội, Đà Nẵng, Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Gia Lai, Lâm Đồng, Bình Dương,Tây Ninh, Cần Thơ… Năm 2008, Intimex Hochiminh được xếp hạng 5 trong 500doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam với tốc độ tăng trưởng về kim ngạch vàdoanh thu bình quân từ 20-50%/năm Intimex Hochiminh đang phát triển nhanh

hệ thống phân phối, bán buôn, bán lẻ, các trung tâm thương mại, cửa hàng bán lẻ

và tiện ích tại các tỉnh thành phía Nam cũng như trên cả nước với số vốn đầu tưhàng trăm tỉ đồng

Trang 39

Có thể nói đây là khu vực có những chuyển biến tích cực nhất trong xu thếhội nhập kinh tế quốc tế Trong đó, các doanh nghiệp nhà nước nhìn chung cótiềm lực về tài chính và lợi thế về các cơ sở sản xuất hơn nên đóng vai trò vừa lànhà phân phối vừa là nhà sản xuất và thu mua hàng hóa để kinh doanh trong hệthống phân phối của mình Trong khi đó, các doanh nghiệp ngoài khu vực nhànước chủ yếu tập trung vào hoạt động phân phối để tạo nên những hệ thốngchuyên doanh phân phối mà thường không tham gia vào hoạt động sản xuất nhưnhiều doanh nghiệp nhà nước Đây cũng là một trong những đặc điểm khá đặcthù của Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống phân phối nóiriêng và hoạt động kinh doanh trên thị trường nội địa nói chung Tuy nhiên, nhìnchung các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phân phối trong nước còn nhiều hạnchế về năng lực tài chính, công nghệ, kỹ năng tổ chức quản lý kinh doanh, trình

độ đội ngũ cán bộ so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng hoạtđộng trong lĩnh vực này

2.1.2 Các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Thị trường bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO từ năm 2007 đến nay

đã được đánh giá là một trong những thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất Được chínhthức mở của năm 2015 nhiều tập đoàn bán lẻ đã gia nhập thị trường chiếm lĩnhkhông ít thị phần khiến cho môi trường ngành bán lẻ trở lên khốc liệt Trong khicác doanh nghiệp đang dần đánh mất lợi thế của mình thì các doanh nghiệp nướcngoài đã nhìn thấy tiềm năng của thị trường Việt Nam Một nước với hơn 90triệu dân, tốc độ đô thị hóa cao và thu nhập ngày càng tăng nhu cầu chi tiêu tăngtheo đó và một môi trường kinh doanh hấp dẫn được hỗ trợ bởi các rào cảnthương mại thấp hơn giảm mức thuế công ty, đã nâng cao vị thế của Việt Namnhư một tiềm năng tăng trưởng cao Sự gia tăng của các doanh nghiệp bán lẻ làcho người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn Tuy nhiên thì bất lợi thuộc về cácdoanh nghiệp trong nước vẫn đang cạnh tranh gay gắt với các công ty nướcngoài Trong giai đoạn này các doanh nghiệp bán lẻ không cố gắng tìm raphương án thì sẽ bị loại khỏi thị trường

Trang 40

Sự xâm lấn nhanh chóng của các công ty đa quốc gia là mối đe dọa lớn chongành bán lẻ trong nước Ngành bán lẻ của Việt Nam với đặc điểm manh mún,các chợ truyền thống trước đây chiếm ưu thế hơn trong các mô hình bán lẻ Tuynhiên nhu cầu đã ngày càng thay đổi đi theo thị hiếu chung Các trung tâmthương mại mọc lên ngày càng nhiều, thay thế chợ truyền thống Số lượng cáccửa hàng bán lẻ hiện đại đang phát triển trong khu vực đô thị Thống kê từ BộCông Thương cho thấy có hơn 700 siêu thị, 125 trung tâm mua sắm và 8.600 chợtruyền thống hiện đang hoạt động khắp Việt Nam Trong số này, 4% của các siêuthị và 25% trong những trung tâm mua sắm đều thuộc sở hữu của nước ngoài cácdoanh nghiệp Sự hiện diện của các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam cũngđồng nghĩa với sự tăng lên của các hình thức bán lẻ hiện đại biểu hiện là sự tănglên nhanh chóng về số lượng của các siêu thị trung tâm thương mại

Ngày đăng: 11/01/2016, 08:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Sở Công Thương Hà Tĩnh. Mở cửa thị trường bán lẻ, doanh nghiệp Việt Nam cần “tiếp sức”http://socongthuonght.gov.vn/xuc-tien-thuong-mai/mo-cua-thi-truong-ban-le-doanh-nghiep-viet-nam-can-111uoc-201ctiep-suc201d (truy cập ngày 21/3/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: tiếp sức
14. Bích Diệp, 2015. Doanh nghiệp Việt làm gì trước sự “tấn công” của hàng ngoại nhậphttp://www.dunghangviet.vn/hv/doanh-nghiep/2015/02/doanh-nghiep-viet-lam-gi-truoc-su-tan-cong-cua-hang-ngoai-nhap.html ( truy cập ngày 10/3/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: tấn công
3. Infonet ,28/11/2014. Sách lược của các đại gia bán lẻ ngoại ở Việt Nam truy cập ngày 15/3/2015) http://www.vinacorp.vn/news/sach-luoc-cua-cac-dai-gia-ban-le-ngoai-o-viet-nam/ct-568868 Link
5. Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương. Tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bán buôn,bán lẻ phát triển.http://arid.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=354&news_id=3243. (truy cập ngày 2/3/1015) Link
11. Xuân Lan, 2014. Nhận diện thách thức của thị trường bán lẻ năm 2014 http://vietstock.vn/2014/01/nhan-dien-thach-thuc-cua-thi-truong-ban-le-nam-2014-768-328693.htm ( truy cập ngày 27/3/2015) Link
12. L.H 2012. Sức hút của thị trường bán lẻ Việt Nam đã giảm nhiệt http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Kinh-te/553381/suc-hut-cua-thi-truong-ban-le-vn-da-giam-nhiet ( truy cập ngày 23/3//2015) Link
13. Thanh Giang ,2012. Cơ hội và thách thức của thị trường bán lẻ Việt Nam - Bài 1: Thách thức thời lạm phát http://www.dunghangviet.vn/hv/thi-truong/2012/05/co-hoi-va-thach-thuc-cua-thi-truong-ban-le-viet-nam-bai-1thach-thuc-thoi-lam-phat.html ( truy cập ngày 17/3/2015) Link
1. Thạc sỹ kinh tế _ Trần Thị Thu Hương. Luận văn: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong hệ thống phân phối tại thị trường nội địa thời kỳ hậu WTO Khác
2. Country Market Insight , january 2011.Retailing – Vietnam Euromonitor International Khác
6. Chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ tới năm 2020 (CSSSD) và tầm nhìn tới năm 2025 Khác
7. PGS.TS Hoàng Minh Đường và PGS.TS Nguyễn Thừa Lộc. Giaos trình quản trị doanh nghiệp thương mại. Nhà xuất bản Lao động – Xã hội. Hà Nội. 2005.351 trang Khác
8. PGS.TS Hoàng Thọ Xuân và TS. Phạm Hồng Tư .Bài đăng “Quy hoạch phát triển mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại cả nước thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến 2030’’ trên tạp chí nghiên cứu Thương mại Khác
9. Tổng cục hải quan : Số liệu thống kê về trị giá nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam qua các năm Khác
10. Tổng cục thống kê : Số liệu về tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng qua các năm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Xếp hạng về thể chế của Việt Nam. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Bảng 1 Xếp hạng về thể chế của Việt Nam (Trang 32)
Bảng 2: Số lượng và thứ hạng của chợ tại Việt Nam. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Bảng 2 Số lượng và thứ hạng của chợ tại Việt Nam (Trang 35)
Hình 1: Số lượng chợ phân theo hạng và phân theo địa phương chia theo - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Hình 1 Số lượng chợ phân theo hạng và phân theo địa phương chia theo (Trang 36)
Bảng 3: Số lượng các siêu thị tại Việt Nam - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Bảng 3 Số lượng các siêu thị tại Việt Nam (Trang 40)
Hình 2: Số lượng siêu thị phân theo địa phương và theo năm. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Hình 2 Số lượng siêu thị phân theo địa phương và theo năm (Trang 41)
Bảng 4: Số lượng các trung tâm thương mại tại Việt Nam. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Bảng 4 Số lượng các trung tâm thương mại tại Việt Nam (Trang 41)
Hình 3: Số lượng trung tâm thương mại phân theo địa phương và theo năm. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Hình 3 Số lượng trung tâm thương mại phân theo địa phương và theo năm (Trang 42)
Hình 4: Trị giá nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2007-2013. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Hình 4 Trị giá nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2007-2013 (Trang 47)
Hình 5: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Hình 5 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá (Trang 53)
Hình 6: Doanh số bán lẻ tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2008-2014. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Hình 6 Doanh số bán lẻ tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2008-2014 (Trang 54)
Hình 7: Chỉ số CPI so với tháng trước và CPT lũy kế theo tháng năm 2013. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Hình 7 Chỉ số CPI so với tháng trước và CPT lũy kế theo tháng năm 2013 (Trang 58)
Hình 8: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2014. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Hình 8 Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2014 (Trang 59)
Hình 9: Top 3 thị trường bán lẻ sôi động nhất Châu Á – Thái Bình Dương. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Hình 9 Top 3 thị trường bán lẻ sôi động nhất Châu Á – Thái Bình Dương (Trang 76)
Hình 10: Top 10 thị trường các nhà bán lẻ có ý định đầu tư năm 2014. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Hình 10 Top 10 thị trường các nhà bán lẻ có ý định đầu tư năm 2014 (Trang 77)
Hình 12: Top các thị trường bán lẻ mục tiêu 2014. - Phát triển thị trường bán lẻ việt nam để tham gia vào cộng đồng ASEAN
Hình 12 Top các thị trường bán lẻ mục tiêu 2014 (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w