1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hải quan trong phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại từ hoạt động nhập khẩu hàng hóa của việt nam hiện nay (tt)

19 714 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 135 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

b - Thực tiễn Những năm qua ngành Hải Quan đã có những biện pháp không ngững cải cách, hiện đại hóa, phát triển nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ trong việc duy trì hoạt động cho

Trang 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

a - Lý luận

Trong xu thế hiện nay của Thế giới khi mà việc “mở cửa” và “hội nhập” là một điều tất yếu, bên cạnh việc du nhập những yếu tố thuộc lĩnh vực văn hóa thì điều quan trọng hơn đó là sự gia tăng mạnh mẽ các dòng lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ… giữa các quốc gia với nhau và sự tăng lên không ngừng của những lượt du khách và các phương tiện xuất nhập cảnh

b - Thực tiễn

Những năm qua ngành Hải Quan đã có những biện pháp không ngững cải cách, hiện đại hóa, phát triển nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ trong việc duy trì hoạt động cho ngành nói chung và đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại nói riêng

Do đó đề tài nghiên cứu được đưa ra nhằm góp phần nào làm rõ hơn những hành vi, cách thức phạm pháp trong hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại để có thể đề xuất một số giải pháp mang tính chiến lược giúp giảm thiểu số lương các hoạt động phạm pháp góp phần cho các hoạt động thương mại qua biên giới diễn ra chuẩn mực, được trong sạch, đúng nghĩa Đề tài mà chúng em đưa ra đó là “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về Hải quan trong phòng chống gian lận thương mại từ hoạt động nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam”

2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại của ngành trong thời gian tới

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động phòng chống gian lận thương mại của ngành Hải quan

4 Phạm vi nghiên cứu

a - Không gian

Trang 2

Những chính sách, giải pháp của ngành Hải quan và những kết quả, hạn chế trong hoạt động phòng chống gian lận thương mại của ngành Hải quan Việt Nam

Kinh nghiệm phòng chống gian lận thương mại của một số nước

b - Thời gian

Từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) năm

2007 cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các quan điểm, chính sách, pháp luật của nhà nước về các vấn đề có liên quan, phân tích sự việc trong sự biến động gắn với điều kiện lịch sử cụ thể Ngoài ra, các phương pháp chuyên ngành được sử dụng trong quá trình nghiên cứu như thống kê, phân tích, tổng hợp, diễn giải, tiếp cận hệ thống… để làm rõ nội dung nghiên cứu

NỘI DUNG

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN TRONG PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TỪ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ

I Cơ sở lý luận về buôn lậu và gian lận thương mại

1.1 Khái niệm

Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa

Gian lận: Gian lận được coi là hành vi của con người cụ thể có lời nói, cử chỉ, hành động không đúng với bản chất của sự vật hiện tượng nhằm mục đích đánh lừa người khác

Khác với gian lận thương mại nói chung, gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là những hành vi gian lận nhằm trốn tránh việc kiểm soát của cơ quan Hải quan để trốn thuế xuất nhập khẩu

1.2 Biểu hiện

Lẩn tránh nhiệm nộp thuế hải quan, phí, các khoản thu khác bắt buộc đối với việc di chuyển hàng hóa thương mại

Trang 3

Nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hoá không thuộc đối tượng đó

Đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục, cạnh tranh thương mại chân chính

1.3 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước về hải quan trong phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại từ hoạt động nhập khẩu

Sự Cần thiết tăng cường quản lý Nhà nước trong hoạt động phòng chống gian lận thương mại từ hoạt động nhập khẩu để có thể răn đe các đối tượng không gây ra những hành vi gian lận thương mại trong nhập khẩu để đảm bảo tính công bằng, minh bạch và duy trì sự ổn định, thịnh vượng của nước nhà, cũng như tô điểm thêm cho các nước bạn thấy một Việt Nam trong sạch và nghiêm minh

II Ảnh hưởng của buôn lậu và gian lận thương mại

Trong những năm qua buôn lậu và hoạt động gian lận thương mại ở Việt Nam có chiều hướng gia tăng và gây thiệt hại hàng tỷ đồng cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính Không chỉ vậy buôn lậu và gian lận thương mại còn gây thất thu lớn ngân sách nhà nước, tác động xấu đến tình hình an ninh, trật tự

xã hội và sức khỏe người dân

 Hậu quả đối với nền kinh tế

 Hậu quả về mặt văn hoá - xã hội

 Hậu quả đối với an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội

 Ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội

III Phân loại gian lận thương mại

Theo tài liệu số 36 623 ngày 28/5/1995 của Hội nghị Quốc tế lần thứ V về chống gian lận thương mại do WCO họp tại Brussels (Bỉ) đã khẳng định gian lận thương mại tồn tại dưới 16 hình thức

Ngoài ra, gian lận thương mại còn biểu hiện trong việc chuyển tải hàng hóa Đó là việc thông qua một nước thứ 3 để che dấu nguồn gốc thực sự của hàng hóa nhằm che mắt Hải quan nước nhập khẩu

Cách phân loại trên thể hiện cái nhìn khoa học và là kết quả nghiên cứu các vấn đề thực tiễn trong nhiều năm của hoạt động thương mại quốc tế ở nhiều nước trên thế giới Nó mang những nét chung cuả tình hình gian lận thương mại Thế giới, trong đó có Việt Nam Tình hình thực tế ở nước ta thời gian qua cũng cho thấy các thủ đoạn gian lận thương mại trong hoạt động thương mại quốc tế

Trang 4

cũng chính là các hình thức mà tổ chức Hải quan Thế giới đã xác định như đã nêu trên

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI HẢI QUAN TRONG THỜI GIAN VỪA QUA

I Hoạt động nhập khẩu hàng hoá Việt Nam

1.1 Tình hình nhập khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11/01/2007 đánh dấu một mốc phát triển trong lĩnh vực ngoại thương của Việt Nam Đến nay, sau khi gia nhập WTO, năng lực sản xuất và kinh doanh của các ngành hàng đã tăng lên rõ rệt Kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng tăng Về cơ cấu hàng nhập khẩu, có thể thấy, việc gia nhập WTO có tác động làm tăng nhập khẩu tất cả các mặt hàng từ sản phẩm nông nghiệp đến sản phẩm công nghiệp, tuy tác động đối với mỗi ngành hàng mạnh yếu khác nhau

1.2 Cơ cấu thị trường và hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam

1.2.1 Cơ cấu thị trường

Kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam sang châu Á cao nhất Sau Châu

Á Việt Nam có kim ngạch xuất, nhập sang Châu Âu và Châu Mỹ lớn thứ 2 và thứ 3 Trong năm 2013, Việt Nam có trao đổi hàng hóa với gần 240 quốc gia và vùng lãnh thổ Số thị trường đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của xuất khẩu tăng từ

25 thị trường năm 2012 lên 27 thị trường năm 2013 và nhập khẩu tăng từ 13 lên

17 thị trường

Thị trường các nước ASEAN: Các mặt hàng chính nhập khẩu từ thị trường này là máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện; xăng dầu các loại; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng; chất dẻo nguyên liệu…

Thị trường Trung Quốc: Đây là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu lên tới 50,21 tỷ USD Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, hàng rào kỹ thuật với nhóm hàng nhập khẩu như máy móc, rau củ để đảm bảo chất lượng hàng nhập khẩu, ngăn chặn mặt hàng không đáp ứng yêu cầu chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm

Nhật Bản luôn là thị trường thương mại quan trọng của Việt Nam Tính đến hết tháng 11/2013, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Nhật Bản

Trang 5

xếp thứ 4 trong tất cả các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa

Thị trường Hàn Quốc: Trong năm qua, thương mại hai chiều Việt Nam -Hàn Quốc đạt tốc độ tăng trưởng mạnh nhất trong số các đối tác thương mại chính của Việt Nam Nhóm hàng chính Việt Nam nhập khẩu từ Hàn Quốc là máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện, máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng, điện thoại các loại & linh kiện, vải các loại

Thị trường Hoa Kỳ: Nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Hoa Kỳ trong năm 2013 đạt 5,23 tỷ USD, tăng 8,3% so với năm trước Trong năm qua, có 13 nhóm hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ đạt trị giá trên 100 triệu USD với tổng trị giá hơn 4 tỷ USD

Thị trường EU: Nhập khẩu hàng hóa từ các nước EU trong năm qua có trị giá là 9,45 tỷ USD, tăng 7,5% so với năm 2012

1.2.2 Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng là nhóm hàng nhập khẩu nhiều nhất của Việt Nam trong nhiều năm qua và tiếp tục thuộc top đầu trong năm

2013 Đứng thứ hai về kim ngạch nhập khẩu là nhóm hàng máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Đối với mặt hàng xăng dầu các loại, đây là mặt hàng có tỷ

lệ nhập khẩu lớn chiếm khoảng 70% lượng xăng dầu cả nước đứng thứ ba Dệt may đứng thứ tư là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong nhiều năm qua Dù kim ngạch xuất khẩu dệt may luôn đứng đầu trong các mặt hàng xuất khẩu nhưng nguyên liệu đầu vào của mặt hàng này là vải vẫn đang phải nhập khẩu với lượng lớn Mặt hàng nhập khẩu nhiều thứ 5 là sắt thép các loại Đáng chú ý, nếu trong năm 2009, mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện còn chưa được ghi nhận trong biểu nhập khẩu thì đến 2012, mặt hàng này đã đứng thứ 6

về kim ngạch nhập khẩu với hơn 5 tỷ USD

Một số mặt hàng nhập khẩu chính khác của Việt Nam như chất dẻo nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may, da giày; hoá chất; thức ăn gia súc và nguyên liệu; phân bón; linh kiện, phụ tùng ô tô… Các mặt hàng này nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu là từ các thị trường: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Nga

II Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại từ khi Việt Nam gia nhập WTO

2.1 Diễn biến tình trạng buôn lậu

2.1.1 Trên tuyến biên giới đường bộ

Trang 6

Lợi dụng chính sách ưu đãi của nhà nước cho phép cư dân ở khu vực biên giới mua, bán, trao đổi hàng hóa miễn thuế nhập khẩu với định mức quy định Các đối tượng buôn lậu đã tìm mọi cách thu gom hàng của cư dân hoặc thuê cư dân vận chuyển qua cửa khẩu để buôn bán trốn thuế

Lợi dụng đời sống khó khăn của cư dân biên giới các chủ đầu nậu đã thuê người dân và cửu vạn vận chuyển hàng lậu về Việt Nam Lợi dụng việc đưa hàng miễn thuế vào các khu kinh tế cửa khẩu, khu bảo thuế để chuyển hàng nhập lậu, các đối tượng kinh doanh bao gồm thương nhân trong nước và thương nhân nước ngoài đã mang hàng với thuế suất bằng 0% qua cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia đưa vào bán tại các khu kinh tế cửa khẩu, khu bảo thuế, chợ biên giới

2.1.1.1 Tuyến biên giới phía Bắc (Việt Nam - Trung Quốc)

Hàng nhập lậu chủ yếu là mặt hàng như vải may mặc; bánh kẹo; giầy dép; bát sứ; phân bón gia súc, gia cầm và các sản phẩm từ gia súc, gia cầm; lá thuốc

lá đã sấy khô chưa tách cọng; đồ chơi trẻ em cấm lưu thông, pháo, mũ bảo hiểm, rau quả, thực phẩm Hàng lậu được thu gom ngoài địa bàn kiểm soát hải quan, xé lẻ và tổ chức cho đội ngũ cửu vạn hoặc thuê cư dân biên giới vận chuyển qua biên giới vào ban đêm, đồng thời thuê đầu gấu, nghiện hút áp tải bảo vệ, sau đó tập kết và tiếp tục được vận chuyển sâu vào nội địa bằng đường

bộ và đường sắt để tiêu thụ

2.1.1.2 Tuyến biên giới miền Trung (Việt Nam - Lào)

Do đặc thù về địa hình nên các đối tượng buôn lậu thường vận chuyển hàng hóa vào Việt nam thông qua những đường dây bí mật hoặc xé lẻ và thuê cửu vạn gùi cõng hàng hóa qua đường rừng để trốn tránh các trạm kiểm soát của các lực lượng chức năng hoặc gia cố hàng hóa trên các phương tiện chở khách, chở hàng hóa cồng kềnh, khó kiểm tra như gỗ, than hoặc thuê đồng bào dân tộc ít người dùng xe thô sơ kéo qua cửa khẩu

2.1.1.3 Tuyến biên giới Tây Nam (Việt Nam – Campuchia)

Phương thức, thủ đoạn phổ biến: Lợi dụng đêm tối, những giờ cao điểm đưa hàng qua biên giới, nhanh chóng cất giấu vào các nhà dân ở ven biên giới, bến xe, các khu thương mại, chợ sau đó tìm cách đưa hàng vào nội địa tiêu thụ Các đối tượng được trang bị máy thông tin, liên lạc, để theo dõi lực lượng chức năng và điều hành buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới Đối tượng “đầu nậu” không trực tiếp tham gia việc vận chuyển hàng lậu mà thường khoán gọn cho người làm thuê, người vận chuyển, gắn trách nhiệm của

họ bằng cách đặt cọc số tiền tương ứng với trị giá số hàng mới cho vận chuyển

Vì vậy, khi bị bắt giữ thì một số đối tượng chống trả quyết liệt hoặc hô hoán kích động người dân để cướp lại hàng

Trang 7

2.1.2 Tuyến biển và cảng biển

Về tình hình buôn lậu trên biển: Các đầu nậu sử dụng các loại tàu thuyền lớn vận chuyển hàng lậu từ nước ngoài về ngoài khơi Sau đó liên hệ với các thuyền nhỏ, thuyền đánh cá, lợi dụng đêm tối, thời tiết xấu để sang mạn, vận chuyển vào các bãi ngang, cửa sông Bên cạnh đó các đầu nậu còn tổ chức mạng lưới do thám để theo dõi hoạt động của các lực lượng chống buôn lậu trên biển (Hải quan, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển), các thiết bị thông tin hàng hải hiện đại khác để thông báo cho các tổ chức đường dây buôn lậu biết

về sự di chuyển, hoạt động của các lực lượng chức năng Chúng tìm mọi cách lôi kéo, mua chuộc một số phần tử thoái hoá, biến chất trong các lực lượng chống buôn lậu để tiếp tay cho các hoạt động buôn lậu Gần đây, các đầu nậu còn cho hoán cải tàu để giả dạng tàu đánh cá hoặc các loại tàu chuyên dùng khác để che mắt các cơ quan chức năng

Tại các cảng biển: Các đối tượng buôn lậu đã thông đồng làm giả hợp đồng thương mại, khai báo giá trị thấp so với thực tế, nhằm áp mã sai đối với những mặt hàng nhạy cảm để được hưởng mức thuế suất thấp Một số doanh nghiệp tạo dựng hồ sơ, chứng từ giả, khai báo sai trị giá hàng nhập khẩu để trốn thuế Các phương thức, thủ đoạn điển hình như: khai sai về tên hàng, chủng loại, số lượng, chất lượng, xuất xứ hàng hoá; gian lận giá, chính sách mặt hàng; nhập khẩu hàng thừa so với khai báo, không khai báo…

2.1.3 Tuyến hàng không và bưu điện

Tổng cục Hải quan cũng cho biết trên tuyến hàng không, thủ đoạn của các đối tượng buôn lậu thường gặp là giấu hàng hóa trong người, trong hành lý, không khai báo khi xuất, nhập cảnh, tách hóa đơn, lợi dụng định mức miễn thuế, hàng quà biếu, quà tặng để vận chuyển trái phép hàng lậu Trên tuyến bưu điện, một số đối tượng sử dụng thủ đoạn chia nhỏ số lượng hàng hóa, gửi về nhiều địa chỉ khác nhau nhưng thực chất chỉ có một người nhận Hàng lậu qua tuyến hàng không và bưu điện chủ yếu là hàng gọn nhẹ, giá trị kinh tế cao, dễ cất giấu, như máy ảnh, đồng hồ đeo tay, kim loại quý, đá quý, ngoại tệ, ma túy

và ma túy tổng hợp, thuốc chữa bệnh

2.2 Tình hình gian lận thương mại

Các hành vi gian lận thương mại trong 10 năm qua có chiều hướng gia tăng, với các thủ đoạn tinh vi phức tạp nhằm trốn lậu thuế Các hình thức gian lận phổ biến là: quay vòng hóa đơn chứng từ, mua bán hóa đơn để hợp thức hóa hàng nhập lậu; làm giả giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu; gian lận trong cân, đong, đo, đếm hàng hóa; lập ra nhiều công ty

“ma” trên thực tế không hoạt động mà xin hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành

để mua - bán kiếm lời hoặc làm nhiều hợp đồng mua - bán giả để lừa đảo vay vốn ngân hàng nhằm trục lợi Sau đây là một số hình thức gian lận cụ thể mà

Trang 8

Hải Quan Việt Nam đã và đang phải đối mặt: Lợi dụng chính sách thuế hiện hành của Nhà nước; gian lận thông qua việc khai thấp trị giá hàng hoá; gian lận

về xuất xứ hàng hoá (C/O); gian lận thông qua lợi dụng hàng hoá gửi kho ngoại quan; gian lận thương mại trong lĩnh vực liên doanh đầu tư; gian lận thương mại qua lợi dụng kinh doanh hàng chuyển khẩu, hàng tạm nhập - tái xuất

III Công tác phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại của nước

ta hiện nay

3.1 Chính sách của chính phủ trong công tác phòng chống buôn lậu

và gian lận thương mại

Để phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại chính phủ đã có nhiều chính sách như ban hành các nghị định, quyết định, công văn, công điện, chỉ thị

để tăng cường công tác chống buôn lậu, tăng cường trách nhiệm của công chức trong thực thi các qui trình nghiệp vụ hải quan, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý cán bộ, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong thực thi công

vụ Ngoài ra tăng cường các biện pháp đấu tranh với thủ đoạn buôn lậu gian lận thương mại lợi dụng thủ tục hải quan điện tử, lợi dụng kinh doanh tạm nhập-tái xuất, lợi dụng chính sách hoàn thuế GTGT Xác lập chuyên án đấu tranh trọng điểm vào các hiện tượng nổi cộm đối tượng có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng

Xử lý nghiêm theo qui định của pháp lập, nâng cao tính răn đe, phòng ngừa

3.2 Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong Hải quan

Cải cách hiện đại hóa là yêu cầu đòi hỏi cấp bách đặt ra cho ngành Hải quan trong xu thế phát triển chung hiện nay Vì thế tổng cục Hải quan đã và đang tiến hành xây dựng và triển khai chiến lược quản lý nguồn nhân lực như tăng cường năng lực của các bộ phận chịu trách nhiệm về nguồn nhân lực, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý nguồn nhân lực, đã có nhiều văn bản chỉ đạo với những giải pháp mang tính đồng bộ

Hiện nay Việt nam đang bước đầu thực hiện hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS thì công tác hàng đầu cần thực hiện vẫn phải là tổ chức tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực Bên cạnh đó tổ chức nhiều lớp đào tạo CBCC Ngoài ra Tổng cục Hải quan còn liên kết với học viện cảnh sát nhân dân (CSND) để mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ điều tra tội phạm cho lực lượng Kiểm soát Hải quan

3.3 Công tác nâng cao trang thiết bị kỹ thuật trong Hải quan

Qua từng thời kì, nhất là từ sau khi hội nhập, ngành Hải Quan Việt Nam đã

và đang không ngững nỗ lực để nâng cao về chất lượng trang thiết bị của mình, ngoài việc giám sát chặt chẽ đảm bảo sự an toàn về của cải cho khách hàng thì thứ yếu hơn đó là để phục vụ trong công tác phòng chống gian lận thương mại,

Trang 9

cụ thể của hoạt động nhập khẩu Về công nghệ thông tin, ngành hải quan đã có một hạ tầng công nghệ thông tin thống nhất và đồng bộ Trong việc làm thủ tục hải quan, khai báo từ xa qua mạng đã được áp dụng tại hầu hết các Cục Hải quan tỉnh, thành phố và cho hầu hết các loại hình xuất nhập khẩu Ngành hải quan đã triển khai đồng bộ việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong kiểm tra hải quan

3.4 Quan hệ hợp tác của Hải quan Việt Nam với Hải quan các nước trong phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại

3.4.1 Hợp tác đa phương

Để thúc đẩy tạo thuận lợi thương mại và đảm bảo an ninh an toàn quốc gia, Hải quan Việt Nam đã tích cực tham gia vào các hoạt động hợp tác hải quan trong các khuôn khổ các tổ chức quốc tế hoặc liên quan đến Hải quan như Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM)…

3.4.2 Hợp tác song phương

Hải quan Việt Nam rất chú trọng đến việc tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động hợp tác này thông qua việc đàm phán, ký kết các văn kiện hợp tác song phương Các thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Lào về quản

lý hải quan đối với hàng hóa và phương tiện vận tải quá cảnh, phối hợp chống buôn lậu (2002) Thỏa thuận giữa Tổng cục Hải quan Việt Nam với Tổng cục Hải quan Lào về phối hợp chống thất thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai nước (2006) Các thỏa thuận hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan giữa Tổng cục Hải quan Việt Nam và Hải quan các nước: New Zealand (2010), Austrilia (2010) Các bản ghi nhớ về hợp tác phòng chống buôn lậu và vi phạm Hải quan biên giới giữa Tổng cục Hải quan Việt Nam và cục Ngân khố và Hải quan Hoàng gia - Liên hiệp Vương Quốc Anh và Bắc Ai-len (2007), Hải quan Chilê (2009), cơ quan Hải quan Liên Bang

3.5 Hạn chế và nguyên nhân của công tác phòng chống

3.5.1 Hạn chế của công tác phòng chống

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại của ngành Hải quan còn bộc lộ một số hạn chế Công tác hoạch định, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch dài hạn của ngành Hải quan về phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại còn chưa đồng bộ giữa các lực lượng nghiệp vụ trong ngành Có những lĩnh vực thì chồng chéo, nhiều lực lượng cùng tiến hành làm, có những lĩnh vực chưa được quan tâm đúng mức hoặc bị bỏ sót Điển hình là những hạn chế về nhận thức và tổ chức thực

Trang 10

hiện hoạt động phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại; về công tác cán bộ;

về công tác thu thập, xử lý thông tin Ngoài ra các điều kiện về trang thiết bị, cơ

sở vật chất hạ tầng nói chung và phục vụ công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại nói riêng còn nhiều hạn chế

3.5.2 Nguyên nhân của hạn chế

Nguyên nhân khách quan: Hệ thống Luật pháp, các chế độ chính sách quản

lý kinh tế của nước ta đang trong quá trình hoàn thiện do vậy còn nhiều bất cập,

sơ hở, thiếu đồng bộ Hành lang pháp lý phục vụ công tác trao đổi, chia sẻ thông tin nghiệp vụ giữa ngành Hải quan với các Bộ, Ngành chưa hoàn thiện Ngoài ra chất lượng hàng hóa sản xuất trong nước còn hạn chế chưa đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại trên thị trường quốc tế Do đặc thù về địa lý của các tuyến biên giới, đặc biệt là tuyến biên giới đường bộ và tuyến biên giới biển đa dạng, phức tạp

Nguyên nhân chủ quan: Trong một thời gian dài, một bộ phận cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành chưa nhận thức một cách đầy đủ về công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại Sự phân định trách nhiệm trong công tác chống buôn lậu tại từng địa bàn, từng khu vực giữa lực lượng chống buôn lậu của Cục Điều tra chống buôn lậu với lực lượng chống buôn lậu của Hải quan địa phương chưa được rõ ràng Chức năng tham mưu, hướng dẫn của Tổng cục Hải quan (Cục Điều tra chống buôn lậu) đối với Hải quan địa phương chưa thể hiện

rõ nét

CHƯƠNG III - GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN HIỆN NAY

I Định hướng phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại của chính phủ

Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Hải quan xây dựng “Đề án nâng cao năng lực cho lực lượng Hải quan chuyên trách chống buôn lậu đến năm 2020” tập trung vào một số nội dung quan trọng như: Tập trung hoàn thiện cơ sở pháp

lí cho công tác chống buôn lậu theo hướng nâng cao thẩm quyền, phạm vi trách nhiệm và đảm bảo tính đồng bộ với hệ thống các qui định trong lĩnh vực quản lí nhà nước về hải quan, đấu tranh phòng, chống tội phạm…

Theo chiến lược phát triển Hải quan năm 2020, sẽ triển khai thống nhất đồng bộ toàn ngành các biện pháp nghiệp vụ cơ bản: tiến hành thường xuyên công tác điều tra nghiên cứu nắm bắt tình hình, cung cấp thông tin phục vụ quản ký rủi ro và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết phát hiện kịp thời các hành vi phạm pháp luật hải quan Xây dựng mạng lưới và hệ thống theo dõi, nắm bắt tình hình, quản lý địa bàn có trọng điểm, tăng cường phối hợp, đấu

Ngày đăng: 11/01/2016, 01:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w