Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu Đề tài tìm hiểu các khung lí thuyết phục vụ cho việc nghiên cứu thị trường laođộng của Người cao tuổi, cụ thể hướng tới 2 vấn đề sau: Liệu các chính sách
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
Họ và tên sinh viên (nhóm sinh viên):
Doãn Tâm Long
Nguyễn Văn Dũng Huy
Trang 3Mục lục
Nội dung
Chương 1 : Giới thiệu 1
Chương 2 : Tổng quan lí thuyết 3
Chương 3 : Việc làm và thu nhập NCT Việt nam 10
Chương 4 : Kết luận và khuyến nghị chính sách 14
Tài liệu tham khảo 17
Trang 5Chương 1: Giới thiệu
1 Sự cần thiết của đề tài
Nâng cao tuổi thọ là một trong những thành tựu của xã hội Tuổi thọ ngày càngđược nâng cao nhờ vào sự phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật, y tế và cácchương trình hỗ trợ cho người cao tuổi Dân số cao tuổi ( những người trên 60tuổi) đang tăng nhanh và chiếm tỉ lệ ngày càng cao trong cơ cấu dân số ở Việtnam Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, tỉ lệ này sẽ đạt ngưỡng 10% vàonăm 2017, đưa nước ta vào giai đoạn “già hóa” dân số Quá trình già hóa diễn
ra ở nước ta cũng như các nước đang phát triển khác diễn ra nhanh hơn nhiềunhững gì các nước phát triển đã trải qua Không những có ít thời gian hơn đểđiều chỉnh, nền kinh tế, cơ cấu chính sách, các chế độ BHXH của nước ta vẫncòn yếu và chưa có nhiều kinh nghiệm
Già hóa là một quá trình liên tục, những người trong cơ cấu “dân số vàng” hiệnnay sẽ già đi và là một phần trong cơ cấu dân số già trong tương lai Điều nàyhàm ý một gánh nặng không nhỏ cho xã hội Việt nam Thứ nhất, người giàđược coi là nhóm dân số dễ bị tổn thương và cần sử dụng nhiều nguồn lựcchăm sóc sức khỏe, bảo trợ xã hội, trợ cấp thu nhập Thứ hai, tỉ lệ người giàhưởng các chế độ BHXH tăng cao trong khi lực lượng lao động lại thu hẹptương đối, điều này gây mất cân đối thu chi cho các quĩ BHXH Thứ ba, ngườigià thường phụ thuộc vào trợ cấp của con cháu, xu hướng đang tăng lên của “tỉ
lệ phụ thuộc già” lại gây thêm gánh nặng cho những người đang trong độ tuổilao động
Một trong những giải pháp mà các nước phát triển đã áp dụng là hỗ trợ ngườigià tham gia lực lượng lao động Việc làm giúp NCT chủ động trong tài chính,tăng cường thể chất và tinh thần Tỉ lệ Người cao tuổi tham gia hoạt động kinh
tế ở nước ta hiện nay khá cao, tuy nhiên các chính sách hỗ trợ của nhà nước làchưa đầy đủ
Trang 6Vấn đề việc làm cho người cao tuổi ngày càng có ý nghĩa quan trọng Nghiêncứu này mong muốn góp một phần nhỏ trong việc cung cấp thông tin và phântích cần thiết cho các nhà quản lí trong việc xây dựng các chính sách vàchương trình thích hợp cũng như nâng cao nhận thức và sự hỗ trợ của toàn xãhội.
2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu các khung lí thuyết phục vụ cho việc nghiên cứu thị trường laođộng của Người cao tuổi, cụ thể hướng tới 2 vấn đề sau:
Liệu các chính sách khuyến khích, hỗ trợ người già tham gia lực lượnglao động có làm giảm cơ hội gia nhập thị trường lao động của người trẻhay không ?
Những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định của Người cao tuổi vềviệc tham gia / không tham gia lao động
3 Cấu trúc đề tài
Đề tài bao gồm 4 chương Sau chương 1 giới thiệu đề tài, chương 2 sẽnêu lên khung lí thuyết phục vụ cho nghiên cứu, chương 3 trình bày thựctrạng già hóa, việc làm và thu nhập của Người cao tuổi ở Việt nam, ,chương 4 đưa ra kết luận và một số khuyến nghị chính sách
Chương 2: Tổng quan lí thuyết
Trang 71 Lý thuyết việc làm cố định
( Lump of labor fallacy )
Tuổi thọ con người ngày càng cao, áp lực của già hóa lên hệ thống BHXH,quỹ lương hưu, hệ thống y tế ngày càng lớn Các chính sách tăng sự tham giacủa người già vào thị trường lao động được coi là một giải pháp thích hợpnhằm giảm thiểu những áp lực đó Tuy nhiên có những ý kiến cho rằng cácchính sách như vậy sẽ làm giảm đi cơ hội gia nhập thị trường lao động củanhóm dân số trẻ Luận điểm như vậy được gọi là thuyết việc làm cố định( lump of labor)
Lý thuyết này khởi nguồn từ Henry Mayhew (1851), cho rằng giảm giờ làmcủa công nhân sẽ làm giảm tình trạng thất nghiệp Kể từ nghiên cứu của DavidSchloss ( 1891) , các nhà kinh tế học gọi những lập luận như vậy là ngụy biện( fallacy)
Vào những năm 1970s, dựa vào lập luận này mà Pháp và Bỉ đã có những chínhsách giảm tuổi nghỉ hưu với hi vọng cung cấp nhiều việc làm hơn cho ngườitrẻ
Thuyết việc làm cố định dựa trên giả định là số công việc trên thị trường làgiới hạn Samuelson trong cuốn sách giáo khoa “Kinh tế học” nổi tiếng củamình cho rằng :” Đúng hơn là nền kinh tế có thể điều chỉnh để tạo công ănviệc làm cho bất cứ ai tham gia lao động Trong dài hạn khi giá và mức lươngđiều chỉnh theo công nghệ và sở thích, theo cung và cầu, thì việc làm sẽ về vớicông nhân hoặc công nhân sẽ đến với việc làm”
Mặc dù vấp phải sự hoài nghi của các nhà kinh tế, lí thuyết này vẫn thườngxuyên được sử dụng như một lập luận để phản đối các chính sách của chínhphủ về giảm giờ làm, giảm người nhập cư, tăng tuổi nghỉ hưu…
Phân tích số liệu thị trường lao động của Vương quốc Anh giai đoạn
1968-2005, James Banks, Richard Blundell ( 2008) đã chỉ ra sự vận động cùng chiều
Trang 8của tỉ lệ tham gia lao động giữa người già và người trẻ Sau khi kiểm soát sựảnh hưởng của chu kì kinh doanh đến sự tương quan giữa 2 biến, việc làm của
2 nhóm tuổi này vẫn có sự tương quan dương với nhau Nghiên cứu cho thấykhông có một chứng cớ nào khẳng định hiệu ứng lấn át trong dài hạn giữa 2nhóm
Một chuỗi bài viết đã nghiên cứu về vấn đề này trên 12 quốc gia Gruber vàWise (2010) dựa trên phân tích của từng nước và giữa các nước đã kết luậnkhông thể khẳng định sự tham gia thị trường lao động của người cao tuổi làmgiảm cơ hội việc làm của nhóm dân số trẻ; chứng cứ còn cho thấy điều ngượclại, tỉ lệ tham gia lao động của người già càng tăng tương ứng với tỉ lệ việc làmngười trẻ tăng
Trong một bài viết trên tạp chí The Economist, Bottonwood (2012) đã đưa racác lập luận để phản bác Lí thuyết việc làm cố định : Thứ nhất, khi một ngườitham gia vào thị trường lao động, họ được trả tiền lương cho công sức họ bỏ
ra Số tiền đó lại được dùng để mua hàng hóa và dich vụ sản xuất bởi một ai
đó, người già hoặc người trẻ, người nhập cư hay người bản xứ Điều đó đếnlượt nó lại tạo ra công ăn việc làm Thứ 2, lượng việc làm không cố định màngày càng đa dạng và phong phú Đã có thời hầu hết chúng ta đều làm nôngnghiệp Tiến bộ khoa học kĩ thuật đã tạo ra những nhu cầu và việc làm màtrước đây chưa từng có, ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng phát triển vàchiếm tỉ trọng cao Thứ 3, Trên thực tế, lao động không thay thế hoàn hảo chonhau, lao động trẻ không dễ dàng thay thế cho lao động cao tuổi
2 Lý thuyết tân cổ điển về cung lao động
( Neoclassical theory of labor supply)
Trang 9Đây là một trong những lí thuyết được sử dụng để phân tích hành vi tham giathị trường lao động Lý thuyết này dựa trên mô hình một cá nhân tối đa hóa lợiích của mình trong việc tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ ( kí hiệu C ) và tiêu thụ
sự nghỉ ngơi ( kí hiệu L) Hàm lợi ích của cá nhân được thể hiện :
U = f ( C,L)
Hàm lợi ích U phụ thuộc vào số hàng hóa dịch vụ mà cá nhân tiêu dùng C( đơn vị tính bằng vnđ là giá của hàng hóa và dịch vụ) và thời gian nghỉ ngơi L( đơn vị thời gian) Đơn vị tính U được giả định là đơn vị lợi ích
Một thừa nhận hợp lý rằng, lợi ích cá nhân U tăng khi họ tiêu dùng nhiều hànghóa và dịch vụ ( C ) hơn hoặc khi họ có nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn ( L).Tập hợp các giá trị C và L : (C,L) đem lại cho cá nhân lợi ích bằng nhau đượcgọi là Đường bàng quan
Các đường bàng quan khác nhau thể hiện mức lợi ích U khác nhau, các đườngbàng quan dốc xuống dưới, lồi với gốc tọa độ và không cắt nhau, đường bàngquan cao hơn thể hiện mức lợi ích cao hơn
Đường bàng quan của các cá nhân có thể khác nhau, phụ thuộc vào sở thíchcủa họ: thích hàng hóa dịch vụ ( C) hơn hay thích sự nghỉ ngơi ( L) hơn :
Trang 10Mặc dù mọi cá nhân đều thích nhiều hàng hóa và dịch vụ và nhiều thời giannghỉ ngơi hơn, nhưng trên thực tế ý muốn của họ bị ràng buộc bơi 2 yếu tố Thứ nhất là thời gian, mỗi cá nhân đều chỉ có một lượng thời gian nhất định, kíhiệu T, thời gian này được phân bổ cho thời gian lao động để kiếm thu nhập h
và thời gian nghỉ ngơi L đã nhắc tới ở trên
T = h + L (1)
Thứ 2 là ngân sách để tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ Bất cứ ai, ngay cả tỉphú Bill Gates cũng chỉ có một lượng ngân sách nhất định để chi tiêu Ngânsách này đến từ 2 nguồn Thứ nhất là thu nhập từ lao động của cá nhân đượctính bằng thời gian lao động h nhân với mức lương một giờ w Thứ hai là cáckhoản thu nhập phi lao động V, là thu nhập không đến từ thời gian lao động ví
dụ như các khoản chuyển giao thu nhập, tiền lãi trong hoạt động đầu tư, tiềntrúng xổ số…
Trang 11C = wh + V (2)
( đẳng thức trên là ràng buộc về ngân sách thể hiện: chi tiêu cho hàng hóadich vụ C được tài trợ bởi 2 nguồn thu nhâp đến từ lao động wh và thu nhậpphi lao động V )
Từ (1) và (2) ta có thể viết lại ràng buộc về ngân sách thành:
C = w(T-L) + V hay C = ( wT + V ) – wL
Thể hiện đẳng thức này lên đồ thị ta có được Đường ràng buộc ngân sách của cánhân với độ dốc là (–w)
Đồ thị thể hiện thời gian nghỉ ngơi L trên trục hoành ( L chỉ giới hạn từ 0 đến
T ), và hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ C trên trục tung ( C giới hạn từ V là khi cánhân không hề lao động và wT + V là khi cá nhân dùng hết quĩ thời gian T củamình để lao động)
Dễ thấy sau khi có các ràng buộc ( thời gian và ngân sách ) cá nhân chỉ có thểlựa chọn các tập hợp ( C, L ) nằm ở trên đường ngân sách và nằm bên trongđường ngân sách
Kết hợp đường Giới hạn ngân sách và các Đường bàng quan ta có được lựa chọntối ưu cho ( C, L) để có được lợi ích U cao nhất Đó là điểm mà đường bàngquan tiếp tuyến với đường ngân sách P
Trang 12Tiếp theo, ta nhận thấy điểm E là điểm mà cá nhân dành hết quĩ thời gian T củamình cho nghỉ ngơi ( L= T), hay có nghĩa là cá nhân không tham gia thị trườnglao động Ở điểm E này, cá nhân chỉ có thu nhập phi lao động V, khi mà thunhập đến từ lao động wh = 0 Điểm E được gọi là endowment point (điểm nghỉngơi ?).
Xét đường bàng quan U0 đi qua điểm E, hay nói cách khác nếu cá nhân khônglao động thì lợi ích của họ khi đó là U0 Giả sử ban đầu cá nhân không lao động
và tận hưởng lợi ích U0
Trang 13Giả sử mức lương trên thị trường lao động là wlow, khi đó cá nhân có đường ngânsách GE Ta nhận thấy mọi điểm trên GE đều có lợi ích nhỏ hơn U0, cá nhân khi
đó sẽ tối đa hóa lợi ích bằng cách không tham gia lao động
Khi mức lương cao whigh, cá nhân có đường ngân sách HE, các điểm trên đường
HE tương ứng với mức lợi ích lớn hơn U0, trong đó điểm có lợi ích lớn nhất làtiếp tuyến với đường bàng quan Y Với động lực tối đa hóa U của mình, cá nhân
sẽ tham gia vào thị trường lao động với thời gian tương ứng với vị trí điểm Y.Như vậy, cá nhân sẽ không tham gia lao động khi lương thấp và lao động khilương cao, mức lương vừa đủ để cá nhân chuyển từ nghỉ ngơi sang làm việcđược gọi là wr mức lương kì vọng tối thiểu ( reservation wage) Hàm ý của mứclương kì vọng tối thiểu wr là cá nhân sẽ làm việc khi mức lương trên thị trườnglao động lớn hơn hoặc bằng wr
Dễ thấy wr là độ dốc tiếp tuyến của đường U0 qua điểm E Như vậy mức lương
kì vọng tối thiểu phụ thuộc vào T, V, và đường U0
Quyết đinh tham gia thị trường lao động của một cá nhân phụ thuộc vào T, V,U0, và mức lương trên thị trường w
Ta chia các nhân tố ảnh hưởng đến tham gia thị trường lao động của người caotuổi thành 3 nhóm:
- Thị trường lao động: mức lương, điều kiện làm việc…
- Các nguồn thu nhập khác : lương hưu, trợ cấp từ con cái, tiền tiết kiệm…
- Yếu tố cá nhân : sức khỏe, tuổi tác, giáo dục…
Trang 14Chương 3: Lao động của Người cao tuổi ở Việt nam
Hoạt động lao động, nhu cầu lao động
Nói tới hoạt động của người cao tuổi ở Việt Nam, trước hết là nói tới việc tạothu nhập, một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định tới việc người caotuổi ở đâu, độc lập hay hoàn toàn bị phụ thuộc vào gia đình, vào trợ cấp của xãhội Thu nhập của người cao tuổi có thể bắt nguồn từ 3 nguồn cơ bản sau đây:
- Từ lao động sản xuất hàng ngày của người cao tuổi;
- Tích lũy từ lao động của người cao tuổi lúc còn trẻ dưới dạng bảo hiểm hưu trí, tiết kiệm hoặc vật chất khác;
- Từ nguồn trợ cấp của con cái hoặc trợ cấp của Nhà nước (cho các cụ già cô đơn không nơi nương tựa).
Nhu cầu được làm việc, tiếp tục cống hiến cho gia đình và xã hội phù hợp vớisức khỏe và điều kiện của từng người cao tuổi cũng là một yêu cầu của các vịcao niên Đến hết tuổi lao động thì hưởng chế độ nghỉ hưu song nhiều người caotuổi vẫn có nhu cầu làm việc để có thêm thu nhập, để được sống có ích, ngoàiviệc tự mỗi người phấn đấu để có sự cống hiến, nhiều vị cao niên vẫn muốnđược gia đình và xã hội quan tâm giải quyết và tạo điều kiện thuận lợi Một số
cơ quan và Nhà nước đã và đang nghiên cứu để sử dụng chất xám, khả năng củanhững vị cao niên, nhất là những vị vừa mới rời khỏi dây chuyền sản xuất vàcông tác, vẫn còn trí tuệ, kinh nghiệm và sức khỏe nhằm phát huy một cách phùhợp sự cống hiến của họ Được làm việc, được cống hiến tạo ra niềm vui chocuộc sống, do đó có tác dụng làm cho trí não và thân thể khỏe mạnh Đây còn làmột quyền của người cao tuổi mà nhiều quốc gia đang quan tâm
Nhiều cuộc điều tra cho thấy, có tới 70% những người cao tuổi trong độ tuổi từ
60 đến 69 còn phải lao động để kiếm sống, có tới 38% số người trong độ tuổinày còn phải đóng vai trò chính trong kinh tế gia đình Họ phải lo cho cuộc sốngcủa chính họ và con cái Trong tình hình lao động dưa thừa như hiện nay vàtrong các lĩnh vực hoạt động kinh tế đều đòi hỏi có trình độ chuyên môn cao thì
Trang 15tìm kiếm được một việc làm thích hợp với người cao tuổi là cực kỳ khó khăn,đặc biệt là ở thành thị.
Mong muốn có việc làm ở người cao tuổi hiện nay trước hết là do họ không cónguồn thu nhập, hoặc có nhưng quá ít ỏi, không đủ sống Muốn xem xét việclàm, thu nhập và đời sống của người cao tuổi, cần đi sâu vào nghiên cứu ở từngnhóm Có thể chia làm 2 nhóm như sau:
a Việc làm, thu nhập và đời sống của người cao tuổi ở nông thôn và thành thị.
Qua một số cuộc điều tra khảo sát về việc làm của người cao tuổi ở nông thôn
có kết quả như sau:
- Nghỉ trông nom việc nhà, giữ cháu: 31%
- Làm việc thường xuyên như một lao động trong độ tuổi: 15%
- Làm việc khoảng 1/2 thời gian: 14%
- Làm việc một phần thời gian: 39%
Người về hưu ở nông thôn có vai trò quyết định kinh tế gia đình lớn hơn người
về hưu ở thành thị (44% so với 28%) Người về hưu vẫn còn gánh nặng trongviệc chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ già và con nhỏ Bình quân một người về hưucòn trực tiếp nuối 0,11 bố mẹ già và 0,76 con còn nhỏ Gần 40% nam, 35% nữtrong số người về hưu có đời sống vật chất khá hơn trước Còn 27,52% nam và16% nữ đời sống kém hơn so với trước khi về hưu Riêng các tỉnh ở Nam Trung
Bộ (từ Đà Nẵng tới Ninh Thuận) có 40 - 50% số người về hưu cảm thấy đờisống của họ khó khăn hơn trước Đây là nhóm người lương thấp và không kiếmđược việc làm thêm
Người ở nông thôn có đời sống dễ chịu hơn người về hưu ở thành thị Nhómngười về hưu trước đây là lực lượng vũ trang có thu nhập cao nhất và có cuộcsống vật chất khá hơn cả
Đa số người về hưu cảm thấy có cuộc sống tinh thần thoải mái hơn khi làm việc,chỉ có 20% cảm thấy cuộc sống nghèo nàn hơn so với trước