1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 9 LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

44 735 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 358,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hòa chung với xu thế của thời đại, giáo dục Việt Nam đã và đang phát triển nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả để từng bước hội nhập với khu vực và toàn cầu. Trong luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 điều 2 đã nêu : “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Điều đó đòi hỏi mỗi cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân cần phải hoàn thành tốt vai trò của mình. Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội chiếm vị trí rất quan trọng. cùng với các môn học khác, môn Ngữ văn góp phần tích cực hoàn thành mục tiêu giáo dục.

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH TƯỜNG

TRƯỜNG THCS THƯỢNG TRƯNG

Chuyên đề:

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 9 LÀM

BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

Người báo cáo: Trần Thị Minh Hiền

Tổ : Khoa học xã hội

Đơn vị : Trường THCS Thượng Trưng

Số điện thoại cơ quan: 0211 3838 420

Thượng Trưng, tháng 11 năm 2014

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC……….……… 2

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ……… 3

1 Lý do chọn đề tài……… 3

2 Mục đích nghiên cứu……….……… 4

3 Đối tượng nghiên cứu……… ……… 4

4 Phạm vi nghiên cứu… ……… ……… 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Thời gian nghiên cứu 4

7 Cấu trúc chuyên đề……… ……….……… 4

PHẦNII: NỘI DUNG……….……… 5

I: KHÁI QUÁT VỀ VĂN NGHỊ LUẬN 5

1 Khái niệm về văn nghị luận 5

2 Đặc điểm của văn nghị luận 5

3 Văn nghị luận ở lớp 9 5

II: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 9 LÀM VĂN NGHỊ LUẬN HIỆN NAY 6

1 Thực trạng 6

2 Những nguyên nhân của thực trạng 7

III: NHỮNG BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 9 LÀM VĂN NGHỊ LUẬN 7

1 Giáo viên giúp học sinh nắm được đặc điểm của văn nghị luận 7

2 Rèn cho học sinh phương pháp chung khi làm một bài văn nghị luận 8

3 Hướng dẫn học sinh viết văn nghị luận theo từng kiểu bài 13

3.1 Kiểu bài nghị luận xã hội 13

3.1.1.Nghị luận về một sự việc hiện tượng trong đời sống 13

3.1.2.Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý 16

3.2.Kiểu bài nghị luận văn học 20

3.2.1.Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) 20

3.2.2.Nghị luận về một đoạn thơ ( bài thơ ) 26

IV KẾT QUẢ - BÀI HỌC – Ý NGHĨA CỦA CHUYÊN ĐỀ 34

1 Kết quả đạt được 34

2 Bài học kinh nghiệm 34

3 Ứng dụng của chuyên đề 34

PHẦN III: KẾT LUẬN 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 3

Đại văn hào M.Gooc – ki đã nói “Văn học là nhân học” có nghĩa là vă n học chính là con người Văn học không chỉ giúp ta hiểu về cuộc đời, về con người, về xã hội mà còn giúp ta hiểu hơn về chính bản thân mình Để rồi từ văn học ta biết yêu thương hơn, biết tôn trọng lẽ phải, biết ước mơ và sống có niềm tin vào tương lai Người giáo viên dạy văn có nhiệm vụ hướng dẫn học sinh cách học văn, giúp các em có vốn từ Tiếng Việt, có khả năng cảm nhận vẻ đẹp của văn chương, biết viết bài văn trình bày những quan điểm, nhận xét, đánh giá của mình về văn chương cũng như về đời sống xã hội; giúp các em biết vận dụng những điều được học vào thực tiễn nhằm hướng tới hoàn thiện các kỹ năng

cơ bản của bộ môn: Nghe – Đọc – Nói - Viết Với kỹ năng viết văn ở bậc Trung học cơ sở thì văn nghị luận được coi là một trong những kiểu bài làm văn quan trọng bởi nó đánh giá được một cách toàn diện năng lực cảm thụ cũng như khả năng diễn đạt của học sinh

1.2 Cơ sở thực tiễn.

Văn nghị luận chiếm số lượng khá nhiều tiết trong chương trình Ngữ văn THCS Ở lớp 7, các em được học nghị luận chứng minh và nghị luận giải thích Lên lớp 8, các em học văn nghị luận có sự kết hợp với tự sự và miêu tả Lớp 9, các em được hoàn thiện hơn và đi sâu hơn các thao tác của kiểu văn này với hai kiểu bài: Nghị luận xã hội và nghị luận văn học Người giáo viên dạy văn lớp 9 cần đặc biệt chú trọng hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm văn nghị luận Bởi vì các đề thi vào Trung học phổ thông hay thi học sinh giỏi thì phần văn nghị luận chiếm số lượng khá lớn trên tổng số điểm của bài thi Khi rèn cho các em kỹ năng làm văn nghị luận, người giáo viên không đơn thuần là dạy các em viết bài mà phải hướng dẫn các em có kỹ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý trước khi viết bài Có như vậy mới giúp các em tự tin hơn khi viết văn

và khi thi sẽ đạt hiệu quả cao hơn

Tuy nhiên, việc hướng dẫn học sinh lớp 9 làm văn nghị luận trong các trường THCS hiện nay còn chưa thực sự hiệu quả Là những giáo viên trực tiếp

Trang 4

giảng dạy Ngữ văn, nhất là môn văn lớp 9 chúng tôi luôn trăn trở làm thế nào để các em viết được một bài văn nghị luận đúng phương pháp; cảm nhận, lý giải, phân tích, làm sáng tỏ được đúng vấn đề cần nghị luận; lời văn trong sáng giàu cảm xúc để chất lượng bộ môn ngày càng được nâng cao Xuất phát từ những lý

do trên nên chúng tôi đã chọn chuyên đề: “Hướng dẫn học sinh lớp 9 làm bài văn nghị luận” để mong được trao đổi cùng đồng nghiệp về cách dạy học sinh

lớp 9 làm văn nghị luận

2 Mục đích nghiên cứu :

Giúp các em học sinh lớp 9 nắm chắc phương pháp làm văn nghị luận với hai dạng bài: nghị luận văn học và nghị luận xã hội, biết vận dụng phương pháp

để viết thành thạo các bài văn nghị luận Từ đó nâng cao chất lượng bộ môn

3 Đối tượng nghiên cứu:

Các bài tập làm văn nghị luận lớp 9 Các bài tập vận dụng phương pháp làm văn nghị luận Phần văn nghị luận của các đề thi vào THPT, đề thi HSG.Học sinh khối 9 trường THCS Thượng Trưng – Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc

4 Phạm vi nghiên cứu:

Khi tìm hiểu về phương pháp làm văn nghị luận tôi thấy đây là một vấn đề lớn Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới hướng dẫn học sinh lớp 9 làm văn nghị luận với hai dạng bài nghị luận xã hội và nghị luận văn học

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thiện chuyên đề, chúng tôi tiến hành sử dụng các phương pháp: Nghiên cứu, tìm hiểu về văn nghị luận Khảo sát điều tra thực tế học sinh Phương pháp thống kê Phương pháp phân tích Phương pháp so sánh đối chiếu, tổng hợp

6 Thời gian nghiên cứu:

Tháng 9 năm 2013 bắt đầu nghiên cứu, điều tra thực tế học sinh

Từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014 nghiên cứu và dạy thực nghiệm

Tháng 10 năm 2014 hoàn thiện chuyên đề

7 Cấu trúc của chuyên đề: Chuyên đề gồm ba phần:

- Phần đặt vấn đề: Giới thiệu về lí do, mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

- Phần nội dung:

Khái quát về văn nghị luận

Thực trạng làm văn nghị luận ở lớp 9 hiện nay

Những biện pháp hướng dẫn học sinh làm văn nghị luận

Kết quả - bài học

- Phần kết luận

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT VỀ VĂN NGHỊ LUẬN.

1 Khái niệm về văn nghị luận:

Nghị luận là bàn bạc, lý giải, đánh giá cho rõ một vấn đề nào đó

Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó Muốn thế, văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục

Có nhiều cách bàn bạc: có khi dùng bằng chứng để người ta tin tưởng hơn (chứng minh), có khi phải giảng giải, đưa ra lí lẽ để hiểu cặn kẽ hơn (giải thích), cũng có khi phát biểu ý kiến của mình (bình luận) hay chỉ ra những giá trị của một tác phẩm văn học (phân tích tác phẩm) hoặc chỉ ra những giá trị của một hình tượng nhân vật trong tác phẩm (phân tích nhân vật), cũng có khi phải giảng giải để bình giảng một tác phẩm thơ hoặc văn xuôi (bình giảng)

Dù là chứng minh hay bình luận, giải thích hay phân tích thì người viết văn nghị luận vẫn phải có những hiểu biết đầy đủ về vấn đề sẽ trình bày, phải có lập trường quan điểm đúng đắn và phải lựa chọn một phương pháp trình bày, lập luận khoa học, phải dùng những lý lẽ, dẫn chứng và cách trình bày những lý lẽ, dẫn chứng này theo một cách thức nhất định

2 Đặc điểm của bài văn nghị luận:

2.1 Luận điểm:

Luận điểm trong bài văn nghị luận là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định (hay phủ định), được diễn đạt sáng tỏ, dễ hiểu, nhất quán Luận điểm là linh hồn của bài viết, nó thống nhất đoạn văn thành một khối Luận điểm phải đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục

Các luận điểm trong một bài văn vừa cần liên kết khăng khít lại vừa cần có

sự phân biệt rõ ràng Các luận điểm phải được sắp xếp theo một trình tự hợp lý: luận điểm nêu trước phải chuẩn bị cho luận điểm nêu sau và luận điểm nêu sau phải tiếp tục hỗ trợ cho luận điểm đã nêu trước đó

2.2 Luận cứ:

Luận cứ trong bài văn nghị luận là những lý lẽ, dẫn chứng đưa ra để làm cơ

sở cho luận điểm, làm sáng tỏ luận điểm Luận cứ phải đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục

Trang 6

3 Văn nghị luận trong chương trình lớp 9.

Lớp 9 là lớp cuối cấp THCS, số lượng tiết văn trên một tuần là 5 tiết nhiều hơn các lớp 6, 7, 8 Phần làm văn nghị luận cũng chiếm khá nhiều thời lượng với hai dạng chủ yếu là: nghị luận xã hội và nghị luận văn học Dưới đây là bảng thống kê các tiết làm văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 9:

Số

t.t

1 99 Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

2 100 Cách làm bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống

3 104-105 Viết bài tập làm văn số 5

4 108 Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

5 113 Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

6 114 Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

7 115 Trả bài Tập làm văn số 5

8 118 Nghị luận về tác phẩm truyện(hoặc đoạn trích)

9 119 Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn

trích)

10 120 Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn

trích).Viết bài Tập làm văn số 6 ở nhà

11 124 Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

12 125 Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

13 130 Trả bài Tập làm văn số 6 viết ở nhà

14 131 Luyện nói: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

15 134-135 Viết bài Tập làm văn số 7

16 144 Trả bài Tập làm văn số 7

II: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 9 LÀM

VĂN NGHỊ LUẬN HIỆN NAY.

1 Thực trạng:

Văn nghị luận các em đã được học từ lớp 7 với văn giải thích và văn chứng minh, lớp 8 các em được học cách trình bày luận điểm và kết hợp yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả vào bài văn nghị luận, lên lớp 9 các em học nghị luận xã hội

và nghị luận văn học Trong mỗi kiểu bài thường có bài tìm hiểu chung , rồi hướng dẫn cách làm, có bài luyện nói, sau đó các em học sinh mới viết bài văn hoàn chỉnh trong hai tiết Song, trong quá trình giảng dạy chúng tôi thấy kiến thức về văn nghị luận của các em bị hổng nhiều, dẫn đến các em chán học, cảm thấy khó Bởi vậy chất lượng bài viết của các em chưa đạt được kết quả như mong muốn Có những em còn nhầm lẫn giữa nghị luận văn học với nghị luận

xã hội; có em lại không xác định được vấn đề nghị luận mà đề bài yêu cầu là gì hoặc có khi các em chưa biết xác định luận điểm trong bài văn Cách phân tích còn sơ sài, dẫn chứng đưa vào bài vừa thiếu lại vừa thừa Nhiều em không thuộc

Trang 7

thơ để đưa vào làm dẫn chứng cho bài văn nghị luận về bài thơ; không nhớ các chi tiết trong các truyện để làm dẫn chứng trong các bài văn phân tích tác phẩm truyện Nhiều em khi phân tích còn vòng vo không thoát ý, diễn đạt còn khô khan, thiếu cảm xúc Nhất là bài văn nghị luận xã hội học sinh còn lúng túng nhiều Khi được hỏi về những lỗi mà các em mắc phải một số em chia sẻ rằng khi thầy cô giảng em có hiểu nhưng khi viết thì cứ thấy khó và cảm giác không biết viết thế nào cho đúng.

Thực tế khi hướng dẫn học sinh cách làm văn nghị luận một số thầy cô vận dụng phương pháp chưa phù hợp với từng đối tượng học sinh Trong giờ luyện nói, giáo viên còn chưa đi sâu vào từng bài làm của học sinh để chỉ ra những lỗi

và cách sửa lỗi cho các em khiến một số em nhất là những em học lực yếu Bởi vậy mà kết quả bộ môn còn chưa cao

Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng qua bài kiểm tra về văn nghị luận.Tổng số 99 học sinh khối 9 Kết quả như sau:

Đi sâu tìm hiểu việc dạy và học tôi thấy kết quả bộ môn văn chưa cao là

do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng tập trung ở một số nguyên nhân sau:

Về phía phụ huynh: Có những phụ huynh quan niệm học văn khó lựa chọn trường đại học để thi nên hướng cho con em mình ưu tiên học các bộ môn khoa học tự nhiên mà thường bỏ qua môn văn

Về phía học sinh: Các em coi văn là môn học dài dòng, phải thuộc lòng nhiều, khả năng phát triển tư duy hạn chế các em dễ chán nản Các em chưa biết cách phân bố thời gian học hợp lý giữa các phân môn: thời gian rèn luyện viết văn ít, các em học phần văn bản nhiều hơn Do nhận thức nên phần văn nghị luận xã hội việc nhận xét, đánh giá về các vấn đề nghị luận xã hội của các em còn hạn chế Nhiều em lười học nên không thuộc kiến thức phần văn bản, không thuộc thơ, đặc điểm nhân vật cũng chưa nhớ chính xác dẫn đến khi viết văn lại không có dẫn chứng chỉ diễn xuôi một cách nôm na.Thói quen của một số học sinh khi đọc đề không xác định rõ yêu cầu của đề, không lập dàn ý mà cứ thế viết bài luôn nên bài viết thiếu luận điểm hoặc luận điểm còn lộn xộn Tài liệu tham khảo của các em còn ít, có những em có sách tham khảo nhưng lười học, lười đọc nên vốn từ cũng như khả năng diễn đạt của các

em còn yếu

Trang 8

Về phía giáo viên: Đa số các thầy cô tận tâm, tận tụy hướng dẫn học sinh cách làm văn Nhưng một số thầy cô vận dụng phương pháp hướng dẫn học sinh viết văn còn chưa phù hợp nhất là những em học lực yếu Còn ít luyện cho học sinh làm các bài tập viết đoạn văn nghị luận, bài văn nghị luận Thời gian luyện viết trên lớp không nhiều nên giáo viên cũng khó khăn trong việc sửa lỗi cho các em qua các đoạn văn, bài văn

Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân của thực trạng chúng tôi đã nghiên cứu phương pháp làm văn nghị luận cho học sinh để hướng dẫn các em cádch làm văn Từ đó các em biết viết văn nghị luận, có được những bài viết văn tốt nhất và đạt kết quả cao nhất trong các kì thi

III: NHỮNG BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 9 LÀM VĂN

NGHỊ LUẬN

1 Giáo viên giúp học sinh nắm chắc đặc điểm của văn nghị luận.

1.1 Luận điểm - Luận cứ - Lập luận (nội dung này đã trình bày trong phần

khái quát về văn nghị luận)

1.2 Bố cục của bài văn nghị luận: Bài viết văn nghị luận có bố cục ba phần:

- Mở bài ( Đặt vấn đề) : Nêu vấn đề cần nghị luận.

- Thân bài ( Giải quyết vấn đề) : Trình bày các nội dung chủ yếu để làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận bằng hệ thống luận điểm, luận cứ, lập luận

- Kết bài ( Kết thúc vấn đề) : Nêu kết luận nhằm khẳng định vấn đề

Trong bài văn nghị luận có các đoạn văn Mỗi đoạn văn có một cấu trúc riêng, chúng thường mang bóng dáng một trong những mô hình cấu trúc: tổng – phân – hợp, diễn dịch, quy nạp Ở cấp độ liên câu cũng được trình bày theo một trật tự tuyến tính Nếu trật tự các câu không phù hợp với trình tự lập luận thì tính logic bị phá vỡ Cần sử dụng linh hoạt các kiểu câu nhất là những câu ghép chứa các cặp từ quan hệ để tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các vế

2 Rèn cho học sinh phương pháp chung khi làm một bài văn nghị luận.

Giống như các kiểu bài văn khác, bài văn nghị luận cũng có bốn bước Nhưng mỗi bước lại có yêu cầu, đặc điểm riêng Cụ thể:

Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý.

* Tìm hiểu đề: Đề bài văn nghị luận bao giờ cũng nêu ra một vấn đề để

bàn bạc và đòi hỏi người viết bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề đó Yêu cầu của việc tìm hiểu đề là xác định đúng vấn đề, phạm vi, tính chất của bài nghị luận để bài làm không bị sai lệch

Cách tìm hiểu đề:

- Thứ nhất: Đọc kỹ đề Gạch chân những từ ngữ quan trọng trong đề có tính chất định hướng làm bài về nội dung và phương pháp ( Chú ý các từ: suy nghĩ, phân tích, cảm nhận để thực hiện đúng phương pháp làm bài)

- Thứ hai: Tìm hiểu yêu cầu về kiểu bài để tránh nhầm lẫn về phương pháp

- Thứ ba: Tìm hiểu yêu cầu về nội dung (Đây chính là tìm hiểu về vấn đề cần nghị luận) để tránh lạc đề

Trang 9

- Thứ tư: Tìm hiểu về thao tác nghị luận: giải thích, chứng minh, bình luận…

- Thứ năm: Tìm hiểu về phạm vi dẫn chứng cần có trong bài làm: trong thực tế hay văn học…

Ví dụ: Tìm hiểu đề bài :

Phân tích nhân vật Vũ Nương trong “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ đề làm nổi bật số phận và vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến?

Với đề bài trên cần hướng dẫn học sinh xác định:

Kiểu bài: Nghị luận văn học (phân tích nhân vật)

Nội dung nghị luận: Số phận và vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nhân vật Vũ Nương

Thao tác nghị luận chính: Phân tích, chứng minh

Phạm vi dẫn chứng: Trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

* Tìm ý.

Sau khi tìm hiểu đề, xác định được vấn đề nghị luận cần hướng dẫn học sinh tìm ý bằng cách trả lời câu hỏi Tùy từng kiểu bài mà có những cách tìm ý khác nhau

Chẳng hạn với kiểu bài nghị luận xã hội thì ta tìm ý bằng cách đặt câu hỏi giải thích, bàn luận :

- Là gì? – Nghĩa là thế nào? - Tại sao lại thế?

- Vấn đề đó thể hiện trong cuộc sống và trong văn học ra sao?

- Vấn đề đó có ý nghĩa với cuộc sống con người và bản thân như thế nào? Còn với kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện ( phân tích nhân vật ) thì lại

có cách đặt câu hỏi như sau:

- Nhân vật đó là người như thế nào?

- Nhân vật đó được biểu hiện qua những đặc điểm cụ thể nào? (cuộc đời, tính cách, số phận )

- Những đặc điểm ấy được bộc lộ qua hoàn cảnh, tình huống cụ thể nào?

- Những chi tiết nghệ thuật nào thể hiện đặc điểm chủ đề của nhân vật?

- Nhân vật đó tiêu biểu cho hạng người nào và có vai trò gì trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm?

Bước 2: Lập dàn bài:

Đây là bước có vai trò quan trọng giúp cho học sinh lập được khung cơ bản của bài viết theo một hệ thống luận điểm Bởi vì các luận điểm trong dàn ý chính là nội dung sơ lược của bài văn được sắp xếp theo trình tự hợp lý, lôgic

Mở bài: Mục đích của mở bài là giới thiệu vấn đề nghị luận, vấn đề sẽ viết

trong bài

Khi viết mở bài thường là trả lời được câu hỏi: Bài viết này định viết về vấn đề gì? Dẫn chứng lấy ở đâu? Phương pháp luận chủ yếu là gì?

Thân bài: Phân tích, lý giải, chứng minh, bàn luận để làm rõ vấn đề nghị

luận đã nêu ở phần mở bài

Trang 10

Phần thân bài phải đủ ý, các ý phải được trình bày một cách rõ ràng, sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lý.

Mỗi ý trong phần thân bài được coi là một luận điểm Có luận điểm lớn lại được chia thành những luận điểm nhỏ và mỗi luận điểm thường được trình bày bằng một đoạn văn

Các đoạn văn trong phần thân bài phải đảm bảo tính liên kết về nội dung và hình thức

Kết bài: Phần kết bài thường là:

Khái quát, khẳng định lại vấn đề nghị luận

Liên hệ, rút ra bài học cho bản thân

Phần kết bài có vai trò tạo tính hoàn chỉnh cho bài viết Khi viết, cần chú ý cân xứng, phù hợp, tạo tính hô ứng chặt chẽ với phần mở bài

Bước 3: Viết bài: Đây là bước quan trọng, đánh giá được khả năng cảm nhận,

phân tích và kĩ năng diễn đạt của học sinh qua một bài văn hoàn chỉnh

Cách viết phần mở bài: Mở bài ở dạng đầy đủ thường có ba ý:

- Dẫn đề: Nêu xuất xứ của vấn đề hoặc lời dẫn ( có thể vào thẳng vấn đề

mà không cần lời dẫn)

- Nêu vấn đề: Đây là nội dung sẽ làm sáng tỏ ở thân bài

- Giới hạn vấn đề: Về phương pháp, dẫn chứng

Có hai cách viết mở bài: Trực tiếp và gián tiếp

Mở bài trực tiếp : Là nêu trực tiếp vấn đề nghị luận.

Ví dụ 1 : Đề 1: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm “Lặng lẽ

Sa Pa” của Nguyễn Thành Long mở bài như sau:

Tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” của nhà văn Nguyễn Thành Long là một truyện

ngắn đặc sắc được sáng tác năm 1970 trong chuyến ông đi thực tế ở Lào Cai Qua tình huống truyện hợp lí, chất văn xuôi nhẹ nhàng, nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm được hiện lên với bao phẩm chất tốt đẹp

Ví dụ 2: Đề 2: Suy nghĩ về câu tục ngữ: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”.

Nhân dân ta thường nhắc nhở nhau: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” Lời nhắc nhở của người xưa có ý nghĩa như thế nào chúng ta cùng tìm hiểu qua thực tể cuộc sống

Mở bài gián tiếp: Là dẫn dắt từ ý có liên quan gần gũi với vấn đề (có

thể từ ý chung, khái quát đến ý riêng, cụ thể; có thể dẫn dắt từ đề tài, chủ đề liên quan đến vấn; có thể từ một câu thơ hay lời hát…) rồi sau đó mới nêu vấn đề nghị luận Cách này dài, khó nhưng nếu làm tốt sẽ có sức lôi cuốn, hấp dẫn người đọc ngay khi tiếp cận bài văn

Trang 11

Một nhà thơ đã từng viết như vậy Song chỉ đến khi đọc truyện ngắn “

Lặng lẽ Sa Pa” của nhà văn Nguyễn Thành Long, tiếp xúc với các nhân vật

trong tác phẩm ta mới thấm thía hơn ý nghĩa của những vần thơ trên Đặc biệt nhân vật anh thanh niên đã để lại trong lòng người đọc hình ảnh về một con người lao động bình thường mà có ý nghĩa cao đẹp

Ví dụ đề 2: Trong đời sống hiện nay, không mấy ai không bị hấp dẫn bởi

vẻ đẹp bên ngoài, bởi danh vọng, địa vị Bàn về mối quan hệ giữa bản chất bên trong và hình thức bên ngoài của sự vật, hiện tượng, tục ngữ Việt Nam có câu:

“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” Chúng ta cùng tìm hiểu về câu tục ngữ trên qua thực

tế cuộc sống

Những điều cần tránh khi mở bài:

Tránh dẫn dắt vòng vo, xa quá với vấn đề nghị luận

Tránh đẫn dắt các ý không liên quan đến vấn đề

Tránh xa vào các ý cụ thể , chi tiết mà mình định viết ở thân bài

Yêu cầu của một mở bài hay:

Ngắn gọn trong dẫn dắt và giới hạn, nêu vấn đề nghị luận chính xác (Nhất

là nghị luận xã hội)

Đầy đủ thông tin về vấn đề, phạm vi, thao tác

Độc đáo: Cách nêu vấn đề bất ngờ, khác lạ nhưng lại gần gũi, tự nhiên tránh văn hoa, vụng về, gượng ép

Cách viết phần thân bài: Phần thân bài là giải quyết vấn đề qua hệ thống

luận điểm, các lí lẽ, dẫn chứng, cách lập luận của người viết Phần này gồm một

số đoạn văn liên kết với nhau Mỗi đoạn văn thường triển khai một luận điểm.Trong dàn bài các em đã xác định được luận điểm, khi viết văn từ các luận điểm đó giáo viên hướng dẫn các em khái quát luận điểm bằng một câu văn Cách triển khai luận điểm trong phần thân bài: Thông thường mỗi luận điểm trình bày bằng một đoạn văn Tuy nhiên có những luận điểm lớn giáo viên hướng dẫn học sinh chia ra những luận điểm nhỏ cho phù hợp

Có các cách trình bày nội dung trong một đoạn văn như: Diễn dịch, quy nạp, móc xích, tổng –phân – hợp Với văn nghị luận thường viết theo cách: tổng – phân – hợp, diễn dịch, quy nạp Tuy nhiên các luận điểm trong bài văn phải được trình bày một cách linh hoạt nên có thể trình bày tất cả các cách

- Khi viết đoạn văn theo cách tổng – phân – hợp cần theo trình tự: Câu nêu luận điểm hay còn gọi là câu chủ đề của đoạn (câu 1), rồi sau đó kết hợp đưa dẫn chứng, các câu sau dùng lý lẽ, lập luận phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm Câu kết đoạn khái quát lại, có thể nâng cao vấn đề

Ví dụ: Khi phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải

Luận điểm thứ nhất là: Bức tranh mùa xuân thiên nhiên

Ta có thể hướng dẫn học sinh cách viết như sau:

Mở đầu bài thơ là bức tranh mùa xuân thiên nhiên: ( 1)

“Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc

Trang 12

Ôi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng”” (2) Mùa xuân được hiện lên qua tâm hồn của nhà thơ là những hình ảnh “dòng sông xanh”, “hoa tím biếc” và tiếng “chim chiền chiện” hót vang trời (3) Chỉ

vài nét phác họa, tác giả đã gợi ra một bức tranh phong cảnh mùa xuân tươi tắn thơ mộng, đậm phong vị xứ Huế.(4) Bức tranh có không gian thoáng đãng, có màu sắc tươi tắn, hài hòa, có âm thanh rộn rã tươi vui, cảnh vật tràn đầy sức sống.(5) Hình ảnh thơ đẹp, giàu chất tạo hình, bộc lộ cảm xúc vui tươi trong trẻo, bộc lộ cái nhìn trìu mến của nhà thơ với cảnh vật mùa xuân.(6) Đặc biệt, cảm xúc của nhà thơ thể hiện trong một động tác trữ tình đón nhận vừa trân

trọng vừa tha thiết khi ông dang tay đón cả mùa xuân vào lòng mình (7) “Từng giọt” ở đây có thể hiểu là giọt sương hay giọt mưa xuân long lanh trong ánh

sáng trời xuân.(8) Nhưng nếu gắn với hai câu thơ trên lại có thể hiểu đó là giọt

âm thanh của tiếng chim chiền chiện.(9) Hiểu theo cách này, câu thơ có sự chuyển đổi cảm giác thật kỳ diệu: Từ thính giác sang thị giác và xúc giác.( 10)

Âm thanh tiếng chim hiện ra thành hình khối (giọt), thành ánh sáng và sắc màu (long lanh).(11) Hình ảnh thơ trở nên đẹp lung linh, đa nghĩa, vừa là thơ, vừa là nhạc, vừa là họa, diễn tả được niềm say sưa, ngây ngất của tác giả trước cảnh mùa xuân của đất trời.(12) Phải có một tình yêu tha thiết, một tâm hồn lạc quan với cuộc sống ông mới có thể đón nhận và viết về bức tranh mùa xuân hay như vậy.(13)

Trong đoạn văn trên câu (1) là nêu luận điểm

Khổ thơ (2) trích dẫn là dẫn chứng

Các câu tiếp sau là phân tích dẫn chứng để làm nổi bật luận điểm

Câu cuối (13) là câu kết đoạn

- Khi viết đoạn văn diễn dịch là: Câu chủ đề được nêu ở đầu đoạn văn Các câu sau là lý lẽ, dẫn chứng để làm rõ ý của câu chủ đề

Ví dụ: Tình yêu thương có ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống (1) Khi ta đem

tình yêu thương đến cho người khác và khi ta được người khác yêu thương thì

cả ta và người ấy đều thấy vui sướng, hạnh phúc.(2) Được đón nhận tình yêu thương của nhau, chúng ta sẽ thấy như được tiếp thêm sức mạnh, cho ta thêm lòng tin yêu cuộc sống.(3) Ta được đón nhận tình yêu thương từ nơi nhau là ta

đã biết cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ nhau để sống tốt, để sống với nhau trong tình

thân ái, yêu thương.(4) Nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Người với người sống để yêu nhau”.(5) Đặc biệt tình yêu thương còn cảm hóa được cái xấu, cái ác, là nhịp

cầu xóa bỏ những ngăn cách, hận thù

Đoạn văn trên được trình bày theo cách diễn dịch Câu (1) nêu luận điểm Còn các câu sau (2,3,4,5) làm sáng tỏ luận điểm

Trang 13

Trên đây chỉ là hai cách thường sử dụng để viết đoạn văn triển khai luận điểm, mỗi thầy cô có những cách khác nhau để hướng dẫn học sinh sao cho hiệu quả.

Chú ý: Các đoạn văn trong phần thân bài phải được trình bày mạch lạc,

phải có sự liên kết chặt chẽ, giữa các đoạn văn cần có từ liên kết

Cách viết phần kết bài:

Phần kết bài bao giờ cũng là một đoạn văn Đoạn văn kết bài có ý khái quát lại toàn bộ vấn đề đã trình bày ở phần trên, có thể nâng cao,có thể còn hướng cho ta một thái độ, một bài học trong cuộc sống

Ví dụ: Phần kết bài của đề: Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt.

Qua phần phân tích trên ta thấy “Bếp lửa” là một bài thơ hay, tràn đầy

những kỉ niệm xúc động về tình bà cháu, về tấm lòng kính yêu của người cháu đối với bà.(1) Tình cảm ấy là biểu hiện cụ thể, đẹp đẽ, hài hòa giữa tình cảm gia đình và tình yêu đất nước.(2) Giọng thơ trầm lắng, sâu sắc của nhà thơ Bằng Việt đã đánh thức trong lòng chúng ta thái độ trân trọng kỉ niệm tuổi thơ, trân trọng kính yêu người bà và có tình yêu quê hương đất nước.(3)

Đoạn văn trên: Câu (1) khẳng định lại nội dung

Câu (2) nâng cao nội dung

Câu (3) bài học liên hệ bản thân

Bước 4: Đọc lại bài và soát lỗi:

Sau khi hướng dẫn học sinh viết bài xong, giáo viên nên hướng dẫn các

em thói quen đọc lại bài và sửa những lỗi như : Lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu, lỗi liên kết giữa các phần trong bài xem đã hợp lý chưa Nếu cần thiết và hợp lý phải chỉnh sửa lại cho hoàn chỉnh

3 Hướng dẫn học sinh kĩ năng viết văn nghị luận theo từng kiểu bài.

3.1 Kiểu bài nghị luận xã hội.

Nghị luận xã hội là những bài văn nghị luận bàn về các vấn đề xã hội nhằm

thể hiện suy nghĩ, thái độ, tiếng nói chủ quan của người viết về vấn đề đặt ra, góp phần tạo những tác động tích cực tới con người, bồi đắp những giá trị nhân văn, thúc đẩy sự tiến bộ chung của xã hội

Để viết tốt bài văn nghị luận xã hội, người học sinh ngoài những kĩ năng làm văn nghị luận thông thường còn cần có vốn từ phong phú có những hiểu biết nhất định về xã hội

3.1.1 Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống.

3.1.1.1.Hướng dẫn chung:

Đây là kiểu bài bàn về một sự việc, hiện tượng trong đời sống có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen , đáng chê, hay có vấn đề đáng suy nghĩ

- Yêu cầu về nội dung: Bài nghị luận phải nêu rõ được sự việc, hiện tượng

có vấn đề, phân tích mặt đúng, sai, mặt lợi, mặt hại của nó, chỉ ra nguyên nhân, giải pháp và bày tỏ thái độ, ý kiến nhận định của người viết

Trang 14

- Yêu cầu về hình thức: Bài viết phải có bố cục mạch lạc, có luận điểm rõ ràng, luận cứ phải xác thực, phép lập luận phù hợp, lời văn chính xác, sinh

- Tìm ý: Giáo viên hướng dẫn các em tìm ý bằng cách trả lời câu hỏi:

Sự việc hiện tượng ấy là như thế nào?

Những biểu hiện (thực trạng) của sự việc hiện tượng ấy ra sao?

Nguyên nhân dẫn đến sự việc, hiện tượng đó?

Tác hại hoặc tác dụng của sự việc hiện tượng đó là gì?

Những giải pháp để khắc phục ( nếu là hiện tượng xấu) Những biện pháp

để phát huy (nếu là hiện tượng tốt)

Bài học nhận thức

Bước 2: Lập dàn bài: giáo viên hướng dẫn học sinh lập dàn bài:

Dàn bài khái quát:

Mở bài: Giới thiệu sự việc, hiện

- Phân tích các nguyên nhân dẫn đến

sự việc, hiện tượng đó

- Đánh giá tác hại của sự việc hiện tượng (nếu sự việc, hiện tượng xấu) tác dụng của sự việc hiên tượng (nếu

là sự việc hiện tương tốt)

- Những giải pháp khắc phục (hoặc biện pháp phát huy)

Kết bài:

- Kết luận, khẳng định hoặc phủ định vấn đề

- Bài học hoặc lời khuyên

Bước 3: Viết bài: Giáo viên hướng dẫn học sinh viết bài văn theo dàn ý đã

lập

Bước 4: Đọc lại bài và soát lỗi.

Trang 15

3.1.1.3 Vận dụng vào đề bài cụ thể:

Đề bài: Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn Nhiều bạn vì mải chơi

mà sao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác Hãy nêu ý kiến của em

về hiện tượng đó

Bước 1 : Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề và tìm ý:

Về kiểu bài: Nghị luận về một hiện tượng trong đời sống Thao tác chủ yếu là: giải thích, chứng minh, bình luận, đánh giá tổng hợp vấn đề

Nội dung: Bàn về hiện tượng trò chơi điện tử đối với học sinh

Phạm vi dẫn chứng: Thực tế cuộc sống nhất là trong học đường

Các ý trong bài là:

- Giải thích khái niệm trò chơi điện tử.

- Nêu những biểu hiện của trò chơi điện tử.

- Phân tích nguyên nhân dẫn đến việc học sinh mải chơi điện tử mà sao nhãng học tập

- Đánh giá tác dụng - tác hại của trò chơi điện tử đối với học sinh

- Biện pháp khắc phục hiện tượng đó

- Bài học cho bản thân và cho mỗi người

Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh lập dàn bài chi tiết:

* Mở bài: Dẫn dắt và nêu vấn đề cần nghị luận.

Thời đại công nghệ thông tin đang ngày càng phát triển nhất là các chức năng của máy tính điện tử

Học sinh hôm nay cũng có nhiều trò chơi hiện đại tiêu biểu là trò chơi điện

tử Nhiều bạn mải chơi mà sao nhãng việc học tập

Chúng ta cùng nhau suy nghĩ về hiện tượng này

*Thân bài:

1 Giải thích trò chơi điện tử: là những trò chơi được chơi trên thiết bị điện

tử thường được gọi là game

2 Những biểu hiện thực tế của trò chơi điện tử:

- Các quán điện tử có ở mọi nơi từ thành thị đến các nẻo đường thôn xóm

- Món tiêu khiển hấp dẫn đó thu hút mọi đối tượng đặc biệt là học sinh

- Nhiều bạn ngồi hàng giờ, hàng ngày để chơi mà quên học thậm chí bỏ học để chơi và trong đầu lúc nào cũng nghĩ đến các trò chơi đó Hơn nữa nhiều bạn mải chơi mà bỏ học và mắc nhiều sai lầm khác

3 Phân tích những nguyên nhân dẫn đến việc học sinh mải chơi điện tử mà sao nhãng học tập có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do:

- Trò chơi điện tử hấp dẫn, người chơi dễ bị cuốn hút

- Do bản thân mỗi người chưa có ý thức tự chủ, bị bạn bè rủ rê

- Do gia đình, bố mẹ còn lỏng lẻo trong việc quản lí con cái

4.Tác dụng - tác hại của trò chơi điện tử đối với học sinh

• Trò chơi điện tử có thể giúp giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng

• Học sinh ham mê điện tử quá thì rất nguy hại:

Trang 16

- Mất thời gian khiến học sinh sao nhãng học tập, kết quả học tập kém, trốn học, bỏ học.

- Ảnh hưởng đến sức khỏe: cận thị, mệt mỏi Chơi game nhiều các em còn sống với thế giới ảo, đầu óc mụ mẫm, thiếu thực tế Bố mẹ lo lắng, kinh tế thiệt hại Có khi còn mắc tệ nạn xã hội

5 Những giải pháp khắc phục:

- Mỗi học sinh cần tự giác học tập không chơi điện tử

- Gia đình quản lí con em chặt chẽ

- Nhà trường, các tổ chức xã hội cần có các sân chơi lành mạnh

- Các cơ quan chức năng cần kiểm soát chặt chẽ các dịch vụ điện tử

Đây là đoạn văn mở bài theo cách dẫn dắt vấn đề từ ý chung, ý khái quát (câu1, 2), rồi đến nêu cụ thể vấn đề cần nghị luận và giới hạn dẫn chứng (câu 3, 4)

Viết phần thân bài: Phần thân bài gồm có nhiều đoạn văn nên mỗi đoạn có

những cách triển khai phù hợp tạo tính linh hoạt, tạo sự liên kết chặt chẽ Dù triển khai theo cách nào thì mỗi đoạn văn cũng làm sáng tỏ một luận điểm

Ví dụ: Đoạn văn triển khai luận điểm: Tác hại của trò chơi điện tử đối với học sinh:

Học sinh ham mê điện tử sẽ dẫn đến những tác hại khôn lường.(1) Thật vậy, khi chơi điện tử nhiều học sinh sẽ sao nhãng học tập, chán học trốn tiết, bỏ học.(2) Như vậy, vô tình sự ham chơi nhất thời có thể hủy hoại tương lai chính bản thân các em.(3) Ham chơi điện tử ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe: mắt cận thị, người mệt mỏi.(4) Chơi điện tử còn khiến cho tâm hồn bị đầu độc, sống với thế giới ảo trong các trò chơi với đầy bạo lực chém giết cùng những mưu mô, thủ đoạn.(5) Hơn nữa, ham chơi điện tử còn tiêu tốn tiền bạc một cách vô ích, làm thay đổi nhân cách con người: dối trá, trộm cắp.(6) Có những bạn nói dối bố mẹ

đi học nhưng lại đi chơi điện tử, có bạn chơi điện tử muộn học lại nói dối cô là hỏng xe.(8) Có bạn còn lấy gạo của mẹ đem bán để có tiền chơi điện tử…(9)Và

Trang 17

khi bị ảnh hưởng nội dung không lành mạnh trong trò chơi, nhiều bạn còn mắc vào các tệ nạn xã hội (10)

Đây là một đoạn văn trong phần thân bài được trình bày theo cách diễn dịch Câu (1) của đoạn nêu luận điểm về tác hại của trò chơi điện tử Các câu sau làm

rõ những tác hại với các lí lẽ và dẫn chứng cụ thể

Viết phần kết bài: Giáo viên hướng dẫn học sinh viết phần kết bài cũng bằng

một đoạn văn

Tóm lại, trò chơi điện tử rất nguy hại nên mỗi học sinh chúng ta cần xác định

được nhiệm vụ của mình là học tập và tránh xa trò chơi điện tử Cùng với các bạn hãy nêu cao khẩu hiệu “nói không với trò chơi điện tử” để môi trường học tập của chúng ta được trong sạch, lành mạnh hơn

Đoạn văn kết bài vừa khái quát lại vấn đề lại vừa mở ra ý liên hệ, bài học, phương hướng hành động cho bản thân và cho mọi người Đoạn văn có từ liên kết, số lượng câu tương ứng, cân đổi với phần mở bài

Chú ý: Trên lớp có thể không đủ thời gian để các em thực hành viết cả bài

văn, giáo viên hướng dẫn học sinh viết các đoạn văn, tham khảo các đoạn văn mẫu, sứa các lỗi mà các em mắc phải Giao cho các em về nhà hoàn thiện các phần còn lại để tạo thành một bài văn hoàn chỉnh sau đó kiểm tra, sửa lỗi cho các em

Bước bốn: Đọc lại bài văn và sửa lỗi

Ngoài các bài văn kiểm tra theo chương trình, đối với những bài tập viết văn, giáo viên nên có các hình thức kiểm tra để uốn nắn các em kịp thời nhằm đạt được kết quả tốt nhất

3.1.2 Kiểu bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý.

3.1.2.1 Hướng dẫn chung:

Đây là kiểu bài văn nghị luận bàn về một vấn đề tư tưởng đạo lý, một vấn đề đạo đức, một quan điểm nhân sinh Các tư tưởng đó có tính khái quát, tính quy luật cao

Về nội dung: Bài nghị luận phải làm sáng tỏ vấn đề tư tưởng, đạo lý bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích, chỉ ra chỗ đúng, chỗ sai của vấn đề đó, nhằm khẳng định quan điểm của người viết

Về hình thức: Ngoài các yêu cầu chung của một bài nghị luận, bài này nghiêng về việc nêu khái niệm, lí lẽ nhiều hơn, lời văn chính xác, sinh động

3.1.2.2 Hướng dẫn cụ thể:

Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý: Xác định được vấn đề cần nghị luận, phạm vi dẫn

chứng, các luận điểm cần có, thao tác nghị luận

Tìm ý theo các câu hỏi: Câu hỏi giải thích: Là gì? Nghĩa là thế nào? Vấn đề

đó là gì? Tại sao lại thế? Muốn như thế thì phải làm gì? Vấn đề đó biểu hiện trong thực tế, văn học ra sao? Vấn đề đó có ý nghĩa như thế nào với xã hội, bản thân? Những tư tưởng lệch lạc vấn đề là gì? Bài học rút ra? Tùy theo yêu cầu của đề mà có các ý cho phù hợp

Bước 2: Dàn ý của bài văn nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí có 3 phần:

Trang 18

Nhận định, đánh giá vấn đề tư tưởng

đạo lí trong bối cảnh cuộc sống riêng,

2 Nhận định, đánh giá ( tức là bình luận) vấn đề tư tưởng đạo lí

- Bộc lộ ý kiến: vấn đề đúng hay sai, vấn đề hoàn toàn đúng hay đúng một phần

Dùng lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng

tỏ vấn đề theo quan điểm, đánh giá của người viết ( trả lời câu hỏi: tại sao đúng? tại sao chưa đúng? Đúng một phần hoặc sai một phần như thế nào? Kết hợp lí lẽ, dẫn chứng để phân tích,

lí giải)

- Vấn đề có ý nghĩa, tác dụng như thế nào? Có cần bổ sung gì?

- Vấn đề thể hiện trong mỗi hoàn cảnh như thế nào? Có thể so sánh, đối chiếu

Đề bài: Suy nghĩ của em về câu ca dao:

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Trang 19

Bước 1:Tìm hiểu đề, tìm ý:

Đề bài thuộc kiểu bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý

Vấn đề nghị luận là con người sống trong một cộng đồng phải biết yêu thương nhau

Dẫn chứng lấy trong thực tế cuộc sống và văn học

Các ý trong bài:

Giải thích câu ca dao

Bàn luận, đánh giá về câu ca dao là hoàn toàn đúng Phân tích, lý giải để làm sáng tỏ vấn đề tư tưởng

Đặt vấn đề trong bối cảnh xưa và nay

Phê phán các tư tưởng lệch lạc không biết thương yêu, đùm bọc nhau

Những phương hướng, hành động đúng từ câu ca dao

Bước 2:Lập dàn bài:

*Mở bài:

- Một trong những đạo lý truyền thống quý báu của dân tộc ta là đoàn kết

- Trích dẫn: Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

- Vấn đề: Trong một cộng đồng xã hội người ta sống với nhau tuy có thể không cùng họ hàng ruột thịt, nhưng cùng một môi trường sống thì phải biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau

* Thân bài:

1: Giải thích

Bầu, bí: là hai cây khác nhau về hình dáng, màu sắc của lá cây, hoa trái,

nhưng cùng loại thân mềm, giây leo, đều phải dựa vào giàn mà bò để phát triển sinh sống

Giàn: nơi ở, điều kiện sống, phát triển của bầu bí…

Tuy chúng khác giống nhưng phải thương lấy nhau vì chung một giàn, chung điều kiện sống Bầu bí thương nhau là không chen lấn, chiếm chỗ của nhau trên giàn

Câu ca dao gửi một lời khuyên: Mượn hình ảnh ẩn dụ bầu bí câu ca dao

muốn khuyên người đời: Người ta tuy dòng họ, huyết thống khác nhau nhưng cùng sống với nhau trong một làng xóm, quê hương, đất nước thì phải đoàn kết thương yêu nhau, che chở cho nhau

2: Đánh giá - Bàn luận về vấn đề tư tưởng trong câu ca dao:

- Câu ca dao là lời khuyên đúng đắn

+ Sống yêu thương, đoàn kết ta sẽ có sức mạnh để cùng phát triển, cùng xây dựng kinh tế, bảo vệ đất nước

+ Nếu trong cùng một tập thể, cùng một làng, xóm mà không đùm bọc yêu thương nhau thì khó có thể tồn tại lâu dài được

Dẫn chứng: Tinh thần đoàn kết đùm bọc của nhân dân ta đã làm nên những chiến công vĩ đại, bảo vệ được non sông đất nước và cuộc sống cho mỗi dân tộc như hội nghị Diên Hồng thời Trần là khối đoàn kết vua tôi triều đình và nhân

Trang 20

dân một lòng chống quân xâm lược nhà Nguyên bảo vệ đất nước Con đường Trường Sơn – con đường Hồ Chí Minh là khối đoàn kết vĩ đại của quân và dân

ta, của các dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước

- Câu ca dao có ý nghĩa to lớn với chúng ta trong mọi thời đại

+ Ngày nay trong phạm vi nhỏ mỗi người phải vì mọi người, mọi người phải vì mỗi người, không nên kèn cựa, lấn át tranh nhau về mọi quyền lợi Các dòng họ, các dân tộc học hỏi lẫn nhau cùng vươn lên

+ Nói rộng ra cả nước: Nhà nước phải có nhiều chính sách ưu tiên đối với dân tộc ít người ở vùng sâu vùng xa đặc biệt là giáo dục và đào tạo nhân tài, đầu tư vốn trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến để họ xây dựng quê hương lớn mạnh, tiến bộ văn minh theo kịp miền xuôi

- Phê phán nhiều cá nhân và tập thể còn có tư tưởng cá nhân, cục bộ, thiếu tinh thần yêu thương đoàn kết

- Bài học nhận thức, hành động: Mỗi cá nhân, tập thể, các địa phương không vì lợi ích cục bộ mà phá hoại khối đoàn kết dân tộc chung Cần biết chăm lo xây dựng mối đoàn kết gắn bó thân thiện giữa các dòng họ dân tộc cùng cư trú trong một địa bàn dân cư và cả nước

* Kết bài:

Tổng kết, bài học nhận thức mới

Khuyên bảomọi người hành động đúng

Thứ ba: Hướng dẫn học sinh viết bài theo dàn ý đã lập Cách triển khai các ý

của dạng bài này tương tự như phần nghị luận về sự việc, hiện tượng trong đời sống

Thứ tư: Đọc lại bài và sửa lỗi

Sau khi các em viết bài giáo viên nên kiểm tra, sửa chữa cho các em

3.2 Kiểu bài nghị luận văn học.

Khác với bài nghị luận xã hội, để làm tốt bài nghị luận văn học, ngoài kĩ năng làm văn nghị luận giáo viên yêu cầu học sinh nắm chắc kiến thức về tác phẩm văn học: tác giả, hoàn cảnh sáng tác, nội dung, nghệ thuật Đối với tác phẩm thơ phải thuộc lòng, nắm được bố cục Đối với tác phẩm truyện phải tóm tắt được các ý cơ bản, đặc điểm của nhân vật để vừa có những nhận xét, đánh giá đúng về tác phẩm lại có những dẫn chứng đưa vào bài viết Muốn thế, trong các giờ dạy văn bản giáo viên nên giúp các em nắm chắc các yêu cầu đó

3.2.1 Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).

Trang 21

Bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích có bố cục mạch lạc, có lời văn chuẩn xác gợi cảm.

ra sao?) Tùy từng đối tượng mà có câu hỏi khác nhau

Bước 2: Lập dàn bài: Với bài nghị luận về nhân vật

Mở bài: Giới thiệu tác phẩm, nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của người viết về

Trong quá trình phân tích có thể kết hợp phân tích giữa các đặc điểm nhân vật và nghệ thuật

- Đánh giá chung: Nhân vật đó tiêu biểu cho hạng người nào trong xã hội? Nhân vật góp phần đem lại sự thành công cho tác phẩm như thế nào?

Kết bài: Khái quát lại đặc điểm nhân vật Liên hệ, bài học cho bản thân.

Bước 3: Viết bài:

Sau khi lập dàn bài hướng dẫn các em viết bài văn theo dàn ý đã lập Cần đảm bảo giữa các phần có sự liên kết tự nhiên, hợp lý Người viết biểu hiện được sự cảm thụ trình bày, diễn đạt riêng, có cảm xúc

Lời văn phân tích khác với tự sự, Sử dụng các chi tiết trong truyện không phải kể tóm tắt mà để phân tích bàn luận (tại sao chi tiết này lại biểu hiện nhận xét đó? hoặc chi tiết nói lên đặc điểm tính cách gì của nhân vật? )

Bước 4: Đọc lại bài và soát lỗi.

Kiểu bài: Nghị luận về nhân vật

Thao tác chủ yếu là: Phân tích

Trang 22

Nội dung: Phân tích nhân vật ông Hai ( là người nông dân có tình yêu làng, yêu nước).

Phạm vi dẫn chứng: Trong tác phẩm “Làng”của nhà văn Kim Lân.

* Các ý để làm sáng tỏ vấn đề:

- Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai:

+ Chi tiết tản cư nhớ làng

+Theo dõi tin tức kháng chiến

+ Tâm trạng khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo Tây

+ Niềm vui khi tin đồn được cải chính

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

+ Tình huống truyện đặc sắc

+ Các chi tiết miêu tả nhân vật

+ Các hình thức trần thuật

Bước 2: Lập dàn bài:

* Mở bài: Giới thiệu tác giả Kim Lân , tác phẩm Làng ra đời trong thời kì

đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp

Nhận xét khái quát về nhân vật Ông Hai: Là người nông dân có tình yêu làng và yêu nước sâu sắc

* Thân bài:

1 Nhân vật ông Hai là người nông dân có tình yêu làng, yêu nước sâu sắc

- Khi ông Hai đi tản cư: Khi đi tản cư, ông luôn nhớ về làng, khoe về làng chợ Dầu của mình Ông luôn theo dõi tin tức kháng chiến (dẫn chứng)

- Khi ông Hai nghe tin làng chợ Dầu theo Tây:

Ông sững sờ khi mới nghe tin “xấu hổ cúi gằm mặt xuống mà đi”.

Về đến nhà: Nhìn thấy các con, càng nghĩ ông càng tủi hổ chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi.

Ông luôn bị ám ảnh khủng khiếp, hoảng hốt, giật mình Không khí nặng nề bao trùm cả nhà suốt mấy ngày hôm sau (dẫn chứng)

Tình yêu làng, yêu nước còn thể hiện trong những cuộc xung đột gay gắt: Đã

có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá Nhưng tình yêu nước, lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông dứt khoát

“Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù” Nói cứng như vậy

nhưng thực lòng ông đau như cắt

Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động

nhất khi ông tâm sự với thằng con út ngây thơ Những câu nói: “ Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”, “Anh em đồng chí biết cho bố con ông Cụ Hồ trên đầu

có soi xét cho bố con ông” đã bộc lộ tình yêu sâu nặng của ông đối với làng Chợ

Dầu, tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng, với kháng chiến

- Khi ông Hai nghe tin đồn được cải chính:

Gánh nặng tâm lí được trút bỏ, ông vui sướng tột cùng và càng tự hào về làng chợ Dầu:

Ngày đăng: 10/01/2016, 21:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp chất lượng môn Văn khối 9 trước khi dạy thực nghiệm. - HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 9 LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
Bảng t ổng hợp chất lượng môn Văn khối 9 trước khi dạy thực nghiệm (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w