1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

GIÁO DỤC Ý THỨC VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG CHO HỌC SINH THCS

104 2,8K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 7,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biển và đại dương chiếm 71% diện tích bề mặt trái đất. Biển ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với loài người, đặc biệt với các quốc gia ven biển. Việt Nam có đường bờ biển dài 3260 km trải dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2 với hàng ngàn đảo lớn nhỏ, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa án ngữ trên biển Đông một ưu thế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng an ninh và bảo vệ đất nước chúng ta. Ngày nay trên thế giới xu hướng chung của tất cả các nước đều muốn vươn ra biển, làm chủ biển khơi. Nguyên nhân là do dân số ngày càng tăng, không gian sinh tồn trên đất liền trở nên chật hẹp, nhiều nước muốn vươn ra biển để mở rộng không gian sinh tồn; mặt khác tài nguyên trong trong biển lại vô cùng phong phú, khoa học công nghệ đã phát triển vượt bậc, cho phép loài người có thể nghiên cứu, thăm dò, khai thác hiệu quả hơn, vươn ra xa hơn. Việc vươn ra biển của các nước dẫn đến tình hình tranh chấp về biển đảo trên thế giới hiện nay diễn ra hết sức quyết liệt và ngày càng trở nên phức tạp. Khu vực Biển Đông là nơi có các cuộc tranh chấp phức tạp nhất hiện nay, bởi liên quan đến lợi ích của nhiều nước. Biển Đông hiện nay đang xảy ra tranh chấp giữa các nước: Việt Nam; Trung Quốc; Philippin; Malaixia, Brunei và Đài Loan. Nguyên nhân của các cuộc tranh chấp này là do vai trò to lớn của biển, đảo đối với mỗi quốc gia, dân tộc trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự. Việc phân định biên giới trên biển rất khó khăn và phức tạp, vì có nhiều vùng chồng lấn và những vấn đề do lịch sử để lại, trong khi các nước lại có những quan điểm rất khác nhau về phân định các vùng biển. Nhưng có lẽ nguyên nhân cơ bản nhất là do tham vọng các nước, nhất là các nước lớn muốn sử dụng ưu thế về kinh tế và quân sự để chiếm phần lợi về mình.

Trang 1

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI

“GIÁO DỤC Ý THỨC VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

QUÊ HƯƠNG CHO HỌC SINH THCS”

Lĩnh vực: 02

Tên lĩnh vực: Khoa học xã hội và hành vi

NHÓM THỰC HIỆN:

1 Lê Thi Bích Hồng : Nhóm trưởng

2 Nguyễn Thị Thu Yến : Thành viên

Trang 2

NỘI DUNG TRANG

3 Mục tiêu nghiên cứu

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÍ KHẲNG ĐỊNH HOÀNG SA,

TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM

1.1 Biển Đông và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt

Nam

1.1.1 Vài nét khái quát chung về biển Đông

1.1.2 Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

1.2 Phạm vi vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam

1.3 Cơ sở pháp lí khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ

quyền của Việt Nam

1.3.1 Nguồn sử liệu Việt nam

1.3.2 Nguồn sử liệu nước ngoài

1.3.3 Nguồn sử liệu Trung Quốc

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH

THCS VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG

CHƯƠNG 3: NHỮNG NỘI DUNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN

ĐẢO CẦN GIÁO DỤC CHO HỌC SINH THCS

3.1 Giáo dục cho học sinh về vai trò to lớn của biển, đảo trong

5141414141415

1515

151822

232355687477

Trang 3

phát triển kinh tế- xã hội, trong Lịch sử dựng nước và giữ nước

của dân tộc

3.2 Giáo dục cho học sinh ý thức về chủ quyền lãnh thổ quốc

gia nói chung, chủ quyền biển, đảo Tổ quốc nói riêng

3.3 Giáo dục cho học sinh việc Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ

ngoài biển Đông của Việt Nam là đi ngược lại với luật pháp

quốc tế và vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam

CHƯƠNG 4: CÁC HÌNH THỨC GIÁO DỤC CHỦ QUYỀN

BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG CHO HỌC SINH THCS

4.1 Giáo dục thông qua giờ chào cờ đầu tuần

4.2 Giáo dục thông qua tích hợp, lồng ghép vào các giờ chính

khoá môn Lịch sử, Địa lý, Văn học, GDCD, HĐGDNGLL

4.3 Giáo dục chủ quyền biển đảo quê hương thông qua hoạt

động ngoại khóa (HĐNK) Lịch sử

KẾT QUẢ

KẾT LUẬN KHOA HỌC

HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

7780

81

8282848795979799101

CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Học sinh: HS

Trang 4

Trung học cơ sở: THCS

Trung học phổ thông: THPT

Giáo dục: GD

Hoạt động ngoại khoá: HĐNK

Giáo dục công dân: GDCD

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: HĐGDNGLL

Công nghệ thông tin: CNTT

Trang 5

Thứ nhất: Do hiểu được vai trò to lớn của biển đảo và tình hình biển Đông

Biển và đại dương chiếm 71% diện tích bề mặt trái đất Biển ngày càngtrở nên quan trọng hơn đối với loài người, đặc biệt với các quốc gia ven biển Việt Nam có đường bờ biển dài 3260 km trải dài từ Móng Cái (Quảng Ninh)đến Hà Tiên (Kiên Giang), vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2 vớihàng ngàn đảo lớn nhỏ, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ánngữ trên biển Đông - một ưu thế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sựnghiệp phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng- an ninh và bảo vệ đất nướcchúng ta

Ngày nay trên thế giới xu hướng chung của tất cả các nước đều muốnvươn ra biển, làm chủ biển khơi Nguyên nhân là do dân số ngày càng tăng,không gian sinh tồn trên đất liền trở nên chật hẹp, nhiều nước muốn vươn rabiển để mở rộng không gian sinh tồn; mặt khác tài nguyên trong trong biển lại

vô cùng phong phú, khoa học - công nghệ đã phát triển vượt bậc, cho phéploài người có thể nghiên cứu, thăm dò, khai thác hiệu quả hơn, vươn ra xahơn Việc vươn ra biển của các nước dẫn đến tình hình tranh chấp về biển đảotrên thế giới hiện nay diễn ra hết sức quyết liệt và ngày càng trở nên phức tạp.Khu vực Biển Đông là nơi có các cuộc tranh chấp phức tạp nhất hiện nay, bởiliên quan đến lợi ích của nhiều nước Biển Đông hiện nay đang xảy ra tranhchấp giữa các nước: Việt Nam; Trung Quốc; Philippin; Malaixia, Brunei vàĐài Loan Nguyên nhân của các cuộc tranh chấp này là do vai trò to lớn củabiển, đảo đối với mỗi quốc gia, dân tộc trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế vàquân sự Việc phân định biên giới trên biển rất khó khăn và phức tạp, vì cónhiều vùng chồng lấn và những vấn đề do lịch sử để lại, trong khi các nước lại

có những quan điểm rất khác nhau về phân định các vùng biển Nhưng có lẽnguyên nhân cơ bản nhất là do tham vọng các nước, nhất là các nước lớnmuốn sử dụng ưu thế về kinh tế và quân sự để chiếm phần lợi về mình

Trang 6

Thứ hai: Do Trung Quốc vi phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Qua tìm hiểu trên mạng Internet và theo dõi chương trình thời sự trên

vô tuyến truyền hình, chúng em biết rằng: Từ năm 2009 tới nay, Trung Quốcliên tiếp đơn phương gây hấn với Việt Nam và các nước tuyên bố chủ quyền

ở biển Đông ở nhiều cấp độ khác nhau nhưng đều nhằm thực hiện âm mưuđộc chiếm biển Đông Vị trí các điểm Trung Quốc gây hấn đều nằm trongđường chín đoạn mà Trung Quốc tự vẽ ra và tuyên bố đơn phương

Theo quan sát của các chuyên gia, các hành động mang tính gây hấnđơn phương của Trung Quốc trong 4 năm qua có một điểm chung là đều diễn

ra trước mỗi kỳ đối thoại Shangri-la

Cụ thể, 5h58 phút ngày 26/5/2011, trước khi kỳ đối thoại Shangri-ladiễn ra 10 ngày, 3 tàu hải giám Trung Quốc đã vào sâu trong thềm lục địa vàvùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để cắt cáp tàu Bình Minh 02 của tậpđoàn dầu khí quốc gia Việt Nam Vị trí mà 3 tàu hải giám Trung Quốc pháhoại thiết bị của tàu Bình Minh 02 chỉ cách mũi Đại Lãnh, Phú Yên khoảng

120 hải lý

Tương tự, trước thềm đối thoại Shangri la năm 2012, Trung Quốc tiếptục có hành động gây hấn đơn phương nghiêm trọng khiến tình hình biểnĐông tiếp tục căng thẳng hơn Sự việc xảy ra vào tháng 4/2012, Trung Quốcchiếm quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough của Philippines bằng việc kéogần 100 tàu thuyền các loại ra bãi cạn này chiếm đóng

Tiếp tục chiêu trò cũ, ngày 20/3/2013, trước thềm đối thoại Shangri-la

2013 khoảng 1,5 tháng, một tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi trong lúc đangđánh bắt tại ngư trường truyền thống thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam

đã bị tàu Trung Quốc truy đuổi và bắn cháy cabin

An toàn Biển Đông bị đe dọa nghiêm trọng khi Trung Quốc hạ đặt tráiphép giàn khoan nước sâu Hải Dương 981 vào vị trí hoàn toàn nằm trên thềmlục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam chỉ cách đảo Lý Sơn (Quảng

Trang 7

Ngãi) 120 hải lý về phía đông của Trung Quốc vào ngày 2/5/2014 - trướcthềm hội nghị Shangri-la 2014 một tháng khiến tình hình Biển Đông trở nênđặc biệt nguy hiểm.

Giàn khoan Hải Dương 981 trên biển Đông vào tháng 5-2014

Không dừng lại ở đó, Trung Quốc còn liên tiếp đưa các loại tàu, trong

đó có cả tàu chiến, tàu ngầm tên lửa, máy bay vào vùng biển Việt Nam và cốtình gây va chạm, khiêu khích lực lượng chấp pháp của Việt Nam trên biển,làm cho tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng, ảnh hưởng trực tiếp đến anninh khu vực và khiến nhiều nước trên thế giới quan ngại

Trang 8

Tàu Trung Quốc đâm tàu Việt Nam, dùng vòi rồng làm vỡ cửa kính.

Tàu kiểm ngư Việt Nam (phải) bị tàu Trung Quốc đâm khi đang thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo trong đợt Trung Quốc đưa giàn khoan trái phép vào vùng biển của

Việt Nam tháng 5-2014

Ngang nhiên hơn nữa, Trung Quốc còn tiến hành xây dựng, cải tạo…trên quần đảo Trường sa, Hoàng sa của chúng ta để nhằm biến hai quần đảonày thành của chúng Tiêu biểu là: Trung Quốc đã xây hai đường băng tại haibãi đá Subi và Chữ Thập Đến tháng 9/2015, Trung Quốc lại tiến hành xâythêm đường băng trái phép thứ 3 trên đá Vành khăn- một trong những hònđảo nhân tạo mà Bắc Kinh đã bồi đắp phi pháp tại quần đảo Trường sa củaViệt Nam

Trang 9

Ảnh chụp từ vệ tinh ngày 2.4.2015 cho thấy công trình đường băng phi pháp của Trung

Quốc ở đá Chữ Thập

Công trình Trung Quốc xây phi pháp trên Đá Xu Bi của Việt Nam

Quy hoạch đá Vành Khăn của Trung Quốc.

Trang 10

Đến tháng 10/2015, Trung Quốc khánh thành hai ngọn hải đăng tại đáChâu Viên và Gạc Ma thuộc quần đảo Trường sa của Việt Nam

Một trong hai ngọn hải đăng tại Trường Sa mà Trung Quốc mới khánh thành

Ngoài ra, Trung Quốc còn tiến hành nhiều hoạt động bồi đắp, xâydựng, cải tạo…phi pháp khác trên hai quần đảo của chúng ta

Đảo nhân tạo Trung Quốc xây trái phép trên biển Đông

Trang 11

Bãi đá Gạc Ma tại thời điểm Trung Quốc xây dựng trái phép

Một cơ sở Trung Quốc xây dựng trái phép gần bãi Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa

của Việt Nam

Ảnh chụp hoạt động xây dựng phi pháp của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa của

Việt Nam

Trang 12

Bia chủ quyền TQ xây dựng trái phép trên đá Chữ Thập mà TQ gọi là Vĩnh Thử

Những hành động ngang nhiên và phi pháp nói trên của Trung Quốc đãlàm cho nhân dân Việt Nam và nhân dân nhiều nước trên thế giới bất bình.Bản thân chúng em là học sinh THCS, dù chưa thể làm gì trước hành động ấynhưng chúng em hiểu rằng, việc giáo dục cho học sinh nói chung, học sinhTHCS nói riêng những kiến thức về chủ quyền biển đảo, ý thức trách nhiệmbảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc là vô cùng quan trọng và trở nên cấpthiết hơn bao giờ hết

Thứ ba: Do thực trạng nhận thức của học sinh THCS về vấn đề chủ quyền biển đảo và việc giáo dục chủ quyền biển đảo cho học sinh thông qua các môn học trong nhà trường hiện nay

Thực tế hiện nay, đa số các bạn học sinh THCS còn thiếu kiến thức vềbiển đảo và chủ quyền vùng biển Việt Nam Với số lượng bài học về biển đảocòn hạn chế trong chương trình Địa lí, Lịch sử và các môn học khác nên chưathể giúp các bạn có cái nhìn toàn diện và hiểu biết cụ thể về các vấn đề biểnđảo Việt Nam Mặt khác do bài học Lịch sử còn quá dài do đó GV chỉ đủ thờigian truyền đạt cho HS những kiến thức trong SGK, việc liên lệ thực tiễncũng hạn chế Bởi vậy, vẫn còn nhiều bạn còn mơ hồ về vùng biển chủ quyềncủa đất nước, về diện tích, vị trí địa lí, giới hạn chủ quyền, các nguồn tài

Trang 13

nguyên, tiềm năng và lợi thế biển đảo, vấn đề tranh chấp ở biển Đông Tìnhhình biển Đông hiện nay với thực trạng do sự nhận thức còn hạn chế như vậycùng với công tác tuyên truyền chưa thật sự sâu rộng trong nhà trường và xãhội đã khiến cho dư luận xã hội quan tâm đặc biệt, nhiều ý kiến đã nêu rõ sựquan ngại:

GS Phan Huy Lê- nhà sử học, đã nói: "Tôi kiến nghị với Bộ GD&ĐTphải bổ sung ngay lập tức, càng sớm càng tốt đưa những kiến thức về biểnĐông và chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa chứ khôngthể chậm trễ hơn được nữa Nếu chậm trễ, để cho các em lớn lên mù tịt vềbiển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa là cái tội của chúng ta, là cái tội của ngườilớn và của nền giáo dục đối với thế hệ trẻ"

Nhà sử học Dương Trung Quốc cũng phát biểu: “ chúng ta quá đơngiản, không thấy ý thức trách nhiệm trong việc đào tạo cho thế hệ trẻ ý thức

về chủ quyền lãnh thổ dân tộc của mình Không phải tự nhiên ông cha ta xưakia luôn luôn coi Văn, Sử, Triết là 3 kiến thức cơ bản nhất để đào tạo conngười Giờ đây chúng ta có rất nhiều nhu cầu về kiến thức khác, đặc biệt làkhoa học công nghệ Nhưng chúng ta đừng quên rằng cái căn bản đối với mỗimột con người của mỗi một quốc gia chính là những kiến thức cơ bản về khoahọc xã hội, nhân văn”

Trong khi Bộ GD-ĐT chưa chính thức đưa nội dung chủ quyền biển,đảo vào chương trình giáo dục, nếu mỗi nhà trường chú trọng hơn đến vấn đềnày bằng những cách làm khác nhau, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực,trong đó có việc đưa vấn đề chủ quyền biển, đảo vào giáo dục lồng ghép tronggiảng dạy một số bài học, trong các hoạt động cụ thể thì tin chắc rằng các bạnhọc sinh, là những chủ nhân tương lai của đất nước sẽ ý thức được tráchnhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước, biến khát vọng “rừng vàng,biển bạc” của dân tộc ta thành hành động cụ thể

Trang 14

Xuất phát từ những lí do trên chúng em đã quyết định lựa chọn vấn đề:

“Giáo dục ý thức về chủ quyền biển đảo quê hương cho học sinh THCS”

làm đề tài nghiên cứu khoa học

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụngtài liệu về chủ quyền biển đảo trong các hoạt động tuyên truyền, giảng dạycác môn Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, hoạt động ngoài giờ lên lớp…

- Kết quả nghiên cứu đề tài này góp phần giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệchủ quyền biển đảo quê hương đồng thời giúp cho việc giảng dạy lồng ghép,tích hợp ở trường THCS hiện nay được triển khai thực hiện tốt hơn

- Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến vấn đềnày đặc biệt là các bạn học sinh, sinh viên và giáo viên bộ môn Lịch sử, Địalí

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Trang bị cho học sinh THCS những kiến thức về chủ quyền biển, đảo.

- Giáo dục chủ quyền biển đảo nói chung và chủ quyền của Việt Nam đối với

hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng cho học sinh THCS từ đó nângcao ý thức trách nhiệm của công dân, giáo dục truyền thống yêu nước

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông đặc biệt là đối với hai quần đảoHoàng Sa, Trường Sa

Trang 15

+ Học sinh trường THCS Vũ Di - Vĩnh Tường- Vĩnh Phúc

- Thời gian nghiên cứu:

+ Từ tháng 2/2015 – tháng 11/2015

- Địa điểm nghiên cứu: Trường THCS Vũ Di

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp thu thập thông tin qua mạng Internet, phỏng vấn, điều tra

- Phương pháp phân tích

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÍ KHẲNG ĐỊNH HOÀNG SA, TRƯỜNG

SA LÀ CỦA VIỆT NAM

1.1 Biển Đông và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

1.1.1 Vài nét khái quát chung về biển Đông

Biển Đông còn gọi là biển Giao chỉ Dương, biển Nam Hải, biển NamTrung Hoa theo tên tiếng Anh (The South China Sea), là một biển rìa TâyThái Bình Dương Biển Đông được nhân dân Việt Nam gọi theo thói quennhư một danh từ riêng

Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trảirộng từ vĩ độ 3o lên đến vĩ độ 26o Bắc và từ kinh độ 100o đến 121o Đông.Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc,Philippin, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia

Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sốngcủa khoảng 300 triệu người dân của các nước này Biển Đông không chỉ làđịa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn cả củachâu Á - Thái Bình Dương và Mỹ

Trang 16

* Tiềm năng và tầm quan trọng của Biển Đông

Biển Đông còn là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phongphú và đa dạng có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống và sự phát triển kinh tếcủa các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài nguyên thuỷ sản, khoáng sản(dầu khí), du lịch

Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhấtthế giới Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khaithác và sản xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia,Brunei, Indonesia, Thái Lan …trong đó Indonesia là thành viên của OPEC.Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng

ở Biển Đông là 7 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày Theođánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷthùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷthùng Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệutấn/năm duy trì được trong vòng 15 - 20 năm tới Ngoài ra, theo các chuyên

Trang 17

gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tàinguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngangbằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thếdầu khí trong tương lai gần Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thácđược coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đốivới hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảonày.

Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liềnThái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á.Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liênquan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênhđào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á

đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi

Úc và Niu Di Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á vàĐông Nam Á Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ haicủa thế giới Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông,trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu cótrọng tải từ 30.000 tấn trở lên Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảngSingapore và Hồng Công Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày cànggia tăng ở khu vực Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộcsống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,Singapore và cả Trung Quốc Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu vàcác nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tớiNhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Hơn 90% lượng vận tải thương mại củathế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng BiểnĐông Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua BiểnĐông Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng

Trang 18

hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyểnbằng đường biển qua Biển Đông.

1.1.2 Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Đảo theo cách hiểu thông thường là một vùng đất có nước bao quanh.

Theo nghĩa pháp lí một đảo là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủytriều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước (trích Điều 121, Công ước luậtbiển năm 1982).Trên các Đảo các quốc gia cũng có chủ quyền hoàn toàn vàđầy đủ như trên đất liền

Quần đảo là một tập hợp các đảo

Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thểtách rời của lãnh thổ Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia ven biển, với chiều dài bờ biển khoảng 3260

km và rất nhiều các đảo ven bờ, xa bờ Hệ thống đảo tiền tiêu phía bắc bao

Trang 19

Mát, Hòn Mê (Thanh Hóa) các đảo lớn ven bờ giàu tiềm năng như: PhúQuốc, Phú Qúy, Côn Đảo và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ở giữa BiểnĐông Các đảo của nước ta có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc, tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển kinh tế - xãhội, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Phần lớn các đảo của Việt Nam là các đảo gần bờ, chỉ có 2 quần đảo xakhơi đó là quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Đây là hai quần đảo san hô nằm ởgiữa Biển Đông Trong nhiều thế kỷ trước, hai quần đảo này thường được gọidưới tên chung là Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Đại Hoàng Sa, Đại Trường Sa,Vạn Lý Trường Sa…Các nhà hàng hải và truyền giáo phương tây (Bồ ĐàoNha, Hà Lan, Anh, Pháp) gọi dưới các tên Paracels, Parcels hoặc Pracels.Trên các bản đồ đầu tiên của các nhà hàng hải phương tây, hai quần đảoHoàng Sa, Trường Sa thường được vẽ thành một dải liền nhau hình lá cờ đuôinheo nằm dọc bờ biển nước ta từ khoảng ngang Đà Nẵng tới cuối đồng bằngNam Bộ Vài thế kỷ gần đây, nhờ sự phát triển của ngành hàng hải và ngành

đo đạc bản đồ biển, người ta mới tách ra hai quần đảo riêng biệt mang tênquần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, trên các bản đồ nước ngoàithường gọi là quần đảo Paracels và quần đảo Sprataly

Quần đảo Hoàng Sa nằm trong khoảng vĩ độ 15045’ đến 17015’ Bắc;kinh độ 111000’ đến 113000’ Đông, án ngữ ngang cửa Vịnh Bắc Bộ, cách đảo

Lý Sơn (Cù Lao Ré) Quảng Ngãi hơn 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (TrungQuốc) khoảng 140 hải lý Quần đảo gồm trên 30 hòn đảo, đá cồn, san hô, bãicát nằm rải trên một vùng biển rộng từ tây sang đông khoảng 100 hải lý, từbắc xuống nam khoảng 85 hải lý, chiếm một diện tích khoảng 15.000 km2 Quần đảo Hoàng Sa chia thành hai nhóm:

Nhóm phía đông, gồm khoảng 8 hòn đảo nhỏ và một số mỏm đá san hômới nhô lên khỏi mặt nước Lớn nhất là đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn rộngtrên dưới 1,5 km2, có nhiều cây cối, xung quanh, có những bãi san hô và bãicát ngầm Một số đảo khác như đảo Cây, đảo Bắc, đảo Trung, đảo Nam… có

Trang 20

diện tích từ 0,4 km2 trở xuống, nhiều đảo có bờ cát trắng hoặc bãi san hô viềnquanh.

Nhóm Phía Tây, gồm khoảng 15 hòn đảo nhỏ Các đảo Hoàng Sa, HữuNhật, Quang Ảnh, Quang Hoà, Duy Mộng, Chim Én, Tri Tôn… diện tíchkhoảng từ 0,5 km2 trở xuống và cao hơn mặt nước từ 4 m đến 6 m

Trong quần đảo Hoàng Sa, đảo Linh Côn nằm ở ngoài cùng về phíađông và đảo Tri Tôn nằm ngoài cùng về phía nam Tổng diện tích phần nổicủa tất cả các đảo thuộc quần đảo khoảng 10km2 Ngoài các đảo, còn cónhững cồn san hô, vành đai san hô bao bọc một vùng nước tạo thành một đầmnước giữa biển khơi Có cồn dài tới 30 km, rộng 10 km như cồn Cát Vàng

Quần đảo Hoàng Sa không có mùa đông lạnh giá, mà mùa hè nóng nực,nhiệt độ trung bình thấp nhất trong tháng 1 là 230C, Cao nhất trong tháng 7 là

280C Thời tiết có thể chia làm hai mùa.Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6, mùamưa từ tháng 7 đến tháng 12 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1170

mm Từ tháng 6 đến tháng 8, bão thường xuyên đi qua quần đảo này

Thảm thực vật của quần đảo Hoàng Sa rất đa dạng Có đảo cây cối umtùm, nhưng có đảo chỉ có các bụi cây nhỏ và cỏ dại.Thực vật phần lớn thuộccác loài có nguồn gốc ở miền duyên hải Việt Nam Nhiều triều vua trước đâycủa Việt Nam đã ra lệnh đem các loại cây ra trồng trên các đảo để thuyền bèqua lại dễ nhận, tránh khỏi tai nạn

Trên các đảo có nguồn phốt phát vôi do phân chim tích tụ từ lâu đời bịphong hóa Qua khảo sát, các nhà địa chất Pháp ước tính trữ lượng khoảnggần 10 triệu tấn Đây là nguồn phân bón có giá trị lớn Hải sản ở Hoàng Sa cónhiều loài quý như tôm hùm, hải sâm, đồi mồi, vích, ốc tai voi…và một loạirau câu quý hiếm, rất có giá trị trên thị trường quốc tế

Quần đảo Trường Sa ở về phía đông nam nước ta trong khoảng vĩ độ

6030’ đến 12000’ Bắc; kinh độ 111030’ đến 117030’ Đông, gồm khoảng hơn

100 hòn đảo, đá, cồn san hô và bãi san hô, nằm rải trên một vùng biển rộng từtây sang đông khoảng gần 350 hải lý, từ bắc xuống nam khoảng hơn 360 hải

Trang 21

lý, chiếm một diện tích biển khoảng tử 160.000 đến 180.000km2 Đảo gần đấtliền nhất là đảo Trường Sa cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hoà) khoảng 250 hải

lý, cách hòn đảo ở gần đảo Hải Nam (Trung Quốc) ít nhất cũng khoảng trên

600 hải lý và cách đảo Đài Loan khoảng 960 hải lý.

Các đảo của quần đảo Trường Sa thấp hơn các đảo của quẩn đảo Hoàng

Sa Độ cao trung bình trên mặt nước từ 3 đến 5 mét Lớn nhất là đảo Ba Bìnhrộng khoảng 0,6 km2, sau đó là các đảo Song Tử Tây, Trường Sa, Nam Yết,Song Tử Đông, Thị Tứ, Loại Ta, Sinh Tồn, Vĩn Viễn, An Bang… Ngoài racòn nhiều đảo nhỏ và bãi đá ngầm như Sinh Tồn Đông, Chữ Thập, ChâuViên, Ga Ven, Ken Nan, Đá Lớn, Thuyền Chài Các đảo ở đây cũng có vành

đá san hô ngầm, rộng hàng trăm mét, che chở cho đảo khỏi bị sóng đánh trànlên Có những vành đai san hô bao quanh dài, rộng hàng chục km như đảoThuyền Chài, Đá Tây, Đá Lớn Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo, đá,cồn, bãi ở quần đảo Trường Sa khoảng 10 km2 tương đương với quần đảoHoàng Sa, nhưng quần đảo Trường Sa trải ra trên một vùng biển rộng gấp hơn

10 lần quần đảo Hoàng Sa

Chất đất trên các đảo của quần đảo Trưởng Sa là cát san hô, có lẫnnhững lớp phân chim lẫn mùn cây có bề dày từ 5 đến 10 cm Một số đảo trongquần đảo có nước ngầm như đảo Song Tử Tây, đảo Trường Sa, đảo Song TửĐông Trên các đảo có nhiều loại cây xanh như cây phong ba, phi lao và một

số loại dây leo cỏ dại

Nguồn lợi hải sản ở quần đảo Trường Sa rất phong phú, có nhiều loại

cá tập trung với mật độ cao, đặc biệt có loại vích là động vật quý hiếm, cá ngừđại dương có giá trị kinh tế cao

Khí hậu, thời tiết ở vùng biển quần đảo Trưởng Sa khác biệt lớn so vớicác vùng ven bờ Mùa hè mát hơn và mùa đông ấm hơn.Một số hiện tượngthời tiết cũng diễn biến khác với trong đất liền

Hàng năm ở quần đảo Trường Sa có tới 131 ngày có gió mạnh từ cấp 6trở lên, phân phối không đồng đều trong các tháng Có thể chia ra làm 2 mùa:

Trang 22

mùa khô và mùa mưa Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau, lượng mưatrung bình hàng năm rất lớn, khoảng hơn 2500 mm Hiện tượng dông trênvùng biển quần đảo này rất phổ biển, có thể nói quanh năm, tháng nào cũng

có dông và là nơi thường có bão lớn đi qua, tập trung vào các tháng mùa mưa

1.2 Phạm vi vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam

Theo tài liệu 100 câu hỏi về biển, đảo dành cho tuổi trẻ của Ban tuyên

giáo Trung ương, Nxb thông tin và truyền thông 2013 thì:Chủ quyền là quyền

làm chủ tuyệt đối của quốc gia độc lập đối với lãnh thổ của mình Chủ quyềncủa quốc gia ven biển là quyền tối cao của quốc gia được thực hiện trongphạm vi nội thủy và lãnh hải của quốc gia đó

Quyền chủ quyền là các quyền của quốc gia ven biển được hưởng trên

cơ sở chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyềnkinh tế và thềm lục địa của mình, cũng như đối với những hoạt động nhằmthăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó

vì mục đích kinh tế, bao gồm cả việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu,gió

Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển trong

việc đưa ra các quyết định, quy phạm và giám sát việc thực hiện chúng, như:cấp phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động, các đảo nhântạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng cácđảo nhân tạo các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ

và gìn giữ môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa củaquốc gia đó

Quyền chủ quyền có nguồn gốc từ chủ quyền lãnh thổ trong khi quyềntài phán là hệ quả của quyền chủ quyền, có tác dụng hỗ trợ, tạo ra môi trường

để thực hiện quyền chủ quyền được tốt hơn

Bên cạnh đó, trong khi chủ quyền và quyền chủ quyền chỉ được thựchiện trên vùng lãnh thổ mà quốc gia có quyền thì quyền tài phán có không

Trang 23

gian mở rộng hơn, tới những nơi mà quốc gia đó không có chủ quyền (ví dụquyền tài phán áp dụng trên tàu thuyền có treo cờ của một quốc gia nhất địnhđang hoạt động trong vùng biển thuộc chủ quyền của một quốc gia khác).

1.3 Cơ sở pháp lí khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam

1.3.1 Nguồn sử liệu Việt nam

Nước Việt Nam nằm bên bờ phía Tây của Biển Đông Bao đời nay,biển và hải đảo đã gắn bó chặt chẽ với các hoạt động sản xuất và đời sống củadân tộc ta Ngay từ thời Hùng Vương, tổ tiên chúng ta đã biết khai thác biển,lúc đầu là đánh bắt các hải sản ven bờ, sau tiến ra các đảo và vùng biển xahơn Câu chuyện về chàng Mai An Tiêm bị vua cha hiểu lầm đuổi ra đảohoang đã cùng vợ bỏ sức khai phá và trồng dưa hấu trên hòn đảo gần bờ biểnvùng Nga Sơn (Thanh Hóa) đã phần nào phản ánh: Từ xa xưa, người Việt đãtới sinh sống và sản xuất trên các hải đảo ven bờ Từ thế kỉ XV đến đầu thế kỉXVIII, các triều dại phong kiến Việt Nam đã tổ chức nhiều hoạt động khaithác tài nguyên, thực thi chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Samột cách hiệu quả, lâu dài Chúng ta có đầy đủ bằng chứng pháp lí và các cứliệu lịch sử có giá trị để chứng minh rằng Việt Nam là nước đầu tiên tronglịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình tại hai quần đảo Hoàng

Sa, Trường Sa Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này phù hợp vớinguyên tắc của luật pháp quốc tế

Trước hết, thông qua các bản đồ cổ của Việt Nam, chúng ta hoàn toàn

có cơ sở để khẳng định hai quần đảo Hoàng sa, Trường sa là của Việt Nam.Ngay từ thời vua Lê Thánh Tông đã cho lập bản đồ toàn quốc gọi chung là

“Hồng Đức bản đồ” vào năm Canh Tuất (1490), trong đó có cả Hoàng Sa và

Trường Sa, cho thấy trước đó hai quần đảo này đã thuộc chủ quyền Đại Việt

Trang 24

Bản đồ An Nam quốc đồ - Hồng Đức năm 1490

Hồng Đức Bản Đồ vẽ rõ địa thế xứ Đàng Trong cuối thế kỷ 18.

Bãi Cát Vàng được vẽ ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi

Đến năm 1834, trong Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ Việt Nam

vẽ năm 1834) cũng có Hoàng sa, Vạn lý trường sa thuộc lãnh thổ Việt Nam :

Trang 25

Đại Nam nhất thống toàn đồ (bản đồ Việt Nam vẽ năm 1834)

Năm 1853, nhà Nguyễn đã cho in vào sách giáo khoa tiểu học bản quốcđịa đồ trong đó ghi rõ ở ngoài khơi khu vực miền Trung có quần đảo Hoàng

sa

Trang 26

Trên bản quốc địa đồ này, ở ngoài khơi khu vực miền Trung có ghi chú 3 chữ Hán

là “Hoàng Sa chữ” (Bãi Hoàng Sa)

Trong Bản đồ Quảng Nam tam phủ cửu huyện thuộc tập “Giao châu dưđịa chí” cũng có ghi địa danh Bãi cát vàng (Hoàng sa)

Địa danh Bãi Cát Vàng được ghi trong Bản đồ Quảng Nam tam phủ cửu huyện

thuộc tập “Giao châu dư địa chí”.

Trang 27

Trong tập “Địa đồ” lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng có Tờbản đồ ghi địa danh Vạn lý Trường Sa ở phía ngoài Cù Lao Ré.

Tờ bản đồ này có ghi địa danh Vạn lý Trường Sa ở phía ngoài Cù Lao Ré trong tập

“Địa đồ” lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Trang 28

Bản đồ Việt Nam Cộng hoà cũng vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa ở giữa Biển Đông (Đông Hải)

Bản đồ Việt Nam Cộng hoà với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa

Biển Đông (Đông Hải)

Bên cạnh các bản đồ cổ của Việt Nam còn có rất nhiều tư liệu lịch sửkhác khẳng định quyền làm chủ đối với hai quần đảo Trường sa, Hoàng sacủa Việt Nam từ xưa tới nay là một quá trình liên tục Cụ thể có thể chia racác giai đoạn như sau:

Trang 29

1.3.1.1 Trước năm 1884

Từ thời Lý, chính quyền Thăng Long đã dành nhiều sự quan tâm chocác vùng biển, đảo Chính sử từng ghi: “năm 1149 vua Lý Anh Tông (1138-1175) đã cho khai mở trang Vân Đồn, thiết lập trung tâm kinh tế đối ngoại ởvùng đảo xa Đông Bắc Năm 1171, đích thân nhà vua đã đi tuần các hải đảo,xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình đau khổ và đường đi xa gầnnhư thế nào Năm sau, mùa Xuân, tháng Hai, nhà vua lại đi tuần các hải đảo ởđịa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ ghi chép phong vật” Thời Trần,

Hồ, Lê sơ đều chú trọng phát triển lực lượng quân đội mạnh và được tăngcường cả về số lượng, chất lượng và trang bị vũ khí Tiêu biểu như các chiếnthuyền “Theo ghi chép của Trần Phu, sứ giả của nhà Nguyên sang nước tanăm 1292 thì loại chiến thuyền phổ biến nhất của quân đội nhà Trần có 30mái chèo, dài khoảng 20 mét, rộng hơn 3 mét; thậm chí có những chiếnthuyền lên tới 100 mái chèo, dài khoảng 30 mét, rộng hơn 4 mét ; còn xuấthiện những pháo thuyền - đại chiến thuyền hay còn gọi là đại chiến hạm cókhả năng đi biển xa” Dưới thời Lê sơ kĩ thuật đóng thuyền tiến thêm mộtbước để đáp ứng yêu cầu chinh phạt và quản lý lãnh thổ ngày một mở rộng

“Để chuẩn bị cho cuộc hành quân đại quy mô gồm hơn 1000 chiến thuyền và

70 vạn tinh binh đánh vào kinh đô Vijaya của vương quốc Chămpa, năm

1471, Lê Thánh Tông đã xuống chiếu cho quân Thuận Hóa ra biển tập thủychiến, Đến năm 1496, Lê Thánh Tông cũng huy động một đội thuyền chiếntới 5000 chiếc cùng 25 vạn quân tiến đánh Đồ Bàn.”

Thời Hậu Lê, đến năm 1471 đã đặt Tuần kiểm ở các xứ biển, các đồn,các đảo…để quản lí biển, thu thuế của các tàu thuyền nước ngoài qua lại vùngbiển Việt Nam Đến đầu thế kỉ XVI, triều Lê sơ suy sụp, các ông vua chỉ lo ănchơi sa đọa, quan lại, địa chủ hoành hành đục khoét nhân dân Các thế lựcphong kiến ở nhiều nơi nổi lên tranh chấp quyền hành nổi cộm hơn cả là thếlực của Quốc công Thái phó Mạc Đăng Dung Sau khi dẹp yên các thế lựcphong kiến khác năm 1527 Mạc Đăng Dung đã lập ra triều Mạc Không chấp

Trang 30

nhận chính quyền nhà Mạc một số quan lại cũ của nhà Lê đứng đầu làNguyễn Kim đã tập hợp nhau với danh nghĩa “Phù Lê diệt Mạc” dẫn đếnchiến tranh Nam Bắc triều kéo dài đến cuối thế kỉ XVI Kết quả triều Mạc bịlật đổ, đất nước được thống nhất lại Năm 1545 Nguyễn Kim chết, con rể làTrịnh Kiểm được cử lên thay, người con thứ của Nguyễn Kim là NguyễnHoàng đã xin vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa Đất Thuận Hóa trở thành nơidấy nghiệp của họ Nguyễn Trong thời gian vào Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng

đã sớm cho xây dựng các đội thuyền, mở cửa buôn bán với nước ngoài và tiếnhành chiếm hữu thực thi chủ quyền đối với các quần đảo giữa biển Đông KhiNguyễn Phúc Nguyên thay cha nắm quyền (1613-1635), công cuộc thực thichủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được chính thức bắt đầu, conđường mở mang bờ cõi xuống phía Nam của người Việt cũng đồng thời làcon đường tiến ra chiếm lĩnh biển, đảo Trong đó, Nhà nước Đại Việt đã xáclập và thực thi chủ quyền một cách liên tục và hòa bình đối với các quần đảoHoàng sa và Trường sa

Ở thế kỉ XVII, khi cai quản xứ Đàng Trong, các Chúa Nguyễn cũng rấtquan tâm quản lý, khai thác, xác lập và bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa Cùngvới việc đẩy mạnh giao thương quốc tế, phát triển thương cảng Hội An, mởrộng lãnh thổ xuống miền Đông Nam Bộ, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã lập

ra đội Hoàng Sa để khai thác và quản lí khu vực “Bãi cát vàng” Bởi lẽ, từ thế

kỉ XVII, với chính sách mở cửa của chúa Nguyễn, thương cảng Hội An trởnên phồn thịnh do tàu bè của các nước Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản) vàphương tây đến Việt Nam buôn bán nhộn nhịp Hoàng Sa là một điểm nằmtrên đường hàng hải quốc tế, nhiều tàu bè Trung Quốc, Nhật Bản đến Hội An,hoặc tàu bè phương tây sau khi buôn bán ở Hội An tiếp tục đi Trung Quốc,Nhật Bản đều qua vùng biển này Trong quá trình đó không ít tàu biển đã bịtai nạn do đụng phải đá ngầm, thời tiết xấu, bão tố Lúc đó vấn đề cứu hộ vàkhai thác sản vật của các tàu bị đắm trôi dạt vào quần đảo được đặt ra Cácđội Hoàng Sa được ra đời trong thời kì này Như vậy đội Hoàng Sa được

Trang 31

thành lập vào đầu thế kỉ XVII, đến thời Tự Đức thì không thấy các biên niên

sử còn ghi chép về đội Hoàng Sa nữa, tuy nhiên thời gian ngưng hoạt độngchính thức của đội Hoàng Sa đến nay chưa thể xác định chính xác, chỉ biếtvào khoảng giữa thế kỉ XIX

Cái nôi của đội Hoàng Sa là ở xã An Vĩnh và một phần xã Nam Hảithuộc huyện Bình Sơn của tỉnh Quảng Ngãi Đội Hoàng Sa là một tổ chức dânbinh vừa mang tính dân sự vừa mang tính quân sự, vừa có chức năng kinh tếvừa có chức năng quản lí biển Đông Đứng đầu đội Hoàng Sa là một cai đội,những thành viên trong hội được gọi là quân nhân Thời chúa Nguyễn mỗinăm lấy 70 suất đinh để phục vụ cho đội Hoàng Sa Mỗi một năm số thuyền

đi ra hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa gồm từ 4 đến 5 chiếc nhưng cũng cókhi lên tới hơn chục chiếc, mỗi một thuyền đều có thuyền trưởng cai quản.Thời gian đi ra đảo thường bắt đầu từ tháng 3 âm lịch và trở về vào tháng 8

âm lịch, lúc này ở Quảng Ngãi là mùa khô có gió Tây nam nên rất thuận lợicho việc đi biển Mỗi một chuyến đi thường hết 3 ngày 3 đêm với những loạithuyền nan nhẹ, nhanh

Nhiệm vụ của đội Hoàng Sa là thu lượm các sản vật từ các tàu bị đắm,thu lượm các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngoài đảo như hải sâm, hải trùng,đồi mồi, ốc tai voi…do thám, tìm hiểu và canh giữ vùng biển, vùng đảo Sau

đó trở về và đem đến Phú Xuân nộp Với nhiệm vụ nặng nề, phương tiện đilại thô sơ và phải đối mặt với muôn vàn khó khăn nên phần lớn lính của độiHoàng Sa đều hi sinh Chính vì vậy trước khi ra đi làm nhiệm vụ ngoài lươngthực, nước uống, họ cò mang theo một đôi chiếu, bảy sợi dây mây, bảy cáiđòn tre, nếu chẳng may bị chết giữa đường thì dùng chiếu ấy quấn xác, đòntre dùng làm nẹp rồi lấy dây mây bó lại và thả xuống biển, chiếc thẻ tre ghi rõtên tuổi, nguyên quán của người chết được cài vào bên trong bó chiếu, đóchính là dấu hiệu nhận biết nếu ai đó vớt được Như vậy các quân nhân đôiHoàng Sa đã anh dũng hi sinh cả tính mạng của mình để hoàn thành nhiệm

vụ, họ là những người vì nước quyên thân Hiện nay tại Cù Lao Ré vẫn còn

Trang 32

Âm linh tự (tức miếu Hoàng Sa) thuộc thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện Lí Sơn,Tỉnh Quảng Ngãi, ngoài ra còn tồn tại nhiều lễ hội liên quan đến đội Hoàng

Sa Sử sách vẫn còn lưu giữ một số hình ảnh liên quan đến đội Hoàng sa:

Mô hình đội Hoàng Sa - Bắc Hải

Thuyền buồm của Hải đội Hoàng Sa thời nhà Nguyễn

Trang 33

Thuyền buồm của Hải đội Hoàng Sa thời nhà Nguyễn sau khi được phục dựng

Tờ lệnh của Quan Bố Án Sát tỉnh Quảng Ngãi về việc phái binh thuyền vâng

mệnh triều đình ra đảo Hoàng Sa thực thi nhiệm vụ vào ngày 15/4 năm Minh

Mạng thứ 15 (1834).

Trang 34

Bản dập Mộc bản phản ánh nội dung vua Minh Mạng phái suất đội thủy quân Phạm

Hữu Nhật ra Hoàng Sa

Âm Linh tự - đảo Lý Sơn

Trang 35

Đài tưởng niệm Chiến sĩ trận vong trước sân Âm linh tự

Tượng đài đề tên “đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải”

Trang 36

Ngôi mộ của Cai đội thuỷ quân Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật ở Lý Sơn.

Linh vị Chánh đội trưởng Hoàng Sa Phạm Văn Biện

Trang 37

Ngoài những điều đã nói ở trên thì thời kì phong kiến, đặc biệt dướitriều Nguyễn còn có nhiều cuốn sách, các tác phẩm, các châu bản…khẳngđịnh Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Một trong nhữngtác phẩm đều tiên đề cập đến chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo

Hoàng Sa, Trường Sa là Toản tập Thiên Nam Tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá

sưu tầm và biên soạn hoàn thành vào năm 1686 dưới thời Chính Hòa (

1680-1705) dưới sự chỉ đạo của chúa Trịnh Căn (1682-1709) Toản tập Thiên Nam

Tứ chí lộ đồ thư gồm 4 quyển trong đó quyển I có đoạn chép như sau: “Địa phận xã Kim Hộ, hai bên có hai ngọn núi, các núi này có đặt người tuần tra…

Giữa biển có một dải cát dài, tên gọi là bãi cát vàng dài độ 400 dặm, rộng 20dặm đứng dựng giữa biển Từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa Sa Vĩnh (tức cửa

Sa Kỳ) tỉnh Quảng Ngãi, nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi mỗi khi có gió tây namthì thuyền buôn các nước chạy ở phía trong trôi dạt ở đấy, gió đông bắc thìthương thuyền chạy ở phía ngoài cũng trôi dạt luôn vào làm cho mọi ngườiđều chết đói ở đây cả Hàng hóa, vật liệu đều phải để lại ở nơi đó

Hàng năm vào cuối mùa đông , chúa Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền đến

để lấy hàng hóa, sản vật, được nhiều vàng bạc, tiền tệ, súng đạn và các vậtliệu khác Từ cửa Đại Chiêm vượt đến đấy phải mất ngày rưỡi, từ cửa Sa Kỳđến đấy phải mất nửa ngày Chỗ bãi cát dài ấy còn có nhiều đồi mồi”

Tác Phẩm Đại Việt sử kí tục biên là tác phẩm quốc sử đầu tiên đề cập

đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Đại

Việt sử kí tục biên được chúa Trịnh Sâm sai biên soạn năm 1775 Đây là bộ sử

viết về lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1676 đến năm 1789 Trong tácphẩm đoạn ghi chép về Hoàng Sa năm Giáp Tuất niên hiệu Cảnh Hưng thứ 15

(1754) như sau: “Tám người thuộc đội Hoàng Sa xã An Vĩnh huyện Bình Sơn

phủ Quảng Ngãi đi thuyền nhỏ vào bãi Hoàng Sa giữa hải đảo tìm lấy hóa vật, bị gió dạt vào cửa sông Thanh Lan huyện Văn Xương phủ Lô Châu (nước Thanh) Quan địa phương đó xét hỏi đúng sự thực rồi đưa trả về nguyên

Trang 38

quán Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng đế ta sai cai bạ Thuận Hóa là Thức Lượng hầu (chúa Nguyễn Phúc Khoát) viết thư đáp lại nước Thanh Ngoài biển xã

An Vĩnh có nhiều đảo lớn gồm hơn 130 đảo, cách nhau hoặc 1 ngày đi thuyền hoặc vài canh giờ Trên đảo có chỗ có suối nước ngọt Trong đảo có Bãi cát vàng (tức đảo Hoàng Sa) dài ước hơn 30 dặm, bãi phẳng nước trong Đảo có

vô số tổ yến, ở bãi cát lại có ốc vằn, tục gọi là ốc tai voi, ốc xà cừ, ốc hương

và hải trùng, hải sâm, đồi mồi… Đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người

xã An Vĩnh xung vào đội ấy, cắt lượt nhau đi thuyền đến đảo mò sản vật Mỗi năm cứ tháng 3 ra đi, mang lương ăn 6 tháng, đi thuyền ra biển 3 ngày 3 đêm mới ra đến đảo Ở đấy tha hồ mò nhặt, được sản vật gì, được bao nhiêu, đến

kì tháng 8 thuyền về cửa eo, đem đến Phú Xuân nộp Trong khoảng ấy cũng

có người mò được tiền bạc, chì, thiếc, nồi đồng, sung, khí giới, ngà voi, bát bằng đá…” Như vậy tư liệu Đại Việt sử kí tục biên đã cho thấy từ thế kỷ

XVII, dưới thời Hậu Lê, chính quyền Việt Nam lúc bấy giờ đã tổ chức khaithác sản vật và chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa Sự việc này chính quyền nhàThanh biết và giúp đỡ khi bị gặp nạn Đây là một tư liệu quan trọng có giá trị

về khoa học và thực tế để chứng minh sự tồn tại hợp pháp của đội Hoàng Sa

do nhà Nguyễn Lập ra để tiếp tục khai thác và quản lí quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa

Sách Đại Nam thực lục đây là bộ sử chép theo thể biên niên với từng

đời vua Nguyễn, gồm 2 phần: phần đầu gọi là “Đại Nam thực lục tiền biên”

viết về các đời Chúa Nguyễn (1558 - 1778), viết xong và khắc in vào năm

1844 (đời vua Thiệu Trị thứ tư); phần sau gọi là “Đại Nam thực lục chính

biên” viết về các việc từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua (Gia Long) đến đời Tự

Đức (1848 - 1883) Trong đó quyển 10 Đại Nam thực lục tiền biên có đoạn chép: “Ngoài biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngiã có hơn 130

cồn cát, cách xa hoặc một ngày đường, hoặc vài canh, chiều dài kéo dài không biết tới mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lí Hoàng Sa châu, trên có giếng nước ngọt, sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa…Hồi quốc sơ đầu triều

Trang 39

Nguyễn - đặt đội Hoàng sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh xung vào Hàng năm cứ đến tháng 3 chèo thuyền ra đảo, ba ngày ba đêm thì tới nơi, thu lượm hóa vật, đến tháng 8 thì trở về nộp…lại đặt Đội Bắc Hải đặt dưới sự cai quản của đội Hoàng Sa”

Quyển 52 Đại Nam thực lục chính biên có đoạn chép: “…Năm Bính

Tý, niên hiệu Gia Long (năm 1816) Vua lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa

đi thuyền ra đảo Hoàng Sa để khám xét và đo đạc đường thủy”

Quyển 104 Đại Nam thực lục chính biên có đoạn chép: “…Vua bảo BộCông rằng: Dải Hoàng Sa trong địa phận Quảng Nghĩa, xa trông trời nướcmột màu không phân biệt được cạn hay sâu Gần đây thuyền buôn thường ít

bị đắm Nay nếu dự bị thuyền bè, đến sang năm sẽ phái người tới dựng miếu,lập bia và trồng cây cối Ngày sau cây cối to lớn, xanh tốt, người dễ nhậnbiết.Việc này có thể tránh được nhiều nạn mắc cạn Đó cũng là việc muôn đờivậy”

Đại nam thực lục chính biên, quyển 122 có đoạn chép:“Sai Giám thànhđội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền tới đảohoàng sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ xong rồi về Khi về,vua hỏi vềnhững loại sản vật ở đấy Trương Phúc Sĩ tâu:”Đó là cát ở giữa biển,mênhmông không biết đâu là bờ”.Nhân đó Trương Phúc Sĩ đem dâng lên vuanhững thứ lượm được ở đảo như:chim, cá, ba ba,ốc,sò,ngao đã bắt được ở nơi

đó Tất cả đều là vật lạ ít khi thấy.Vua cho vời các thị thần đến xem và khenthưởng những người đi công tác về, và tiền bạc cho những người đã tham giacông việc đó”

Đại nam thực lục chính biên, quyển 165 có đoạn chép: “Bộ Công tâu:

“Đảo(xứ) Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta, đây là nơi hiểm yếu, trước đãtừng sai vẽ bản đồ, nhưng vì hình thể xa rộng, nên chỉ mới vẽ được một chỗ,

vả lại cũng chưa biết làm thế nào cho rõ Hàng năm thường phái người điquan sát khắp cả để biết tường tận đường biển Kể từ năm nay về sau, mỗi khiđến hạ tuần tháng Giêng, chọn phái thủy quân đội mũ (binh biền) cùng Giám

Trang 40

thành đạp một chiếc thuyền nhằm thượng tuần tháng Hai đến Quảng Nghĩa,giao cho hai tỉnh Quảng Nghĩa, Bình Định, thuê bốn chiếc thuyền của dânkhiến họ dẫn đường ra đảo Hoàng Sa Không kể là đảo nào, bãi cát nào, phàmkhi thuyền đến nơi, tức thì căn cứ ngay chỗ ấy có chiều dài, chiều ngang,chiều cao, bề rộng, chu vi và biển bốn phía chung quanh cạn hay sâu, có bãingầm, đá ngầm hay không Hình thế hiểm trở, dễ dàng thế nào, phải quan sát

đo đạc cho rõ ràng rồi vẽ thành bản đồ Lại nữa, phải căn cứ ngày khởi hành

từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến nơi ấy, căn cứ vàocon nước (thủy trình) đã qua, tính rõ được bao nhiêu dặm Lại sũng từ nơi ấytrông vào bờ biển, thẳng đường là vào tính nào, phương hướng nào, ướclượng cách bờ biển khoảng bao nhiêu dặm Tất cả đều nhất thiết phải miêu tảcho rõ, lần lượt đem về dâng trình

Vua y lời tâu Sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh quyềnđi”.Ngoài bia đá được dựng lên cùng miếu thờ để khẳng định chủ quyền theothông lệ của nhà nước, triều đình Huế còn cho cắm 10 cột mốc bằng gỗ đểxác định chủ quyền ở các đảo Việc hệ trọng này triều đình giao cho Suất độithủy quân Phạm Hữu Nhật mang ra cắm ở Hoàng Sa vào năm 1836 Các cộtmốc bằng gỗ có kích thước quy định như sau:“Chuẩn bị mang theo 10 cái bài

gỗ, đến nơi dựng bài lên làm dấu ghi rõ (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 3 tấc,dày 1 tấc), mặt bài khắc những chữ:“Năm Minh Mạng thứ 17, Bính Thân(năm 1836) Thủy quân đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh raHoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây ghi dấu để ghi nhớ”

Như vậy thông qua tác phẩm này chúng ta thấy Triều đình nhà Nguyễn

đã xác lập và thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa từ khi nó còn vô chủ

và tiến hành chiếm hữu liên tục “Đại Nam thực lục” là một bộ chính sử củacác vua triều Nguyễn do các Sử thần trong Quốc sử quán thừa lệnh triều đìnhviết Vì vậy, có tính chính thống pháp lý của nhà nước và là tiếng nói chínhthức của nước Việt Nam thời phong kiến cận đại

Ngày đăng: 10/01/2016, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2013),“100 câu hỏi đáp về biển đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam”, NXB Thông tin và truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 câu hỏi đáp về biển đảo dành cho tuổi trẻ Việt Na"m
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: NXB Thông tin và truyền thông
Năm: 2013
2. Bộ giáo dục và Đào tạo (2006), SGK Địa lí lớp 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Địa lí lớp 12
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
3. Bộ giáo dục và Đào tạo (2006), SGK Lịch sử lớp 10, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Lịch sử lớp 10
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
4. Bộ giáo dục và Đào tạo (2006), SGK Lịch sử lớp 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Lịch sử lớp 12
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
5. Hà Nguyễn (2013), “Giới thiệu biển, đảo Việt Nam”, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu biển, đảo Việt Nam
Tác giả: Hà Nguyễn
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền thông
Năm: 2013
6. Ngô Sĩ Liên (2014), Đại Việt sử kí toàn thư, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w