đánh giá hiện trạng công tác quản lý môi trường tại bệnh viện Mỹ Tho
Trang 1CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1.1– SỰ CẦN THIẾT CỦA LUẬN VĂN.
Bản Đồ Thành Phố Mỹ Tho
Trang 2Thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang nằm giữa hai thành phố lớn làThành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ, cách Thành phố Hồ Chí Minh
70 km về phía Tây Nam, nằm trọn vẹn trên ngã ba sông Tiền có tuyến Quốc lộ1A chạy qua, đây là hệ thống giao thông đường bộ lớn nhất cả nước
Tp Mỹ Tho với dân số 251 071 người (2005-2007 nguồn số liệu phát triểnkinh tế xã hội của Tp Mỹ Tho năm 2001- 2005) gồm 11 phường và 4 xã, có diệntích là 49.98km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1%/năm Trên địa bàn Tp có 7bệnh viện và 15 trung tâm y tế cấp phường xã Với 1106 giường bệnh đang đổ ramỗi ngày khoảng 5000 kg chất thải rắn các loại trong đó lượng chất thải nguy hạichiếm khối lượng tương đối cao
Để quản lý khối lượng chất thải như vậy, Tp đã sử dụng phương pháp đốt vàđược đặt ở Bệnh viện Lao & Phổi Lò đốt ở đây hàng ngày phải làm việc hếtcông suất để có thể tiêu hủy số lượng chất thải như vậy
Tuy nhiên, cho đến nay mặc dù đã hình thành và hoạt động được vài năm vàtốn vài tỷ đồng cho việc đầu tư trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng song côngtác quản lý chất thải y tế ở TP Mỹ Tho đang còn phải đối mặt với nhiều vấn đềchưa được giải quyết một cách triệt để Một số khó khăn :
Khó khăn trong việc quản lý hệ thống thu gom
Hệ thống quản lý của các cơ quan nhà nước còn yếu về nhân lực và trangthiết bị
Thiếu đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý giỏi và công nhân lành nghề
Chưa thực hiện được việc thu phí một cách chặt chẽ
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công tác quảnlý chất thải Y tế chưa được quy hoạch dài hạn với các vấn đề:
Quy họach tổng thể hệ thống quản lý chất thải Y tế
Trang 3 Xây dựng chương trình xã hội hóa toàn hệ thống quản lý chất thải bao gồmchương trình thu phí quản lý chất thải rắn Y tế (thu gom, vận chuyển,xử lý)đến phường xã.
Xây dựng chương trình phân loại tại nguồn
Xây dựng hệ thống quản lý mạnh kết hợp với chương trình đào tạo và huấnluyện chuyên môn của cán bộ và công nhân
Hoàn thiện các văn bản pháp luật phục vụ cho công tác quản lý và vậnhành hệ thống
Những bất cập trên là khó tránh khỏi trong quá trình phát triển kinh tế và xãhội nhưng cũng là vấn đề cần các nhà lãnh đạo phải giải quyết trong thời gian tới
Do vậy, để giải quyết những bất cập trên cần phải đi sâu vào phân tích hiện trạngcông tác quản lý chất thải y tế của Tp Mỹ Tho
Tuy đã có một số đề tài đã nghiên cứu và nêu ra một số biện pháp khắc phụcnhưng vẫn còn một số khó khăn
Cho nên, với đề tài này nhằm củng cố một số ý kiến về giải quyết hiệntrạng quản lý chất thải y tế trên địa bàn Tp Mỹ Tho
1.2- MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đánh giá hiện trạng công tác quản lý môi trường tại các bệnh viện vàtrung tâm y tế trên địa bàn thành phố Mỹ Tho
Đề xuất các biện pháp thích hợp trong điều kiện của thành phố
1.3- NỘI DUNG THỰC HIỆN.
Giới thiệu tổng quan về chất thải y tế (chất thải rắn, nước thải)
Nêu lên hiện trạng về công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện vàtrung tâm y tế của thành phố Mỹ Tho
Dự báo diễn biến về tải lượng chất thải y tế của thành phố
Đề xuất các giải pháp với điều kiện thành phố
Trang 41.4- PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Về địa lý :Thành phố Mỹ Tho – Tiền Giang
Về đối tượng: Chất thải Y tế (nước thải và chất thải rắn)
1.5- PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN.
Phương pháp chủ yếu được áp dụng để thực hiện đề tài này là:
Phương pháp tổng hợp số liệu: Thừa kế thông tin và số liệu từ các nhà khoahọc, các cơ quan môi trường, trung tâm nghiên cứu…
Phương pháp phân tích hệ thống
Phương pháp khảo sát tình hình thực tế
Trang 5CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ
CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ
2.1 – GIỚI THIỆU VẾ CHẤT THẢI Y TẾ.
2.1.1- Khái niệm chất thải y tế:
Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt độngkhám bệnh, chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, xét nghiệm, chuẩn đoán,các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo
về y sinh học (Nguồn :Môi trường bệnh viện – Cục bảo vệ môi trường).
2.1.2- Tính chất của chất thải y tế.
Chất thải y tế có ở dạng rắn lỏng và khí Chất thải y tế thường bao gồm cảcác loại chất thải có đặc tính và tác động tới môi trường sức khỏe giống như cácchất thải thông thường khác Tuy nhiên, một phần trong chất thải y tế là các loạihình chất thải có các đặc tính riêng biệt và có nguy cơ cao gây rủi ro về môitrường và sức khỏe công đồng Vì thế mà chất thải y tế được xếp vào nhóm chấtthải nguy hại Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các hợp chất hoặc các chấtcó một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ,dễ ăn mòn, làmngộ độc, dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác), hoặc tương tác với các chấtkhác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người Do có các đặc tính vàtiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khỏe mà các loại chất thải y tế nguyhại đòi hỏi phải được thu gom, phân lập và tiêu hủy theo quy trình đặc biệt vàđảm bảo an toàn có áp dụng các công nghệ phức tạp và thường là tốn kém đểtránh thoát thải ra môi trường nên ngoài Thông thường, chất thải y tế nguy hại cómột trong các thành phần như : máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc
cơ quan tổ chức của cơ thể người được cắt bỏ trong điều trị, động vật đã sử dụng
Trang 6cho thí nghiệm nghiên cứu, bơm kiêm tiêm, các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóachất, các đồng vị phóng xạ dùng trong y tế…
2.1.3 – Phân loại chất thải y tế
Việc phân loại và xác định chất thải y tế của đa số các nước trên thế giới,
kể cả các nước trong khu vực cũng như hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới(WHO) đều bao gồm các loại chính như sau:
Nhóm chất thải lâm sàng :bao gồm 5 phân nhóm khác nhau là:
Nhóm A :Chất thải nhiễm khuẩn: vật liệu thấm máu, dịch, băng gạc,bông băng, túi đựng dịch, dẫn lưu…
Nhóm B : Các vật sắc nhọn: các loại kim tiêm, lưỡi dao mổ, dao lamdùng trong y tế, ống thuốc tiêm vỡ…
Nhóm C: Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xétnghiệm như găng tay, lam kính, bệnh phẩm…
Nhóm D : Chất thải dược phẩm bao gồm dược phẩm quá hạn, bị nhiễmkhuẩn, thuốc gây độc tế bào kể cả các lọ thuốc đã được sử dụng nhưngcòn tồn lưu dư lượng, và hóa chất có tính gây độc đối với tế bào
Nhóm E: Bệnh phẩm Nhóm này bao gồm các mô và cơ quan người,động vật, một phần nào đó trên cơ thể bị cắt bỏ do phẫu thuật ( cần lưu
ý là đối với nhóm chất thải này thì ngay cả khi chúng không chứanguồn lây nhiễm nhưng cũng vẫn có khả năng gây tác động tâm lý rấtmạnh)
Nhóm chất thải phóng xạ :
Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệuvà nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm,gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc
bị nhiễm các đồng vị phóng xạ
Trang 7 Chất thải phóng xạ rắn gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét
nghiệm, chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, kim tiêm, bơm tiêm, chai lọphóng xạ…
Chất thải phóng xạ lỏng gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát
sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu người bệnh, cácchất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chứa chất phóng xạ
Chất thải phóng xạ khí gồm: các chất khí dùng trong lâm sàng như xe,
các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ
Nhóm chất thải hóa học:
Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại nhưđường, axít béo, axit amin, một số loại muối…và hoá chất có thể gây nguy hại nhưForman dehyde, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn ytế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong khử trùng tẩy uế,thanh trùng…
Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất :
Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy,CO2,bình gas, các bình chứa khí một lần… Đa số các bình chứa khí nén này thường dễnổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng quy cách
Nhóm chất thải sinh hoạt:
Nhóm này có đặc điểm chung như chất thải sinh hoạt thông thường từ hộ giađình gồm giấy loại, vải loại,vật liệu đóng bao, đóng gói, thức ăn còn thừa, thựcphẩm thải bỏ và các chất thải ngoại cảnh như các loại lá, hoa quả rụng…
Dưới đây là bảng trình bày kết quả phân loại chất thải rắn tại 2 bệnh viện đã cóđốt rác y tế và chưa có hệ thống xử lý nước
Bảng 1-Kết quả phân loại chất thải rắn tại 2 bệnh viện đã có lò đốt rác và chưa có hệthống xử lý nước:
Trang 8(kg) Trăm(%)
1.1 Phân loại lần 1
(a) chất thải
(b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông
băng, vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết,
(e) Nhóm C - Chất thải có nguy cơ gây ô
nhiễm cao từ phòng xét nghiệm : lam kính,
ống nghiệm
(f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi
(g) Nh óm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai,
bào thai…
(h) Chất phóng xạ
(i) Các thành phần khác
2.2 Phân loại lần 2
(a) chất thải
(b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông
băng, vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết,
(e) Nhóm C - Chất thải có nguy cơ gây ô
nhiễm cao từ phòng xét nghiệm : lam kính,
ống nghi ệm
Trang 9(f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi
(g) Nhóm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai,
bào thai…
(h) chất phóng xạ
(i) Các thành phần khác
2.1 phân loại lần 1
(a) chất thải
(b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông
băng, vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết,
(e) Nhóm C - Chất thải có nguy cơ gây ô
nhiễm cao từ phòng xét nghiệm : lam kính,
ống nghiệm
(f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi
(g) Nhóm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai,
bào thai…
(h) Chất phóng xạ
(i) Các thành phần khác
2.2 Phân loại lần 2
(a) chất thải
(b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông
băng, vật liệu thấm máu, dịch, chất bài tiết,
bột y tế
Trang 10(c) Plastic, cao su, găng tay, dây truyền, dịch 2,514 25,14(d) Nhóm B - Các vật sắc nhọn : kim tiêm, ống
tiêm, chai lọ, ống tiêm thủy tinh, dao mổ…
(e) Nhóm C - Chất thải có nguy cơ gây ô
nhiễm cao từ phòng xét nghiệm : lam kính,
ống nghiệm
(f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi
(g) Nhóm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai,
bào thai…
(h) Chất phóng xạ
(i) Các thành phần khác
(Nguồn :Xây dựng kế hoạch cải thiện môi trường đối với các bệnh viện )
Kết quả phân loại chất thải rắn tại các bệnh viện trong bảng 1 cho thấy cácbệnh viện này đã thực hiện tốt khâu phân loại, thu gom rác y tế vì vậy, lượngrác y tế nguy hại thực sự cần thiêu đốt là không nhiều, giảm được chi phí thiêuđốt
2.1.4- Thành phần của chất thải y tế.
Chất thải rắn y tế phát sinh trong bệnh viện chủ yếu là do các hoạt độngchuyên môn và phụ thuộc vào số giường bệnh, số bệnh nhân nằm điều trị và cònmột lượng chất thải sinh hoạt phát sinh từ nhân viên y tế trong bệnh viện Đối vớicác bệnh viện ở Việt Nam, do đặc điểm có một số lượng đáng kể người nhà bệnhnhân, người thăm hỏi, một vài dịch vụ khác như nhà hàng ăn uống, sách báo…màsố lượng người vãng lai này khá lớn, nhiều khi tương đương số lượng bệnh nhânnằm viện Chính vì hiện trạng này làm cho lượng phát sinh chất thải rắn trongbệnh viện tăng lên, đặc điểm thành phần chất thải rắn bệnh viện cũng thay đổitheo Kết quả này dẫn tới sự quá tải của các hệ thống thu gom và xử lý chất thảivốn được thiết kế theo số giường bệnh Sự quá tải này cũng là nguyên nhân dẫn
Trang 11đến quản lý, thu gom, phân loại và xử lý thiếu nghiêm ngặt và không tuân thủcác quy định bắt buộc, do đó dẫn đến tình trạng một tỷ lệ chất thải rắn y tế nguyhại có thể bị lẫn vào chất thải rắn chung và phát tán ra môi trường bên ngoài, trởthành nguồn gây ô nhiễm và có khả năng gây ra các rủi ro về môi trường và sứckhỏe.
Thành phần vật lý:
Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…
Đồ giấy: hộp dựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…
Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm…
Đồ nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng…
Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng, …
Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc…
Rác rưởi, lá cây, đất đá…
Thành phần hóa học:
Những chất vô cơ: kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất,chất thử
Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa
Nếu phân tích nguyên tố thì gồm những thành phần: C, H, O, N, S, Clvà một số phân tro
Thành phần sinh học:
Máu, những loại dịch tiết, những loại động vật làm thí nghiệm, bệnhphẩm, và đặc biệt là các vi trùng gây bệnh
Các vi sinh gây bệnh trong nước thải bệnh viện :
Nước thải bệnh viện được xếp vào nước thải sinh hoạt trong đó chứa đựngcác chất thải trong quá trình sống của con người Nước thải sinh hoạt bao gồm99,9% nước và 0,1% rắn ; trong đó có khoảng 58% là chất hữu cơ phân bổ chủyếu ở dạng keo, không tan, 42% là chất vô cơ và một lượng lớn các vi sinh vật
Trang 12Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải bệnh viện thay đổi tùy thuộc vào điềukiện hoạt động cụ thể của từng bệnh viện, nhưng phần lớn đều ở mức khá cao,đặc biệt là đối với một số vi khuẩn Nước thải bệnh viện chứa nhiều mầm bệnhcó khả năng lây nhiễm cao như: Samonella, Shigella, Vibro, Coliform, tụ cầu,liên cầu, Pseudomonas… nguy cơ nhiễm virus chủ yếu là virus đường tiêu hóa,virus bại liệt SCHO, Coxcachu…nhiễm các loại kí sinh trùng, amip, trứng giun vàcác loại nấm hạ đẳng.
Bảng 2- Thành phần rác y tế.
Thành phần rác thải y tế Tỷ lệ (%) Có thành phần chất nguy hại
Chai lọ thủy tinh, xy lanh thủy
tinh, ống thuốc thủy tinh
Đất, cát,sành sư &các chất rắn
khác
Tỷ lể phần chất thải nguy hại 22.6
(Nguồn :Quản lý chất thải nguy hại- Nguyễn Đức Khiển)
2.2- ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI Y TẾ ĐẾN MÔI TRƯỜNG.
Trang 132.2.1-Tác động của nước thải y tế.
Nguồn tiếp nhận nước thải của các bệnh viện và trung tâm y tế là hệ thốngcống thoát nước và sau đó được đổ ra sông Đây là nguồn tiếp nhận nước thải vàchất thải nói chung của hàng loạt các loại hoạt động kinh tế-xã hội khác Nếuhoạt động không được tốt thì chẳng những môi trường bên trong bệnh viện bị ảnhhưởng tiêu cực bởi các loại nước thải ô nhiễm mà các nguồn nước xung quanhkhu vực bệnh viện cũng bị ảnh hưởng
Hiện nay, nguồn nước cấp cho các đô thị ở Việt Nam được lấy 70% từnguồn nước mặt và 30% từ nguồn nước ngầm Song nguồn nước mặt phần lớn là
bị ô nhiễm, mức ô nhiễm cao gấp từ 2-3 lần có nơi từ 10-20 lần TCCP Theo kếtluận của một số nhà chuyên môn thì nguồn nước mặt bị ô nhiễm hiện nay là mộttrong những nguyên nhân chính dẫn đến sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thủy sản.Các quần thể sinh vật sống dưới nước khó có thể tồn tại và phát triển trong mộtmôi trường nước bị ô nhiễm bởi kim loại nặng, chất hữu cơ, chất phóng xạ và cáchóa chất độc hại khác
Tác động đầu tiên ở đây là sự ngập úng gây mất vệ sinh môi trường bệnhviện Khi gặp mưa lớn và kéo dài sẽ gây ra sự ngập úng, những vị trí thấp ở mộtsố bệnh viện do hệ thống thoát nước không đảm bảo Sự tích tụ của chất bẩn vàchất độc hại lâu ngày trong bệnh viện sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọngđến vệ sinh môi trường chung của bệnh viện
Các sản phẩm hóa chất, dược phẩm được thải thẳng vào hệ thống cống thảisẽ gây nên các ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải (nhấtlà với các hệ thống sử dụng công nghệ phân hủy sinh học) hoặc gây ảnh hưởngđộc hại tới các hệ sinh thái tự nhiên tiếp nhận nguồn nước này
2.2.2-Tác động của chất thải rắn y tế.
Trang 14Chất thải rắn y tế, xét về mức độ dơ bẩn và độc hại có thể quy vào loại ônhiễm bậc nhất trong số các loại chất thải rắn của xã hội và tất nhiên nó sẽ gây
ra nhiều tác động xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
Việc vận chuyển các loại chất thải rắn từ các khoa phòng của các bệnh việnđến nơi tập trung, phân loại, xử lý cũng là điều đáng được quan tâm, nhất là vớimột số bệnh viện cao tầng
Nếu vận chuyển chất thải từ các tầng trên xuống đất bằng các phương tiệnthủ công và sử dụng cầu thang bộ làm tuyến đường vận chuyển chính thì cản trởlưu thông của các bệnh viện và sự va chạm giữa người đi bộ với dụng cụ vậnchuyển chất thải Tùy theo mức độ va chạm mà có thể dẫn đến tình trạng đổ vỡhoặc rơi rớt chất thải rắn dọc theo cầu thang làm mất mỹ quan của bệnh viện.Khu tập trung, phân loại, xử lý chất thải rắn nếu không tổ chức có khoa họccũng sẽ gây ra nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường như : bốc mùi hôi thối và làmầm gây dịch bệnh Nước và các dịch chiết tách ra từ chất thải rắn tại khu vựcmày thường có mức độ ô nhiễm mạnh nên nếu không tổ chức tốt và vệ sinhthường xuyên sàn khu phân loại tiếp nhận sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường xungquanh
Cuối cùng là vần đề đưa chất thải rắn y tế ra môi trường bên ngoài Các tácđộng đối với môi trường trong trường hợp này xuất phát từ vấn đề ô nhiễm khôngkhí( bốc mùi hôi thối), ô nhiễm nguồn nước do nước mưa hòa tan các chất độc hạivà vi trùng có trong rác Từ đó ảnh hưởng đến đất đai và nước ngầm Sau cùng làcác dịch bệnh lan truyền do các loại côn trùng, ruồi muỗi và vi trùng phát triển từbãi rác
2.3- ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI BV ĐẾN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG.
Các rủi ro từ chất thải y tế :
Trang 15Chất thải y tế bao gồm một lượng chất thải sinh hoạt chung và một tỷ lệ nhỏhơn (khoảng 20%) các chất thải có khả năng gây rủi ro cao Chất thải rắn y tếnguy hại có thể tạo nên những mối nguy cơ tiềm tàng cho sức khỏe con người
Các loại hình rủi ro :
Việc tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương.Khả năng gây rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hoặc nhiều đặc trưng cơ bảnsau:
Các yếu tố truyền nhiễm là tác nhân nguy hại có trong rác thải y tế
Các loại hóa chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy hiểm
Các chất chứa đồng vị phóng xạ
Các vật sắc nhọn có thể gây tổn thương
Chất thải có yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội
Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ :
Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người cónguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, nhữngngười làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộngđồng phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắc trách trong cáckhâu quản lý và kiểm sóat chất thải Dưới đây là những nhóm đối tượng chính cónguy cơ cao đối với tác hại của chất thải y tế:
Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện,những người trực tiếp thực hiện các công việc như :tiêm, thay băng…
Những người thực hiện phân loại thu gom và vận chuyển chất thải ytế ngay tại nguồn về nơi tập kết của bệnh viện
Bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú
Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân
Trang 16 Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ bệnh viện phụcvụ cho các cơ sở khám chữa bệnh, điều trị, chẳng hạn như giặt ủi,lao công, vận chuyển bệnh nhân, vệ sinh tẩy uế.
Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải ( tại các bãi đổrác thải, các lò đốt rác)
Chất thải y tế nguy hại phát sinh từ cơ sở dịch vụ y tế tư nhân quy mô nhỏlẻ, nằm rải rác cũng là nguồn thải có tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sứckhỏe do nguồn chất thải này thường khó kiểm soát và ít khi được chú ý tới
2.3.1-Ảnh hưởng của các loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn.
Các vật thể trong thành phần chất thải nguy hại có thể chứa đựng mộtlượng rất lớn bất kì tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào như tụ cầu,HIV, viêm gan B Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể ngườithông qua các cách thức sau:
Qua da, qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da do vật sắcnhọn gây tổn thương
Qua các niêm mạc, màng nhầy
Qua đường hô hấp do xông, hít thở phải
Qua đường tiêu hóa do nuốt, ăn phải
Trong các cơ sở y tế, tính kháng đa thuốc kháng sinh của vi khuẩn đối vớihàng loạt họ kháng sinh và các hóa chất sát khuẩn cũng có thể tạo ra những mốinguy hiểm do sự quản lý yếu kém của chất thải y tế Điều này đã được chứngminh, chẳng hạn các plasmid từ các động vật thí nghiệm có trong chất thải y tếđược truyền cho vi khuẩn gốc qua hệ thống xử lý chất thải Hơn nữa, vi khuẩnE.Coli kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn còn sống trong môi trường bùn hoạt tínhmặc dù ở đó không phải môi trường thuận lợi cho loại vi sinh vạt này trong điềukiện thông thường của hệ thống xử lý và tiêu hủy chất thải y tế
Trang 17Đối với những bệnh có khả năng truyền nhiễm, nguy hiểm do virus gây ranhư HIV/AIDS, viêm gan B hoặc C, những nhân viên y tế, đặc biệt các y tá, hộ lýlà những người có nguy cơ nhiễm cao nhất qua các vết thương do các vật sắcnhọn bị nhiễm máu bệnh nhân gây nên Các nhân viên hành chính của bệnh việnvà những người vận hành hệ thống quản lý chất thải trong phạm vi bệnh việncũng như ngoài bệnh viện ở các trạm xử lý chất thải của địa phương, khu vựccũng có nguy cơ đáng kể, chẳng hạn như những nhân viên quét dọn vệ sinh,những người bới rác tại các bãi đổ rác mặc dù chưa có nhiều bằng chứng ghi nhậnnhững nguy cơ này (do chưa có sự quan tâm đúng mức tới các đối tượng này).Nguy cơ của các lọai bệnh truyền nhiễm này trong số các bệnh nhân và cộngđồng không phải tiếp xúc với chất thải y tế thấp hơn nhiều Trong một số trươnghợp, một vài bệnh truyền nhiễm lây truyền và lan rộng ra cộng đồng xung quanhnhiều khi trở thành dịch, một bằng chứng ghi nhận là vụ dịch tả hoành hành ởTrung Mỹ năm 1996-1997 mà nghi can chính là do nước thải từ một bệnh việntruyền nhiễm ở Peru không được xử lý và thải ra khu vực, kết quả là gây nhiễmbệnh và bùng phát thành dịch bệnh
Tỷ lệ tổn thương hàng năm do các vật sắc nhọn trong chất thải y tế và dịchvụ vệ sinh môi trường cả trong và ngoài các bệnh viện gây ra đã được cơ quanđăng ký Độc chất và Bệnh tật Hoa Kỳ(ATSDR) đánh giá Nhiều tổn thương gây
ra do kim tiêm trước khi vứt bỏ vào các thùng chứa, do những thùng chứa kimkhông kín hoặc được làm bằng những loại vật liệu dễ bị rách, bị xuyên thủng
Một báo cáo của Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) tại hội nghịchất thải y tế đã đánh giá số trường hợp nhiễm virus viêm gan B và C hàng năm
bị tổn thương gây ra bởi các chất thải sắc nhọn Trong số các nạn nhân có nhiềunhân viên y tế và nhân viên trong hệ thống quản lý xử lý chất thải Số người bịnhiễm virus viêm gan B hàng năm ở Hoa Kỳ mà nguyên nhân do tiếp xúc với
Trang 18chất thải y tế vào khoảng từ 162 đến 321 ca so với tổng số 300000 trường hợp bịnhiễm mỗi năm.
Trong bất kỳ một cơ sở y tế nào, y tá và những nhân viên quản lý bệnhviện là những nhóm nguy cơ chính bị tổn thương vì họ là những người tiếp xúctrực tiếp vối chất thải y tế Tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp hàng năm của nhữngđối tượng này vào khoảng 10-20 phần nghìn Tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp caonhất trong số tất cả các nhân viên có thể đã tiếp xúc với chất thải y tế đã đượcbáo cáo bởi các nhân viên lao công và nhân viên xử lý chất thải, tỷ lệ hàng năm
ở Mỹ là 180 phần nghìn
Các ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với chất thải y tế được liệtkê trong bảng dưới đây qua đường truyền là các dịch thể như máu, dịch não tủy,chất nôn, nước mắt, tuyến nhờn
Bảng 3- Một số ví dụ về sự nhỉễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất thải y tế,các loại vi sinh vật gây bệnh và phương tiện lây truyền:
Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Dạng chất thải y tế
Nhiễm khuẩn tiêu hóa Nhóm Enterobacteria:Shigella,
Salmonella: Vibrio cholerae:
Phân hoặc chất nôn
Nhiễm khuẩn hô hấp VK lao, virus sởi, Streptococus
Dịch tiết sinh dục
Nhiễm khuẩn da Streptococcus spp Mủ
Bệnh than Bacillus antharacis Chất tiết của da (mồ
hôi, chất nhờn …)Viêm màng não Não mô cầu (Neisseria
menighitidis)
Dịch não tủy
Trang 19AIDS HIV Chất tiết sinh dụcSốt xuất huyết Các virus :Junin, Lassa Ebola,
Marburg
Tất cả các sản phẩmmáu và dịch tiếtNhiễm khuẩn huyết
do tụ cầu
Nhiễm khuẩn huyết
do các loại vi khuẩn
Viêm gan B,C Virus viêm gan B,C Máu, dịch thể
(Nguồn : Môi trường bệnh việnCục bảo vệ môi trường)
Cho đến thời điểm hiện nay Việt Nam vẫn chưa có một công trình nghiêncứu nào phản ánh được tình trạng tổn thương do nghề nghiệp của các nhân viên ytế và nhân viên các công ty môi trường đô thị cũng như người dân sống cận kềcác bãi rác có lẫn rác từ các bệnh viện
2.3.2- Ảnh hưởng của các chất thải hóa chất và dược phẩm.
Nhiều hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong cơ sở y tế là những mốinguy cơ đe dọa sức khỏe con người như độc dược, các chất gây độc gen, chất độctế bào, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ v v Các loạichất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế hoặc đôi khi với tỷ lệ khálớn như trong trường hợp các dạng thuốc, sinh phẩm quá hạn, thuốc thừa hoặc hếttác dụng cần vứt bỏ Chúng có thể gây nhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và gâynhiễm độc mãn tính gây ra các tổn thương như bỏng Sự nhiễm độc này có thể làkết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc các chất dễ cháy, chất ăn mòn, cácchất hóa chất gây phản ứng
Trong khi không có tài liệu khoa học nào cho thấy mức độ phổ biến củabệnh tật gây ra do chất thải hóa chất hoặc dược phẩm từ các bệnh viện đối vớicộng động, thì nhiều trường hợp nhiễm độc quy mô lớn do chất thải hóa chất công
Trang 20nghiệp đã xảy ra Cũng có một số thông báo về nhiều vụ tổn thương hoặc nhiễmđộc do việc vận chuyển hóa chất và dược phẩm trong bệnh viện không đúng quycách Các dược sĩ, bác sĩ gây mê, y tá, kỹ thuật viên, các cán bộ hành chính cónguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da do tiếp xúc với các loại hóachất dạng chất dạng lỏng dễ bay hơi, dạng phun sương và các dung dịch khác.
2.3.3- Ảnh hưởng của các chất thải gây độc gen.
Thực chất cần phải đủ thời gian để thu thập những bằng chứng về ảnhhưởng lâu dài đối với sức khỏe của các chất thải gây độc gen từ các cơ sở y tế bởi
vì rất khó đánh giá ảnh hưởng lâu dài đối với sức khỏe của các chất thải gây độcgen trong y tế lên mối nguy cơ đối với con người Một nghiên cứu được tiến hành
ở Phần Lan đã tìm ra một vài dấu hiệu liên quan giữa tỷ lệ sảy thai trong 3 thángđầu của thai kỳ liên quan tới việc tiếp xúc nghề nghiệp với các thuốc chống ungthư, nhưng các nghiên cứu tương tự được tiến hành tại Pháp và Mỹ lại không xác
nhận kết quả này (Nguồn:Môi trường bệnh viện – Cục bảo vệ môi trường)
Có rất nhiều nghiên cứu được xuất bản đã điều tra khả năng kết hợp giữanguy cơ đối với sức khỏe và tiếp xúc với thuốc chống ung thư, biểu hiện bằng sựtăng đột biến các thành phần trong nước tiểu ở những người đã tiếp xúc và tăngnguy cơ sảy thai Mức độ tập trung các thuốc gây độc gen trong bầu không khíbên trong bệnh viện đã được xem xét trong một số nghiên cứu để đánh giá cácảnh hưởng về sức khỏe liên quan với việc tiếp xúc các yếu tố nguy cơ Hiện vẫnchưa có những công bố khoa học nào ghi nhận những hậu quả bất lợi đối với sứckhỏe do công tác quản lý yếu kém đối với các chất gây độc gen từ trong các cơ sở
y tế như bệnh viện
2.3.4- Những ảnh hưởng của chất thải phóng xạ;
Nhiều tai nạn được ghi nhận do việc thanh lý, xử lý các nguyên liệu trongtrị liệu hạt nhân cùng với số lượng lớn những người bị tổn thương do vô tình hayhoàn cảnh phải tiếp xúc với nguy cơ chất thải phóng xạ trong y tế Một thông báo
Trang 21ở Brazil, đã phân tích và có đầy đủ tài liệu để chứng minh trường hợp ảnh hưởngcủa chất thải phóng xạ trong y tế tới ung thư công đồng Sự cố này có liên quantới việc bỏ sót chất thải phóng xạ của một bệnh viện trong khi chuyển tới đạiđiểm mới, do đã làm thất thoát tại địa điểm cũ một nguồn xạ trị đã được niêmphong Sau đó một người dân chuyển đến địa điểm nơi bệnh viện đã dời đi và vôtình đã nhặt được nguồn xạ mang về nhà Hậu quả là đã có 249 người tiếp xúcchịu phơi nhiễm với nguồn xạ này, nhiều người trong số đó hoặc đã chết hoặc gặpphải hàng loạt vấn đề về sức khỏe Đa số các tác hại của chất thải phóng xạ trong
cơ sở y tế được báo cáo qua các vụ tai nạn liên quan đến việc tiếp xúc với cácnguồn phóng xạ ion hóa trong các cơ sở điều trị, như hậu quả từ các thiết bị pháttia X quang hoạt động không an toàn, do việc chuyên chở vận chuyển các dungdịch xạ trị không đảm bảo hoặc thiếu các biện pháp giám sát trị liệu
2.4- CÁC GIẢI PHÁP TRONG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ 2.4.1- Chất thải rắn
2.4.1.1- Thu gom, vận chuyển, lưu giữ:
Lưu giữ, vận chuyển.
Chất thải y tế được thu gom phân loại và vận chuyển về khu trung chuyểntại bệnh viện Thực tế trong quy hoạch xây dựng cũng chưa có những hướng dẫncho việc xây dựng, các tiêu chuẩn cho khu trung chuyển chất thải rắn bệnh viện.Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn y tế được bố trí trên một khu đấtbên trong khuôn viên bệnh viện thành một khu trung chuyển Các khu trungchuyển có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật
Trang 22sắc nhọn rơi vãi, côn trùng dễ dàng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnhviện.
Việc phối hợp liên ngành còn kém hiệu quả trong mọi công đoạn của quytrình quản lý chất thải bệnh viện Chỉ mới có vài công ty bước đầu nghiên cứu sảnxuất được phương tiện để thu gom và vận chuyển chất thải, tuy nhiên còn đang ởgiai đoạn thí điểm chưa sản xuất đại trà Chỉ có 18.75% trong tổng số các bệnhviện có chất thải được vận chuyển ra khỏi bệnh viện bằng xe chuyên dụng củacông ty môi trường đô thị
2.4.1.2- Xử lý chất thải rắn y tế
Thiêu đốt chất thải rắn y tế.
Một thực tế là trong nhiều năm trước đây khi đầu tư xây dựng bệnh việnchúng ta hoàn toàn chưa hạch toan được chi phí cho xử lý chất thải Phần lớn cácbệnh viện tự xây lò đốt cho mình và không theo một thiết kế mẫu nào cả
Công ty môi trường đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư hệthống xử lý chất thải rắn y tế bao gồm cả khâu thu gom, vận chuyển chất thải rắn
y tế từ bệnh viện và vận chuyển tới xí nghiệp đốt rác để tiêu hủy Hiện nay đãcó hai lò đốt rác y tế theo mô hình tập trung lò đốt Del Monego 200 xí nghiệp đốtrác Tây Mỗ – Hà Nội và lò đốt Hoval GG-24 xí nghiệp đốt rác Bình Hưng Hòa-Thành phố Hồ Chí Minh với công nghệ nhập ngoại của nước ngoài
Một số bệnh viện như Viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện C Đà Nẵng, Bệnhviện Vũng tàu với sự giúp đỡ cua 3 công ty Wamed engineering đã lắp đặt lò đốtchất thải y tế Hoval MZ2 của Thụy Sĩ có công nghệ hiện đại với nhiệt độ thiệuđốt có hiệu quả Qua thời gian theo dõi trên 15 tháng của Sở Khoa học Côngnghệ và Môi trường Hà Nội lò đốt của Viện Lao và Bệnh phổi đã thiêu đốt trên
10 tấn rác y tế nguy hại với kết quả tốt đảm bảo an toàn về môi trường
Trang 23Đã có một số bệnh viện lắp đặt và vận hành lò đốt do Việt Nam sản xuấtnhư bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp, Sóc Trăng lò đốt do trường Đại học BáchKhoa Thành phố Hồ Chí Minh thiết kế và lắp đặt…
Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào về các loại lòđốt hiện đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của lòđốt thiết kế và chế tạo trong nước Một vấn đề mà các nhà môi trường cần quantâm là ô nhiễm thứ cấp tạo ra trong quá trình đốt chất thải y tế nguy hại cần đươcquan tâm nghiên cứu
Chôn lấp chất thải rắn y tế.
Trong hầu hết các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh,chất thải y tế được chôn lấp tại bãi rác công cộng hay chôn lấp trong khu đất củabệnh viện Trường hợp chôn lấp trong bệnh viện chất thải được chôn lấp vàotrong các hố đào và lấp đất lên, nhiều khi lớp đất phủ lên trên chất thải y tế quámỏng không đảm bảo vệ sinh
Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, một số loại chất thải đặc biệt nhưbào thai, nhau thai và bộ phận cơ thể bị cắt bỏ sau phẫu thuật được thu gom đểđem chôn trong khu đất bệnh viện hoặc chôn trong nghĩa trang của địa phương
Do diện tích mặt bằng của bệnh viện bị hạn chế nên nhiều bệnh viện hiện naygặp khó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn chất thải rắn y tế nguyhại
Một thực trạng là vật sắc nhọn được chôn lấp cùng với các chất thải y tếkhác tại khu đất bệnh viện hay tại bãi rác công cộng, dễ gây rủi ro cho nhân viênthu gom, vận chuyển chất thải và cộng đồng
2.4.2 – Nước thải
2.4.2.1 Thu gom,vận chuyển,lưu giữ
Trang 24Nguyên tắc chung:
Nguyên tắc chung để thu gom nước thải y tế là:
Tách nước mưa chảy tràn vào hệ thống thu riêng, phù hợp cả về bốtrí hệ thống máng, rãnh, cống và bể điều hòa
Tách lượng nước sinh hoạt thông thường như nước nấu ăn và chếbiến thực phẩm, nước thải khu hành chính, văn phòng …
Thu gom triệt để lượng nước thải từ hoạt động chuyên môn nhưkhám,chuẩn đoán và điều trị
Nước mưa chảy tràn :
Nước mưa chảy tràn được kiểm soát và thu gom bởi hệ thống sau :
Mái nhà hứng và hệ thống ống thu nước mưa từ mặt bằng mái xâydựng, thông thường hệ thống máng sắt PVC loại 120-180 mm được lắpđặt phủ đều diện thu và thoát nước
Hệ thống rãnh, cống và các hố ga thu bảo đảm thu nước chảy tràn trênmặt bằng khuôn viên bệnh viện Hệ thống này thường được thiết kế vàthi công kiểu rãnh gom quanh nhà, cống thoát nước xây gạch hay ốngbê tông li tâm Kích thước cống và ống tăng dần từ điểm thu gom đầutiên cho tới khi đổ ra bể điều hòa hoặc lưu vực, thông thường từ 250-
600 mm đối với cống bê tông
Hệ thống khống chế thủy lực chủ yếu được dựa vào nguyên tắc tựchảy theo độ dốc tự nhiên của mặt bằng bệnh viện và cách thiết kế thicông Độ dốc trung bình khoảng 1-1.5 % đảm bảo dòng tự chảy thoátnước tốt
Hệ thống thu, dẫn thoát nước mưa chảy tràn có chi phí đầu tư cơ bảntương đối cao, thông thường khoảng gấp 5 lần chi phí hệ nước cấp, dovậy nhiều bệnh viện không nhận thức được nên đã thực hiện khônghoàn chỉnh ở khâu này Phần lớn sự hoạt động kém hiệu quả của hệ
Trang 25thống thoát nước mưa chảy tràn là do nhận thức và hành động chưađúng ngay từ trong quá trình thiết kế thi công công trình cho tới cảtrong quá trình vận hành và bảo dưỡng hệ thống.
Nước thải chuyên môn :
Nước thải từ hoạt động chuyên môn khám bệnh, chuẩn đoán và điều trịđược thu bởi hệ thống ống thu được lắp đặt trong công trình nhờ hệ thống thu củachậu rửa Cách bố trí và đường ống tăng dần từ các điểm thu cục bộ tới các ốnggóp và cuối cùng đưa về trạm xử lý bằng hệ thống ống dẫn riêng:
Trước Sau xử lý
trước
Hình.1 – Sơ đồ nguyên tắc thu gom và xử lý nước thải bệnh viện
2.4.2.2- Xử lý nước thải y tế.
Nguyên tắc và yêu cầu xử lý nước thải y tế:
Nước thải y tế phải được xử lý trước khi thải ra lưu vực Tiêu chuẩn áp dụng làTCVN 6772-2000
Bảng.4- Tiêu chuẩn và yêu cầu một số chỉ tiêu nước thải bệnh viên:
Hệ thống nước thải chung
Nước mưa
chảy tràn
Nước sinh
hoạt
Trang 26(Nguồn :Môi trường bệnh viện- Cục bảo vệ môi trường )
Các phương pháp xử lý nước thải y tế có thể phân loại theo bản chất củaphương pháp hoặc theo chức năng cửa phương pháp Theo bản chất của phươngpháp có 2 nhóm :
Các phương pháp hóa lý:
Các phương pháp chắn rác : Dùng các ghi bằng sắt hoặc bê tông có khethông thoáng từ 2-5m m đủ để chắn rác thô
Phương pháp loại cặn cơ học: Kênh bể lắng cát thường được bố trí tronghệ thống xử lý hoặc làm hại các cơ cấu chuyển động phía sau Thườngcác thông số thiết kế phải tính sao cho có thể loại được cát có kích thướctới 0.15m m tương ứng với tốc độ thủy lực là 13.2mm/s
Cyclon thuy lực : Được dùng trong trường hợp tách các loại cặn cơ học cókích thước 5-5000 µm
Lưới lọc:Dùng tách cặn cơ học, rong rêu trong trường hợp xử lý nước thảibệnh viện thường được chế tạo bằng thép không rỉ, hợp kim đồng Nikenhoặc Polieste có kích thước lỗ 5-500 µm
Bể điều hòa: Nước thải có lưu lượng và mức ô nhiễm không đều vàkhông đồng nhất theo thời gian, để ổn định chế độ làm việc chohệ thốngxử lý cần ổn định nước thải đầu vào cả về lưu lượng và mức độ ô nhiễmbằng các bể chứa có dung tích được thiết kế tính toán cho cả trường hợplưu lượng tối đa và tôi thiểu
Trang 27 Phương pháp làm thoáng: Làm thoáng tự nhiên có ứng dụng hạn chếtrong xử lý nước ngầm nhiễm sắt hoặc mangan, nhưng ở mức độ nhất địnhcó khả năng làm giảm một số chất tan có khả năng bay hơi cao như CO2,
H2S, các chất khí cácbua hyđro mạch ngắn
Phương pháp nhiệt: Dùng trong trường hợp chưng cất nhằm mục đích tậnthu các chất đắt tiền trong nước thải công nghiệp hoặc nước thải y sinhhọc
Phương pháp oxy hóa :Dùng các tác nhân oxy hóa khác nhau như khôngkhí, oxy,clo các hợp chất chứa Clo, Ozon, KMnO4… Đặc biệt là kỹ thuậtsử dụng Clo hay hợp chất chứa clo còn dùng rộng rãi trong khử trùng xửlý nước thải bệnh viện
Kỹ thuật hấp phụ: Là kỹ thuật xử lý các chất hữu cơ hòa tan gây ra màulạ, thường người ta dùng than hoạt tính Than hoạt tính có thể đưa vào saucông đoạn tạo bông hoặc bố trí trước khi thải ra dưới dạng cột hấp phụhay bể hấp phụ
Tuyển nổi:Kỹ thuật tuyển nổi thường được áp dụng trong trường hợp táchcác chất lỏng nhẹ hơn nước ra khỏi nuớc
Lọc: Kỹ thuật lọc thường được thực hiện sau bước keo tụ và lắng
Nhóm phương pháp vi sinh:
Xử lý hiếu khí cặn lơ lửng: Nước sau khi được chỉnh tới pH thích hợp,thêm N, P vào nếu cần sao cho tỷ lệ hữu cơ theo chỉ sốBOD5/N/P=100/5/1 là thích hợp
Bể phốt: Là bể thổi khí, quá trình sục khí phản ứng được thực hiện trongbồn, cặn lơ lửng được lắng tiếp theo Trong bể xảy ra các quá trình sinhhọc, các vi khuẩn hiếu khí nhân lên và phát triển rất mạnh, trong điềukiện đủ oxy, đủ chất dinh dưỡng là các hợp chất hữu cơ có trong nướcthải, với đặc điểm sinh lý, dinh dưỡng của vi khuẩn mỗi ngày một còn có
Trang 28thể chuyển hóa một lượng thức ăn gấp 40 lần trọng lượng tế bào vi khuẩnnên hợp chất hữu cơ bị phân hủy và giảm thiểu rất nhanh.
Xử lý hiếu khí cặn cố định: Lớp vi sinh được nuôi cấy trên các vật liệumang cò bề mặt càng phát triển càng tốt
Lọc sinh học : Cấu tạo tương tự bể lọc cát nhưng có bố trí luồng khí thổitừ dưới lên, vật liệu lọc thô hơn để tăng diện tích giá thể bám
Bể lọc nhỏ giọt: Nước thải được rải đều và phân bố trên toàn bộ bề mặtlớp vật liệu lọc bằng một cơ cấu lọc nhỏ giọt
Xử lý yếm khi căn lơ lửng : Ưu điêm của phương pháp này :
Chịu được nồng độ hữu cơ cao(BOD5 từ 1500-15000 mg/l)
Lượng bùn thải ít
Chi phí vận hành thấp thậm chí còn đem lại hiệu quả kinh tế cao
Xử lý yếm khí cặn cố định: Lớp vi sinh được cố định trên hạt vật liệu xốpvà được tuần hoàn từ trên xuống dưới nhờ hệ thống bơm
Hồ sinh học: Có thể dùng các ao hồ đủ rộng để xử lý nước thải y tế Nếuhồ nông và có độ sâu trung bình <0.7m thì quá trình xảy ra là hiếu khí.Nếu hồ có độ sâu hơn thì phía trên là quá trình phân hủy hiếu khí, phíadưới là quá trình phân hủy kỵ khí
2.4.3.- Khí thải
Một số thiết bị được lắp đặt thêm hệ thống xử lý khí thải Tùy thuộc thànhphần rác đem đốt như rác có PVC, Plastic, những loại mà trong thành phần khicháy có chứa nhiều Cl, NO, SOx có thể tạo thành acid HOCl, HCl, HNO3 do vậycác chất này cần được xử lý sơ bộ để không gây ô nhiễm thứ cấp
Lò đốt đa vùng thường cấu tạo hai buồng đốt sơ cấp hay nhiệt phân vàbuồng đốt thứ cấp hay buồng oxy hóa với nhiều giai đoạn cháy khác nhau ở cảtrong hai buồng đốt :
Buồng đốt sơ cấp gồm hai diễn biến :
Trang 29 Giai đoạn 1 : Chất thải rắn được sấy khô
Giai đoạn 2 : Cháy và khử khí (cácbon hóa)
Buồng đốt thứ cấp gồm 3 diễn biến:
Giai đoạn 1 : Phối trộn
Giai đoạn 2 : Đốt cháy khử khí
Giai đoan 3 : Oxy hóa hoàn toàn
Sự cân bằng năng lượng giữa hai buồng đốt này là vấn đề quan trọng nhất,chúng phải có nội thất, kích cỡ phù hợp để thực hiện một mức độ nạp chất thảinhất định trong mỗi buồng đốt nếu qúa nhiều năng lượng được tạo ra trong buồngđốt chính thì khí cháy tạo ra sẽ tăng lên và dẫn đến tốc độ cao hơn
Thiết bị xử lý và làm mát khí thải:
Trong những trường hợp đặc biệt có yêu cầu rất cao về kiểm soát ô nhiễmthứ cấp kiểm soát chất lượng khói thải, lò đốt được trang bị them hệ thống xử lýkhói thải Công nghệ xử lý tiên tiến hiện nay thường có hai phương pháp xử lý :Xử lý khô và xử lý ướt
Xử lý khô :
Phương pháp này sử dụng hóa chất ở dạng bột như CaO để trung hòa cácchất ô nhiễm trong khí thải, và một túi lọc ( lọc sợi hoặc lọc tĩnh điện) để loại bỏcác muội và bụi
Trước khi xử lý, khói thải được làm mát đến nhiệt độ 170-2500 C theonguyên lý trao đổi nhiệt “ không khí- Khói thải” hoặc “ Nước – Khí thải” Ở giaiđoạn này có thể kết hợp thu hồi nhiệt để sử dụng sau đó phun vôi trực tiếp vàodòng khí thải, vôi sẽ phản ứng với các khí hơi axít để tạo muối trơ Các muối nàycùng với tro và bụi bị bộ lọc giữ lại Phương pháp xử lý khô đơn giản, kinh tế vàđạt hiệu quả cao
Xử lý ướt:
Trang 30Khí thải sau khi ra khỏi buồng đốt sau đi vào khu vực trung hòa và tháp lọc,dung dịch lỏng (sođa) được phun trực tiếp vào dòng khí để hấp phụ loại bỏ cácchất ô nhiễm như SOx, HCl, OCl, Halogen … và các kim loại nặng, kể cả thủyngân Đồng thời khí thải được làm mát tới nhiệt độ 700C, sau đó hút bằng quạt giódẫn tới ống khói.
Hiệu quả của phương pháp ướt cực kì cao, trị số phát tán ô nhiễm thứ cấpvào môi trường rất thấp Tuy nhiên phương pháp này khá phức tạp và chi phí đầu
tư vận hành cao
Mặc dù hiệu quả xử lý cao nhưng phương pháp xử lý ướt còn sinh ra một sốnhược điểm rất lớn là dung dịch hóa chất sau khi xử lý sẽ là nguồn gây ô nhiễm ởdạng lỏng
2.4.4 – Ngăn ngừa và giảm thiểu.
Một cách có hiệu quả kinh tế, xã hội trong quản lý chất thải nói chung vàquản lý chất thải y tế nói riêng là tiến hành các biện pháp tổ chức quản lý, kỹthuật, chính sách để giảm thiểu ngay chất thải y tế từ nguồn phát sinh
Nguyên tắc:
Giảm thiểu chất thải tại nguồn: Biện pháp lựa chọn thay thế vật liệu gì saocho lượng phế thải nhỏ nhất hay lựa chọn nhà chung cấp vật tư thuốc men, lươngthực… cho bệnh viện mà có lượng thải bỏ nhỏ nhất Tại các nước công nghiệpphát triển, do khuynh hướng phát triển bền vững nên thường các nhà sản xuấtphải tuân thủ luật bao bì, nội dung chính là giảm thiểu lượng bao bì phải chịutrách nhiệm với lượng bao bì do mình làm ra, theo đó người sử dụng sẽ thải bỏvào môi trường ít đi
Tăng cường sử dụng sản phẩm thu hồi: Sử dụng các vật liệu, vật tư có khảnăng thu hồi, tái sử dụng lại được Trong bệnh viện có khá nhiều loại dụng cụ lâubền, sử dụng nhiều lần là trong phẫu thuật, khám bệnh sơ cứu, cấp cứu, xétnghiệm chuẩn đoán… Những vật tư, dụng cụ lâu bền như các dụng cụ kết xương,
Trang 31dụng cụ thăm khám thường dùng lại sau khi đã rửa sạch và vô khuẩn, khử khuẩn.Mặc dầu vậy, khuynh hướng hiện nay tăng cường sử dụng các dụng cụ sử dụngmột lần như kim tiêm vì tính tiện lợi của các dụng cụ này đối với thầy thuốc, vìyêu cầu của bệnh nhân nên có sự lạm dụng đối với các vật tư tiêu hao sử dụngmột lần dẫn đến làm tăng chất thải y tế Trong thực tế một số dụng cụ có thể thuhồi lại được và sử dụng vẫn hiệu quả, an toàn về mặt chất thải vì mang lại kinh tếnhư các loại nẹp cố định dùng trong chấn thương, đồ vải dùng trong các thủthuật…
Thực hành quản lý và kiểm sóat tốt : Bằng biện pháp này cũng góp phầngiảm thiểu được lượng chất thải y tế Các hoạt động cụ thể cần chú ý: quản lý,giám sát thường xuyên các dụng cụ, thuốc men, thực phẩm hóa chất có thời hạnsử dụng Nhờ biện pháp theo dõi chặt chẽ nên không để bất kỳ loại vật tư, dụngcụ thuốc men hay thực phẩm nào bị hết hạn sử dụng do vậy cũng giảm thiểulượng chất thải y tế
Các biện pháp chính.
Giảm thiểu tại nguồn:
Chọn các nhà cung cấp, hậu cần bệnh viện mà sản phẩm của họ ítphế thải hay giảm lượng chất thải rắn y tế nguy hại phải xử lý đặcbiệt
Sử dụng các biện pháp khử trùng tẩy uế cơ lý học nhiều hơn cácbiện pháp hóa học sẽ giảm thiểu chất thải nguy hại
Giảm thiểu chất thải nhất là trong công tác hộ lý và khử trùng, tẩyuế
Quản lý và kiểm sóat ở bệnh viện:
Tập trung quản lý thống nhất các loại thuốc, hóa chất nguy hại
Giám sát sự luân chuyển lưu hành hóa chất, dược chất ngay từkhâu nhận, nhập kho, sử dụng và tiêu hủy hay thải bỏ
Trang 32 Quản lý kho hóa chất, dược chất:
Thường xuyên nhập hàng từng lượng nhỏ hơn nhập quá nhiều mộtđợt để dẫn tới thừa hay quá hạn
Sử dụng các lô hàng cũ trước hàng mới nhập kho dùng sau
Sử dụng toàn bộ thuốc, dược chất, vật tư trong kiện rồi mới chuyểnsang kiện mới
Thường xuyên kiểm tra hạn sử dụng các loại thuốc, dược chất, vật
tư tiêu hao ngay từ khi nhập hàng cũng như trong quá trình sửdụng
Trang 33CHƯƠNG 3 MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC BỆNH VIỆN VÀ TRUNG TÂM Y TẾ TẠI TP MỸ THO – TIỀN GIANG
3.1- ĐẶC ĐIỂM MẠNG LƯỚI Y TẾ CỦA TP MỸ THO
Thống kê số liệu về mạng lưới y tế của Tp Mỹ Tho: Các số liệu về bệnhviện, trạm y tế, cơ sở y tế cho kết quả như sau:
Bảng 5 : Số liệu y tế của Tp Mỹ Tho năm 2001-2005:
Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005
BV khám chữa bệnh Giường 725 725 866 886 890Số lượt người khám Ngàn lượt người 338 339 936 938 948Lsượt người điều trị nội trú Ngàn lượt người 41 42 55 61 49
(Nguồn: Số liệu phát triển kinh tế xã hội của TP Mỹ Tho 2005)
Trang 34Thành phố Mỹ Tho tính đến năm 2006 có 7 bệnh viện và 15 trung tâm y tế,một số bệnh viện nằm tập trung gần nhau như bệnh viện Đa Khoa Trung tâmTỉnh, bệnh viện Phụ Sản, bệnh viện Y học Cổ truyền Với đội ngũ cán bộ y bác sĩđông đảo đã và đang từng bước khắc phục một số nhược điểm trong công tácchăm sóc sức khỏe bệnh nhân.
3.2- HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC BỆNH VIỆN VÀ TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ MỸ THO
3.2.1- Phân loại chất thải bệnh viện
Theo báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, đa số các bệnh viện(81.25%) đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn nhưng việc phân loạicòn nhiều phiến diện và kém hiệu quả, do nhân viên tham gia công tác này chưađược đào tạo đủ Việc phân loại còn chưa theo đúng quy cách như các vật sắcnhọn trong chất thải rắn y tế đang còn lẫn nhiều chất thải rắn sinh họat Cònnhiều bệnh viện(45%) chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tếlàm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chấtthải
Bảng 6 - Phân loại chất thải tại một số bệnh viện của thành phố M ỹ Tho:
Loại chất thải Túi màu
3.Lưỡi dao mổ X
4.Lưỡi dao cạo X
5.Kim chọc dò X
6.Các vật sắc
nhọn khác
X7.Pipet, ống X
Trang 35mao dẫn, lam
- Xử lý bằng phương pháp thiêu đốt
thông tiểu, ống
thông dạ dày
X
18.Các ống X
Trang 36dẫn lưu
19.Lọ, ống
thuốc và các
vật dụng khác
- Với các chấtthải ở mục 21
& 22 thì phải được xử lý sơ bộ ngay tại nơi phát sinh trước khi đưa
ra nơi xử l ý tập trung
dụng nuôi cấy,
lưu giữ, các tác
chủng hoặc các
loại môi trường
nuôi cấy
X
22.Bất kỳ loại
nào trong số
Trang 3724.Giẻ lau X
- Đựng trong túi nilông và thùng thu gomchất thải màu xanh
- Chuyển tới nơi thu gom rác của thành phố theo hợp đồng của Công Ty Môi Trường Đô Thị
và các chất
thải sinh hoạt
khác
X
(Nguồn : Trung tâm y tế dự phòng Tiền Giang)
3.2.2 Nước thải