Với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước cùng 54 dân tộc anh em, Việt Nam có một nền văn hóa phong phú, đa dạng, được đúc kết qua bao nhiêu thế hệ. Có thể thấy cùng với quá trình phát triển kinh tế là những bước thăng trầm của văn hóa. Qua gần ba mươi năm đổi mới đất nước đã có những bước phát triển đáng ghi nhận. Chúng ta không chỉ đổi mới về kinh tế, xã hội mà còn đổi mới trong nhận thức và tư duy: Phát triển kinh tế gắn bó hữu cơ với phát triển văn hóa – đó là định hướng của sự phát triển bền vững. Từ khi bước vào công cuộc Đổi mới năm 1986 nền văn hóa nước ta được phục hưng trở lại: hàng loạt các lễ hội truyền thống được khôi phục. Hàng năm đều diễn ra các đợt kiểm kê di tích và trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử, Cục Di sản văn hóa ra đời năm 2003 mà tiền thân là Cục (Vụ) Bảo tồn bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa thông tin từ những năm 1960 (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch),….đã làm cho nền văn hóa nước ta như bước vào một trang mới, cả dân tộc khí thế bắt tay vào công cuộc cải cách kinh tế, xã hội. Theo thống kê của Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 8000 lễ hội mỗi năm, trong đó chiếm 88% là lễ hội dân gian. Qua các quá trình lịch sử cùng với các chính sách của Nhà nước, địa phương các lễ hội trải qua nhiều sự biến đổi.
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KHCN và NVQG Khoa học công nghệ và nhân văn quốc gia
VHTT & DL Văn hóa thể thao và du lịch
JICA Japan International Cooperation Agency
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỔ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới GS.TS Ngô ĐứcThịnh – người thày đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bảncũng như những đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành bản luận văn này
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các thày cô, các cán bộ Viện Việt Namhọc và khoa học phát triển, Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiến tốt nhất cho tôi
có thể tham gia học tập và hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
Tôi xin gửi lời tới các cụ cao niên trong làng Tức Mặc cùng các đồng chí lãnh đạocủa Ủy ban nhân dân phường Lộc Vượng, tp Nam Định và Ban quản lý khu di tích đềnTrần – chùa Tháp, tp Nam Định Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn bà Trịnh Thị Nga –cán bộ tổ nghiên cứu sưu tầm Ban quản lý khu di tích đền Trần – chùa Tháp, tp NamĐịnh đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú và trả lời nhiều cuộc phỏng vấn trong suốt quátrình thực tế tại địa phương
Sau hết, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bàn bè tôi – những người luôn quantâm, chia sẻ, động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian qua
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2015
Học viên
Nguyễn Quỳnh Ngân
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong bản luận văn này hoàn toàn trung thực các sốliệu và kết quả công bố trong luận văn là công trình nghiên cứu nghiêm túc của tôi Nếu
có gì sai phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước đơn vị đào tạo và pháp luật
Trang 4Hà Nội, ngày… tháng… năm 2015
Học viên
Nguyễn Quỳnh Ngân
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang 5Với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước cùng 54 dân tộc anh em, ViệtNam có một nền văn hóa phong phú, đa dạng, được đúc kết qua bao nhiêu thế hệ Có thểthấy cùng với quá trình phát triển kinh tế là những bước thăng trầm của văn hóa Qua gần
ba mươi năm đổi mới đất nước đã có những bước phát triển đáng ghi nhận Chúng takhông chỉ đổi mới về kinh tế, xã hội mà còn đổi mới trong nhận thức và tư duy: Phát triểnkinh tế gắn bó hữu cơ với phát triển văn hóa – đó là định hướng của sự phát triển bềnvững
Từ khi bước vào công cuộc Đổi mới năm 1986 nền văn hóa nước ta được phục hưngtrở lại: hàng loạt các lễ hội truyền thống được khôi phục Hàng năm đều diễn ra các đợtkiểm kê di tích và trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử, Cục Di sản văn hóa ra đời năm 2003
mà tiền thân là Cục (Vụ) Bảo tồn bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa thông tin từ những năm
1960 (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch),….đã làm cho nền văn hóa nước ta nhưbước vào một trang mới, cả dân tộc khí thế bắt tay vào công cuộc cải cách kinh tế, xã hội.Theo thống kê của Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch Việt Nam hiện nay có khoảng hơn
8000 lễ hội mỗi năm, trong đó chiếm 88% là lễ hội dân gian Qua các quá trình lịch sửcùng với các chính sách của Nhà nước, địa phương các lễ hội trải qua nhiều sự biến đổi
Từ năm 2000 trở lại đây cứ đầu xuân năm mới những địa điểm như: hội Phủ Dầy(Nam Định); đền Sòng (Thanh Hóa); chùa Hương (Hà Nội); đền Bà Chúa Kho (BắcNinh),…hay bất kì đền chùa nào nổi tiếng bởi tính “thiêng” mà người ta đồn thổi nhau thìnhân dân đều kéo nhau đến thắp hương, cầu tài lộc, công danh, … lễ hội đền Trần, tỉnhNam Định là một trong những lễ hội được phục dựng và thu hút đông đảo sự tham giacủa du khách thập phương từ mọi miền đất nước
Trấn Sơn Nam Hạ xưa (nay là thành phố Nam Định) còn được gọi là phủ ThiênTrường – một vùng đất địa linh nhân kiệt, với hào khí Đông A rực rỡ đất trời, được coi làkinh đô thứ hai sau kinh thành Thăng Long của thế kỷ XIII – XIV Nơi đây đã sản sinh ranhững vị vua anh minh, những tướng lĩnh kiệt xuất làm nên ba lần chiến thắng vang dộicủa dân tộc Việt Nam đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông, cùng truyền thống hiếu
Trang 6học góp phần gây dựng nên vương triều Trần hùng mạnh, trở thành một trong những triềuđại đỉnh cao của chế độ phong kiến ở nước ta Và ngày nay dấu ấn đó còn lưu lại tại ditích và lễ hội đền Trần, nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định.
Ngày 15/10/2007, Thủ tướng chính phủ đã quyết định phê chuẩn xây dựng dự án bảotồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử văn hóa thời Trần ở Nam Định Nhậnthấy được giá trị khoa học và lịch sử lớn của triều Trần, ngày 27/9/2012, khu di tích lịch
sử văn hóa đền Trần – chùa Tháp được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt do Thủtướng chính phủ kí quyết định Ngày 19/12/2014, lễ hội đền Trần được công nhận là disản văn hóa phi vật thể quốc gia
Lễ hội đền Trần bao gồm hai lễ hội lớn trong năm là lễ khai ấn tổ chức vào đêm 14rạng ngày 15 tháng giêng và lễ hội tháng Tám nhân ngày kỵ Đức Thánh Trần diễn ra từngày mùng 1 đến ngày 20 tháng tám âm lịch hàng năm
Đặc biệt lễ khai ấn được tổ chức vào đêm 14 rạng ngày 15 tháng giêng hàng năm làmột trong những lễ hội lớn của tỉnh, trong khoảng hơn mười năm trở lại đây đã vượt rakhỏi phạm vi hương thôn Tức Mặc, trở thành một lễ hội của quốc gia, thu hút được hàngvạn du khách trên khắp mọi miền đất nước Trải qua từng thời kì lễ khai ấn tại đền TrầnNam Định đã có những giai đoạn phát triển khác nhau Từ một nghi lễ cung đình của vuaquan triều Trần trở thành một nghi lễ lưu truyền trong dòng họ Trần được tổ chức bởi các
vị cao niên trong làng và đến nay tục lệ này được Nhà nước hóa Vì vậy lễ khai ấn đượcdiễn ra tại một không gian thiêng (quần thể di tích văn hóa Trần – hành cung ThiênTrường xưa), vào thời gian thiêng (canh Tý đêm ngày 14 tháng giêng – thời gian mà cácquan chức, nhân dân mở đầu cho một năm lao động, làm việc mới) và tính thiêng của “láấn” được đóng vào canh Tý đêm ngày 14 tháng giêng
Qua đó có thể thấy di tích và lễ hội đền Trần, tp Nam Định chứa đựng giá trị di sảnvăn hóa lớn của một triều đại phong kiến Việt Nam Do đó vấn đề bảo tồn và phát huygiá trị di sản này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia, dântộc
Trang 7Mặt khác trong quá trình phục dựng lễ hội nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp dẫn đếnnhững giải thích và quan niệm sai lầm về một số ý nghĩa của lễ hội Điều này làm cho lễhội đền Trần trở thành một vấn đề nóng bỏng của dư luận xã hội.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng hiện nay khuynh hướng “Nhà nước hóa lễ hội” đangdiễn ra sâu rộng trên cả nước Điều này thể hiện ở chỗ người dân sở tại với tư cách là chủthể của lễ hội đang dần mất vai trò và có thể bị gạt ra ngoài lễ hội, trở thành những ngườithụ động.Việc nhà nước can thiệp quá sâu làm cho lễ hội bị sân khấu hóa bởi các diễnviên nghệ thuật chuyên nghiệp theo một kịch bản có sẵn do đạo diễn dàn dựng Một số lễnghi trong lễ hội cũng bị nhà nước hóa khi có quá nhiều quan chức chính quyền các cấpđến dự lễ và theo một kịch bản mang tính hành chính nhà nước Khuynh hướng này đanglàm triệt tiêu tính sáng tạo của dân chúng, làm cho lễ hội mất đi tính hồn nhiên, sinh độngvốn có của một lễ hội dân gian1
Quần chúng nhân dân là những đối tượng đã sáng tạo nên lịch sử và văn hóa vậy
có nên hay chăng trong công cuộc bảo vệ và phát huy những giá trị di sản văn hóa ngườidân trở thành đối tượng thụ động, bị đặt ra ngoài lề công cuộc này
Do đó cần đặt ra vấn đề phục dựng lễ hội để gìn giữ giá trị nguyên bản cho lễ hội
và trả lại vai trò chủ thể sáng tạo của lễ hội cho cộng đồng cư dân địa phương
Từ những lý do trên, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích và lễ hội đền Trần, tỉnh Nam Định”
làm luận văn tốt nghiệp hệ đào tạo thạc sĩ ngành Việt Nam học tại Viện Việt Nam học vàkhoa học phát triển của chúng tôi sẽ góp phần vào việc bảo vệ di tích, cảnh quan, môitrường, giữ gìn bản sắc dân tộc, chủ quyền quốc gia, quảng bá hình ảnh đất nước conngười Việt Nam, nâng cao ý thức người dân đối với việc phát huy những giá trị di sảnvăn hóa, khẳng định vai trò chủ thể của cộng đồng nhân dân với di tích và lễ hội là nhữngvấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cấp thiết hiện nay
1Bộ VHTT & DL, Cục DSVH: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Hà Nội, 2012, tr.49.
Trang 8Đặc biệt trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay văn hóadân tộc nói chung và di sản văn hóa nói riêng đã và đang phải đối mặt với nhiều thời cơ
và thách thức lớn Nhằm thực hiện mục tiêu “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc” đã có không ít công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giátrị di sản văn hóa của các học giả trong và ngoài nước
2.1 Nhóm nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nước ngoài
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là một đề tài nghiên cứu luôn thu hútđược sự quan tâm đông đảo của các học giả Ở mỗi quốc gia có một sự hình thành vàphát triển văn hóa khác nhau nên chính phủ lại có một phương pháp, cách tiếp cận vấn đềbảo tồn và phát huy di sản riêng biệt và có những bài học kinh nghiệm sâu sắc
Trên phương diện pháp lý, UNESCO đã có Công ước về bảo vệ di sản văn hóa vàthiên nhiên thế giới (năm 1972) sau quá trình thực hiện bảo vệ di sản văn hóa từ nhữngnăm 45 của thập niên 90
Có thể kể đến như Alfey, J và Putnam, T2 cũng như Ashworth, G.L và P.JLarkham3 đã coi di sản như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý disản tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logicquản lý đặc biệt phù hợp với tính đặc thù của di sản Các nhà nghiên cứu phương Tây lạicho rằng không thể không đề cập tới phát triển du lịch trong vấn đề bảo vệ và phát huy di
2 The Industrial Heritage:Maganing Resources and User Routedge, 1992
Trang 9sản như Boniface và Fowler4 Prentice5, Họ cho rằng quản lý di sản và du lịch có thểđem lại lợi ích cho cả du khách cùng cộng đồng sở hữu các di sản nếu du lịch được điềuhành một cách đúng hướng Bên cạnh đó các tác giả cũng đặt việc quản lý di sản dướicách tiếp cận toàn cầu hóa Ở đó các giá trị độc đáo của mỗi nền văn hóa cần được lưugiữ, được hỗ trợ bởi Nhà nước trước những thách thức của sự đồng dạng về văn hóa nhưCorner và Harvey, Boniface và Fowler6.
Ngoài ra các tác giả nước ngoài cũng quan tâm đến việc làm thế nào để lưu giữđược các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương pháp kĩ thuật mới nhưMoore7 và Caulton8.Năm 2004 tổ chức JICA của Nhật Bản cùng với Bộ Nông nghiệp vàphát triển nông thôn có nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công Việt Nam
2.2 Nhóm nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong nước
Những nhà nghiên cứu văn hóa như: GS.TS Nguyễn Văn Huyên, Phan Khanh,GS.TS Ngô Đức Thịnh,GS.TSKH Lưu Trần Tiêu, GS Vũ Khiêu, Cố GS Trần QuốcVượng, là những tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn góp phần bảo tồn vàphát huy giá trị di sản văn hóa nước ta
Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, có nhiều công trình nghiên cứu
về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa như: Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.09
bao gồm Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long – Hà Nội do PGS.TS Nguyễn Chí Bền chủ biên và Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Thăng Long – Hà Nội do PGS.TS Võ Quang Trọng làm chủ biên Mỗi nghiên cứu trên
đều có những cách nhìn khác nhau tuy nhiên đã nêu rõ khái niệm, mối quan hệ giữa bảotồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, các di sản văn hóa mà Thăng Long Hà Nội đang sở
4 Heritage and Tourism in the global village Routedge, 1993
5 Tourism and Heritage Attractions.Routedge, 1993
6 Entersprise and Heritage:Crosscurents of National Culture, Routedge, 1991
7 Museum Management Routedge, 1997
8 Hands on Exhibitions Routedge, 1998.
Trang 10hữu, kinh nghiệm về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của các quốc gia trên thếgiới và bài học rút ra cho chúng ta.
Nghiên cứu về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa còn một số công
trình khác như Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại
(trường hợp Hội Gióng) là cuốn sách tập hợp các nghiên cứu trong Hội thảo về Hội
Gióng vào tháng 4 năm 2010 do Viện Văn hóa nghệ thuật tổ chức với quá trình nghiêncứu và sưu tầm hội Gióng ở các địa phương và vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của lễhội này
Hai tập Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam được GS Nguyễn Văn Huyên
được biên soạn lại vào năm 1996 bao gồm những ghi chép của ông đã cho người đọc mộtcái nhìn toàn cảnh về lễ hội truyền thống như Lễ hội Gióng, lễ hội thờ Phục Man ở YênSở,… cùng một số tục thờ dân gian cùng một số công trình kiến trúc tiêu biểu vào thế kỷXIX là những tư liệu vô cùng quý báu để sau này khi phục dựng lại chúng ta có một lớpcăn cứ cơ bản
Bộ sách Một con đường tiếp cận di sản văn hóa Việt Nam do Bộ Văn hóa Thể thao
và Du lịch cùng với Cục Di sản văn hóa biên soạn từ 2005 – 2012 là tập hợp các côngtrình nghiên cứu của nhiều tác giả trên các tạp chí Di sản văn hóa đã góp phần giải mãmột số hiện tượng văn hóa, tiếp cận di sản dưới nhiều góc độ khác nhau đã một phần hỗtrợ cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc, nâng cao tầmnhận thức của mỗi cá nhân
2.3 Nghiên cứu về di tích và lễ hội đền Trần, tỉnh Nam Định
Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh,
sự phối hợp của các cơ quan trung ương, chính quyền địa hương Sở VHTT & DL đã tổchức nhiều cuộc hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu, tọa đàm nhằm từng bước làm sáng
tỏ các giá trị lịch sử văn hóa của các di tích, lễ hội, danh nhân thời Trần tại Nam Định:
Trang 11Ngày mùng 8,9/9/1995 Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nam Hà (nay là Nam Định) tổ
chức hội thảo khoa học Thời Trần và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trên quê
hương Nam Hà Hội thảo có 36 tham luận của các nhà nghiên cứu trung ương đến các vụ,
viện nghiên cứu và địa phương Nam Định Hội thảo đã có những tham luận nhằm đánhgiá vai trò, vị thế của vương triều Trần trong các lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, vănhóa xã hội Đặc biệt hội thảo đi sâu nghiên cứu nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp, cônglao của người anh hùng dân tộc Quốc Công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần QuốcTuấn trên quê hương Nam Định
Năm 2006 Sở VHTT Nam Định (nay là Sở VHTT&DL Nam Định) thực hiện đề tài
khoa học cấp tỉnh Lễ hội và các giải pháp quản lý lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định
nhằm nghiên cứu, đánh giá giá trị, thực trạng và đề ra các biện pháp tích cực trong việc tổchức, quản lý và phát huy các giá trị của lễ hội, trong đó có lễ hội đền Trần tại phườngLộc Vượng, tp Nam Định
Ngày 4 tháng 7 năm 2009 được sự đồng ý của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nam Định và BộVHTT & DL, Sở VHTT&DL Nam Định phối hợp với UBND tp Nam Định và Viện Văn
hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học: Lễ khai ấn đầu xuân tại
đền Trần Nam Định giá trị và giải pháp bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc.
Tháng 9 năm 2011 Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nam Định tổ chức hội thảo khoa học: Luận
cứ khoa học tổ chức kỷ niệm 750 năm Thiên Trường – Nam Định Hội thảo đã thu hút sự
tham gia của nhiều học giả ở trung ương, các nhà nghiên cứu Đây là cơ sở khoa học vàpháp lý làm tiền đề để năm 2012 UBND tỉnh Nam Định tổ chức lễ kỷ niệm 750 nămThiên Trường – Nam Định
Năm 2012 được sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ VHTT &DL, Sở VHTT & DL NamĐịnh phối hợp với UBND tp Nam Định và Viện văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam
tổ chức cuộc hội thảo Mô hình quản lý và tổ chức lễ hội đền Trần, Nam Định Từ khi
thực hiện đề án được đề ra trong cuộc hội thảo này đến nay lễ khai ấn đã được tổ chứctrang trọng, đảm bảo nghi thức truyền thống, đặc biệt là công tác an ninh trật tự đảm đảo,
Trang 12việc chuẩn bị và phát ấn được chuẩn bị chu đáo, đáp ứng được nhu cầu của đông đảo dukhách, không còn hiện tượng chen lấn, xô đẩy như trước.
Là một nhà nghiên cứu rất tâm huyết với triều Trần bởi vậy tác giả Hồ Đức Thọ có
rất nhiều tác phẩm như: Vương phi, công chúa triều Trần; Trần miếu – Di sản văn hóa,
Trần triều Hưng Đạo Đại vương trong tâm thức người Việt viết về công trình kiến trúc
của di tích và những vị vua anh minh, những vị danh tướng, hoàng hậu, công chúa củaTrần triều
Tác phẩm “Di tích lịch sử văn hóa đền Trần – chùa Tháp tỉnh Nam Định” của tác
giả Trịnh Thị Nga như một cuốn cẩm nag cho du khách khi hành hương tới đền Trần –chùa Tháp với cái nhìn tổng quan và bao quát nhất về di tích và lễ hội Hay luận văn
“Khu di tích lịch sử văn hóa đền Trần, tỉnh Nam Định” của thạc sỹ Vũ Đại An năm
2008 là những công trình đã khảo tả một cách chi tiết các công trình kiến trúc và lễ hộiđền Trần
Ngoài ra còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhằm tôn vinh giá trị vănhóa, lịch sử của di tích và lễ hội đền Trần
Có thể thấy các công trình nghiên cứu về quần thể di tích đền Trần rất phong phúnên đã góp phần mô tả cũng như phác họa rất rõ nét các lễ hội và di tích ở tỉnh NamĐịnh nói chung và lễ hội đền Trần nói riêng Qua đó thể hiện màu sắc và giá trị độc đáocủa văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đương đại
Tuy nhiên trong những năm gần đây (từ năm 2006 – 2011) với sự phát triển ngàycàng rộng về quy mô của lễ hội đền Trần đã diễn ra thực trạng người dân chen lấn, xôđẩy nhau để tranh giành lá ấn trong đêm 14 tháng giêng Do đó lễ hội khai ấn đền Trầntrở thành một trong những điểm nóng về dư luận khi xuất hiện nhiều bài viết trên các
báo như “Hậu duệ nhà Trần: Lá ấn bị hiểu sai” (Báo Tiền Phong), “Trẩy hội đền Trần
và khát vọng xin ấn” (Phạm Thu Hà - Tạp chí Người cao tuổi)
Trang 13Trước thực trạng đó báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ “Lễ hội và các giải
pháp quản lí lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định” (Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định - Sở
văn hóa thông tin và du lịch tỉnh Nam Định) năm 2007 và hội thảo Ủy ban nhân dân tỉnhNam Định đã kết hợp cùng Bộ Văn hoá thể thao và du lịch cùng Viện văn hóa nghệ thuật
tổ chức hội thảo “Lễ khai ấn đầu xuân tại đền Trần Nam Định, giá trị và giải pháp bảo
tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc” (năm 2009) nhằm đưa ra giải pháp để bảo
tồn các giá trị truyền thống vốn có của lễ hội đền Trần Có thể nhận thấy rằng báo cáotổng hợp đề tài cũng như như những hội thảo trên chỉ đề cập tới vấn đề quản lý lễ hội,chứ chưa đề cập nhiều tới di tích Mặt khác việc quản lý lễ hội được xây dựng từ gócnhìn quản lý nhà nước, chưa đề cập tới vai trò của người dân địa phương Trong khi đólàng xã là nơi không gian văn hóa linh thiêng đó tồn tại và chính người dân địa phương lànhững người trực tiếp tham gia vào lễ hội, thực hiện những nghi thức cúng tế và đảmnhiệm những vai trò chính trong quá trình diễn ra lễ hội lại không được quan tâm, chútrọng
Vì vậy công trình nghiên cứu của chúng tôi không xem xét vấn đề dưới góc nhìncủa các nhà quản lí văn hóa mà đứng dưới góc nhìn của cộng đồng dân cư với nhữngthành viên trực tiếp tham dự lễ hội và bảo vệ di tích đối với quá trình bảo tồn và phát huygiá trị di tích và lễ hội đền Trần, tp Nam Định
Trang 14Qua đó đề xuất một số giải pháp trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đềnTrần, tp Nam Định nhằm đưa di sản văn hóa này ngày càng thu hút đông đảo quầnchúng, trở thành những giá trị văn hóa tốt đẹp, đưa tín ngưỡng Đức Thánh Trần trở thànhniềm tin tâm linh sâu sắc trong tiềm thức người dân Việt.
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: vai trò của cộng đồng nhân dân trong quá trình bảo tồn và
phát huy giá trị di tích và lễ hội đền Trần
Khách thể nghiên cứu: cộng đồng nhân dân trong bao gồm cộng đồng làng Tức
Mặc, cộng đồng cư dân tại phường Lộc Vượng và cộng đồng cư dân tại tp Nam Định
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Khu di tích lịch sử văn hóa đền Trần với trọng tâm là ba ngôi đền
chính: đền Cố Trạch – đền Thiên Trường – đền Trùng Hoa tại làng Tức Mặc, phườngLộc Vượng, tỉnh Nam Định
Phạm vi thời gian: Số liệu và tài liệu thu thập được từ năm 2001 đến năm 2015.
6 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành đề tài nghiên cứu: “Vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo tồn và
phát huy giá trị di tích, lễ hội đền Trần, tỉnh nam Định” chúng tôi tiến hành các phương
pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu; phương pháp điều trađịnh lượng, định tính; phương pháp hồi cố, phương pháp quan sát và phương pháp liênngành để tiến hành thu thập thông tin, số liệu, hình ảnh nhằm phục vụ cho quá trìnhnghiên cứu của luận văn
6.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu: Đối với các nghiên cứu trong
nước và quốc tế thu thập tư liệu trên cơ sở các sách, bài báo chuyên khảo đã được công
bố tự đó phân loại, hệ thống và hình thành hệ thống thư mục các tài liệu quan trọng nhấttrên cơ sở áp dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu để thấy được các đặc điểm chung
Trang 15cũng như các đặc trưng riêng hiện trạng di tích, của cộng đồng xã hội dẫn đến nghiên cứuvai trò của cộng đồng đối với quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp thu thập thông tin
thực địa cơ bản của đề tài Phiếu trưng cầu ý kiến xây dựng dựa trên cơ sở của nội dungnghiên cứu để thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu
6.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này được sử dụng nhằm bổ sung
thêm thông tin định tính cho điều tra định lượng Các vấn đề không trực tiếp thu nhậnđược trong phiếu trưng cầu ý kiến được chúng tôi đưa vào nội dung của các cuộc phỏngvấn sâu tới các đối tượng có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Cơ cấu đối tượng được lựachọn dựa trên cơ sở giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn, nơi ở sao cho sự phản ánhcủa thông tin thu được có thể mang tính đại diện cho tổng thể trong nghiên cứu
6.4 Phương pháp quan sát: Quan sát kết hợp với phỏng vấn nhanh để tìm hiểu
thực trạng của di tích, nhận thức và nguyện vọng của cộng đồng về các vấn đề nghiêncứu Để có thêm cơ sở phục vụ cho những phân tích đánh giá cho nghiên cứu, tác giả sửdụng phương pháp quan sát trong quá trình đi phỏng vấn bảng hỏi
6.5 Phương pháp liên ngành: Nghiên cứu vai trò của cộng đồng với quá trình bảo
tồn và phát huy giá trị di tích, lễ hội đền Trần, tỉnh Nam Định là sự kết hợp của nhữngkiến thức hiểu biết của nhóm nghiên cứu về nhiều ngành khoa học khác nhau như vănhóa, kinh tế, xã hội, lịch sử, địa lý,… để giải thích một số vấn đề liên quan đến nghiêncứu
7 Đóng góp của đề tài
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu có được chúng tôi mong muốn cung cấp đượcmột số thông tin cơ bản hữu ích và cần thiết về thực trạng quá trình bảo tồn và phát huy
Trang 16di sản văn hóa đền Trần, tỉnh Nam Định (bao gồm di sản văn hóa vật thể và văn hóa phivật thể) cũng như tìm hiểu về nhận thức, vai trò của cộng đồng đối với việc bảo tồn vàphát huy các giá trị của di sản văn hóa đền Trần
Từ đó có những tác động tới người dân để họ ngày càng tham gia vào hoạt độngbảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích, lễ hội đền Trần nói riêng và các di sản trên cảnước nói chung Làm cho chính sách xã hội hóa công tác bảo tồn, trùng tu và phát huygiá trị di tích ngày càng hiệu quả và hữu ích trong quá trình phát triển của tỉnh Nam Định
8 Cấu trúc luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Chương 2: Thực trạng quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích, lễ hội đền Trần.
Chương 3: Sự tham gia của cộng đồng trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích,
lễ hội đền Trần
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
Trang 171.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Là một tỉnh nằm trong đồng bằng châu thổ sông Hồng, Nam Định là vùng đất có lịch
sử hình thành lâu đời Nơi đây cũng chứa đựng những di sản văn hóa độc đáo mà tới nayvẫn còn lưu giữ được, đó là đền Trần, chùa Phổ Minh, Phủ Dầy, chùa Cổ Lễ, nhà thờ BùiChu, Theo thống kê hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 1655 di tích lịch sử văn hóa9, cóhai tôn giáo lớn là đạo Thiên Chúa và đạo Phật Có hơn 700 ngôi chùa và hơn 400 nhàthờ đạo Thiên Chúa Nam Định còn có hàng trăm lễ hội truyền thống, trong đó có lễ hộimang tính quốc gia và vùng miền rộng lớn như lễ hội đền Trần, lễ hội Phủ Dầy
Dân gian ta có câu: “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” Ý thức về Cha chính là
Đức Thánh Trần, Mẹ chính là Mẫu Liễu Hạnh Vì thế hàng năm vào các dịp lễ hội tháng
Ba, tháng Tám du khách thập phương nô nức kéo nhau về tham dự lễ hội
Khu di tích đền Trần – chùa Tháp với những giá trị văn hóa, lịch sử tiêu biểu đã đượccông nhận là di tích cấp quốc gia đặc biệt của tỉnh Nam Định, đã và đang thu hút được sựtham gia đông đảo của quần chúng nhân dân Hành cung Thiên Trường xưa với vị thế làkinh đô thứ hai sau kinh thành Thăng Long chiếm một vị trí quan trọng đối với triều Trầndưới thế kỉ XIII - XIV Sau một thời gian dài do điều kiện chiến tranh và thiên tai hànhcung Thiên Trường xưa không còn nữa Hiện nay khu cung điện được dựng trên nền cũtại làng Tức Mặc, phường Lộc Vượng, tp Nam Định, có tên là khu di tích đền Trần Khu
di tích đền Trần bao gồm đền Thiên Trường (còn gọi là đền Thượng), đền Cố Trạch (còngọi là đền Hạ) và đền Trùng Hoa Xung quanh di tích còn có các địa danh lưu lại dấu ấnvới Thiên Trường như làng Liễu Nha, làng Phương Bông, mỗi ngôi làng thực hiện mộtchức năng riêng biệt đối với hành cung Thiên Trường mà chúng tôi sẽ giới thiệu dướiđây
Gắn liền với di tích là lễ hội đền Trần với hai dịp chính: lễ khai ấn tổ chức vào dịprằm tháng giêng và lễ hội truyền thống Trần Hưng Đạo nhân ngày kỵ của Đức ThánhTrần tổ chức vào dịp tháng tám hàng năm Hai lễ hội này đã có từ lâu đời và vẫn được
9 UBND tỉnh Nam Định, Sở VHTT, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ “Lễ hội và các giải pháp quản lý
lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định”, năm 2007.
Trang 18dân làng Tức Mặc duy trì qua bao thế hệ Tuy nhiên sau công cuộc Đổi mới lễ hội khai ấnđược phục dựng lại một cách quy mô hơn trước và dần dần đã được Nhà nước hóa, vượtqua khỏi tính chất của một địa phương, thu hút đông đảo sự tham gia của quần chúngnhân dân trong, ngoài tỉnh cùng các vị lãnh đạo cấp cao của Nhà nước Trong khoảngmười năm trở lại đây, lễ hội khai ấn đã trở thành điểm nóng của dư luận Khi gõ từ khóa
“lễ khai ấn” trên Google có thể thấy xuất hiện hàng loạt các bài viết nói về lễ hội này:
“Cướp lộc ấn đền Trần, Trèo lên bàn thờ cướp lộc thì đi lễ để làm gì ? ” Ngay trước
giờ khai ấn đền Trần những năm trước đây khi trực tiếp quan sát lễ hội tôi chứng kiếncảnh người dân giẫm đạp lên nhau để ném tiền lên kiệu rước từ đền Cố Trạch sang đềnThiên Trường, cảnh người dân vượt qua các hàng rào để được vào tham dự lễ khai ấn hay
có những người dân sau một hồi chen chúc vào đền thì ngất đi vì mệt lả, Nếu như lễ hội
là nơi con người tìm cho mình một chốn giao hòa với thần linh, cầu mong những điều tốtđẹp cho cuộc sống thì bước vào lễ hội này do sự nhận thức sai lệch, đôi khi là sự mê tín
dị đoan họ đã tự đưa mình đến với những cảnh tượng tiêu cực, gây ấn tượng xấu cho một
lễ hội mang tính quốc gia
Trước thực trạng di tích và lễ hội những năm vừa qua có quá nhiều tiêu cực, trong tâm
tư chúng tôi thôi thúc đi tìm lời giải đáp cho vấn đề nhận thức của cộng đồng về một disản văn hóa và vai trò của cộng đồng trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích và
lễ hội đền Trần Vấn đề nghiên cứu của chúng tôi dựa trên một số khái niệm và lý thuyếtnghiên cứu như sau
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.2.1 Một số khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm vai trò cộng đồng
a Khái niệm “Vai trò”
Vai trò là việc triển khai thực hiện các chức năng những điều kiện kinh tế xã hội vănhoá mang tính lịch sử xã hội cụ thể bằng việc tổ chức các hoạt động xã hội để giải quyếtnhững vấn đề nào đó mang lại những lợi ích mà xã hội mong đợi
Trang 19b Khái niệm và lý thuyết “cộng đồng”
Trong đời sống xã hội, khái niệm “cộng đồng” được sử dụng một cách tương đối rộngrãi để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô, đặc tính
xã hội
Theo nghĩa rộng thì “cộng đồng” là nói đến những khối tập hợp người, các liên minhrộng lớn như cộng đồng thế giới, cộng đồng Châu Âu, cộng đồng các nước Asean Theo nghĩa hẹp hơn thì “cộng đồng” được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là giađình, làng, hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính chung về lý tưởng xã hội, giới,tuổi, nghề nghiệp, thân phận xã hội
“Cộng đồng” theo quan niệm Mác-xít là mối liên hệ qua lại giữa các cá nhân đượcquyết định bởi sự cộng đồng các loại lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về cácđiều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồmcác hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về tưtưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị, chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đương về điều kiện sốngcũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động
Ở nghiên cứu này chúng ta hiểu “cộng đồng” theo quan niệm Mác- xít và theonghĩa hẹp, có nghĩa “cộng đồng” ở đây là những người dân cùng sống trong một làng,một phường, thành phố cùng chung điều kiện sống, những lợi ích mà địa phương manglại cho họ, đồng thời cùng chung những mục đích nhất định trong mối quan hệ hài hòavới mọi người trong cộng đồng
Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh: “Xã hội loài người có nhiều dạng liên kết, tập hợpcon người thành các loại cộng đồng khác nhau, như liên kết theo huyết thống (gia đình,dòng họ), liên kết theo cư trú (làng xã, quốc gia ) và liên kết theo lợi ích (giai cấp,nghiệp đoàn ) Tuy nhiên, hơn tất cả các dạng liên kết hiện tồn, thì gia đình (nhà) vàlàng xã là sự kết hợp tập trung nhất các mối quan hệ huyết thống, cư trú và lợi ích Trong
đó gia đình, gia tộc và mở rộng ra dòng họ là một dạng liên kết mang tính sinh học, huyết
Trang 20thống, liên kết trên cơ sở cùng cư trú và lợi ích, còn làng xã là dạng liên kết dựa trên cơ
sở cùng cư trú và lợi ích Do vậy, gia đình, dòng họ và làng xã là ba dạng liên kết đặctrưng cho xã hội nông nghiệp, nông thôn, hình thành từ lâu đời ngay trong lòng xã hộinguyên thủy, tồn tại trong các hình thái xã hội có giai cấp tiền công nghiệp và chừng mựcnào đó trong xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp
Từ ba dạng liên kết, ba hình thức tổ chức xã hội nông thôn cơ bản nêu trên tạonên các mạng lưới xã hội (social network) khá đa dạng của nông thôn Mạng lưới xã hộiđược hiểu như là mối liên hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội khác nhau trong mộtthực thể xã hội nhất định, dù đó là chính thống hay phi chính thống, thường xuyên haybất thường Các mạng lưới xã hội "chuyên chở" các mối quan hệ qua lại về kinh tế, xã hội
và văn hóa giữa các cá nhân hay nhóm xã hội, bảo đảm tính liên thông, cân bằng, ổnđịnh, gắn kết của một thực thể xã hội Mạng lưới xã hội này thường liên quan tới tính xãhội, gắn kết xã hội và vốn xã hội” Thể chế xã hội có ảnh hưởng quan trọng đối với sựhình thành các mạng xã hội Trong một thực thể xã hội nhất định, luôn luôn có sự hiện
diện của hai hoạt động mạng lưới xã hội Một loại mang tính phi chính thống (phi quan
phương) Thí dụ trong nông thôn Việt Nam cổ truyền các mạng lưới liên quan tới việcmua bán, tương trợ về nông sản, liên quan tới hoạt động thủy nông của một làng hay liênlàng, các quan hệ biếu xén, quà cáp, các mạng lưới liên quan tới nghi lễ, hội hè, tang lễ,cưới xin, mạng lưới liên quan đến các nhóm người đồng niên, đồng khóa Một loại
mạng lưới xã hội khác mang tính chính thống (quan phương), như quan hệ quyền lực
(chính quyền, đảng phái), các tổ chức đoàn thể, hội đoàn Hai hoạt động mạng lưới xãhội mang tính chính thống và phi chính thống này thường xuyên xen trộn, hòa quyện,tương tác, thậm chí xung đột nhau10
Có thể kết luận vai trò của cộng đồng là một quá trình mà trong đó người dân, tổchức xã hội, đoàn thể, chính quyền địa phương nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiếnhành các hoạt động nhằm đáp ứng những mong đợi của xã hội
Trang 21Vai trò của cộng đồng không chỉ đơn giản là huy động nguồn lực cho xã hội màyếu tố quan trọng nhất là phải đảm bảo cho những người chịu ảnh hưởng được tham giavào các quyết định của cộng đồng.
Như vậy theo hai khái niệm trên có thể thấy ngay từ thuở Trần sơ, dòng họ Trầnvới nguồn gốc từ những người dân làng chài chuyên đánh bắt cá để mưu sinh, sau nàylàm ăn giàu có nên đã có những vị trí nhất định trong triều Lý, giúp nhà Lý dẹp loạn, khôiphục triều chính Từ đó từ nhà Lý được chuyển giao sang triều Trần trong hòa bình màvẫn thu phục được lòng dân, làm nên thắng lợi của quân dân Đại Việt trong ba lần khángchiến chống Nguyên Mông cùng sự thịnh trị của chế độ phong kiến dưới vương triềuTrần
Với tinh thần cố kết cộng đồng dòng tộc, họ Trần luôn phát huy tinh thần yêunước, chống giặc ngoại xâm và đồng lòng tri ân với các bậc tiên tổ Ngày nay dòng họTrần tại làng Tức Mặc, phường Lộc Vượng nói riêng và cộng đồng địa phương tại tp.Nam Định nói chung được coi là những chủ thể chính trong việc bảo tồn và phát huy giátrị di sản văn hóa đền Trần, tp Nam Định Vậy cộng đồng này đã có những hoạt độngnhư thế nào nhằm thực hiện tốt vai trò của mình trong quá trình gìn giữ và làm lan tỏanhững tinh hoa văn hóa, giá trị lịch sử tiêu biểu để phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
1.2.1.2 Khái niệm “Bảo tồn và phát huy giá trị di tích”
a Khái niệm di tích lịch sử văn hoá
Từ trước tới nay trong các văn bản quốc tế, quốc gia và các nhà nghiên cứu đã nêu ramột số định nghĩa (khái niệm) về di tích lịch sử văn hoá cách mạng Chúng tôi tập hợpgiới thiệu một số khái niệm cơ bản nhất để tham khảo và vận dụng:
- Khái niệm di tích nêu trong Hiến chương Venice (Hiến chương Quốc tế về
bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ 1964) Trong điều 1 của bản Hiến chương: Khái niệm
di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa,
Trang 22hoặc một sự kiện lịch sử Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả đối với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian thâu nạp được một ý nghĩa văn hoá.
Khái niệm nêu ra trên đây chúng ta nhận thấy chủ yếu tập trung vào các công trìnhkiến trúc, hoặc tổng thể công trình kiến trúc lớn (đô thị) ngoài ra còn đề cập đến các côngtrình khiêm tốn hơn, nhưng cùng với thời gian khi đã thâu nạp được ý nghĩa văn hoá cũngtrở thành di tích Trường hợp như những công trình kiến trúc nhà ở dân gian, có một thời
kỳ nào đó trong lịch sử phát triển loại hình kiến trúc này rất phổ biến nhưng sau đó dođời sống kinh tế, văn hoá phát triển, người dân đã phá đi cải tạo để xây mới đáp ứng đờisống (đặc biệt trong xu thế đô thị hoá hiện nay)
Trong Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh
ban hành ngày 4/4/1984, di tích lịch sử văn hoá được quy định như sau: Di tích lịch sử
văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá xã hội
Những quy định trên đây có thể hiểu đó là nội dung rộng bao gồm cả di tích lịch sửvăn hoá, các hiện vật bảo tàng, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Chính vì vậy, sau nàytrong nội dung của văn bản luật di sản, những khái niệm đã được bóc tách riêng biệt cho
di tích, di vật cụ thể hơn và sát thực hơn và trong Luật Di sản văn hóa ban hành năm
2001, sửa đổi bổ sung năm 2009 di tích lịch sử văn hóa được định nghĩa là công trình
xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
b Khái niệm “Bảo tồn di tích”
Theo điều 4 chương I của Luật di sản: Bảo quản di tích lịch sử văn hóa, danh lamthắng cảnh, cổ vật, bảo vật quốc gia là những hoạt động khoa học nhằm phòng ngừa vàhạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc
Trang 23Bảo tồn mang nghĩa rộng hơn, là “hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại,
sự xuống cấp hoặc phá hoại” hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết cấu mộtđịa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu đó
c Khái niệm “phát huy giá trị di tích”
Theo điều 9 chương I của Luật Di sản:
1 Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản nhằm nâng cao đời sống tinhthần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích tổchức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huygiá trị di sản văn hóa
2 Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hóa Chủ sởhữu di sản văn hóa có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
3 Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứngdụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.Phát huy giá trị di tích có nghĩa là tập trung sự chú ý của công chúng một cách tíchcực tới các giá trị của di tích làm cho đông đảo người biết đến giá trị của di tích bằngcách truyền đạt trực tiếp hay thông qua một hình thức nào đó Cũng phải nhận thấy rằngquá trình phổ biến những thông tin về giá trị di tích đến với công chúng có thể diễn ratheo nhiều hình thức khác nhau
Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa ở đây có thể hiểu là truyền đạt những giá trịmang tính tích cực, có ích cho thời đại, sử dụng có hiệu quả các giá trị vốn có của di tíchvào việc giáo dục truyền thông lịch sử văn hóa thẩm mỹ, khoa học Đồng thời trên cơ sở
đó tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ di sảnvăn hóa của cộng đồng
Mỗi di tích lịch sử văn hóa thường gắn với một địa danh nhất định và địa điểm đócũng thường xuyên diễn ra lễ hội gắn với di tích đó Hoạt động bảo tồn không chỉ diễn ra
Trang 24với di tích lịch sử văn hóa mà còn là bảo lưu những giá trị lễ hội Giá trị văn hóa của lễhội được coi là những di sản văn hóa phi vật thể
d Mối quan hệ của bảo tồn và phát huy giá trị của di tích
Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển ngang bằng các nước trong khu vực và thế giớigiao lưu và hội nhập toàn cầu về mọi mặt là một chủ chương đúng và là con đường ngắnnhất Xong một thực tế lại đặt ra với những giá trị văn hoá truyền thống và bản sắc vănhoá dân tộc khi những luồng văn hóa ngoại nhập từ phương đông và phương tây vàonước ta một cách tự nhiên
Di tích lịch sử văn hoá là một bộ phận của di sản văn hoá dân tộc được biểu hiện ởdạng vật thể Chúng được tạo ra trong suốt những thời kỳ lịch sử dân tộc, nó khẳng định
sự sáng tạo của văn hoá dân tộc, ở chúng là những thông tin quan trọng: thông tin các giátrị tiêu biểu về khảo cổ học; về những sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước,giữ nước; những thông tin về những sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng,kháng chiến; những thông tin về thân thế sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, danh nhânvăn hoá của đất nước, những đóng góp của danh nhân trong lịch sử phát triển đất nước,dân tộc; những thông tin về giá trị (phong cách) mỹ thuật truyền thống thông qua cáccông trình kiến trúc hoặc tổng thể công trình của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử; nhữngthông tin về những nơi, địa điểm danh lam thắng cảnh có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu, đồngthời qua đó (địa chất, địa mạo, đa dạng, sinh học) cung cấp những thông tin nghiên cứukhoa học về các lĩnh vực nêu trên
Như vậy có thể thấy bảo tồn và phát huy là hai mặt hoạt động, phải có sự tương hỗvới nhau Có thể hiểu bảo tồn là để phát huy giá trị và cũng nhằm tạo khả năng tăngtrưởng kinh tế nhanh sẽ có điều kiện vật chất và kĩ thuật tốt để bảo tồn di sản văn hóa tốthơn Vấn đề quan trọng là cần tạo sự cân bằng hợp lý giữa bảo tồn và phát huy các giá trị.1.2.1.3 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường và
toàn cầu hóa
Trang 25Văn hóa Việt Nam hình thành và phát triển trong khu vực Đông Nam Á với cơ tầngvăn hóa gần gũi với phương Nam Trong quá trình phát triển văn hóa Việt giao lưu vàtiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của những nền văn hóa lớn trên thế giới như TrungHoa, Ấn Độ, phương Tây, Đông Âu,…Bởi vậy dân tộc ta đã tích lũy được kho tàng disản văn hóa phong phú và đa dạng
Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu của thời đại Việt Nam đã thực sự hòa nhập vàotoàn cầu hóa kể từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986 với những chính sách mở cửa chonước ngoài đầu tư vào nước ta và quá trình gia nhập ASEAN, WTO Tham gia toàn cầuhóa dân tộc Việt Nam đã có cơ hội đón nhận những giá trị mới về kinh tế, chính trị, vănhóa,…
Đi cùng xu thế toàn cầu hóa là hàng loạt những luồng văn hóa mới du nhập vào nước
ta một cách rất tự nhiên, những giá trị văn hóa mới ra đời, con người càng ngày càng cócái nhìn cởi mở trước mọi vấn đề Những khung cố kết cộng đồng truyền thống như kinh
tế, chính trị, thậm chí cả ngôn ngữ đang bị phá vỡ Thực tế đó đã đưa văn hóa trở thànhnhân tố hàng đầu trong sự hiện diện dân tộc Từ đầu thế kỉ XX nhà nhân học người Mỹ làFranz Boas đã đưa ra một nhận xét hết sức sâu sắc: “Mỗi nền văn hóa là một tồn tại độcđáo, hơn thế là một kho báu độc đáo; sự biến mất của bất cứ nền văn hóa nào cũng làmcho chúng ta nghèo đi”
Từ ý nghĩa này có thể thấy vai trò của di sản trong xu thế toàn cầu hóa được thể hiện
ở hai khía cạnh Thứ nhất di sản văn hóa là hiện thân của bản sắc văn hóa, giữ gìn di sản văn hóa chính là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Thứ hai di sản văn hóa là biểu hiện của
sự đa dạng và phong phú của văn hóa nhân loại, vì thế giữ gìn di sản văn hóa dân tộc làgiữ gìn sự phong phú đa dạng của văn hóa nhân loại
Có thể nói chưa bao giờ quy mô giao lưu lại mở rộng đến như vậy Chúng ta có thểcùng một thời điểm giao lưu với nhiều nền văn hóa có trình độ phát triển khác nhau trênthế giới bởi những phương thức giao lưu cũng rất đa dạng, thậm chí khó có thể quan sátđược Không chỉ giao lưu qua tiếp xúc trực tiếp, trao đổi các giá trị văn hóa mà còn qua
Trang 26con đường thương mại, qua sự phân công lao động toàn cầu và đặc biệt là qua cácphương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình, internet,…
Trong quá trình giao lưu giữa các quốc gia nhân loại ngày càng coi trọng tính khácbiệt, coi trọng bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, phản đối khuynh hướng đồng nhất vănhóa, đồng hóa về văn hóa Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế thì bản sắc văn hóa và sự
đa dạng về văn hóa là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia Nếu xử lý đúng đắn mối quan
hệ giữa giao lưu và hội nhập với việc gìn giữ bản sắc dân tộc sẽ mở đường cho văn hóaphát triển, đồng thời đảm bảo điều kiện cho sự phát triển bền vững
Chính vì vậy mà quốc gia nào cũng có các cơ chế, chính sách để bảo vệ và phát huygiá trị di sản văn hóa dân tộc mình Các giá trị văn hóa không chỉ có tác dụng hình thànhnhân cách con người mà còn là những tiêu chí điều chỉnh hành vi con người theo hướngchân, thiện, mỹ Vì vậy, vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa và truyền thống dântộc là giải pháp căn bản nhất trước thời kì toàn cầu hóa hiện nay để đạt tới mục tiêu pháttriển bền vững cho dân tộc ta
1.2.2 Một số hướng tiếp cận lý thuyết nghiên cứu
1.2.2.1 Lý thuyết vai trò
Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở vị thế xã hội tương ứng Mỗi cánhân có nhiều vị thế xã hội nên ứng với mỗi vị thế khác nhau lại có nhiều vai trò khácnhau đáp ứng mong đợi của nhóm đó, vai trò xã hội là mặt động luôn luôn biến đổi trong
xã hội Những sự mong đợi này xác định các hành vi của con người được xem như làphù hợp với người chiếm giữ một vị thế
Vai trò xã hội là chức năng xã hội, là một mô hình hành vi được xác lập một cáchkhách quan bởi các vị thế xã hội Vai trò xã hội là tập hợp quyền và nghĩa vụ ở mỗi vị thế
xã hội tương ứng Khi thực hiện vai trò xã hội chính là thực hiện quyền và nghĩa vụ ởmỗi vị thế tương ứng Hay nói cách khác vai trò xã hội chính là sự mong đợi của xã hộiđối với các vị thế xã hội Sự mong đợi của xã hội căn cứ vào các chuẩn mực xã hội, các
Trang 27khác nhau các chuẩn mực này cũng không giống nhau Vì vậy cùng một vị thế xã hộinhưng trong các xã hội khác nhau, mô hình hành vi được xã hội trông đợi cũng khácnhau
Vai trò xã hội phát sinh theo nhu cầu của cá nhân Theo George Herbert Mead, người
đứng đầu học thuyết Tương tác tượng trưng trong xã hội học, sự tăng thêm các vai trò xã
hội trong một cá thể là bởi con người “một mặt thừa nhận tính mong manh và hạn chếcủa bản thân khiến họ phải tìm kiếm những quan hệ với người khác để có thể sống còn.Mặt khác là xu hướng đi tìm và lựa chọn những kiểu hành động có lợi cho sự hợp tác,giao dịch xã hội”11
Vận dụng lý thuyết vai trò trong đề tài nghiên cứu đòi hỏi phải xem xét chức năng,nhiệm vụ, vai trò của cộng đồng đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử
và lễ hội đền Trần trong thời kì từ những năm đổi mới đến 2015
1.2.2.2 Lý thuyết hành động xã hội
Lý thuyết hành động xã hội của M Weber cho rằng: hành động xã hội là một hành vi
mà chủ thể gắn cho nó ý nghĩa chủ quan nhất định Ông nhấn mạnh đến động cơ bêntrong của chủ thể như là nguyên nhân của hành động12
Như vậy, hành động xã hội là một bộ phận cấu thành trong hoạt động sống của mỗi
cá nhân, hay cá nhân hành động chính là để thực hiện hoạt động sống của mình Hànhđộng gắn với tính tích cực của mỗi cá nhân, tính tích cực này lại được quy định bởi hàngloạt yếu tố như: nhu cầu, lợi ích, định hướng của chủ thể hành động Mỗi người lựa chọnhành động cho mình bao giờ cũng trên mục đích nhu cầu lợi ích của chính chủ thể ấy.Trên quan điểm lý thuyết về hành động xã hội của M Weber áp dụng vào nghiên cứu nàychủ thể ở đây chính là vai trò của cộng đồng Cộng đồng thấy được tầm quan trọng cũngnhư lợi ích của các di tích lịch sử văn hoá trong đời sống, và chính những động cơ đó thôithúc cộng đồng tích cực thực hiện các hành động như tìm hiểu, tuyên truyền, phổ biến về
11 Sabino Accquaviva và Enzo Pace, Lê Diên dịch: Xã hội học tôn giáo, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 1998, tr.81- 83.
12 Vũ Quang Hà (chủ biên): Xã hội học đại cương, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
Trang 28các di tích, các giá trị di tích lịch sử văn hóa cũng như nâng cao ý thức của mình trongviệc quan tâm bảo tồn và phát huy các giá trị di tích, lịch sử văn hoá.
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa.
1.3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa từ năm 1986 đến nay.
Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng ngàn năm lao động sáng tạo, đấu tranhkiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giaolưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiệnmình Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng, vǎnhóa Việt Nam tiếp tục được phát huy, đã góp phần quyết định vào những thắng lợi to lớncủa nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xãhội
Với Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Hội
đồng nhà nước công bố ngày 31/3/1984 Đảng và chính phủ đã thể hiện sự quan tâm,chăm lo đối với công tác giữ gìn di sản văn hóa của dân tộc Những nghị định, pháp lệnhtrên đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc bảo tồn các di tích vănhóa ở những thời điểm, hoàn cảnh cụ thể phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị - xãhội
Đối với lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa của các dân tộc ở
nước ta được bắt đầu với Hiến pháp năm 1992 Trong đó quy định trách nhiệm của Nhà
nước, các tổ chức nhân dân về bảo vệ, giữ gìn và phát huy di sản văn hóa dân tộc được
nhấn mạnh: Nhà nước chủ trương bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam, các di sản
văn hóa dân tộc, những giá trị của nền văn hiến dân tộc Việt Nam.
Ngày 19/1/1993 Thủ tướng chính phủ công bố Quyết định số 25/TTg về một số
chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật trong đó xác định
Trang 29của toàn dân; Nhà nước tạo điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng và trang bị phương tiện choviệc phát triển văn hóa nghệ thuật mang bản sắc dân tộc Quyết định cũng chỉ ra nhữngchính sách cụ thể như đầu tư cho việc sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn, bảo quản lâu dài, phổbiến văn học dân gian, các điệu múa, các làn điệu âm nhạc dân tộc, giữ gìn các nghề thủcông truyền thống,bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật dân tộc như tuồng, chèo,dân ca, cải lương, múa rối, đồng thời khen thưởng những người có công trong việc sưutầm và bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc.
Tháng 11/1993, Ban chấp hành trung ương Đảng (khóa VII) họp Hội nghị lần thứ
4 đã dành riêng một nghị quyết về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ trong những nămtrước mắt Trong sáu định hướng về công tác tư tưởng có một định hướng lớn là pháttriển văn hóa với hai nội dung cơ bản là phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinhhoa văn hóa nhân loại
Tại văn bản số 4739/KG-TƯ ngày 26/8/1994 Thủ tướng chính phủ đã cho phép Bộ
Văn hóa thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) triển khai Chương trình mục
tiêu quốc gia về văn hóa Đây là sự thể hiện một sự đầu tư đúng hướng trên cơ sở các
định hướng chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ và pháthuy giá trị di sản văn hóa
Đánh giá đúng về vai trò và thực trạng của nền văn hóa nước nhà, sự ra đời củanghị quyết TW 5 khóa VIII (tháng 7/1998) đã đánh dấu mốc quan trọng đối với sự pháttriển của nền văn hóa nước ta
Nghị quyết đã chỉ ra sự nhận thức đúng đắn của Đảng về Nhà nước về văn hóa
“Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội Chǎm lo vǎn hóa là chǎm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững”
Trang 30Phương hướng chung của sự nghiệp vǎn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêunước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền vǎn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa vǎn hóa nhân loại, làm cho vǎn hóa thấm sâuvào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể vàcộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ratrên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục
vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, vǎn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Nghị quyết này làmột dấu mốc quan trọng về định hướng của Đảng đối với việc bảo tồn và phát huy di sảnvăn hóa Trong đó, Đảng coi “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc,
là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”
Sau nghị quyết này cả nước ta chứng kiến sự phục hưng của nền văn hóa dân tộc.Các công trình kiến trúc như đình, đền, chùa, miếu mạo được tu bổ, tôn tạo Nhiều lễ hộidân gian được phục hồi, một số loại hình diễn xướng văn nghệ được tìm lại và truyền dạycho các thế hệ trẻ, các làng nghề truyền thống được phục hồi và duy trì phát triển,… Nềnvăn hóa nước ta như được một khoác một tấm áo mới rực rỡ hơn
Không lâu sau đó Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông
qua ngày 14/6/2001 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2002 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằmbảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
Theo điều 4 chương 1 định nghĩa rõ về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể:
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị di tích lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thể hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.
Trang 31Di sản văn hóa vật thể được xác định là “sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, bảo vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.
Một điểm có thể nhận thấy là giữa di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có mốiquan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Đền, chùa, đình làng,… là những di sản văn hóa vậtthể với không gian kiến trúc độc đáo, là đặc trưng của từng thời kì với lối chạm khắctrang trí riêng Muốn bảo tồn và phát huy giá trị của một lễ hội của một làng thì trước hếtphải bảo tồn, lưu giữ được không gian văn hóa - nơi diễn ra lễ hội truyền thống Đó chính
là sự gắn kết hữu cơ không thể tách rời giữa hai loại hình di sản này Chính vì vậy trongLuật di sản đã đề cập tới vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phivật thể
Với Luật di sản văn hóa được thông qua và ban hành năm 2001 và sửa đổi bổ sungnăm 2009, điều 9 chương I của bộ luật này đã xác định trách nhiệm của nhà nước đối với
di sản văn hóa, trong đó có di sản văn hóa phi vật thể: “Nhà nước có chính sách bảo vệ vàphát huy giá trị của di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, gópphần phát triển kinh tế xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức cá nhân trong nước vànước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”
Điều 17 chương III xác định: “Nhà nước bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phivật thể thông qua các biện pháp sau đây:
1 Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, phân loại di sản văn hóa phi vật thể;
2 Tổ chức truyền dạy, phổ biến, xuất bản, trình diễn và phục dựng các loại hình di sảnvăn hóa phi vật thể;
3 Khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, truyềndạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể;
4 Hướng dẫn nghiệp vụ bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể theo đềnghị của tổ chức, cá nhân nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể;
5 Đầu tư kinh phí cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể”
Trang 32Đồng thời điều 18 cũng quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ vănhóa, Thể thao và Du lịch đối với việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và việc lập hồ sơkhoa học để đưa vào và công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; điều 20quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải có các biện pháp bảo vệ di sản văn hóaphi vật thể Định hướng lớn về việc bảo tồn và phát huy lễ hội đã được xác định rõ tạiđiều 25 chương I:
“Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội truyền thốngthông qua những biện pháp sau đây:
1 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội
2 Khuyến khích việc tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian truyền thống gắnvới lễ hội
3 Phục dựng có chọn lọc nghi thức lễ hội truyền thống
4 Khuyến khích việc hướng dẫn, phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài vềnguồn gốc, nội dung, giá trị truyền thống tiêu biểu, độc đáo của lễ hội”
Định hướng trên thể hiện rõ thái độ trân trọng của Nhà nước đối với giá trị văn hóacủa lễ hội, đồng thời cũng đề cao vai trò và trách nhiệm của toàn dân, trước hết là cộngđồng cư dân ở nơi có lễ hội trong việc tham gia bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóanói chung và lễ hội nói riêng
Thứ nhất với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa cộng đồng cư dân địa phươngcùng đồng lòng chung sức góp nhân tài, vật lực tạo dựng đền, đình, chùa,…để thờ thần,Phật Đó là những công trình kiến trúc có giá trị tiêu biểu về mặt lịch sử, văn hóa và cũng
là cơ sở vật chất phục vụ đắc dụng cho việc thực hành các nghi lễ truyền thống
Thứ hai ngoài không gian hiện thực hữu hình là cái vỏ vật chất cụ thể ở đình, đền,chùa, miếu… với các hoạt động và nghi thức tế, lễ, rước thần linh cùng các hình thứcdiễn xướng nghệ thuật trong lễ hội truyền thống mang tính tâm linh, cộng đồng cư dânđịa phương đã sáng tạo được một không gian mang tính thiêng, những biểu tượng văn
Trang 33hóa mang tính đặc trưng khắc sâu vào tâm trí con người Đó cũng là tấm gương đạo đứctrong sáng và bài học lịch sử muôn đời con cháu vẫn noi theo.
Hay nói cách khác lễ hội văn hóa là của dân, do dân sáng tạo ra mang đậm nét vănhóa dân gian thì họ phải được quyền chủ động trong việc lựa chọn, tổ chức lễ hội, phụcdựng có chọn lọc các nghi thức lễ hội và đặc biệt là quyền hưởng thụ văn hóa, quyềntham gia vào việc bảo tồn và phát huy lễ hội
Thứ ba là trong quá khứ cộng đồng cư dân địa phương là người vừa tổ chức lễ hội,vừa tham gia các hoạt dộng lễ hội một cách thực sự, dân chủ và bình đẳng, trên tinh thầngiao lưu tình cảm, gắn kết cộng đồng, giao cảm với trời đất, thần linh mà họ tôn thờ, đặtniềm tin và hy vọng nhận được sự giúp đỡ, che chở, bảo hộ
Một văn bản quan trọng nữa ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy giá trị các di
sản văn hóa là Qui hoạch tổng thể Bảo tồn và hát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và
danh lam thắng cảnh đến năm 2020 đã được Bộ trưởng Bộ VHTT ký Quyết định phê
duyệt số 1706/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001, kèm theo danh sách các di tích ưu tiên đầutiên chống xuống cấp và tôn tạo đến năm 2020 Dự án này đóng vai trò quan trọng trongviệc định hướng các dự án cụ thể về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa vàdanh lam thắng cảnh ở nước ta hiện nay
Đặc biệt năm 2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đã ra Chỉ thị ngày 03
tháng 2 năm 2010 Về việc tăng cường công tác chỉ đạo quản lý hoạt động văn hóa, tín
ngưỡng tại di tích Chỉ thị này nêu rõ: Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
(sau đây gọi là di tích), đặc biệt các di tích là cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng là những trungtâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng Trong những năm qua, việc tổ chức các hoạt động bảo
vệ và phát huy giá trị di tích đã trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáodục truyền thống, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, trong thời giangần đây, việc quản lý, tổ chức các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tại di tích ở nhiều địaphương thiếu chặt chẽ và nề nếp đã làm nảy sinh tình trạng lộn xộn, phức tạp, làm giảmgiá trị của di tích, gây bức xúc đối với khách tham quan và công chúng khi đến di tích
Trang 34Để tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích, Bộtrưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch yêu cầu Giám đốc các Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ thực hiện ngay một số việc như:thực hiện phân cấp việc quản lý di tích trên địa bàn; các đơn vị trực thuộc có chức năngtăng cường công tác quản lý di tích; tổ chức các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tại di tíchvào nề nếp; thường xuyên tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước và định hướng chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa…
Nhìn chung các quan điểm, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sửvăn hoá và giá trị di sản văn hóa phi vật thể của Nhà nước trong những năm qua đã gópphần quan trọng làm thay đổi nhận thức của toàn xã hội về vai trò, giá trị của di sản vănhoá dân tộc nói chung và di tích lịch sử văn hóa nói riêng, đồng thời cải thiện một bước
về tình trạng kỹ thuật, góp phần bảo vệ và chuyển giao di tích lịch sử văn hóa dưới dạngnguyên gốc cho các thế hệ tương lai, đặc biệt là bước đầu tạo được cơ sở pháp lý để từngbước thực hiện một chủ trương lớn xã hội hoá các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị ditích Nhờ đó mà nhiều di tích lịch sử văn hóa đã được cứu thoát khỏi tình trạng xuốngcấp nghiêm trọng cùng hàng loạt các nghi lễ truyền thống được phục hồi, các nghề thủcông, các loại hình diễn xướng,… được bảo tồn
1.3.2 Quan điểm của tỉnh Nam Định về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
Từ năm 1962 sau khi khu di tích đền Trần – chùa Tháp được Nhà nước xếp hạng Ditích lịch sử văn hóa quốc gia thì công tác quản lý di tích được giao cho ngành văn hóa.Tuy nhiên những lễ nghi truyền thống trong lễ hội đền Trần vẫn do nhân dân làng TứcMặc và phường Lộc Vượng tiến hành
Từ năm 2000 UBND tỉnh Nam Định thành lập Ban quản lý di tích và danh thắng cónhiệm vụ quản lý chung các di tích trong toàn tỉnh, trong đó trực tiếp quản lý khu di tíchđền Trần – chùa Tháp
Trang 35Tháng 7 năm 2007, Ban quản lý Khu di tích đền Trần - chùa Tháp được thành lập, là
cơ quan trực thuộc UBND tp Nam Định Đây là đơn vị quản lý chính của khu di tích đềnTrần – chùa Tháp cùng một số di tích liên quan Ban quản lý có trách nhiệm tham mưugiúp UBND tp Nam Đinh về công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của khu ditích Trong đó có 01 trưởng ban cùng 5 tổ công tác chuyên môn, với số lượng 23 nhân sự,bao gồm: tổ Hành chính; tổ Nghiên cứu, biên soạn tổng hợp; tổ Nghiệp vụ văn hóa; tổTuyên truyền; tổ Bảo vệ Thời gian vừa qua Ban quản lý khu di tích đã có nhiều chươngtrình phối hợp với Viện nghiên cứu văn hóa quốc gia Việt Nam và Bộ VHTT & DL trongviệc tổ chức và phục dựng một số nghi thức của lễ hội khai ấn đầu năm và thu đượcnhững kết quả tích cực đáng kể
Là địa phương có nhiều di tích và lễ hội phong phú của đồng bằng châu thổ sôngHồng nên công tác tổ chức và quản lý lễ hội nhiều năm liên tục được Tỉnh ủy, Hội đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận tổ quốc,… cùng các đoàn thể, ban ngành chứcnăng của tỉnh quan tâm chỉ đạo Chính quyền địa phương đã tiến hành nghiên cứu, triểnkhai tuyên truyền sâu rộng trên mọi phương tiện thông tin đại chúng và phát hành hàng
vạn ấn phẩm, tài liệu quy chế lễ hội của Thủ tướng chính phủ, Bộ VH TT&DL Quyết
định 681/QĐ-UBND ngày 18 tháng 3 năm 2005 của UBND tỉnh Nam Định về tổ chức hoạt động và quản lý lễ hội cùng các văn bản hướng dẫn khác gửi tới UBND các huyện,
ban ngành trong toàn tỉnh, các xã phương, thị trấn để chủ động nghiên cứu thực hiện
Sở VHTT đẩy mạnh việc kết hợp chặt chẽ giữa các ban ngành chức năng làm tốtcông tác quản lý, chỉ đạo phòng Quản lý văn hóa – xuất bản, thanh tra văn hóa liênngành, Ban quản lý di tích – danh thắng, cùng các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp phục
vụ tốt cho lễ hội
Ngày 12/10/2005 Thủ tướng chính phủ có quyết định số 252/2005/QĐ-TTg phê
duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử văn hóa
làm sáng tỏ và phong phú thêm các giá trị khu di tích lịch sử - văn hóa thời Trần tại tỉnh
Trang 36Nam Định đến năm 2015, trong đó có mục tiêu: “bảo vệ, phát hiện, làm sáng tỏ và phong
phú thêm các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của khu vực di tích”
Căn cứ thông tư số 04/2010/TT – BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ VHTT&DL,theo đề nghị của UBND tp Nam Định, Sở VHTT &DL đã tổ chức kiểm kê, lập hồ sơ disản văn hóa phi vật thể “Lễ hội đền Trần” đề nghị Bộ VHTT &DL đưa vào Danh mục disản văn hóa phi vật thể quốc gia Ngày 19/12/2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã
có Quyết định số 4205/QĐ-BVHTTDL về việc công bố danh mục 26 di sản văn hóa phivật thể quốc gia; trong đó có Lễ hội Đền Trần ở phường Lộc Vượng, tỉnh Nam Định Lễhội đền Trần bao gồm Lễ hội khai ấn đầu năm và Lễ hội Tháng tám (âm lịch) hằng năm
Như vậy có thể thấy qua các thông tư, quyết định Đảng và Nhà nước cùng chínhquyền địa phương đã và đang có sự quan tâm đặc biệt tới vai trò của di sản văn hóa nóichung và quần thể di tích đền Trần – chùa Tháp nói riêng Chính quyền luôn mong muốnbảo tồn và phát huy được tối đa giá trị của di sản văn hóa nhằm đảm bảo cho sự phát triểnhài hòa của quốc gia, giữ được truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hóa dân tộc
Tiểu kết:
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt nam đã xây đắp nênmột nền văn hóa kết tinh sức sống trường tồn và in đầm bản sắc của dân tộc Trong suốtquá trình lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam luôn xác đinh văn hóa
là một mặt trận quan trọng Quan điểm đường lối về văn hóa trải qua các thời kì luônđược Đảng quan tâm bổ sung, phát triển và hoàn thiện để phù hợp với từng giai đoạn.Ngày nay việc đi sâu nghiên cứu về văn hóa trong chiến lược phát triển kinh tế của đấtnước là rất cần thiết, góp phần vào việc quán triệt sâu sắc và đưa các tư tưởng, quan điểm
về văn hóa của Đảng vào cuộc sống, nhằm “làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấmsâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nộisinh quan trọng của phát triển”13
13 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).
Trang 37Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trở thành một trong những yêu cầu thiếtyếu trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay Bởi trong công cuộc hội nhập conngười không thể tránh khỏi va chạm với những làn sóng văn hóa mới du nhập Do đó cácgiá trị văn hóa truyền thống cũng dần bị thay đổi Thêm vào đó quá trình đô thị hóa đãkhiến cho nhiều di sản văn hóa bị mất đi hoặc thu hẹp dần như cổng làng, đình làng,giếng nước,… Trước những sự đổi mới của đất nước, con người dần tìm về với những disản văn hóa, trùng tu các di tích, khôi phục các lễ hội, các nghi thức diễn xướng dân gian
để mong gìn giữ, bảo tồn được cái cốt lỗi của dân tộc
Văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần theo tính chân – thiện – mỹ,
do hoạt động của con người sáng tạo Vì vậy hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trịvăn hóa (bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể) là hoạt động của Đảng và Nhànước, các nhà quản lý văn hóa cùng cộng đồng cư dân sáng tạo ra văn hóa Cộng đồngchính là những chủ thể sáng tạo ra văn hóa Họ góp công sức của mình vào quá trình xâydựng những công trình văn hóa như đình, đền, chùa,….Họ là người trực tiếp sáng tạo,tham gia trực tiếp vào lễ hội Và hiện nay phát triển văn hóa mang lại những lợi ích nhấtđịnh cho cộng đồng Ví như hoạt động đến hành hương, đi lễ của du khách đến các điểm
di tích sẽ phát sinh những hoạt động trao đổi, mua bán lễ vật, hương hoa, quà lưu niệm,
… Cư dân được tham gia buôn bán tại các điểm di tích đó đa số là người dân địaphương, sinh sống gần đó Vấn đề nhận thức, tuyên truyền cho du khách đến hành hương,
đi lễ về các giá trị lịch sử, văn hóa, tâm linh của cư dân tại địa phương tham gia hoạtđộng buôn bán nói riêng và cư dân sinh sống tại địa phương đó nói chung về di tích gópphần vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
Tiếp cận từ lý thuyết nghiên cứu về vai trò và hành động xã hội của các học giả vàcác khái niệm về di sản văn hóa đi sâu nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong quátrình bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh tới sứcảnh hưởng của cộng đồng – những chủ thể sáng tạo văn hóa tới quá trình gìn giữ và làmlan tỏa các giá trị văn hóa, tâm linh độc đáo của di tích và lễ hội đền Trần, tp Nam Định
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN TRẦN , TP NAM ĐỊNH
2.1 Khái quát về khu vực nghiên cứu
Di sản văn hóa (bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể) đượcsản sinh trên những cương vực nhất định Do đó nghiên cứu về di sản văn hóa còn là
Trang 39nghiên cứu về một không gian văn hóa, một khu vực mà di sản đó đang tồn tại Từ nhữnglát cắt lịch sử có thể thấy trải qua một quá trình, di sản văn hóa có thể bị biến đổi theophạm vi thời gian và không gian Sự biến đổi đó có thể là biến đổi địa danh, nhân vật thờ,công trình kiến trúc, hình thức diễn xướng, nghi thức lễ hội… nhằm thích ứng với nhucầu tâm linh, văn hóa của nhân dân
Thành phố Nam Định ở phía Bắc – Đông Bắc tỉnh Nam Định, trong tọa độ 102,120kinh Đông và 20,240 vĩ Bắc Phía bắc giáp huyện Mỹ Lộc, phía nam giáp huyện NamTrực, phía tây giáp huyện Vụ Bản, phía đông giáp tỉnh Thái Bình Dòng sông Đào chảyvắt ngang qua thành phố theo chiều đông bắc – tây nam Sông Hồng là ranh giới tự nhiênvới tỉnh Thái Bình chảy qua địa phận xã Nam Phong Thành phố rộng 46,35km, thoải dần
từ hướng đông bắc xuống đông nam, độ cao từ 2,5 m – 4,2 m so với mực nước biển Làvùng đất thuộc châu thổ phía nam đồng bằng Bắc bộ, trong vùng khí hậu nhiệt đới giómùa
Về vị trí địa lý, tp Nam Định là nơi giao cắt các tuyến giao thông huyết mạchtrong khu vực đồng bằng sông Hồng và trên cả nước Đồng thời tuyến đường sắt BắcNam chạy qua trung tâm thành phố đã tạo nên hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh, tỏarộng liên thông trong tỉnh, trong khu vực các tỉnh đồng bằng phía nam sông Hồng
Di tích đền Trần tọa lạc trên tuyến đường Trần Thừa, thôn Tức Mặc, phường LộcVượng, thành phố Nam Định
Phường Lộc Vượng có diện tích tự nhiên 4,8 km2 phía bắc giáp xã Mỹ Phúc (MỹLộc), phía đông giáp phường Lộc Hạ, Thống Nhất, phía Tây giáp xã Lộc Hòa, phía namgiáp phường Vị Hoàng, Quang Trung và Cửa Bắc
2.2 Các giá trị di tích và lễ hội đền Trần, tỉnh Nam Định
Khu di tích lịch sử văn hóa đền Trần thuộc phủ Thiên Trường xưa, được khởidựng dưới triều Trần, nay là nơi thờ phụng các vị vua anh minh và những vị tướng tàixuất chúng, những nhà văn hóa tài ba Qua nhiều thế kỷ, do thiên tai và chiến tranh cung
Trang 40điện Trùng Quang, Trùng Hoa không còn nữa Tiền nhân đã xây dựng trên nền Thái miếuxưa ngôi đền Thiên Trường và đền Cố Trạch
Dòng họ Trần có nguồn gốc phát tích tại hương Tức Mặc, về nguồn gốc của vua
Trần Thái Tông, theo Đại Việt sử ký toàn thư “Trước kia, tổ tiên vua là người đất Mân
(có người nói là người Quế Lâm), có người tên là Kinh đến ở hương Tức Mặc14, phủThiên Trường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá”15Vốn là đất phát tích quê hương của vương triều Trần, bởi vậy để tưởng nhớ nguồn
cội, năm 1239 nhà vua đã cho xây dựng cung điện ở nơi đây Sách Đại Việt sử kí toàn
thư – kỷ nhà Trần có ghi “Tân Mão năm thứ 7 (1231) mùa thu tháng 8 vua ngự đến
hành cung Tức Mặc làm lễ hưởng ở tiên miếu, ban yến cho các bô lão trong hương vàcho lụa theo thứ bậc khác nhau16” “Đến năm Kỷ Hợi (1239) mùa xuân tháng giêng, lạicho Phùng Tá Chu giữ chức Nhập nội thái phó, sai về Tức Mặc dựng cung điện, nhàcửa”17 Đến năm 1262 vào tháng hai (năm Nhâm Tuất), Thượng hoàng ngự đến hànhcung Tức Mặc ban tiệc to Đổi hương Tức Mặc làm phủ Thiên Trường, cung gọi làTrùng Quang Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu, gọi làcung Trùng Hoa Lại làm chùa thờ Phật ở phía tây cung Trùng Quang gọi là chùa PhổMinh Từ đấy về sau các vua nhường ngôi đến ngự ở cung này Từ đó đặt sắc dịch haicung để hầu hạ, đặt quan lưu thủ để trông coi18’’ Như vậy năm 1262, nhà Trần đã thănglàng Tức Mặc lên thành phủ Thiên Trường Đây là một vùng đất rộng lớn bao gồm thànhphố Nam Định, các xã phía nam huyện Mỹ Lộc, huyện Nam Trực tỉnh Nam Định và mộtphần của tỉnh Thái Bình nay
Khu di tích rộng khoảng 8 ha, nằm ở một thế đất cao Dòng Vĩnh giang chảy vòngquanh di tích, tạo thế tay ngai ôm lấy cung điện Theo thuyết phong thủy, mảnh đất này
có dáng “rồng nằm”(ngọa long) – một địa thế đất đẹp, có thế phát vương
14 Sau là xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, nay là thôn Tức Mặc, phường Lộc Vượng, tp Nam Định.
15 Đại Việt sử ký toàn thư, quyển V, tr.1a
16 Đại Việt sử ký toàn thư, quyển V, tr.12
17 Đại Việt sử ký toàn thư, quyển V, tr.17
18 Đại Việt sử ký toàn thư, quyển V, tr.33