hoạt động phân loại rác sinh hoạt tại nguồn
Trang 1NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA: MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
BỘ MÔN: MÔI TRƯỜNG
HỌ VÀ TÊN: LÊ HOÀNG HẢI MSSV: 103108061
NGÀNH: MÔI TRƯỜNG LỚP: 03MT1
1 Đầu đề Đồ án tốt nghiệp: Nghiên cứu đề xuất hoạt động phân loại rác sinh hoạt tại nguồn ở 2 chợ và thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
2 Nhiệm vụ (yêu cầu về nội dung và số liệu ban đầu):
– Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt
– Khảo sát hiện trạng và thói quen nhận thức của người dân ở khu vực nghiên cứu về chất thải rắn sinh hoạt
– Lập phiếu điều tra, thu mẫu rác thải thống kê và xử lí số liệu
– Đề xuất mô hình phân loại rác sinh hoạt tại nguồn và các giải pháp cho việc áp dụng mô hình
3 Ngày giao Đồ án tốt nghiệp: 01/10/2007
4 Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 25/12/2007
5 Họ tên người hướng dẫn: Phần hướng dẫn
Th.S LÊ THỊ VU LAN Toàn phần
Nội dung và yêu cầu LVTN đã thông qua Bộ môn
Ngày … tháng … năm 2006
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN NGƯỜI HƯỚNG DẪN CHÍNH (Ký và ghi rõ họ tên) (Ký và ghi rõ họ tên)
PHẦN DÀNH CHO KHOA, BỘ MÔN: Người duyệt (chấm sơ bộ):
Đơn vị:
Ngày bảo vệ:
Điểm tổng kết:
Trang 2
GVHD
Trang 3Luận văn tốt nghiệp với đề tài: ” nghiên cứu đề xuất hoạt động phân loại rác sinh hoạt tại nguồn ở 2 chợ và thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế “ đã được thực hiện và hoàn thành đúng thời gian quy định Để đạt được kết quả này, ngoài những nỗ lực bản thân, em đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của những người có liên quan trong lĩnh vực của đề tài Qua đây cho phép
em gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc đến :
Cô giáo, Thạc sỹ Lê thị vu Lan đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Quí thầy, cô giáo hiện đang công tác và giảng dạy tại khoa Môi Trường – Công nghệ sinh học, Trường Đại học kỹ thuật công nghệ TP HCM đã tận tâm dạy bảo trong suốt quá trình học tập
Các cơ quan ,đơn vị :
• Uỷ ban nhân dân thị trấn Phú Bài
• Ban quản lí tại 2 chợ
• Đội vệ sinh Môi Trường thị trấn Phú Bài
Đã cung cấp những số liệu và tài liệu liên quan đến đề tài
Người dân và các tiểu thương ở chợ đã nhiệt tình cung cấp thông tin cần thiết phục vụ đề tài
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, em đã nhận sự động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất từ phía gia đình và bạn bè
Một lần nữa em xin chân thành cám ơn
SVTH : Lê Hoàng Hải
Trang 4CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu 2
1.3 Nội dung của đề tài 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 Địa điểm nghiên cứu 3
1.6 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 4
1.6.2 Phương pháp điều tra xã hội học 5
1.6.3 Phương pháp chuyên gia 5
1.6.4 Phương pháp quan sát 5
1.6.5 Phương pháp nghiên cứu ngồi thực địa 5
1.6.6 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 2.1 khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt 7
2.2 nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 7
2.3 Thành phần chất thải rắn 8
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần chất thải rắn sinh hoạt 10
2.5 Tính chất chất thải rắn sinh hoạt 13
2.6 Phân loại chất thải rắn 15
2.6.1 Phân loại theo tính chất 15
2.6.2 Phân loại theo vị trí hình thành 17
2.6.3 Phân loại theo nguồn phát sinh 17
2.6.4 Phân loại theo mức độ nguy hại 18
2.7 Tác động của chất thải rắn sinh hoạt 19
Trang 52.7.2 Tác động đến cảnh quan đô thị 20
2.7.3 Tác động đến môi trường 20
2.7.3.1 Tác động đến môi trường đất 20
2.7.3.2 Tác động đến môi trường nước 21
2.7.3.3 Tác động đến môi trường không khí 21
CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TT HUẾ 3.1 Điều kiện tự nhiên 24
3.1.1 vị trí địa lí 24
3.1.2 Địa hình 25
3.1.3 Thời tiết khí hậu 25
3.1.4 Thủy văn 27
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 28
3.2.1 Xã hội 28
3.2.1.1 Dân số 28
3.2.1.2 Giáo dục 28
3.2.1.3 Y tế 29
3.2.1.4 Xây dựng cơ bản 29
3.2.2 Kinh tế 30
3.2.2.1 Công nghiệp 30
3.2.2.2 Nông lâm ngư nghiệp 31
CHƯƠNG 4 : TỔNG QUAN VỀ PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN 4.1 khái niệm phân loại rác tại nguồn 33
4.2 Tình hình phân loại rác tại nguồn trên thế giới 33
4.3 Tình hình phân loại rác tại nguồn ở Việt Nam 36
4.4 Dự án phân loại rác tại nguồn ở phường 12,Q 5 40
Trang 64.6 Những lợi ích khi thực hiện phân loại rác tại nguồn 46
4.7 Những khó khăn khi phân loại rác tại nguồn 48
CHƯƠNG 5 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 5.1 Đặc điểm rác thải ở khu vực nghiên cứu 50
5.1.1 Nguồn phát sinh 50
5.1.1.1Thị trấn Phú Bài 50
5.1.1.2 Chợ Phú Bài và chợ Mai 51
5.1.2 Khối lượng và thành phần rác thải 53
5.1.2.1 Khối lượng rác thải 53
5.1.2.2 Thành phần rác thải 54
5.2 Hiện trạng hệ thống lưu trữ,thu gom và vận chuyển rác thải ở khu vực nghiên cứu 57
5.2.1 Dụng cụ lưu trữ 57
5.2.2 Hiện trạng hệ thống thu gom và vận chuyển 61
5.2.3 Hiện trạng xử lí 63
5.3 Nhận thức của người dân về rác thải và phân loại rác tại nguồn 67
5.4 Đề xuất mô hình phân loại và các giải pháp cho việc áp dụng mô hình .72 5.4.1 Những cơ sở cho việc đề xuất mô hình 72
5.4.1.1 cơ sở lí luận 72
5.4.1.2 cơ sở thực tiễn 72
5.4.2 Đề xuất mô hình 75
5.4.3 Những giải pháp cho việc áp dụng mô hình 78
5.4.4 Đề xuất quy trình, thu gom, vận chuyển chất thải rắn 81
5.4.4.1 Tồn trữ và phân loại 81
Trang 7CHƯƠNG 6 : KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
6.1 kết luận 846.2 kiến nghị 85
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 1: Nguồn phát sinh CTR sinh hoạt.
Bảng 2: Thành phần CTR đô thị phân theo nguồn gốc phát sinh
Bảng 3: Thành phần CTR đô thị theo tính chất vật lý
Bảng 4: Sự thay đổi thành phần theo mùa đặc trưng của CTR sinh hoạt
Bảng 5: Thành phần khí sin ra từ bãi rác
Bảng 6: Nhiệt độ trung bình của các tháng trong năm 2003
Bảng 7: Các chỉ số về giáo dục
Bảng 8: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của tỉnh TT.Huế
Bảng 9: Các nguồn phát sinh rác thải ở TT Phú Bài
Bảng 10: Các loại rác thải được phát sinh
Bảng 11: Một số quầy hàng chính ở 2 chợ
Bảng 12: Bảng điều tra khối lượng rác thải trên 120 hộ
Bảng 13: Thành phần rác thải ở thị trấn Phú Bài
Bảng 14: Thành phần rác thải ở 2 chợ
Bảng 15: Các loại dụng cụ được sử dụng phổ biến trong các hộ gia đình
Bảng 16: Lịch trình thu gom của các tổ khu phố
Bảng 17: Khối lượng rác thải được chôn lấp tại bãi số 1 từ năm 1999 đến 2005.Bảng 18: Kết quả tiếp nhận rác, xử lý và chôn lấp
Bảng 19: Kết quả tìm hiểu nhận thức của người dân về PLRTN
Bảng 20: Những loại rác thải có giá trị được tách riêng
Bảng 21: Khối lượng rác thải phát sinh ở thành phố Huế
Bảng 22: Dự báo khối lượng CTR của đô thị Huế đến năm 2010
Bảng 23: Thành phần rác thải của thành phố Huế
Trang 9Hình 1: Một số hình ảnh về hoạt động PLRTN ở HongKong.
Hình 2: Hoạt động PLRTN của người dân ở phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Hình 3: Bản đồ hành chánh huyện Hương Thủy
Hình 4: Tỷ lệ % rác thải ở thị trấn Phú Bài
Hình 5: Tỷ lệ % rác thải ở khu vực 2 chợ
Hình 6: So sánh tỷ lệ % thành phần rác thải ở thị trấn Phú Bài và 2 chợ
Hình 7: Tỷ lệ các loại dụng cụ chứa rác ở các hộ gia đình ở thị trấn Phú Bài
Hình 8: Mô hình thu gom rác thải của đội vệ sinh thị trấn Phú Bài
Hình 9: Tỷ lệ các loại rác thải được tách riêng trong các hộ gia đình
Hình 10: Mô hình PLRTN ở khu vực nghiên cứu
Trang 10PLRSHTN : phân loại rác sinh hoạt tại nguồn.
TW : trung ương
PE : polyetylen
TNHHNN : Trách nhiệm hữu hạn nhà nước
Trang 11TÓM TẮT
Nhằm nghiên cứu đề xuất hoạt động phân loại rác sinh hoạt tại nguồn ở thị trấn Phú Bài và hai chợ, đề tài đã tiến hành khảo sát hiện trạng rác thải và điều tra nhận thức của người dân trên địa bàn nghiên cứu về rác thải và phân loại rác tại nguồn Qua đó tiến tới xây dựng mô hình phân loại rác tại nguồn và các giải pháp cho việc áp dụng mô hình ở khu vực nghiên cứu
Trang 121
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Chất thải rắn được định nghĩa là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế – xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng….)
Hiện nay cùng với sự gia tăng dân số và quá trình đô thị hoá ngày càng nhanh, chất thải rắn được phát sinh ngày càng nhiều và đa dạng về thành phần, chủng loại Vì vậy, thu gom và xử lí chất thải rắn đã trở thành một vấn đề lớn trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Trong khi đó, chi phí đầu tư cho công tác quản lí chất thải rắn ở nhiều nơi vẫn còn thấp, hệ thống thu gom chưa hợp lí dẫn đến chưa đáp ứng được nhu cầu thu gom và xử lí lượng rác thải phát sinh ở các đô thị
Phân loại rác tại nguồn là công việc hết sức cần thiết ở các đô thị Thông qua phân loại rác tại nguồn góp phần làm tăng tỷ lệ chất thải cho mục đích tái sinh, từ đó hạn chế việc khai thác tài nguyên sơ khai và giảm khối lượng rác thải cần phải chôn lấp Ngoài ra, giúp tiết kiệm quĩ đất, kéo dài thời gian hoạt động của các bãi chôn lấp và giảm phát sinh những vấn đề ô nhiễm môi trường từ bãi chôn lấp như khí nhà kính, nước rỉ rác và góp phần nâng cao nhận thức bảo vệ môi
Trang 13Nhằm thực hiện tốt việc thu gom và xử lí chất thải rắn ở Việt Nam, một trong những mục tiêu trong chiến lược quốc gia về quản lí chất thải rắn là tổ chức thực hiện phân loại rác tại nguồn với tỉ lệ gia tăng qua từng giai đoạn: tối thiểu là 90% năm 2010 và đảm bảo 95% năm 2020 Tuy nhiên cho đến nay công việc này mới chỉ triển khai thí điểm ở một số nơi như Thành Phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng.
Thị trấn Phú Bài với vai trò là cửa ngõ phía Nam của thành phố Huế, có cụm cảng hàng không miền trung, có khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh và mục tiêu trở thành thị xã vào năm 2015 đã được xác định Phú Bài chiếm vị thế quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế của tỉnh, cho nên công tác quản lí chất thải rắn đang là mối quan tâm lớn của các cấp, các ngành hữu quan ở thị trấn Phú Bài và huyện Hương Thuỷ là đơn vị chủ quản Vì vậy Phú Bài cần thiết phải có một kế hoạch hành động lâu dài trong đó phân loại rác tại nguồn là công việc cần được triển khai sớm, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một chương trình nào nghiên cứu nhằm tiến tới phân loại rác tại nguồn ở thị trấn Phú Bài Thực tế này đã thúc đẩy tôi thực hiện đề tài :
“ Nghiên cứu đề xuất hoạt động phân loại rác sinh hoạt tại nguồn ở 2 chợ và Thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thuỷ, tỉnh TT Huế”
1.2 Mục tiêu của đề tài :
- Tìm hiểu hiện trạng chất thải rắn ở khu vực nghiên cứu (khối lượng, thành phần chất thải rắn)
-Nghiên cứu điều tra thói quen và nhận thức của người dân về công tác quản lí chất thải rắn
- Đề xuất mô hình phân loại rác tại nguồn và các giải pháp thực hiện mô hình
1.3 Nội dung của đề tài
o Nghiên cứu hiện trạng về thành phần, khối lượng rác thải ở khu vực nghiên cứu
Trang 14o Nghiên cứu về hiện trạng hệ thống lưu trữ, thu gom và vận chuyển rác thải
ở khu vực nghiên cứu
o Đề xuất mô hình phân loại và các giải pháp cho việc áp dụng mô hình
1.4 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rác thải sinh hoạt phát sinh từ các nguồn sau:
1.5.Địa điểm nghiên cứu :
Để thực hiện đề tài này chúng tôi lấy toàn bộ 9 khu phố của thị trấn và 2 chợ (chợ Mai và chợ Phú Bài)
Thị trấn Phú Bài là một trong hai thị trấn được lãnh đạo tỉnh quan tâm xây dựng trở thành thị xã vào năm 2015 với diện tích 1570 ha, dân số 13.193 người (năm 2007), với 60% dân cư là cán bộ, công nhân, viên chức Thị trấn có 2638 hộ được chia ra 9 khu phố và 99 tổ dân phố Trên địa bàn của thị trấn có 8 trục đường chính và 51 trục đường nhánh, 10 trường học, 5 trường mẫu giáo, 6 nhà hàng, 3 đơn vị quân đội, 65 cơ quan văn phòng và rất nhiều các cơ sở dịch vụ kinh doanh.Việc lựa chọn thị trấn Phú Bài làm địa điểm nghiên cứu xuất phát từ sự đa dạng về thành phần dân cư, trình độ nhận thức, mức sống và thói quen sinh hoạt của người dân Đây là điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và áp dụng mô hình phân loại rác tại nguồn, qua đó chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm để tiến hành sâu hơn
Chợ Mai và chợ Phú Bài nằm trên trục đường quốc lộ 1A, được thành lập cách
Trang 15bây giờ Với diện tích 3660 m2 và hơn 400 lô hàng, 2 chợ trên là nơi tập trung mua bán, qua lại của người dân thị trấn cũng như người dân của các xã lân cận.Hai chợ được lựa chọn làm điểm nghiên cứu vì chợ là nơi phát sinh một lượng lớn chất thải hữu cơ và chưa được quan tâm nhiều trong các chương trình phân loại rác tại nguồn Nếu được phân loại tại nguồn tốt, đây sẽ là nguồn nguyên liệu tốt cho dây chuyền sản xuất phân vi sinh chất lượng cao
1.6 Phương pháp nghiên cứu :
Đề tài được thực hiện bằng việc sử dụng những phương pháp sau:
Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
Phương pháp thống kê và xử lí số liệu
1.6.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
Để thực hiện đề tài chúng tôi đã thu thập thông tin qua sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư tưởng làm cơ sở lí luận của đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán những thuộc tính của đối tượng nghiên cứu, xây dựng những mô hình lí thuyết hoặc thực tiễn ban đầu
Nguồn tài liệu nghiên cứu được tham khảo trong đề tài rất đa dạng bao gồm : giáo trình, Báo cáo khoa học, Số liệu thống kê, văn kiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng
1.6.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Nhằm đánh giá nhận thức và điều tra khối lượng rác trong dân cư, chúng tôi đã xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn và điều tra trên 120 hộ (xem phụ lục) Đối tượng được phỏng vấn là những người dân thuộc nhiều thành phần dân cư khác nhau như cán bộ, nhân viên, công nhân, viên chức, lao động, buôn bán,…
Trang 161.6.3 Phương pháp chuyên gia
Chúng tôi đã tranh thủ ý kiến của những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học nói chung và phân loại rác tại nguồn ở các sở, phòng… về những nội dung của đề tài
1.6.4 Phương pháp quan sát
Chúng tôi đã quan sát và ghi lại thói quen hàng ngày của người dân về lưu trữ và thải bỏ rác củng như ý thức của người dân của họ về vấn đề vệ sinh môi trường Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã quan sát nắm bắt cách thức thu gom, vận chuyển rác thải của đội vệ sinh tại điểm nghiên cứu nhằm bổ sung cho việc đề xuất cũng như áp dụng mô hình phân loại rác sau này
1.6.5 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Trong quá trình điều tra xã hội học, chúng tôi đã tiến hành thu mẫu rác, sau đó xử lí mẫu, ghi nhận kết quả và xử lí số liệu
a/ Thu mẫu rác thải
Để xác định khối lượng và thành phần rác thải của các hộ gia đình, chúng tôi đã đưa các túi nylon để họ bỏ vào Mẫu rác thải được thu được ở các khu dân cư khác nhau
b/ Xử lí mẫu rác
*Dụng cụ
Kẹp rác, cân đồng hồ 15 kg, túi nylon chứa rác
Xô nhựa 25 lit, thùng chứa rác
*Xác định khối lượng riêng
xuống 3-4 lần; tiếp tục cho rác vào và thực hiện nhấc thả; đến khi thùng rác đầy thì dừng lại
Trang 17 Lấy tổng khối lượng trừ đi cho khố lượng xô ban đầu sẽ thu được khối lượng rác
Tính khối lượng rác bằng công thức:
D=M/V(kg/m3)
Trong đó : D là khối lượng riêng của rác thải
M là khối lượng rác thải
V là thể tích xô chứa
*Xác định thành phần rác thải
Từ khối lượng rác đã được cân ở trên, chúng tôi tiến hành nhặt riêng các thành phần khác nhau gồm : rác hữu cơ (thức ăn thừa và hư hỏng, sản phẩm sơ chế), rác tái chế và tái sử dụng (giấy, nylon, kim loại…) và các loại khác
1.6.6 Phương pháp thống kê và xử lí số liệu
Từ những số liệu ghi nhận được ở các lần xử lí mẫu rác thải và các kết quả phỏng vấn chúng tôi tiến hành thống kê và xử lí số liệu bằng các phần mềm như Word, Excel,… Kết quả của quá trình này là các bảng số liệu được trình bày trong luận văn
Trang 182
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
2.1 Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh từ hộ gia đình, chung cư, khu công cộng, công sở, trường học, bệnh viện, khu thương mại, chợ và chất thải rắn từ hoạt động sinh hoạt của con người trong các khu công nghiệp
2.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt được phát thải từ nhiều nguồn khác nhau từ sinh hoạt hằng ngày của người dân, từ các tụ điểm buôn bán, cơ quan, trường học và các viện nghiên cứu
Bảng 1: Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Rác từ sinh hoạt của dân cư, khách
vãng lai
Rau, củ, quả hỏng, thức ăn thừa, giấy, carton, nhựa, vải, nilon, rác vườn, gỗ, đồ điện tử, thủy tinh, lon đồ hộp, mốp xốp và các chất độc hại (bột giặt, chất tẩy), thuốc diệt côn trùng, nước xịt
phòng)
Rác từ các chợ, tụ điểm buôn bán, nhà
hàng, khách sạn, khu vui chơi, giải trí,
khu văn hóa
Rau, củ, quả hỏng, thức ăn thừa, ruột và đầu của tôm, cá, giấy, carton, nilon,
nhựa
Trang 19Rác thải từ viện nghiên cứu, cơ quan,
trường học
Thực phẩm thừa, bao bì, giấy, đồ dùng văn phòng, dụng cụ học tập, nhựa, hóa
chất phòng thí nghiệm
Rác thải từ các công trình xây dựng,
cải tạo và nâng cấp
Gỗ, sắt, thép, bêtông, thạch cao, sành
sứ, gạch, bụi, xà bần
Rác thải từ các dịch vụ công cộng (vệ
sinh đường phố, vỉa hè, công viên)
Giấy, nilon, rác quét đường, cành cây, lá cây, xác động vật chết, phân súc vật
2.3 Thành phần chất thải rắn:
Thành phần của chất thải rắn đô thị được xác định ở Bảng 2 và Bảng 3
Giá trị thành phần trong chất thải rắn đô thị thay đổi theo vị trí, theo mùa, theo điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Sự thay đổi khối lượng chất thải rắn theo
mùa đặc trưng ở Bắc Mỹ được trình bày ở bảng 4 Thành phần rác đóng vai trò
quan trọng nhất trong việc quản lý rác thải
Bảng 2 : Thành phần chất thải rắn đô thị phân theo nguồn gốc phát sinh
Nhà ở và thương mại, trừ các chất thải đặc
biệt và nguy hiểm
Các dịch vụ đô thị
Trang 20Bảng 3: Thành phần chất thải rắn đô thị theo tính chất vật lý
(Nguồn: Nhóm Trần Hiều Nhuệ, Quản Lý Chất Thải Rắn, Hà Nội 2001)
Trang 21Bảng 4 : Sự thay đổi thành phần theo mùa đặc trưng của CTRSH
(Nguồn: George Tchobanoglous, et al , Mc Graw- Hill Inc, 1993)
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần chất thải rắn sinh hoạt
Tuỳ theo mức sống của từng hộ dân cũng như hoàn cảnh của mỗi hộ dân mà thành phần rác sinh hoạt khác nhau Thành phần rác sinh hoạt phụ thuộc cơ bản vào các yếu tốâ sau:
- Sản xuất và phân phối thực phẩm và hàng hoá tiêu dùng;
- Đặc điểm nguồn phát sinh;
- Vị trí địa lý;
- Ý thức của người dân;
1) Sản xuất và phân phối thực phẩm, hàng hoá tiêu dùng
Ở cấp độ tổng thể, thành phần rác sinh hoạt phụ thuộc trước hết vào việc sản xuất và phân phối thực phẩm, hàng hoá tiêu dùng Ví dụ như nếu thị trường chỉ cung cấp toàn rau sạch (tức rau đã được nhặt sạch, loại bỏ các thành phần không sử dụng được và được rửa sạch, cho vào túi nylon – thường thấy ở các siêu thị), khi đó chắc chắn trong thành phần rác sinh hoạt sẽ có ít rất ít rau quả thừa; ngược lại thị trường chỉ cung cấp toàn rau thô, thành phần rác sinh hoạt khi đó chắc chắn sẽ có nhiều thành phần rau quả thừa
Trang 22Tương tự như vậy, đối với việc sản xuất và phân phối hàng hoá tiêu dùng, cách thức thiết kế mẫu mã hàng hoá của nhà sản xuất sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến thành phần rác sinh hoạt Ví dụ như nếu sữa tươi được phân phối trên thị trường ở dạng bao bì giấy, khi đó trong thành phần rác thải sinh hoạt sẽ có nhiều bao bì giấy hơn, còn nếu như sữa tươi được phân phối trên thị trường ở dạng bao bì nhựa thì trong thành phần rác thải sinh hoạt sẽ nhiều nhựa hơn Nói chung, việc quyết định lựa chọn vật liệu bao bì đồ hộp thực phẩm của nhà sản xuất sẽ có ảnh hưởng đến thành phần rác thải sinh hoạt
Bên cạnh đó đặc điểm bán hàng cũng góp phần rất lớn bao túi nylon trong rác thải sinh hoạt Hầu như mọi món hàng mua từ chợ đều được đựng trong các túi nylon
Một người đi chợ bình thường có khi mang về nhà mỗi ngày 5- 10 túi nylon là chuyện bình thường, sau đó tất nhiên là chúng sẽ trở thành rác thải Ở nhiều nước hiện nay, túi nylon không còn được cung cấp miễn phí nữa, vì vậy người dân thường rất hạn chế sử dụng túi nylon khi đi mua hàng và nhờ đó thành phần nylon trong rác thải sinh hoạt rất ít
2) Đặc điểm nguồn phát sinh
Đặc điểm nguồn phát sinh có ảnh hưởng đáng kể đến thành phần rác sinh hoạt Những nguồn phát sinh là hộ dân sẽ có thành phần rác khác so với những hộ dân kết hợp thêm kinh doanh
thu nhập thấp, thường thì thành phần chất thải rắn không nhiều và lượng phế liệu trong rác rất ít vì đa số họ đã tự phân loại để bán ve chai
• Đối với những hộ dân có mức thu nhập cao thì thành phần chất thải rắn đa dạng hơn, đặc biệt là lượng chất thải rắn hữu cơ, giấy, phế liệu đồ hộp và thuỷ tinh thải ra nhiều
Trang 23• Đối với những gia đình là công nhân viên chức, công nhân làm theo ca hoặc mua bán thời gian sinh hoạt tại nhà ít hơn nửa đây phần lớn là những hộ gia đình ít người nên lượng phát sinh và thành phần phế liệu không nhiều.
• Đối với những hộ có kết hợp thêm kinh doanh thì thành phần chất thải rắn phụ thuộc vào loại hình kinh doanh đó Trên địa bàn thị trấn Phú Bài, đa số hộ dân sống dọc theo trục đường quốc lộ thường tận dụng mặt tiền nhà để kinh doanh và lượng các hộ kinh doanh hàng ăn uống chiếm tỷ lệ nhiều nhất Vì vậy thành phần rác thải chủ yếu là thực phẩm và nhựa, chai thuỷ tinh, giấy,…
3) Vị trí địa lý
Thành phần rác sinh hoạt cũng phụ thuộc vào vị trí địa lý Những hộ dân sống ở khu vực thị trấn có thành phần rác sinh hoạt khác so với những hộ sống ở khu vực rìa thị trấn giáp với các xã Thuỷ Tân, Thuỷ Phù,
Nguyên nhân chủ yếu cũng do điều kiện kinh tế và hoàn cảnh sống, những hộ dân sống ở trung tâm thị trấn phần lớn là cán bộ công nhân viên chức nên về thu nhập kinh tế cao hơn so với các hộ nằm ở khu vực ven thị trấn do đó trong thành phần rác thải có sự đa dạng hơn về thành phần chủng loại
Những hộ sống ở khu vực vùng ven thị trấn đa số là những hộ có thu nhập thấp hoặc là những hộ chuyên về nông nghiệp (trồng rau, trồng hoa màu, ) nhu cầu hưởng thụ không cao nên thành phần rác chủ yếu làthực phẩm, gỗ, xà bần,…
4) Ý thức của người dân
Ý thức của người dân hay thái độ của cộng đồng có ảnh hưởng nhất định đến thành phần rác thải ra Cụ thể là ý thức tiết kiệm trong ăn uống sinh hoạt hàng ngày và tái sử dụng các thành phần chất thải có khả năng sử dụng lại
Ý thức còn tuỳ thuộc vào trình độ văn hoá của người dân, bên cạnh đó còn tuỳ thuộc vào sự đồng tình ủng hộ, tinh thần tham gia của người dân
Trang 242.5 Tính chất chất thải rắn sinh hoạt
Tính chất của chất thải rắn cũng có ý nghĩa trong việc thực thi chương trình
phân loại rác sinh hoạt tại nguồn Nó ảnh hưởng đến việc ra quyết định về các trang thiết bị, phương tiện phù hợp để lưu chứa và vận chuyển chất thải, cũng như về công nghệ tái chế, xử lí rác sinh hoạt sau khi phân loại
Tính chất của chất thải rắn sinh hoạt bao gồm :
Tính chất vật lí: trọng lượng riêng, độ ẩm, độ xốp, kích thướt, cấp phối hạt Trong chương trình phân loại rác tại nguồn, thông số quan trọng nhất chính là trọng lượng riêng và độ ẩm của rác thải để tính toán dung tích, số lượng trang thiết bị lưu chứa
Tính chất hoá học: các dữ liệu về thành phần cấu tạo nên chất thải rắn có
ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn công nghệ xử lí chất thải Tuy nhiên đối với việc thực hiện chương trình phân loại rác tại nguồn, tính chất hoá học của rác sinh hoạt không quan trọng vì chương trình phân loại rác sinh hoạt tại nguồn chỉ yêu cầu thực hiện phân loại rác sinh hoạt ra làm hai loại là rác thực phẩm và thành phần còn lại
hoạt là sự tạo ra mùi hôi và phát sinh ruồi Hai yếu tố này quyết định thời gian lưu chứa, cách thức lưu chứa và cách thức vận chuyển rác thích hợp Ngoài ra, tính chất sinh học quan trọng khác của rác sinh hoạt còn là khả năng phân huỷ sinh học của các thành phần hữu cơ trong rác thải Điều này ảnh hưởng đến việc lựa chọn công nghệ thích hợp để xử lí các thành phần hữu cơ dễ phân huỷ sau khi phân loại tại nguồn
Dưới đây là một số tính chất quan trọng của rác sinh hoạt có ảnh hưởng trực tiếp đến chương trình phân loại rác tại nguồn :
1)Trọng lượng riêng :
Trang 25Trọng lượng riêng (kg/m3) là một đại lượng rất quan trọng trong việc tính toán nhu cầu đầu tư trang thiết bị và phương tiện để lưu chứa và vận chuyển rác thải Trọng lượng riêng của chất thải rắn sinh hoạt thay đổi rõ rệt theo vị trí địa lí theo mùa trong năm Trọng lượng riêng của rác chưa phân loại được lấy ra từ các xe ép rác thường vào khoảng 300 kg/m3 (nguồn : số liệu quan trắc chất thải rắn đô thị của trạm quan trắc và phân tích môi trường vùng III- viện Môi trường và Tài nguyên ) Căn cứ vào mục đích phân loại rác sinh hoạt tại nguồn, có thể đánh giá trọng lượng riêng của rác sinh hoạt theo 2 nhóm chát thải tương ứng với yêu cầu phân loại ở giai đoạn đầu như sau :
Mức độ biến động không lớn, thay đổi phụ thuộc chủ yếu vào độ ẩm của rác (thay đổi theo mùa)
Trọng lượng riêng của chất thải còn lại (thành phần vô cơ và hữu cơ tro ): trọng lượng riêng thay đổi rất lớn và phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của nguồn thải
Ngoài ra, khi thực hiện phân loại taị nguồn, tỷ lệ thành phần và khối lượng rác bị biến đổi sẽ làm trọng lượng riêng của rác bị biến đổi theo Trong đó, trọng lượng riêng của nhóm chất thải rắn còn lại bị tác động rất lớn
2)Độ ẩm :
Độ ẩm của rác sinh hoạt thường ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương tiện lưu chứa và vận chuyển chất thải, đến công nghệ xử lí chất thải Rác sinh hoạt thường có độ ẩm khá cao (30,77-38,1%), chủ yếu là rác thực phẩm ướt, do vậy các phương tiện lưu chứa, thu gom và vận chuyển rác thải phải đảm bảo tránh rò rỉ, rơi vãi nước rỉ rác gây ô nhiễm môi trường Độ ẩm của rác nói chung là không thuận tiện cho việc xử lí bằng phương pháp đốt nhưng tương đối thuận lợi cho việc ủ rác làm phân (tất nhiên là phải phun thêm nước để duy trì độ ẩm mức tối
ưu 50-60%)
Trang 263)Tính chất hoá học :
Như đã trình bày ở trên, tính chất hoá học của rác sinh hoạt không có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chương trình phân loại rác tại nguồn Tuy nhiên, trong rác sinh hoạt cũng thường có chứa các thành phần nguy hại, độc hại và các chất dễ gây nổ như : bình gas mini, pin, bóng neon, tàn thuốc lá, vi trùng gây bệnh trong các bông băng, … Vì vậy, chương trình phân loại rác sinh hoạt tại nguồn cần khuyến cáo chủ nguồn thải về cách thức lưu chứa các thành phần nguy hại này
4)Tính chất sinh học :
Sự phát sinh mùi và ruồi trong quá trình lưu chứa rác sinh hoạt là một trong những vấn đề đặc biệt cần quan tâm trong chương trình phân loại rác sinh hoạt tại nguồn Do thành phố Huế nằm trong khu vực nóng ẩm có nhiệt độ cao, nên tốc độ phân huỷ các thành phần chất hữu cơ, nhất là chất thải thực phẩm thường khá cao Thông thường sau khi lưu chứa một ngày, rác hữu cơ bắt đầu phát sinh mùi
Do vậy, chính sách thu gom rác sinh hoạt cần đặc biệt quan tâm đến tần suất thu gom rác hữu cơ hợp lý đảm bảo yêu cầu về mặt vệ sinh môi trường
2.6 Phân loại chất thải rắn
Việc phân loại chất thải rắn sẽ giúp xác định các loại khác nhau của chất thải rắn được sinh ra Khi thực hiện việc phân loại chất thải rắn sẽ giúp chúng ta gia tăng khả năng tái chế và tái sử dụng lại các vật liệu trong chất thải, đem lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường
Chất thải rắn đa dạng vì vậy có nhiều cách phân loại khác nhau như:
Trang 272.6.1 phân loại theo tính chất
Phân loại chất thải rắn theo dạng này người ta chia làm: các chất cháy được, các chất không cháy được, các chất hổn hợp Phân loại theo tính chất được thể hiện ở
Bảng 5: Phân loại theo tính chất
1 Các chất cháy được :
− Các vật liệu làm từ giấy
− Có nguồn gốc từ sợi
− Các chất thải ra từ đồ ăn, thực phẩm
− Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ gỗ, tre, rơm
− Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ chất dẻo
− Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ da và cao su
2 Các chất không cháy
được :
sắt
− Đá và sành sứ
− Các loại vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ sắt mà dễ bị nam châm hút
− Các vật liệu không bị nam châm hút
− Các vật liệu và sản phẩm chế tạo từ thuỷ tinh
thuỷ tinh
phần 1 và 2 đều thuộc loại này Loại này có thể chia làm hai phần với kích thước > 5mm và < 5 mm
( Nguồn : Bảo vệ môi trường trong xây dựng cơ bản , Lê Văn Nãi, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 1999)
Trang 282.6.2 phân loại theo vị trí hình thành
Người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ…
2.6.3.phân loại theo nguồn phát sinh
Chất thải sinh hoạt : là những chất thải liên quan đến các hoạt động của
con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v… Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau :
này mang bản chất dễ bị phân huỷ sinh học, quá trình phân huỷ tạo ra các mùi khó chịu, đặc biệt, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng, ẩm Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn, ký túc xá, chợ …
phân động vật khác
− Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt dân cư
cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than
Chất thải rắn công nghiệp : là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp gồm :
Trang 29− Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ, trong các nhà máy nhiệt điện;
− Các phế thải từ nguyên nhiên liệu phục vụ cho sản xuất;
− Các phế thải trong quá trình công nghệ;
Chất thải xây dựng : là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bêtông vỡ do
các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình v.v… chất thải xây dựng gồm :
− Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng;
− Các vật liệu như kim loại, chất dẻo …
− Chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý nước thiên nhiên, nước thải sinh hoạt, bùn cặn từ các cống thoát nước thành phố
Chất thải nông nghiệp : là những chất thải và mẫu thừa thải ra từ các hoạt
động nông nghiệp, thí dụ như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ các chế biến sữa, của các lò giết mổ …
2.6.4 phân loại theo mức độ nguy hại
Chất thải nguy hại : bao gồm các loại hoá chất dễ gây phản ứng, độc hại, chất thải sinh học thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất thải phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan … có nguy cơ đe doạ tới sức khoẻ người, động vật và cây cỏ Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp
Chất thải y tế nguy hại : là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có
một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng Các nguồn phát sinh chất thải bệnh viện bao gồm :
− Các loại bông băng, gạc, nẹp dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật;
Trang 30− Các chi thể cắt bỏ, tổ chức mô cắt bỏ
− Chất thải sinh hoạt từ các bệnh nhân;
Cadimi, Arsen, Xianua …
− Các chất thải phóng xạ trong bệnh viện
Các chất nguy hại do các cơ sở công nghiệp hoá chất thải ra có tính độc hại cao, tác động xấu đến sức khoẻ, do đó việc xử lý chúng phải có những giải pháp kỹ thuật để hạn chế tác động độc hại đó
Các chất thải nguy hại từ hoạt động nông nghiệp chủ yếu là các loại phân hoá học, các loại thuốc bảo vệ thực vật
Chất thải không nguy hại : là những loại chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần
2.7.Tác động của chất thải rắn sinh hoạt
2.7.1 Tác động đến sức khoẻ con người
Trong môi trường khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, chất thải bị thối rửa nhanh là nguyên nhân gây ra dịch bệnh cho con người và sinh vật
Đội ngũ lao động của các đơn vị làm vệ sinh đô thị làm việc trong điều kiện nặng nhọc, ô nhiễm nặng nên dễ bị nhiễm bệnh
Một số hộ dân cư sống gần bãi rác bị ảnh hưởng do mùi hôi từ rác phân hủy Khi trời mưa lớn thì lượng nước mưa chảy tràn cuốn theo chất ô nhiễm từ bãi rác và có thể tràn vào các giếng nước sinh hoạt miệng hở gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân nhất là các hộ gia đình sống ở khu vực thấp
Rác sinh hoạt trên địa bàn có thành phần chất hữu cơ cao là môi trường sống tốt cho các vi sinh vật gây bệnh gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân và công nhân vệ sinh bởi các bệnh về đường ruột, hô hấp,…
Trang 312.7.2 Tác động đến cảnh quan đô thị
Quá trình thu gom và vận chuyển rác không triệt để sẽ dẫn đến tình trạng tồn đọng chất thải ở các Đô thị Các chất thải này khi phân hủy làm bốc mùi hôi thối ảnh hưởng đến dân cư sinh sống tại khu vực và làm mất vẻ mỹ quan Đô thị bởi những đống rác đó
Chất thải bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển và quá trình thải bỏ vô ý thức của người dân (nhất là những khu nhà sàn, nhà ven sông) làm tắt nghẽn dòng nước, gây ngập lụt, tắt nghẽn giao thông khi gặp mưa và rác nổi bồng bềnh trên mặt nước khi thuỷ triều lên xuống
2.7.3 Tác động đến môi trường
2.7.3.1 Tác động đến môi trường đất
Khối lượng chất thải càng nhiều thì diện tích đất sử dụng cho bãi chôn lấp càng lớn, làm giảm diện tích đất sử dụng cho mục đích xây dựng nhà ở, khu công nghiệp và khu chế xuất
Sự có mặt của chất thải làm cho chết vi sinh vật trong môi trường đất do thành phần và cơ cấu của đất thay đổi, do thiếu nguồn không khí cung cấp cho môi trường đất
Các chất hữu cơ phân huỷ trong môi trường đất trong điều kiện yếm khí và hiếu khí tạo ra các chất khoáng đơn giản, các chất CH4, H2S, NH3, CO2… gây độc hại cho môi trường Thế nhưng khả năng tự làm sạch của môi trường đất có hạn nếu lượng rác quá lớn sẽ gây ô nhiễm môi trường đất (đặc biệt là nước rỉ rác).Tác động lớn nhất của bãi rác đối với môi trường đất là làm cho môi trường đất bị ô nhiễm kim loại nặng Sự tích tụ các chất chứa kim loại nặng, các chất khó phân hủy như nilon, sành sứ, thủy tinh… trong đất làm ảnh hưởng đến chất lượng đất sau này
Trang 322.7.3.2 Tác động đến môi trường nước
Chất thải được người dân đổ trực tiếp xuống cống rãnh, ao, hồ, kênh, rạch làm tắt nghẽn thêm hệ thống thoát nước đô thị và là nguồn gây ô nhiễm chính cho môi trường nước mặt và nước ngầm
Rác thải làm đục nước, làm giảm bề mặt trao đổi oxy của nước với không khí và làm mất mỹ quan Thành phố
Rác thải sau khi được thu gom và vận chuyển đến bãi rác tập trung chưa được xử lý kịp thời còn ứ đọng trong một thời gian dài làm phát sinh nước rỉ rác mà hiện nay chưa có giải pháp xử lý hiệu quả Khi nước rỉ rác này thấm xuống đất gây ô nhiễm môi trường đất, gây ảnh hưởng đến chất lượng nước xung quanh khu vực bãi rác và nguy hại hơn là chúng thấm sâu xuống tầng nước ngầm gây ô nhiễm nguồn nước ngầm
2.7.3.3 Tác động đến môi trường không khí
Quá trình chôn lấp rác làm phát sinh khí CH4, H2S, NH3, CO2 … Sự có mặt của CH4, CO2 góp phần làm khí hậu nóng lên do hiện tượng hiệu ứng nhà kính.Trong quá trình vận chuyển rác làm phát sinh bụi và hơi hôi thối vào trong môi trường không khí gây ô nhiễm không khí Ngoài ra, môi trường không khí tại bãi chôn lấp và khu vực xung quanh còn bị ảnh hưởng bởi các loại vi trùng gây bệnh
sulphat làm phát sinh các hợp chất có mùi hôi đặc trưng như: các hợp chất metyl mercaptan và acide amino butiric
Metyl mercaptan có thể biến đổi trong điều kiện có hệ men phân huỷ tạo
ra methyl alcohol và H2S:
Trang 33 Quá trình phân giải các chất thải chứa nhiều đạm trong rác bao gồm cả lên men chua, lên men thối, mốc xanh, mốc vàng, có mùi hôi thiu Có hai loại vi sinh vật, loại thứ nhất tiết ra nhiều enzyme hỗn hợp, để có thể phân huỷ tất cá các thành phần hôi thiu gluxit và lipid trong rác Loại thứ hai, vi sinh vật tiết ra một enzyme riêng lẻ và khả năng của chúng chỉ phân huỷ được một thành phần nhất định trong rác Tuỳ điều kiện môi trường mà các rác thải có những hệ vi sinh vật phân huỷ acide amin thiếu khí và yếm khí.
+ Trong điều kiện hiếu khí: acide amin trong chất thải hữu cơ được men
phân giải và vi khuẩn tạo thành acide hữu cơ và NH3 Sự có mặt của NH3 gây nên
+ Trong điều kiện yếm khí: các acide amin trong rác bị phân giải thành
các chất dạng amin và CO2
Trong số các amin mới được tạo thành có nhiều loại gây độc cho người và động vật Trên thực tế quá trình phân huỷ kị khí và hiếu khí xen lẫn nhau Như vậy, rác làm phát sinh một lượng đáng kể các chất độc đồng thời phát tán ô nhiễm ra môi trường không khí
Bảng 6: Thành phần khí sinh ra từ bãi rác
887665525352465051
52129404748514748
(Nguồn: Lê Huy Bá và cộng sự, 2000
Trang 34Thừa Thiên Huế nằm trên trục đường quan trọng xuyên Bắc-Nam, trục hành lang Đông –Tây nối Thái Lan – Lào –Việt Nam theo quốc lộ 9 Thừa Thiên Huế nằm vào vị trí trung độ của cả nước, nằm giữa thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta, là nơi giao thoa giữa điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của cả hai miền Nam – Bắc Thừa Thiên Huế là một trong những trung tâm văn hoá, du lịch ,trung tâm giáo dục- đào tạo, y tế lớn của cả nước và là trục phát triển kinh tế trọng điểm của vùng kinh tế miền Trung
Trang 35Bờ biển dài 128 km có cảng Thuận An và cảng Chân Mây có độ sâu 18-20m đủ điều kiện đón các tàu có trọng tải lớn cập bến, có cảng hàng không Phú Bài nằm trên quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo tỉnh, có 81 km biên giới với Lào
Vị trí địa lý của tỉnh hết sức thuận lợi, tạo điều kiện cho tỉnh phát triển toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội và mở rộng giao lưu với các tỉnh trong nước và quốc tế
3.1.2 Địa hình
Thừa Thiên Huế có chiều dài 127 km, chiều rộng trung bình 60 Km, với đầy đủ các dạng địa hình rừng núi, gò đồi, đồng bằng Duyên hải, đầm phá và biển,… Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông Phía Tây chủ yếu là núi đồi chiếm 70% diện tích tự nhiên, tiếp đến là các lưu vực sông Hương, sông Bồ, sông Truồi, sông
Ô Lâu,…, tạo nên các bồn địa trũng với dải đồng bằng ven biển và vùng đầm phá có diện tích 22.000 ha lớn nhất Đông Nam Á
3.1.3 Thời tiết, khí hậu
Thừa Thiên Huế nằm trong nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa mang tính chất chuyển tiếp từ Á xích đới lên nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta
-Về lượng mưa :
Huế là một trong những thành phố có lượng mưa lớn nhất nước ta Lượng mưa trung bình dao động từ 2.200-2.500 mm Hằng năm có khoảng 140 -150 ngày mưa Mùa mưa bắt đầu từ tháng IX năm nay và kết thúc tháng I năm sau, với tổng lượng mưa khoảng khoảng 2000 mm ở vùng đồng bằng phía Bắc và tăng lên 2.300- 2.500 mm ở vùng đồng bằng phía Nam Hai tháng có mưa đặc biệt là tháng
X và tháng XI
Sự phân bố lượng mưa trong năm ở Huế rất không đồng đều giữa các mùa, và có sự tương phản rất sâu sắc Trong khi đó mùa khô thiếu nước cho sản xuất và sinh
Trang 36hoạt thì mùa mưa sinh ra lũ lụt gây thiệt hại lớn.
Thời kỳ ít mưa trong năm kéo dài từ tháng II đến tháng VIII, với lượng mưa ít nhất xảy ra vào tháng II hoặc tháng III, lượng mưa chỉ đạt 20-54mm Mặt khác lại chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nên lượng bốc hơi lớn gây khô hạn kéo dài
Chế độ mưa ở Huế có sự tương phản khá rõ, lượng mưa trung bình trong mùa mưa chiếm 66-75% tổng lượng mưa trong năm Mặc khác do lưu vực sông của thành phố có độ dốc lớn, rừng bị tàn phá nặng nề, cường độ mưa lớn tạo ra dòng chảy có tốc độ rất nhanh gây ra nạn xói mòn trầm trọng, nguy cơ lũ quét ngày càng gia tăng Ngược lại, mùa khô là thời kì khô nóng nên lượng mưa đã ít lại bị bốc hơi nhanh nên đại bộ phận đất canh tác đều bị thiếu nước
Bảng 7 : Nhiệt độ trung bình của các tháng trong năm 2003
Trang 37- Chế độ nhiệt :
Nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, hưởng một chế độ bức xạ dồi dào nên Huế có một nền nhiệt độ cao, tiêu biểu cho chế độ nhiệt ở vùng nhiệt đới Nhiệt độ trung bình năm của TP.Huế là 25,20 độ C Nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng I khoảng 20 độ C, nhiệt độ đạt cực tiểu là khoảng 8 độ C vào mùa lạnh Nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng VII là 29,40 độ C và nhiệt độ cực đại vào mùa hè có thể lên tới 41,30 độ C
-Độ ẩm
Độ ẩm trung bình của thành phố Huế là 85,67% Độ ẩm cao nhất lên tới 93% vào tháng XI và thấp nhất vào tháng VI, VII, VIII với 77% do thời tiết nắng nóng Với số giờ nắng trung bình năm là 1.990 giờ cao nhất vào tháng VI với 284 giơ, thấp nhất vào tháng XI với 479 giờ Do đó, khả năng bốc hơi lớn khoảng 1.009 mm/năm
3.1.4 Thuỷ văn
Trên địa bàn Thừa Thiên Huế có năm con sông lớn là sông Hương, sông Bồ, sông Trà, sông Ô Lâu, sông A Sáp cùng với nhiều khe suối lớn, nhỏ, chằng chịt từ vùng núi đến vùng đồng bằng ven biển đã tạo nên nguồn nước ngọt khá dồi dào đáp ứng đủ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Ngoài ra có 22.000 ha mặt nước thuộc phá Tam giang như Đầm Cầu Hai, Đầm Lập An tạo nên một vùng sinh thái ven biển đặc thù
Mạng lưới thuỷ văn có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh tế xã hội của thành phố Huế là hệ thống Sông Hương Diện tích của cả hệ thống là 2.830 km2 chiếm 3/5 diện tích lưu vực sông của toàn tỉnh với chiều dài 104 km Hệ thống sông này chảy theo hướng Bắc và đổ vào đầm phá trước khi ra biển thông qua hai cửa Thuận An và Tư Hiền Đặc điểm sông ngòi Tp.Huế là sông ngắn, có độ dốc lớn, lưu lượng dòng chảy không đều trong năm, hoạt động dòng chảy mang tính đặc trưng theo mùa nên thành phố luôn bị ngập lụt trong các tháng mùa mưa Bên cạnh đó, hệ thống sông này có hệ số uốn khúc lớn, cửa sông hẹp, do đó hạ lưu chịu ảnh hưởng lớn của triều và bị nhiễm mặn vào tháng mùa khô
Trang 383.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.2.1 Xã hội
3.2.1.1 Dân số
Dân số trung bình của tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2003 là 1.101,7 nghìn người Mật độ dân số của tỉnh là 219 người /Km2, dân cư phân bố không đồng đều ở các xã cũng như các phường trong thành phố Dân số ngày càng đông và tốc độ gia tăng tương đối cao như hiện nay là một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn cho công tác quản lí, thu gom, vận chuyển chất thải rắn của tỉnh
3.2.1.2 Giáo dục
Giáo dục luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với mỗi quốc gia Vì có một nền giáo dục tốt cộng thêm mạnh về kinh tế, vững về chính trị thì quốc gia đó sẽ cường thịnh
Hiện nay giáo dục đào tạo của tỉnh Thừa Thiên Huế sau hơn 10 năm đổi mới đã có những bước phát triển toàn diện, vững chắc Mạng lưới trường lớp, các loại hình giáo dục đào tạo ngày càng đa dạng, về cơ bản đã hoàn thành xong mù chữ cho người dân và phổ cập giáo dục bậc tiểu học, đang tiến hành giáo dục bậc trung học cơ sở Và các con số này được thống kê thể hiện rõ như sau:
Bảng 8 : Các chỉ số về giáo dục
Trang 39Theo số liệu thống kê của cục thống kê Thừa Thiên Huế, toàn tỉnh có 194 cơ sở y tế, trong đó có 17 bệnh viện, với 3.989 cán bộ, 3.450 giường bệnh Trong đó thành phố có 41 cơ sở y tế với 718 bác sĩ , 337 y sĩ, và kĩ thuật viên, 823 y tá và hộ lí, 830 nhân viên y tế khác và 2.380 giường bệnh Ngoài ra trên địa bàn thành phố Huế còn có một bệnh viện trực thuộc trung ương là bệnh viện TW Huế với các thiết bị y tế hiện đại Như vậy thì việc chăm sóc sức khoẻ cho người dân có thể được đảm bảo Tuy nhiên tốc độ phát sinh chất thải rắn y tế ngày càng tăng
do sự gia tăng dân số, mức sống, sự nâng cao chất lượng chữa bệnh … Theo ước tính thì tổng khối lượng chất thải rắn thải ra từ các bệnh viện khoảng 212 tấn/ngày, trong đó 20-25% là chất thải y tế nguy hại cần được xử lí đặc biệt Và khi khối lượng này càng tăng lên thì có đảm bảo được lượng chất thải rắn sinh hoạt y tế không lẫn lộn chất thải rắn y tế do các cơ sở y tế thải ra Đây là một vấn đề hết sức nghiêm trọng khi chất thải rắn y tế hoà nhập với chất thải rắn sinh hoạt, nó sẽ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân, mặc dù các cơ sở y tế đều có nhân viên làm nhiệm vụ thu gom riêng lượng chất thải rắn y tế mỗi ngày
3.2.1.4 Xây dựng cơ bản
Cơ sở hạ tầng của tỉnh và thành phố nhìn chung khá khang trang, đặc biệt là sau festival 2000 đa số các đường hẻm được bê tông hoá, các đường nhựa lớn khá bằng phẳng và ít bị hư hỏng Trong năm qua tỉnh đã đầu tư 14.946 triệu đồng cho việc duy tu, sữa chữa và xây dựng mới cho xây dựng cơ bản Nhờ vậy mà hệ thống đường sá tốt đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu gom và chuyên chở tránh được hiện tượng rơi vãi dọc đường do dằn xóc rút ngắn được thời gian vận chuyển và ít hao tốn nhiên liệu của xe
Trang 403.2.2 Kinh tế
3.2.2.1 Công nghiệp
Tỉnh Thừa Thiên Huế duy trì được mức tăng trưởng khá Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 2.455 tỉ đồng, tăng 15,5 % so với năm ngoái Trong đó doanh nghiệp nhà nước trung ương tăng 29,5 %; doanh nghiệp nhà nước tăng 3,2 %; khu vực ngoài quốc doanh tăng 14,8 %; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,7% Một số ngành công nghiệp tăng khá cao như : ngành dệt tăng 30,3 % ; Ngành sản xuất gỗ và các sản phẩm từ gỗ tăng 47,8% ; Ngành khai khoáng tăng 64%
Hiện nay, các huyện và TP.Huế đã tích cực chỉ đạo lập quy hoạch và dự án xây dựng cụm công nghiệp và làng nghề trong đó : cụm công nghiệp Tứ Hạ đã có 4 đơn vị thuê đất; cụm công nghiệp Hương Thuỷ có 30 đơn vị đăng kí thuê đất; cụm làng nghề thủ công mỹ nghệ Thuỷ Lương có 5 đơn vị đăng kí thuê đất ; cụm công nghiệp Hương Sơ giai đoạn hai có 30 đơn vị đăng kí thuê đất;
Tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 2.700 tỉ đồng, bằng 90% so với kế hoạch Trong đó :
-Vốn Trung ương quản lí đạt 1.005,7 tỉ đồng, bằng 81% so với kế hoạch
-Vốn quản lí địa phương gần 1.556,5 tỉ đồng, bằng 99,8% so với kế hoạch
-Vốn đầu tư của các doanh nghiệp là 130,7 tỉ đồng
-Vốn đầu tư của dân là 73,6 tỉ đồng
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thừa Thiên Huế đạt 144,9 tỉ đồng bằng 90% so với kế hoạch Bên cạnh đó, vốn viện trợ nước ngoài đạt 313,4 tỉ đồng, giảm 32% do một số dự án lớn đã hoàn thành
3.2.2.2 Nông lâm ngư nghiệp
A / Nông nghiệp
Sản xuất lương thực được mùa, tuy diện tích gieo cấy lúa giảm do chuyển đổi một