1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh tế của việt nam trong vòng 20 năm qua

57 1,1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 466,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu để áp dụng thêm cácphân tích định lượng về xu hướng hiện tại của việc sử dụng cả FDI và ODA;chỉ ra mạnh mẽ những yếu điểm trong quản lý hai nguồ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI

GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”

NĂM 2014

Tên công trình: Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh

tế của Việt Nam trong vòng 20 năm qua

Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý (KD3)

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

DANH MỤC CÁC KÍ TỰ VIẾT TẮT

2008 SNA: Hệ thống tài khoản Quốc gia của Liên Hợp Quốc năm 20083SLS: Three-stage least squares

ADB: Ngân hàng Phát triển Đông Á

AFTA: Khu vực tự do mậu dịch ASEAN

APEC: Khu vực hợp tác Kinh tế Asean-Thái Bình Dương

ASEAN: Khu vực các quốc gia Đông Nam Á

ASEM: Diễn đàn hợp tác Á-Âu

CEP: Hợp tác toàn diện về đối tác kinh tế

et al et alii, 'and others'

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP: Tổng sản phẩm Quốc nội

GMM: Generalized method of moments

ICOR: Incremental Capital –Output

IT: Công nghệ thông tin

MPDD: Bộ phận Phát triển và Chính sách vĩ mô

ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức

OECD: Tổ chức hợp tác Kinh tế và Phát triển

OLS: Ordinary Least Square

TNC: Các công ty đa Quốc gia

UNCTAD: Hội nghị Quốc tế về Thương mại và Phát triển

WDI: Các chỉ số phát triển Thế giới của Ngân hàng Thế giớiWTO: Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách Đổi mới với batrụ cột chính là chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang hoạtđộng theo cơ chế thị trường; phát triển một nền kinh tế nhiều thành phầntrong đó khu vực tư nhân đóng vai trò ngày càng quan trọng; chủ động hộinhập nền kinh tế khu vực và thế giới một cách hiệu quả và phù hợp với điềukiện thực tế của Việt Nam Sau hơn 20 năm đổi mới , nền kinh tế Việt Nam

đã thành công ở một số thành tựu đáng kể , tăng trưởng GDP liên tục từ 3,9 %mỗi năm trong 5 năm đầu tiên của quá trình đổi mới để tối đa 8,5% trong năm

2007 Về thương mại và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã trở thành một thànhviên quan trọng của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), cam kết tíchcựcthực hiện Khu vực mậu dịch tự do (AFTA) Hơn nữa, Việt Nam cũng làmột thành viên tích cực của hợp tác kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương(APEC) , Diễn đàn Hợp tác Á- Âu (ASEM ) và nhiều tổ chức kinh tế quốc tếkhác Đặc biệt là trong năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO) , có quan hệ với hơn 220 quốc gia và vùng lãnhthổ , đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Việt Nam vào nền kinh tế toàn thếgiới Nhờ việc tăng cường hội nhập về thương mại, Việt Nam đã thu hút sốlượng ngày càng tăng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ gần như bằngkhông năm 1986 lên gần 64 tỷ USD trong năm 2008 FDI tăng không chỉ hứahẹn mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn đóng mộtvai trò quan trọng trong bổ sung kinh phí chuyển giao công nghệ và phươngthức kinh doanh hiện đại Bên cạnh đó, FDI và ODA cũng đã góp phần rất lớnvào thành công của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Sau 20 năm chươngtrình ODA , Việt Nam hiện nay là một quốc gia thu nhập trung bình Kết quảlàlượng vốn ODA chảy vào Việt Nam sẽ giảm, thách thức cả nền kinh tế đểkhai thác nguồn tài chính này hiệu quả hơn Để đáp ứng sự phát triển này,

Trang 7

Việt Nam đang đứng trước thách thức để thu hút thêm các nguồn tài chínhbên ngoài cho tăng trưởng kinh tế và sử dụng chúng hiệu quả hơn Vì lý do

đó, đề tài cũng tập trung nghiên cứu nhằm xác định tác động của cả FDI vàODA đến tăng trưởng kinh tếmột cách định tính bằng việc sử dụng mô hìnhkinh tế lượng Tuy nhiên, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu để áp dụng thêm cácphân tích định lượng về xu hướng hiện tại của việc sử dụng cả FDI và ODA;chỉ ra mạnh mẽ những yếu điểm trong quản lý hai nguồn tài chính này trênphương diện của chính phủ và các cơ quan liên quan Hơn nữa, một số giảipháp cũng được đề xuất để tăng hiệu quả của Việt Nam trong việc sử dụng vàcũng thu hút đầu tư nước ngoài , ODA cả về số lượng và chất lượng

Do đó, nghiên cứu tập trung vào trả lời 2 câu hỏi sau đây bằng cách sửdụng công cụ phân tích thích hợp và những phương pháp nghiên cứu

Câu hỏi 1 : ODA và FDI có ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởngkinh tế Việt Nam từ 1996 đến nay?

Câu hỏi 2: Ảnh hưởng của ODA và FDI đến tăng trưởng kinh tế thayđổi thế nào qua các thời kỳ khác nhau ?

Ngoài ra, đề tài này tập trung chủ yếu vào mối quan hệ giữa FDI, ODA

và tăng trưởng kinh tế do thực tế là nước đang phát triển có thể tận dụng lợithế của một số nguồn kinh phí tài trợ trong đó có một cả bên trong và bênngoài như FDI, ODA , vay từ các tổ chức quốc tế và công dân , vv Trongphạm vi của nghiên cứu này, chỉ có FDI và ODA được coi là nguồn cung cấpchính về tài chính cho phát triển Nghiên cứu chỉ tập trung vào phát triển kinh

tế Việt Nam kể từ khi chính sách đổi mới được thực hiện có nghĩa là phạm vi

cơ sở dữ liệu là từ năm 1986 đến năm 2012 Thêm vào đó, đề tài nghiên cứuchỉ xem xét các tác động bên ngoài vào sự thay đổi của FDI và ODAnên sẽtập trung nghiên cứu về các khía cạnh quản lý của chính phủ đối với việc sửdụng các nguồn tài chính này

Trang 8

Cơ bản, đề tài nghiên cứu được cấu trúc với 3 chương chính:

• Lời mở đầu

• Chương 1: Tổng quan các tài liệu trước

1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

2. Các nghiên cứu gần đây

• Chươngr 2: Phương pháp nghiên cứu

• Chương 3: Phân tích dữ liệu

1. Tổng quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam, FDI và ODA trong hơn 20 nămqua

2. Kết quả ước lượng

3. Tổng kết

• Chương 4:Kiến nghị, đề xuất

1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ODA

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng FDI

• Kết luận

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế là một thuật ngữ rộng của kinh tế vĩ mô chịu ảnhhưởng bởi nhiều khía cạnh khác nhau như các yếu tố kinh tế , các vấn đề xãhội và yếu tố bên ngoài , vv… Với mục đích xác định rõ mối quan hệ củatừng yếu tố đến tăng trưởng kinh tế và tác động của nó, Barro (1996) đã tiếnhành nghiên cứu thực nghiệm xuyên quốc gia về yếu tố quyết định tăngtrưởng kinh tế

Thứ nhất, bất kỳ nền kinh tế nào cũng không thể phát triển mà khôngcần nguồn nhân lực Các yếu tố nguồn nhân lực có một tác động tích cựcđáng kể vào tăng trưởng kinh tế Một năm tăng thêm khi dùng vào việc họccủa một công nhân sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng được nâng lên 1,2 điểmphần trăm mỗi năm Rõ ràng, mức độ cao hơn của văn hóa, lượng kiến thứcnhân viên có thể có được và những ứng dụng của những kiến khức này đượctăng lên Nó cũng phản ánh khả năng của nền kinh tế trong vấn đề tiếp thucông nghệ mới- chìa khóa quan trọng để thu hút đầu tư nước ngoài Kỳ vọng

về tuổi thọ là một phần của chỉ số nguồn nhân lực không chỉ cho thấy mức độsức khỏe của công dân mà còn là chất lượng của nguồn nhân lực.Mức cao hơntuổi thọ, các công nhân khỏe mạnh sẽ tạo điều kiện cho họ đóng góp nhiềuhơn cho nền kinh tế

Bên cạnh tốc độ tăng trưởng GDP, GDP bình quân đầu người vốn đượccoi là một chỉ số về tăng trưởng kinh tế (Nguyen, 2012) Xét về lực lượng laođộng, nếu dân số đang phát triển, số lượng lao động ngày càng tăng thì số tiềnđầu tư được sử dụng để cung cấp lương cho công nhân mới nhiều hơn là tăngmức độ vốntrên mỗi công nhân Kết quả là, tỷ lệ tăng dân số cao hơn có thể

có tác động tiêu cực đến tăng trưởng.Về dân số, mức sinh cao đòi hỏi nhiều

Trang 10

nguồn lực dành cho quá trình chăm sóc trẻ em và giáo dục chứ không phải làphân phối trên quy trình sản xuất (Becker và Barro, 1988) Mặc dù một sốnghiên cứu như Schultz (1989), Behrman (1990) và Barro và Lee (1994) chỉ

ra rằng tăng trưởng dân số không thể được coi là yếu tố quyết định quan trọngnhất trong quá trình kinh tế; rõ ràng nó sẽ ảnh hưởng nền kinh tế tăng trưởngmột cách gián tiếp thông qua tốc độ tăng trưởng của mỗi đồng đầu ra vốn

Trên quan điểm kinh tế, chi tiêu chính phủ là một trong những yếu tốquan trọng nhất trong việc tạo ra quá trình tăng trưởng Về mặt lý thuyết tăngchi tiêu chính phủ có thể làm tăng tổng mức đầu ra trong khi nghiên cứu thựcnghiệm đã chứng minh rằng nó có một mối quan hệ tiêu cực Tuy nhiên,nghiên cứu của Barro (1996) áp dụng "các biện pháp cụ thể của chi tiêu chínhphủ được dự định để ước tính chi tiêu mà không nâng cao năng suất" Do đó,mức độ cao hơn của chính phủ phi sản xuất hoàn toàn làm giảm tốc độ tăngtrưởng của một quốc gia

Chi tiêu chính phủ bao gồm mức độ tiêu thụ và cũng là năng suất củabất kỳ chính phủ trong khi đó các khái niệm chỉ số pháp luật phản ánh sứchấp dẫn của môi trường đầu tư của một quốc gia Khái niệm này bao gồmchất lượng của bộ máy quan liêu, tham nhũng chính trị, khả năng của chínhphủ bác bỏ hợp đồng, rủi ro tước quyền sở hữu của chính phủ, duy trì quyđịnh của pháp luật mà đại diện cho hiệu quả của việc thực thi pháp luật, xâmphạm của hợp đồng và nhà nước của ảnh hưởng khác về sự an toàn của quyền

sở hữu Do thực tế rằng tất cả những chỉ số mang tính chủ quan mà không cóbất kỳ đơn vị nào xác nhận chúng, nên nghiên cứu đã đánh giá các chỉ số theothang điểm 0-6 về gia tăng trình độ chuyên môn Kết quả là quy định của chỉ

số pháp luật càng cao, mức độ gia tăng tốc độ tăng trưởng được tạo ra Chínhphủ có thể kiểm soát chất lượng của pháp luật và hỗ trợ cho quá trình đầu tưcủa nhà đầu tư do đó nền kinh tế đang tăng trưởng

Ngoài ra, giao dịch giữa các nền kinh tế có thể làm cho mọi quốc gia tốthơn do đó "thay đổi trong các điều khoản của thương mại thường được nhấn

Trang 11

mạnh như ảnh hưởng quan trọng đối với các nước đang phát triển"(Barro,1996) Về cơ bản, kinh doanh được phản ánh thông qua giá cả và kíchthước xuất khẩu, nhập khẩu và ảnh hưởng của nó đối với tăng trưởng kinh tế rõràng là thông qua sự gia tăng thu nhập trong nước thực sự và có thể là khả năngtiêu thụ Tuy nhiên, chỉ số GDP chỉ tập trung vào hàng hóa sản xuất trong nước

do đó các tác động của giao dịch trên tăng trưởng kinh tế không được phảnánh Chỉ khi giao dịch thương mại kích thích một sự thay đổi trong việc làmtrong nước và đầu ra thì khi đó sự dịch chuyển trong GDP thực tế là xảy ra

Yếu tố về vốn, trong đó có các nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếpcũng là các nhân tố kích thích tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên mức độ ảnhhưởng còn tùy thuộc vào trình độ phát triển của một quốc gia

Nói một cách khái quát, sự phát triển của một nền kinh tế được xácđịnh không chỉ bởi các yếu tố kinh tế mà còn ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội

ở cả 2 khía cạnh cách trực tiếp và gián tiếp Hơn nữa trong bối cảnh toàn cầuhóa đến sự gia tăng hội nhập, các yếu tố của quan hệ thương mại quốc tế đangtrở nên rất quan trọng vào việc xác định tăng trưởng kinh tế

2 Các nghiên cứu gần đây:

Trong 20 năm qua, Việt Nam đã tham gia một số hiệp hội quốc tế nhưWTO, ASEAN, và cũng đạt thành tựu đáng kể Cùng với sự cởi mở, kinh tếViệt Nam thu hút các nguồn tài chính bên ngoài như ODA, FDI Phần đầu củamục này sẽ đề cập đến các nền tảng lý thuyết của các nghiên cứu này vềnhững tác động của FDI và ODA cho nền kinh tế Sau đó là phần tiếp theoxem xét một số nghiên cứu có liên quan để cho thấy ưu điểm, và những hạnchế cũng như những lĩnh vực đã bị bỏ qua hoặc chưa được đề cập trong cácnghiên cứu trước đây

Vì các ưu đãi cho các nước tiếp nhận, ODA cũng được gọi là viện trợ

Rõ ràng, ODA có mọi lợi ích mà một nguồn viện trợ điển hình có thể cungcấp cho nước nhận viện trợ đặc biệt là các nước đang phát triểnnhư Việt Nam

Trang 12

Thứ nhất, theo Ekanayake và Chatrna (2010), vai trò chính của viện trợ nướcngoài trong việc mô phỏng sự phát triển kinh tế là một bổ sung cho tài chínhtrong nước và do đó tăng cường đầu tư và vôn chứng khoán Cụ thể là, trongnghiên cứu của Morrissey (2001), sau khi sử dụng một vài phương pháp kinh

tế lượng, ông chỉ ra rằng viện trợ có thể đóng góp vào tăng trưởng kinh tếthông qua nhiều cách như tăng đầu tư vào vốn vật chất, nhân lực và nâng caonăng lực để nhập khẩu hàng hóa vốn hay công nghệ Tuy nhiên, ông cũng chỉ

ra rằng viện trợ không có ảnh hưởng gián tiếp làm giảm đầu tư hoặc tỷ lệ tiếtkiệm và cũng liên quan đến chuyển giao công nghệ làm tăng năng suất củavốn và thúc đẩy sự thay đổi kỹ thuật nội sinh

Bên cạnh ảnh hưởng chung như một sự viện trợ, lợi ích của ODA cụthể được cũng đề cập đến trong một nghiên cứu về chính sách kinh tế vĩ mô

và bộ phận phát triển (MPDD , 2005) "như là một nguồn bổ sung cho cácnguồn tài chính cho phát triển , đặc biệt là ở những quốc gia có ít khả năngnhất để thu hút các dòng vốn tư nhân nước ngoài" Nó cũng chỉ ra tác độngcủa ODA không chỉ cho sự phát triển kinh tế mà còn cho xã hội đặc biệt làkhi có thiên tai Như Riddell (2008) đã tổng kết rằng tranh luận về ODA về cơbản dựa trên tinh thần đoàn kết, nhân đạo và cũng là vấn đề nghèo đói , bấtbình đẳng ở các nước đang phát triển Nói chung về lợi ích xã hội, ODA cóthể ảnh hưởng đến sự tự do của con người (Sen, 1999) và cũng góp phần làmcho một thế giới hòa bình

Một yếu tố khác của các nguồn tài chính bên ngoài là đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI) Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế cũng là một lĩnhvực thú vị để nghiên cứu.Những ảnh hưởng của FDI vào nước tiếp nhận được

đề cập một cách cẩn thận trong việc nghiên cứu của Ngô (2005).Tổng quát,FDI được coi là nguồn chính của tăng trưởng kinh tế cho các nước kém pháttriển (Balasubramanyam et al , 1996) FDI cung cấp một lượng lớn vốn chonước tiếp nhận để tăng cường nền kinh tế đặc biệt là đối với những nước có

Trang 13

hạn chế về nguồn vốn trong nước (Ngo, 2005) Bên cạnh việc tài trợ vốn trựctiếp, FDI có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế quốc gia của nước tiếpnhận thông qua một số kênh như đầu vào sản xuất, công nghệ và kiến thức.Công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới dạng FDI cũng đi kèmvới các công nghệ mới nhất, máy móc và thậm chí các chuyên gia của họ.Doanh nghiệp Việt Nam và các kỹ sư có thể tận dụng những công nghệ đó vàtiếp thu kiến thức từ các chuyên gia nước ngoài Cụ thể, chuyển giao côngnghệ trực tiếp làm tăng năng suất thông qua nâng cao hiệu quả sử dụng nguồnlực Hơn nữa, ảnh hưởng lớn mà vốn FDI nói chung và các công ty nướcngoài có thể tạo ra cho các nước tiếp nhận là thông qua hiệu ứng lan tỏa Tuynhiên, những nghiên cứu gần đây vẫn còn tranh cãi liệu FDI có thể tạo ra hiệuứng lan tỏa tích cực bởi vì dù sao nó cũng là một ảnh hưởng gián tiếp củaFDI Hanson (2001) lập luận rằng bằng chứng thực nghiệm là không hỗ trợmạnh mẽ cho các tác động tích cực của FDI tới tăng trưởng kinh tế trongnước trong khi Gorg và Greenwood (2002) cũng đã chứng minh rằng nhữngtác động chủ yếu là tiêu cực Trong khi đó, Lipsey (2002) đã chỉ ra một cáinhìn thuận lợi hơn và cho rằng trong hạn mức kinh tế vi mô, có bằng chứng

có sẵn mà FDI có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực mặc dù kinh tế vĩ môcấp, mối quan hệ giữa dòng và tăng trưởng FDI không phải là nhất quán

Từng loại nguồn tài chính có thể tạo ra tác động khác nhau đối với tăngtrưởng kinh tế vì vậy để tạo ra một kết luận rõ ràng về mối quan hệ giữa cácnguồn khác nhau của chuyển nhượng vốn và tăng trưởng kinh tế; Driffield vàJones (2013) đã tiến hành một nghiên cứu về sự đóng góp của FDI, ODA vàkiều hối vào sự tăng trưởng của các nước đang phát triển Hơn nữa, nó cũngxem xét các luận điểm ủng hộ cũng như phản đối tầm quan trọng của các tổchức trong việc phát triển và đây là một điểm tiên tiến so với nghiên cứu hiệntại của tôi Nghiên cứu này tập trung dữ liệu từ tất cả các khu vực đang pháttriển như khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, châu Mỹ Latin và Caribbean,

Trang 14

Trung Đông và Bắc Phi, Nam Á Nó cũng dẫn đến một vấn đề nội sinh giữadòng vốn khác nhau vào một quốc gia Nghiên cứu tiến hành mô hình cơ sởvới GDP bình quân đầu người là biến phụ thuộc; FDI, ODA, kiều hối là một

tỷ lệ phần trăm của GDP là biến độc lập.Hơn nữa, để xem xét tầm quan trọngcủa các tổ chức, mô hình này cũng bao gồm các biến thể chế như hồ sơ cánhân đầu tư, pháp luật và chất lượng quan liêu và sự tương tác của nó với 3biến chính FDI, ODA và kiều hối Để khai thác rõ ràng mối quan hệ giữaFDI, ODA và kiều hối với các tổ chức của nó, là nghiên cứu ứng dụng mộtphương pháp ước lượng khá phức tạp là phương pháp mô-men tổngquát(GMM) và ba giai đoạn bình phương tối thiểu (3SLS) Với số lượng quansát lớn (62 quốc gia), các mô hình thử nghiệm có thể được hình thành với một

số lượng lớn biến hỗ trợ do đó độ chính xác của kết quả dự toán được tănglên Sau khi ước lượng mô hình cơ sở, mô hình nâng cấp với các điều khoảntương tác thể chế và mô hình có độ trễ, nghiên cứu đã đưa ra một kết luậnrằng cả FDI và kiều hối có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong khimối quan hệ giữa ODA và tăng trưởng không phải là rõ ràng Hơn nữa, kiềuhối dường như có tầm quan trọng lớn hơn FDI trong việc tạo ra tăng trưởngkinh tế.Tuy nhiên nghiên cứu này không được liên kết chặt chẽ với tăngtrưởng kinh tế nhưng tương quan với cả ba loại dòng vốn

Trong một phạm vi hẹp hơn, Benmamoun và Lehnert (2013) cũngnghiên cứu những ảnh hưởng của cả ba nguồn vốn trên tới phát triển tài chínhmột cách cụ thể chứ không phải là tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu này cũng

sử dụng phương pháp kinh tế lượng, xây dựng mô hình để giải thích rõ ràngnhững tác động của FDI, ODA và kiều hối quốc tế về một quá trình phát triểncủa tài chính Mặc dù các nghiên cứu đã được tiến hành gần đây, phạm vi dữliệu mà họ sử dụng là chỉ 1990-2006 của 180 quốc gia với các mức độ thunhập thấp , trung bình và thu nhập cao Nghiên cứu bỏ qua khía cạnh quốcgia, chỉ tập trung vào quan điểm của nợ thu nhập và phụ thuộc FDI Nghiên

Trang 15

cứu chỉ có 1 mô hình với GDP bình quân đầu người là một biến phụ thuộctrong khi FDI, ODA, kiều hối trên GDP là biến độc lập Hơn nữa, mô hìnhnày cũng đòi hỏi các biến số khác như độ mở của nền kinh tế, tăng trưởng dân

số, lạm phát và nền dân chủ dựa trên nghiên cứu của Barro (1996) về yếu tốquyết định tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, Benmamoun và Lehnert chỉ tậptrung và lựa chọn các biến kinh tế từ nghiên cứu Barro và bỏ qua nhữngngười khác không hoàn toàn liên quan đến mô hình Theo kết quả , tăngtrưởng kinh tế của các nước có thu nhập thấp bị ảnh hưởng tích cực của FDI,ODA và kiều hối quốc tế Nghiên cứu này có lợi thế tương tựnhư nghiên cứucủa Benmamoun và Lehnert trên khía cạnhsố lượng quan sát và phương pháp

áp dụng Tuy nhiên, nó tập trung vào mức thu nhập thay vì khu vực Mặc dùthực tế rằng kiều hối quốc tế không phải là một nguồn chính thức về tài chínhnhưng các nghiên cứu đã kết luận rằng nó có ảnh hưởng lớn nhất so với FDI

và ODA Mức độ quan trọng của tác động tiền gửi ' không chỉ thích hợp chocác nước có thu nhập thấp mà còn ở những nước phụ thuộc nhiều vàoFDI Vìnhững tác dụng lớn của kiều hối, người viết đã kết thúc với một vài gợi ý vềchính sách và phản ứng doanh nghiệp để kích thích và sử dụng các nguồntiềm năng của tài chính có hiệu quả

Ở Việt Nam, FDI và ODA là chủ đề quan tâm của các nhà nghiên cứu,nhưng các nghiên cứu về tác động của chúng đối với tăng trưởng kinh tế làriêng rẽ Ví dụ trong năm 2011, một nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hộiViệt Nam đã chỉ ra mối quan hệ giữa di cư và phát triển kinh tế.Hơn nữa, nócũng là nghiên cứu đầu tiên sử dụng phương pháp định lượng trong lĩnh vựcnày Một lần nữa, những tác động tích cực của kiều hối về kinh tế về thu nhập

và mức sống đã được chứng minh trong nghiên cứu trường hợp Việt Nam

Có một thực tế là mặc dù tác động của FDI và ODA vào nền kinh tế làtích cực hay tiêu cực; mọi người không thể phủ nhận sự đóng góp của đầu tưnước ngoài cho nền kinh tế nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Do đặc thù của đề tài nghiên cứu này, dữ liệu thứ cấp của kinh tế ViệtNam từ 1986-2012 chủ yếu được sử dụng Cụ thể, số liệu về tăng trưởng GDP,vốn ODA được thu thập từ các chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng Thếgiới (WB) và từ Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển(UNCTAD) Về mặt phân tích dữ liệu, đề tài nghiên cứu sử dụng cả haiphương pháp mô tả và kinh tế lượng.Để phân tích mô tả, phần mềm MicrosoftExcel được áp dụng cho việc biểu thị mối quan hệ giữa xu hướng GDP so vớiFDI và ODA Phương pháp này chỉ phát hiện ra tăng trưởng của các biến theohướng trực quan và không xác định được tỷ lệ đóng góp của FDI và ODA vàophát triển kinh tế Kết quả là, phân tích hồi quy được áp dụng để làm cho mốiquan hệ rõ ràng hơn dưới ước lượng định tính Nghiên cứu mới chỉ tập trungvào bối cảnh Việt Nam với các dữ liệu cập nhật nhất về GDP, FDI và ODA

Nó sẽ sửa chữa vấn đề của dữ liệu xuyên quốc gia khi chạy hồi quy nhưng vấn

đề của dữ liệu chuỗi thời gian cũng ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng Kết quả

là, vấn đề tương quan nối tiếp chắc chắn sẽ được tồn tại trong các mô hình Phương pháp áp dụng trong phân tích kinh tế là phương pháp ước lượngbình phương nhỏ nhất (OLS).Nó ước tính các thông số chưa biết của một môhình hồi quy tuyến tính bằng cách giảm thiểu số dư bình phương đó là sựkhác biệt giữa số liệu thực tế và một ước tính Với mục đích tiến hành một môhình tối ưu của các mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng GDP và FDI, ODA;quá trình thay thế biến không thích hợp thiếu ý nghĩa thống kê, do tỷ lệ -thoặc giá trị -p Mặc dù nhiều chỉ trích đã được chĩa vào phương pháp này donhững tổn thất thông tin được phát sinh, thì phương pháp này vẫn là mộtphương pháp thích hợp để xác định các yếu tố lý giải cho các biến phụ thuộc

và cũng dấu hiệu của nó

Trang 17

Các mô hình kinh tế sau đây được áp dụng để ước tính tăng trưởng kinh

tế mà đại diện bởi sự thay đổi trong tốc độ tăng trưởng GDP Mặt khác, tốc độtăng trưởng GDP được coi là các biến phụ thuộc trong các mô hình Tốc độtăng trưởng của nền kinh tế được đo bằng sự thay đổi trong khối lượng đầu racủa nó hoặc trong thu nhập thực tế của người dân Hệ thống 2008 của Liênhợp quốc tài khoản quốc gia ( SNA 2008 ) cung cấp ba chỉ số chính đáng choviệc tính toán tăng trưởng : khối lượng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) , tổngthu nhập trong nước thực sự, và tổng thu nhập quốc gia thực sự Khối lượngGDP là tổng giá trị gia tăng, được đo theo giá so sánh, các hộ gia đình , chínhphủ và ngành công nghiệp hoạt động trong nền kinh tế GDP chiếm tất cả sảnxuất trong nước , bất kể thu nhập tích lũy cho các tổ chức trong nước hoặcnước ngoài Trong điều kiện của biến giải thích, chuỗi dữ liệu ODA cũngđược thu thập từ Ngân hàng Thế giới Trong phạm vi của nghiên cứu này ,lượng ODA nhận được ở Việt Nam được coi là số tiền giải ngân vốn ODAtrong vòng 20 năm qua Vì thực tế rằng số tiền giải ngân vốn ODA thực sự làđóng góp vào việc tạo ra tăng trưởng kinh tế , các nghiên cứu bỏ qua các kháiniệm về số lượng cam kết ODA cho Việt Nam Mặc dù số lượng cam kếtODA cũng có thể ảnh hưởng đến hành vi của các hộ gia đình và các công tythông qua một cách gián tiếp đó là kỳ vọng, nghiên cứu này chỉ bao gồm cácnguồn vốn ODA giải ngân để thể hiện tính hiệu quả và tác động thực tế của

nó đối với tăng trưởng kinh tế Với thành phần thứ hai của đầu tư - FDI, các

dữ liệu hàng năm về thu hút FDI tại Việt Nam được thu thập từ UNCTAD vàcũng có số lượng giải ngân vốn FDI được đưa vào xem xét

Mô hình lý thuyết sử dụng tất cả cácbiến độc lập mô tả trước đây với tốc

độ tăng trưởng GDP là biến phụ thuộc Hơn nữa, 2 biến chính và biến phụthuộc cóxu hướng rõ rang theo thời gia,do đóbiến giả xu hướng thời giancũng đã được đưa vào mô hình Mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển được hìnhthành bởi công thức:

Trang 18

Mô hinh 1 chỉ xét tác động của FDI, ODA và biến xu hướng thời gianđến GDP, áp dụng phương pháp tiếp cận đơn giản nhất để xác định chiều ảnhhưởng của các biến độc lập tới biến cố định trong mô hình.

(1)Đối với mô hình thứ hai, quan sát dữ liệu cho thấy năm 2006 có sự thayđổi vượt bậc về cả FDI, ODA lẫn thay đổi trong tỉ lệ tăng GDP Xem xétthực

tế rằng cuối năm 2006,Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTOđiều đó cung cấp cơ hội rất lớn để thu hút các nguồn tài chínhbên ngoài doyếu tố kì vọng về phát triển Kinh tế của Việt Nam tăng cao trong cả năm

2006 Do đó, lượng FDI đổ vàoViệt Nam có thể tăng lên đáng kể trong năm2006 Theo kết quả, nghiên cứu áp dụng vào mô hình thứ hai với 2 biến giảphản ánh tác động của sự kiện kinh tế trong năm 2006

(2)

Để kiểm tra sự can thiệp của chính phủ và các tổ chức trong việc hỗ trợcho FDI, ODA , các biến sau được đưa vào xem xét là chất lượng các quyđịnh và pháp luật để kiểm tra tác động của FDI và ODA theo hệ thống chínhtrị hiện hành Dữ liệu về các chỉ số quản trị quốc gia được thu thập từ Ngânhàng Thế giới theo số điểm của sáu chỉ số tổng hợp đủ điều kiện hệ thốngquản lý tuân thủ bởi Kaufmann, Kraay và Mastruzzi (2009).TheoBenmamoun và Lehnert (2013), tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào cả Chấtlượng quy định và pháp luật , 2 yếu tố này thực sự đóng vai trò quan trọng đốivới Việt Nam Chính vì vậy, nghiên cứu đã bổ sung 2 biến số này vào môhình hồi quy để đánh giá ảnh hưởng của việc quản trị quốc gia đối với tăngtrưởng kinh tế Chất lượng các quy định đo lường tỷ lệ của các chính sách thịtrường không thân thiện, trong khi biến pháp luật bao gồm chất lượng củaviệc thực thi hợp đồng, cảnh sát và tòa án, cũng như khả năng của tội phạm vàbạo lực Như bài nghiên cứu đã đề cập ở trên,biến số chất lượng các quy định

Trang 19

và pháp luật là những chỉ số mang tính định tính hầu như không đo lườngđược một cách cụ thể Do đó, mỗi yếu tố được ghi từ một cách tương đốitrong khoảng từ -2,5 đến 2,5 theo sự gia tăng chất lượng (Kaufmann, Kraay

và Mastruzzi , 2009) (Bảng 11_Phụ lục 21)1 Cụ thể, trong giai đoạn

1986-1995 , các quản trị dữ liệu hiệu quả là tương đương với chỉ số năm 1996 vànăm 1997 , 1999 và 2001, các dữ liệu là bằng năm trước

(3)

Bảng dưới đây tóm tắt các biến số được sử dụng trong mô hình kinh tế

và dấu của hệ số

Bảng 1: Tóm tắt các biến số

Biến số Giải thích vị Đơn Nguồn Kì vọng về dấu

GDP_GRO sản phẩm quốc nộiTăng trưởng về tổng % WB Biến phụ thuộcFDI Đầu tư trực tiếp nướcngoài $ UNCTAD Tích cựcODA Hỗ trợ phát triển chínhthức $ WB Tích cực

1 Bảng 11: Số liệu về chất lượng quản lý và pháp luật

Trang 20

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

1 Tổng quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam, FDI và ODA trong 20 năm qua

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị thị trường của tất cả các hànghóa và dịch vụ cuối cùng mà sản xuất trong nước trong một thời gian nhấtđịnh Như tác giả Nguyễn (2012), GDP cũng được coi là một phép đo củatăng trưởng kinh tế và cũng là biến phụ thuộc trong những mô hình kinh tếdưới đây

Biểu đồ 1: GDP Việt Nam từ 1986 đến 2012

(Nguồn: World Bank)

Theo dữ liệu của tài khoản quốc gia Ngân hàng Thế giới, và Tổ chứcHợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) thì mức độ GDP của Việt Nam tronggiai đoạn 1986 - 2012 đã phát triển đáng kể từ 26 tỷ USD đến 155 tỷ USD.Sau 2 năm kể từ khi áp dụng chính sách DoiMoi, kinh tế Việt Nam có đượcmột mức độ tăng trưởng GDP từ 26 triệu USD đến hơn 36 triệu USD trongnăm 1987 Tuy nhiên, trong 2 năm sau đó, kinh tế Việt Nam phải đối mặt vớiviệc giảm nhẹ về mức GDP và sau đó tăng liên tục cho đến bây giờ

Do thực tế rằng GDP được chấp nhận rộng rãi như là chỉ số hoạt độngkinh tế, sự phát triển kinh tế cũng được định nghĩa trong 2 cách như sự giatăng của GDP hoặc tăng GDP bình quân đầu người Nghiên cứu không xemxét sự thay đổi dân số trong việc xác định tăng trưởng kinh tế do đó, sự thayđổi trong GDP hàng năm sẽ phản ánh hiệu suất kinh tế

Biểu đồ 2: Tỷ lệ tăng trưởng GDP Việt Nam trong giai đoạn 1986-2012

Trang 21

(Nguồn: World Bank)

Biểu đồ 1 cho thấy một xu hướng đi lên mạnh mẽ trong GDP trong khibiểu đồ 2 thể hiện một biến động rất lớn của GDP Việt Nam trong giai đoạn

1986 - 2012 Mức tăng trưởng GDP cao nhất trong năm 1995 chiếm 7,8% mỗinăm Nói chung, trong giai đoạn đầu tiên 1986-1999, tăng trưởng GDP tăngnhẹ với mức độ cao hơn so với giai đoạn tiếp theo 1999-2006 Tuy nhiên , từnăm 2006 đến năm 2012, xu hướng tăng trưởng GDP đang giảm dần

Về nguồn bên ngoài của tài chính, nghiên cứu này chỉ xem xét nguồn đầu

tư trực tiếp nước ngoài (FDI ) và nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).Thứ nhất, FDI theo OECD "được định nghĩa là đầu tư xuyên biên giớicủa một thực thể thường trú trong một nền kinh tế với mục tiêu có được mộtlợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp cư trú trong nước khác" Mặt khác, theocác tác giả Hill, Wee và Udayasankar (2012 ), "FDI xảy ra khi một công tyđầu tư trực tiếp tại các cơ sở sản xuất hoặc thị trường một sản phẩm trên mộtquốc gia nước ngoài" Về góp vốn và quản lý, FDI có trên 3 hình thức chính :liên doanh, sáp nhập hoặc mua lại và đầu tư Greenfield Đầu tư liên doanh cónghĩa là các công ty được thành lập bởi các phần vốn góp của công ty của nhàđầu tư và của cả trong nước.Trong một công ty liên doanh, mỗi thực thể thamgia chịu trách nhiệm về lợi nhuận, tổn thất và chi phí liên kết với nó.Hơn nữa,ngay cả quyền quản lý cũng được tách biệt giữa 2 bên.Loại thứ hai của FDI làsáp nhập hoặc mua lại có nghĩa là một quá trình sáp nhập giữa công ty nướcngoài và trong nước.Trong loại này, một bên chủ yếu là các công ty nướcngoài đóng góp vốn trong khi bên còn lại chịu trách nhiệm về cơ sở hạ tầng.Lợi nhuận và thua lỗ cũng được tách biệt như liên doanh

Cuối cùng, đầu tư “greenfield” liên quan đến việc thành lập một hoạtđộng mới ở nước ngoài với đầy đủ quyền quản lý của công ty Nước nhận chophép các nhà đầu tư để tận dụng đất đai hiện hành, lao động trong nước vàcác nguồn lực khác một cách hợp pháp Một thực trạng là phần lớn đầu tưFDI là đầu tư xuyên biên giới dưới hình thức sáp nhập và mua lại nhiều hơnchứ không phải là đầu tư Greenfield Các dữ liệu từ Liên Hiệp Quốc cũng chỉ

Trang 22

ra rằng 89 % của tất cả các dòng vốn FDI là trong các hình thức sáp nhập vàmua lại Tuy nhiên, trong điều kiện của các nước đang phát triển, mức độ sápnhập và mua lại doanh nghiệp FDI là khá thấp so với quốc gia phát triển vìthiếu các công ty mục tiêu.

Biểu đồ 3: Dòng vốn FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 1986-2012

(Nguồn: UNCTAD)

Biểu đồ 3 cho thấy số lượng FDI đổ vào Việt Nam 1986-2012 Rõ ràng,trong năm 2006, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã tăng lên đáng kể khi ViệtNam trở thành thành viên của WTO Tuy nhiên, trước năm 2006, dòng vốnFDI của Việt Nam cũng có một số thay đổi đáng kể trong một khoảng thờigian nhất định

Trong 3 năm đầu kể từ 1988 đến 1990, các dòng vốn FDI vẫn ở mứcthấp trong khi áp dụng Luật Đầu tư nước ngoài, đánh dấu lần đầu tiên giaiđoạn thu hút FDI của Việt Nam Mặc dù còn nhiều hạn chế trong các quyđịnh, văn bản pháp luật về đầu tư nước ngoài vẫn được công nhận bởi cộngđồng quốc tế về tính tự do và hấp dẫn của dự luật Đây là giai đoạn chuẩn bịcho sự bùng nổ của FDI tại Việt Nam trong 5 năm tiếp theo 1991-1996 TheoUNCTAD thống kê, dòng vốn FDI của Việt Nam năm 1991 là 37,5 triệuUSD, trong khi đó tăng 6,4 lần trong năm 1996 đạt gần 2,4 tỷ USD Như tácgiải Ngo (2009) giải thích trong nghiên cứu của bà rằng lý do cho một sựbùng nổ trong việc thu hút FDI trong 1991-1996 là do môi trường đầu tư tạiViệt Nam cuốn hút Cụ thể, chi phí đầu tư và kinh doanh là khá thấp trong khinhững hạn chế trong quản lý không phải là quá nhiều và không gây tắc nghẽnnghiêm trọng như chỉ số tham nhũng của Việt Nam trong giai đoạn này chỉ là0,4 Do thực tế rằng Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN vào năm

1995, do đó cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á cũng ảnh hưởng lên dòngvốn FDI Việt đánh dấu một sự giảm ngày càng tăng của dòng vốn FDI Số

Trang 23

lượng FDI liên tục bị từ chối cho đến năm 2001 Trong 6 năm từ 2001 đếnnăm 2006, dòng vốn FDI Việt Nam đã tăng lên đến 2,4 tỷ USD, gần tương tựvới mức của năm 1996 ngay trước khi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, sự gia tăng mạnh mẽtrong tăng trưởng FDI tạo ra bước đột phá đáng kể FDI đổ vào Việt Nam trongnăm 2007 tăng gấp 3 lần so với năm 2006, đạt gần 7 tỷ USD Mặc dù tình hìnhkinh tế Việt Nam trong năm 2008 phải đối mặt với nhiều biến động như mứccao nhất của lạm phát từ năm 1992 đạt 25,2% trong 5/2008 và thâm hụt lớntrong cán cân thương mại , số lượng dòng vốn FDI vẫn nhận được gần 10 tỷUSD, số tiền lớn nhất trong giai đoạn 20 năm Tuy nhiên, như những ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2009 đến năm 2012,biểu đồ 3 cho thấy một biến động lớn trong dòng vốn FDI vào Việt Nam.

Theo Đỗ (2008), khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được coi làmột khu vực phát triển năng động, có vai trò ngày càng quan trọng và đónggóp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế Cụ thể, vốn đầu tư nước ngoài đặcbiệt là FDI là một trong những nguồn vốn bổ sung quan trọng nhất cho sựphát triển vốn, để đạt được các yêu cầu của sự phát triển Kể từ khi Việt Namgia nhập WTO , sự đóng góp của FDI đã tăng đáng kể từ 16,1 % trong tổngvốn đầu tư cho khoảng thời gian 2001-2005, theo trung bình 25% trong năm

2007 đến nay , đặc biệt là trong năm 2008, chiếm hơn 30% (Bảng2)2

Hơn nữa, đầu tư nước ngoài cũng góp phần trong việc nâng cao năng lựcsản xuất công nghiệp Về lĩnh vực kinh tế, trong cả hai năm 2007 và 2012, sảnxuất luôn luôn là lĩnh vực hấp dẫn nhất trong việc tiếp nhận FDI 5 năm, sốlượng FDI đổ vào sản xuất đã tăng 18% và chiếm gần 75% vốn nước ngoài vàonăm 2012 Vị trí thứ hai là bất động sản doanh nghiệp mà đã 32% so với tổngvốn FDI đổ vào Việt Nam trong năm 2007, hơn 6 tỷ USD Tuy nhiên, do ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và đóng băng của thị trườngbất động sản Việt Nam mà các nhà đầu tư giảm sự quan tâm trong lĩnh vực này

2Bảng 2: Đóng góp của FDI vào tổng đầu tư (Nguồn: Niên giám thống kê 2012)

Trang 24

đã dẫn đến sự sụt giảm lớn vốn nước ngoài vào năm 2012 Bên cạnh các lĩnhvực kinh tế truyền thống, dòng vốn FDI Việt Nam trong năm 2012 chỉ có đầu

tư vào một lĩnh vực mới đó là khoa học và công nghệ vì đầu tư nước ngoàicũng đóng một vai trò nổi bật trong đổi mới và chuyển giao công nghệ trong cảhai cách trực tiếp và gián tiếp Như trong việc mua lại hoặc loại nổi lên củaFDI, doanh nghiệp trong nước cung cấp đất; lao động trong khi các công tynước ngoài đầu tư vào vốn, công nghệ và kỹ năng (Biểu đồ 4_Phụ lục 14)3

FDI không chỉ có tác động vào việc tạo ra kinh tế Việt Nam mà còn gópphần rất lớn để tạo việc làm trong nước, tăng năng suất lao động và ngay cảtrong quá trình đào tạo nguồn nhân lực Cho đến nay, khu vực đầu tư nướcngoài đã sử dụng khoảng 2 triệu lao động trực tiếp và một số lượng lớn laođộng gián tiếp (Bảng3_Phụ lục 3)4

Bên cạnh các yếu tố định lượng nghiên cứu đề cập ở trên vai trò của FDIcũng thể hiện qua các yếu tố không định lượng FDI cung cấp một phươngpháp mới đầu tư kinh doanh mà còn cung cấp các hiệu ứng lan tỏa tới cácthành phần kinh tế khác của nền kinh tế và tận dụng các nguồn lực kinh tếtrong nước Thông qua sự liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài với những doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực quản lýkinh doanh được chuyển giao từ FDI vào trong nước.Mặt khác, các công tynước ngoài cũng tạo ra động lực cho các doanh nghiệp để cạnh tranh trong thịtrường Việt Nam thích ứng với bối cảnh toàn cầu hóa, qua đó nâng cao nănglực của các doanh nghiệp trong nước.Ngoài ra, FDI đã mở rộng thị trườngtrong nước có quy mô kinh tế, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nhiềungành công nghiệp, khu vực dịch vụ cũng như sản phẩm mới Vào lúc đó,FDI cũng đóng một vai trò quan trọng trong phần giới thiệu nguồn gốc sảnphẩm Việt Nam vào thị trường quốc tế; tăng sức cạnh tranh của sản phẩm

3Biểu đồ 4: Dòng FDI vào Việt Nam năm 2007 và 2012 theo ngành kinh tế (Nguồn: Tổng cục thống kê) 4Bảng 3: Lao động Việt Nam theo ngành kinh tế (Nguồn: Tổng cục thống kê)

Trang 25

trong nước ; đẩy nhanh tiến độ mở cửa thương mại ; nâng cao ổn định cán cânthương mại của đất nước.

Tuy nhiên, sau 25 năm thu hút và sử dụng FDI, Việt Nam vẫn phải đốimặt với nhiều bất cập Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của Việt Nam còn thấp sovới các quốc gia khác Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đànKinh tế Thế giới (2003-2005), năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong năm

2004 là 165, giảm 88 bậc so với năm 2003 và đến năm 2005 không có xếphạng Việt Nam tăng đến 82/117 quốc gia Tuy nhiên, trong năm 2006, ViệtNam đứng ở thứ hạng 77 trên 125 nước giảm 3 cấp độ với năm 2005 Kết quả

là, nó gây ra tác động tiêu cực đến sức hấp dẫn của nền kinh tế Việt Nam thuhút FDI từ các công ty xuyên quốc gia (TNC) và các nước phát triển Hơn nữa,như nghiên cứu của AT Kearny Công ty (2004) về mức độ say mê của cácnước đối với các tập đoàn đa quốc gia trong việc tìm kiếm vốn từ bên ngoài ,thì Việt Nam là mức ở gần dưới cùng , 24/25 quốc gia về môi trường kinhdoanh Năng lực hạn chế của một nền kinh tế được thể hiện qua chỉ số ICOR(Incremental Capital - Output ) là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quảđầu tư để tăng trưởng kinh tế ( Tổng cục Thống kê) Mặt khác, chỉ số ICOR đạidiện cho sự gia tăng 1 đơn vị GDP đòi hỏi bất kỳ đơn vị đầu tư bổ sung Chỉ sốICOR càng cao , thì hiệu quả đầu tư càng thấp và ngược lại Từ năm 2006 đếnnăm 2010, chỉ số ICOR của Việt Nam có xu hướng tăng từ 4,04 năm 2004-

2005 đến 7,14 trong năm 2009-2010 có nghĩa là những lợi ích từ một nguồnvốn đầu tư tăng lên là không thích hợp(Biểu đồ 5)5

Thứ hai, sự tham gia của Việt Nam trong các dự án đầu tư nước ngoài hầunhư là về vốn và lao động do đó các công ty trong nước gần như không cóquyền quản lý và cổ tức nhận được thậm chí còn hạn chế Thậm chí trong một

số dự án của các ngành thành công như dệt may và giày dép, các yếu tố trongnước là khá thấp bởi đầu vào nhập khẩu khoáng sản, máy móc và công nghệ

5Biều đồ 5: Chỉ số ICOR của Việt Nam (Nguồn: Tổng cục thống kêBộ Kế hoạch Đầu tư)

Trang 26

Cuối cùng, hầu hết các tỉnh của Việt Nam có ít nhất một dự án đầu tưnước ngoài với loại khác nhau của vốn đầu tư: liên kết với mỗi lợi thế cạnhtranh độc đáo Tuy nhiên, khu vực Đông Nam, đồng bằng sông Hồng, đồngbằng sông Cửu Long và Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là hấp dẫnnhất đối với dòng vốn FDI về số dự án và số vốn đã ký trong khi các tỉnhthành còn lại của đất nước lại gặp khá nhiều khó khăn về tiếp nhận vốn đầu tưnước ngoài theo số liệu của Tổng cục Thống kê (Bảng4)6

Ngoài ra, một lượng lớn các dự án này tập trung vào khu công nghiệp,khu chế xuất và khu vực kinh tế có trình độ cao của lao động phổ thông nhưdệt may, sản xuất, vv Nó đã chứng minh một cách mạnh mẽ rằng các nhàđầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào một số yếu tố truyền thống của nềnkinh tế Việt Nam như giá rẻ lao động, mức độ cao về sức mua và mở rộng thịtrường xuất khẩu Hơn nữa, nó cũng phản ánh sự mất cân bằng trong việcđóng góp vốn FDI của Việt Nam Mặc dù trong vùng sâu vùng xa có lợi thế

về lao động, tài nguyên và thậm chí ủng hộ trong việc quản lý các nhà đầu tư,nhưng hạn chế của cơ sở hạ tầng vẫn không đủ hấp dẫn để thu hút FDI Kếtquả là, việc sử dụng lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI ở những khu vực nàykhông mang lại hiệu quả

Một nguồn bên ngoài tài chính cho phát triển là hỗ trợ phát triển chínhthức (ODA) được đặt ra bởi Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC) của tổ chức choHợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) để đo viện trợ Thuật ngữ này lần đầutiên được DAC sử dụng vào năm 1969.Nó được sử dụng rộng rãi như là mộtchỉ số về lưu lượng viện trợ quốc tế.Nó bao gồm một số khoản vay.Nói cáchkhác, ODA có thể được xem như là tài trợ chính thức hoặc các hình thức hỗ trợkhác, được đưa ra bởi chính phủ các nước đang phát triển để thúc đẩy và thựchiện phát triển kinh tế Nhưng đối với định nghĩa đầy đủ của ODA, OECD lạicho rằng "dòng chảy của tài trợ chính thức được quản lý cùng với việc thúc đẩyphát triển kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển là mục tiêu chính, và

6Bảng 4: Dòng FDI vào Việt Nam năm 2012 (theo địa lý) (Nguồn: Tổng cục thống kê)

Trang 27

đó là đặc điểm ưu đãi với một tỉ lệ tối thiểu là 25 phần trăm (sử dụng một lãisuất chiết khấu cố định 10%) Theo quy ước, nguồn vốn ODA bao gồm đónggóp của các cơ quan chính phủ tài trợ, các cấp, các nước đang phát triển (" songphương ODA " ) và các tổ chức đa phương Tiếp nhận ODA bao gồm giải ngâncủa các nhà tài trợ song phương và các tổ chức đa phương (OECD, Từ điểnthuật ngữ thống kê) ODA có thể được chia làm hai loại chính: Hỗ trợ đaphương và song phương Hỗ trợ đa phương có thể được chuyển qua ngân hàngphát triển đa phương và các cơ quan của Liên Hợp Quốc.Hỗ trợ song phươngđược đưa ra trực tiếp giữa chính phủ với chính phủ.

Biểu đồ 6: Số lượng ODA dòng vào Việt Nam trong giai đoạn 1986-2012

(Nguồn: World Bank)

Cuối cùng, dữ liệu về số lượng ODA chảy vào Việt Nam được thu thập

từ nguồn Ngân hàng Thế giới là bao gồm giải ngân cho vay được thực hiệntheo các điều kiện ưu đãi do đó độ chính xác của dữ liệu này giải thích về sựđóng góp của ODA đối với tăng trưởng kinh tế là đáng tin cậy hơn Nóichung, đồ thị cho thấy một xu hướng tăng mạnh mẽ về số lượng ODA hỗ trợcho Việt Nam trong hơn 20 năm qua Tuy nhiên , trong một số sự kiện quantrọng cụ thể như năm 1993, 2002 và 2010 rằng nguồn vốn ODA tại Việt Namphải đối mặt với sự sụt giảm đột ngột về lượng Cụ thể là, đường xu hướngngày càng tăng của ODA ròng nhận được giai đoạn 1986-2005 là ít dốc hơn

so với đường xu hướng trong thời gian tới Thêm vào đó, ODA cũng bị ảnhhưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu rằng mức độ biến động tronggiai đoạn 2007-2009 là mạnh hơn rất nhiều

Cụ thể, trong khoảng thời gian 2002-2006, mức tăng trung bình hàng nămtrong nguồn vốn ODA là 12,53 % trong khi tốc độ tăng trưởng GDP là 16,13 %, tương ứng Kết quả, tỷ lệ ODA / GDP có xu hướng giảm trong giai đoạn này

Trang 28

Trong điều kiện của các quốc gia và tổ chức quốc tế , Pháp, Nga , đặc biệt làNhật Bản , Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB )

hỗ trợ hầu hết các nguồn vốn ODA cho Việt Nam Vì vậy, Việt Nam luôn luôntính với một mức độ khá thấp lãi suất về ODA , chỉ dưới 3 % / năm (Biểu đồ7_Phụ lục 17,biểu đồ 9_Phụ lục 19, biểu đồ 10_Phụ lục 20)7

Tuy nhiên , giống như FDI, sự kiểm soát của chính phủ về ODA còn yếudẫn đến nhiều bất ổn Chủ yếu là các dự án ODA đã bị trì hoãn trong nhiềugiai đoạn như thủ tục hành chính , áp dụng quy trình và quy trình đặc biệt làgiải ngân Tỷ lệ giải ngân vốn ODA tại Việt Nam là khá thấp Trong giai đoạnđầu 1993-1996 , tỷ lệ giải ngân thấp nhất vào khoảng 33% sau đó tăng lênhơn 50 % trong giai đoạn tiếp theo 2 Tuy nhiên , ở cấp độ cao nhất của camkết ODA , gần 8 tỷ USD , số tiền giải ngân chỉ chiếm 48%.(Biểu đồ 8_Phụlục 18)8Kết quả là, kéo dài thời gian hoàn thành khiến phát sinh những khókhăn đặc biệt là yêu cầu thêm vốn, khấu hao cơ sở hạ tầng , vv, do đó hiệuquả của các dự án ODA cũng giảm mạnh Hơn nữa, quản lý vốn ODA của cáctổn thất và lãng phí cũng là một vấn đề được quan tâm Ví dụ như trongtrường hợp của PMU 18 và gần đây là vấn đề của Đại lộ Đông Tây đặt ra câuhỏi trong quản lý vốn ODA của Chính phủ Việt Nam

3 Kết quả ước lượng:

Một cách định tính, mối quan hệ giữa FDI, ODA và tăng trưởng kinh tế đượcước lượng theo mô hình:

(1)

7Biểu đồ 9: Tỷ lệ ODA/GDP từ 2002 đến 2012 (Nguồn: OECD, Ngân hảng Thế giới)

Biểu đồ 10: ODA cam kết từ các nhà đầu tư trong giai đoạn 1993-2012 (Nguồn: VGP News)

Biểu đồ 7: Giải ngân ODA từ năm 2002 đến 2012(Nguồn: OECD)

8Biểu đồ 8: ODA cam kết và giải ngân của Việt Nam từ 1993 đến 2012(Nguồn: OECD và Tổng cục thong

kê)

Ngày đăng: 10/01/2016, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Adams, R.H., and J. Page (2003), International Migration, Remittances, and Poverty in Developing Countries, Policy Research Working Paper, 3179, The World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Migration, Remittances,and Poverty in Developing Countries
Tác giả: Adams, R.H., and J. Page
Năm: 2003
3. Balasubramanyam, V. N., Salisu, M. and Sapsford, S. (1996), Foreign Direct Investment and Growth in EP and IS Countries, The Economic Journal Sách, tạp chí
Tiêu đề: ForeignDirect Investment and Growth in EP and IS Countries
Tác giả: Balasubramanyam, V. N., Salisu, M. and Sapsford, S
Năm: 1996
4. Barro, R.J., (1996), Determinants of Economic Growth: A cross-country empirical study, NBER working paper 5698 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of Economic Growth: A cross-countryempirical study
Tác giả: Barro, R.J
Năm: 1996
5. Begg, D., Fischer, S. and Dornbusch, R. (2008), Economics, McGraw Hill Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics
Tác giả: Begg, D., Fischer, S. and Dornbusch, R
Năm: 2008
6. Benmamoun,M. and Lehnert,K., (2013), Financing Growth: Comparing the effects of FDI, ODA and International remittances, Journal ofEconomic Development, vol 38, no.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financing Growth: Comparingthe effects of FDI, ODA and International remittances
Tác giả: Benmamoun,M. and Lehnert,K
Năm: 2013
7. Bourguignon, F. (2006), Global Economic Prospects, 2006: Economic Implications of Remittances and Migration, The World Bank. Available athttp://econ.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/EXTDEC/EXTDECPROPK:1026834~pagePK:64167702~piPK:64167676~theSitePK:1026804,00.html/. [Accessed at 18 April 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Economic Prospects, 2006: EconomicImplications of Remittances and Migration
Tác giả: Bourguignon, F
Năm: 2006
8. Chartna, D. and Ekanayake, E.M. (2008), The effect of foreign aid on economic growth in developing countries, Journal of International Business and Cultural Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of foreign aid oneconomic growth in developing countries
Tác giả: Chartna, D. and Ekanayake, E.M
Năm: 2008
9. Do, H. L, (2008), The impacts of economic globalization on FDI inflows of Vietnam, National Economics University Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impacts of economic globalization on FDI inflowsof Vietnam
Tác giả: Do, H. L
Năm: 2008
10. Driffield,N. and Jones,C.,(2013), Impact of FDI, ODA and Migrant Remittances on Economic Growth in Developing Countries: A systems Approach”, Aston Business School, Birmingham, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of FDI, ODA and MigrantRemittances on Economic Growth in Developing Countries: A systemsApproach”
Tác giả: Driffield,N. and Jones,C
Năm: 2013
11. Gorg, H. and D. Greenwood. (2002), Much Ado About Nothing? Do Domestic Firms Really Benefit from Foreign Direct Investment?, Research Paper 2001/37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Much Ado About Nothing? DoDomestic Firms Really Benefit from Foreign Direct Investment
Tác giả: Gorg, H. and D. Greenwood
Năm: 2002
12. Hansen, H. and F. Tarp (2001), Aid and growth regressions, Journal of Development Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aid and growth regressions
Tác giả: Hansen, H. and F. Tarp
Năm: 2001
13. Hanson, G. H. (2001), Should Countries Promote Foreign Direct Investment?, G-24 Discussion Paper No. 9. New York: United Nations Sách, tạp chí
Tiêu đề: Should Countries Promote Foreign DirectInvestment
Tác giả: Hanson, G. H
Năm: 2001
14. Hill, W.L.C., Wee, C.H. and Udayasankar, K. (2012), International Business: An Asian perspective, McGraw Hill Sách, tạp chí
Tiêu đề: InternationalBusiness: An Asian perspective
Tác giả: Hill, W.L.C., Wee, C.H. and Udayasankar, K
Năm: 2012
15. Hoang, A, T., (2005), “The usage situation of Science-Technilogy employment”, Ministry of Invesment and Planning.http://baodautu.vn/vie-t-nam-20-nam-thu-hut-80-ty-usd-von-oda.html[Accessed at 15 April 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: The usage situation of Science-Technilogyemployment"”, Ministry of Invesment and Planning."http://baodautu.vn/vie-t-nam-20-nam-thu-hut-80-ty-usd-von-oda.html
Tác giả: Hoang, A, T
Năm: 2005
16. Huong, G. (2013), Vietnam: 20 years attracts 80 billion US$ ODA.Available at Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huong, G. (2013), Vietnam: 20 years attracts 80 billion US$ ODA
Tác giả: Huong, G
Năm: 2013
17. Kaufmann, D., Kraay, A. and Mastruzzi, M. (2009), Governance Matters VII – Aggregate and Individual Governance Indicators 1996- 2008, Policy Research Working Paper 4978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: GovernanceMatters VII – Aggregate and Individual Governance Indicators 1996-2008
Tác giả: Kaufmann, D., Kraay, A. and Mastruzzi, M
Năm: 2009
18. Kearny, A.T., (2004), Making offshore decision: Offshore locationattractiveness index”, A.T. Kearny Inc. Marketing and Communiction Sách, tạp chí
Tiêu đề: Making offshore decision: Offshorelocationattractiveness index
Tác giả: Kearny, A.T
Năm: 2004
19. Kwakwa, V., (2013), Celebrating 20 years of cooperation inVietnam.Available athttp://www.worldbank.org/vi/news/speech/2013/10/17/celebration-of-20-years-of-ODA-in-vietnam[Accessed in 15 April 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Celebrating 20 years of cooperation in"Vietnam
Tác giả: Kwakwa, V
Năm: 2013
20. Le,L.H. (2010), The growth of private sectors as a part of Vietnamese economy and being the most real attractive to long term FDI. Available at http://cafef.vn/trang-chu/news-2010111608411687ca0.chn[ Accessed at 25 April 2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: The growth of private sectors as a part of Vietnameseeconomy and being the most real attractive to long term FDI
Tác giả: Le,L.H
Năm: 2010
2. Anon. (2010) NCR Maps. Available at: http://ncrhomes.com/wp- content/uploads/2010/11/ncr-Map1.bmp [Accessed at 25 April 2014] Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng dưới đây tóm tắt các biến số được sử dụng trong mô hình kinh tế - Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh tế của việt nam trong vòng 20 năm qua
Bảng d ưới đây tóm tắt các biến số được sử dụng trong mô hình kinh tế (Trang 19)
Bảng 5: Mô hình 1_kết quả ước lượng - Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh tế của việt nam trong vòng 20 năm qua
Bảng 5 Mô hình 1_kết quả ước lượng (Trang 30)
Bảng 6: Mô hình 1_chẩn đoán lỗi - Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh tế của việt nam trong vòng 20 năm qua
Bảng 6 Mô hình 1_chẩn đoán lỗi (Trang 30)
Bảng 10: Mô hình 3_chẩn đoán lỗi - Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh tế của việt nam trong vòng 20 năm qua
Bảng 10 Mô hình 3_chẩn đoán lỗi (Trang 34)
Bảng 1: Tóm tắt các biến số - Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh tế của việt nam trong vòng 20 năm qua
Bảng 1 Tóm tắt các biến số (Trang 45)
Bảng 4: Dòng vốn FDI của Việt Namtrong năm 2012 (theo địa lí) - Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh tế của việt nam trong vòng 20 năm qua
Bảng 4 Dòng vốn FDI của Việt Namtrong năm 2012 (theo địa lí) (Trang 46)
Bảng 5: Mô hình 1_ kết quả ước lượng - Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh tế của việt nam trong vòng 20 năm qua
Bảng 5 Mô hình 1_ kết quả ước lượng (Trang 47)
Bảng 7: Mô hình 2_ kết quả ước lượng - Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh tế của việt nam trong vòng 20 năm qua
Bảng 7 Mô hình 2_ kết quả ước lượng (Trang 48)
Bảng 9: Mô hình 3_kết quả ước lượng - Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh tế của việt nam trong vòng 20 năm qua
Bảng 9 Mô hình 3_kết quả ước lượng (Trang 49)
Bảng 8: Mô hình 2_chẩn đoán lỗi - Tác động của FDI và ODA đến tăng trưởng kinh tế của việt nam trong vòng 20 năm qua
Bảng 8 Mô hình 2_chẩn đoán lỗi (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w