Trong Vật lý, hệ trục tọa độ được sử dụng rất nhiều như khảo sát các tính chất chuyển động của vật, thể hiện sự thay đổi giá trị của một đại lượng nào đó hay đặc trưng cho một đại lượng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thanh Hương
NGHIÊN CỨU VỀ HỆ TRỤC TỌA ĐỘ TRONG DẠY HỌC TOÁN VÀ VẬT LÝ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thanh Hương
NGHIÊN CỨU VỀ HỆ TRỤC TỌA ĐỘ
TRONG DẠY HỌC TOÁN VÀ VẬT LÝ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ NHƯ THƯ HƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3Ngoài ra tôi cũng xin chân thành cảm ơn:
- Ban lãnh đạo và chuyên viên Phòng sau đại học, Khoa Toán - Tin Trường ĐHSP TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt khóa học
- Ban Giám hiệu cùng các Thầy Cô trong tổ toán Trường THPT Trần Khai Nguyên - TP.HCM cùng tập thể học sinh khối 10 và 11 đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi tiến hành thực nghiệm
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các anh chị, các bạn cùng khóa đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như là quá trình làm luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân yêu trong gia đình đã luôn động viên tôi hoàn thành khóa học
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 HỆ TỌA ĐỘ TRONG GIÁO TRÌNH TOÁN VÀ VẬT LÝ ĐẠI HỌC 1.1 Các hệ tọa độ trong giáo trình Toán ở bậc đại học 6
1.1.1 Hệ toạ độ Descartes vuông góc Oxy và hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz 6
1.1.2 Hệ toạ độ cầu 12
1.1.3 Hệ toạ độ trụ 13
1.1.4 Hệ toạ độ cực 15
1.2 Các hệ tọa độ trong giáo trình Vật lý ở bậc đại học 18
1.2.1 Hệ toạ độ Descartes vuông góc 19
1.2.2 Hệ toạ độ cầu 23
1.2.3 Hệ tọa độ cực 24
1.2.4 Hệ tọa độ tự nhiên 24
1.3 Kết luận 26
Chương 2 HỆ TỌA ĐỘ TRONG CÁC THỂ CHẾ DẠY HỌC TOÁN VÀ VẬT LÝ Ở TRUNG HỌC 29
2.1 Hệ toạ độ trong môn Toán bậc trung học 29
2.1.1 Hệ tọa độ trong SGK Toán 7 30
Trang 52.1.2 Hệ tọa độ trong SGK Toán 9 35
2.1.3 Hệ tọa độ trong môn Toán lớp 10 36
2.1.4 Hệ tọa độ trong môn Toán lớp 11 42
2.1.5 Hệ tọa độ trong môn Toán lớp 12 43
2.1.6 Kết luận phân tích SGK Toán bậc trung học 50
2.2 Hệ toạ độ trong SGK Vật lý bậc trung học 51
2.2.1 Hệ toạ độ trong SGK Vật lý 9 51
2.2.2 Hệ toạ độ trong SGK Vật lý 10 51
2.2.3 Hệ tọa độ trong SGK Vật lý 12 58
2.2.4 Kết luận phân tích SGK Vật lý bậc trung học 60
2.3 Kết luận 60
Chương 3 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 65
3.1 Thực nghiệm 1 65
3.1.1 Giới thiệu thực nghiệm 65
3.1.2 Phân tích tiên nghiệm các tình huống thực nghiệm 66
3.1.3 Phân tích hậu nghiệm 75
3.1.4 Kết luận chung cho thực nghiệm 1 82
3.2 Thực nghiệm 2 82
3.2.1 Mục đích và đối tượng thực nghiệm 82
3.2.2 Nội dung thực nghiệm 83
3.2.3 Phân tích tiên nghiệm 84
3.2.4 Phân tích hậu nghiệm 101
3.2.5 Kết luận chung cho thực nghiệm 2 112
Trang 6KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2 Biên bản
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Đặc trưng, vai trò của các hệ tọa độ ở môn Toán và Vật lý bậc đại học 26
Bảng 2.1 Thống kê các KNV trong SGK và SBT Toán 7 34
Bảng 2.2 Thống kê các KNV trong SGK và SBT Toán 9 36
Bảng 2.3 Thống kê các KNV trong SGK và SBT Đại số và Hình học 10 42
Bảng 2.4 Thống kê các KNV trong SGK - SBT Giải tích và Hình học 12 49
Bảng 2.5 Thống kê các KNV trong phân môn Vật lý bậc trung học 60
Bảng 2.6 Đặc trưng và vai trò của hệ tọa độ Descartes vuông góc ở phân môn Toán và Vật lý bậc trung học 61
Bảng 3.1 Thống kê kết quả các chiến lược ở bài toán 1 75
Bảng 3.2 Thống kê kết quả sử dụng chiến lược ở Bài toán 2 79
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bài làm của HS27 76
Hình 3.2 Bài làm của HS41 76
Hình 3.3 Bài làm của HS29 77
Hình 3.4 Bài làm của HS15 77
Hình 3.5 Bài làm của HS30 78
Hình 3.6 Bài làm của HS41 80
Hình 3.7 Bài làm của HS29 80
Hình 3.8 Bài làm của HS63 81
Hình 3.9 Bài làm của HS59 81
Hình 3.10 Bài làm của nhóm 3 (pha 1) 102
Hình 3.11 Bài làm của nhóm 5 (pha 3) 107
Hình 3.12 Bài làm của nhóm 1 (pha 3) 109
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài và câu hỏi xuất phát
Toán học tác động trong tất cả các môn khoa học và nó có mối liên hệ chặt chẽ với Vật lý Thật vậy, làm thế nào có thể nghiên cứu cơ học cổ điển nếu không có công
cụ tính toán vi phân và tích phân hoặc nghiên cứu vật lý lượng tử mà không có không gian Hilbert?
Trong Vật lý, hệ trục tọa độ được sử dụng rất nhiều như khảo sát các tính chất chuyển động của vật, thể hiện sự thay đổi giá trị của một đại lượng nào đó hay đặc trưng cho một đại lượng bất kì…
Trong các giáo trình, sách giáo khoa Toán, hệ trục tọa độ xuất hiện trước hết với
tư cách là đối tượng nghiên cứu, sau đó với tư cách là một công cụ giải quyết nhiều bài toán thuộc nội dung toán học khác nhau như vẽ đồ thị của hàm số, biểu diễn giá trị lượng giác của một cung, biểu diễn hình học số phức,… Ngoài ra, trong một số bài toán hình học mà phương pháp chứng minh bằng hình học gặp khó khăn, nếu ta gắn một hệ trục tọa độ vào thì bài toán sẽ dễ dàng hơn Thế thì kiểu nhiệm vụ chọn hệ trục tọa độ có phải là kiểu nhiệm vụ tường minh đối với học sinh hay không?
Về tri thức hệ trục tọa độ, sách giáo khoa Toán 7 và Hình học 10 định nghĩa:
Trên mặt phẳng, ta vẽ hai trục số Ox, Oy vuông góc với nhau và cắt nhau tại gốc của mỗi trục số (như hình 16) Khi đó ta có hệ
trục tọa độ Oxy
Các trục Ox, Oy gọi là các trục tọa độ Ox
gọi là trục hoành, Oy gọi là trục tung Người
ta thường vẽ Ox nằm ngang, Oy thẳng đứng
Giao điểm O biểu diễn số 0 của cả hai trục
gọi là gốc tọa độ
[SGK Toán 7 (tập 1), tr.66]
Trang 11a) Định nghĩa
Hệ trục tọa độ (O; 𝑖⃗, 𝑗⃗) gồm hai trục (𝑂; 𝑖⃗) và (𝑂; 𝑗⃗) vuông góc với nhau Điểm
gốc O chung của hai trục gọi là gốc tọa độ Trục ( 𝑂; 𝑖⃗) được gọi là trục hoành và
kí hiệu là Ox, trục ( 𝑂; 𝑗⃗) được gọi là trục tung và kí hiệu là Oy Các vectơ 𝑖⃗ và 𝑗⃗
|𝑖⃗| = |𝑗⃗| = 1 Hệ trục tọa độ (O; 𝑖⃗, 𝑗⃗) còn được kí hiệu là Oxy (hình 1.22)
[SGK Hình học 10, tr.22]
Các hệ trục tọa độ được giới thiệu và sử dụng trong các sách giáo khoa Toán đều
có một đặc điểm là: trục Ox nằm ngang với chiều dương hướng từ trái qua phải; trục
Oy thẳng đứng với chiều dương hướng từ dưới lên trên Nhưng trong Vật lý thì điều này có thể ngược lại, chẳng hạn trong việc khảo sát chuyển động ném ngang của vật:
Ta hãy khảo sát chuyển động của một vật bị ném ngang từ một điểm O ở độ cao h
so với mặt đất Sau khi được truyền một vận tốc đầu v , vật chỉ còn chịu tác dụng o của trọng lực (bỏ qua sức cản của không khí)
1 Chọn hệ tọa độ
Ta chọn hệ tọa độ Đề-các có gốc tại O, trục hoành
Ox hướng theo vectơ vận tốc v , trục tung Oy hướng o
theo vectơ trọng lực P
[SGK Vật lý 10, tr.85]
Trang 12Như vậy, khác với bộ môn Toán hệ trục tọa độ trong Vật lý là hệ trục tọa độ mà trục Ox có thể không vẽ nằm ngang - trục Ox được chọn song song với mặt phẳng nghiêng có góc nghiêng 30o và trục Oy không vẽ thẳng đứng
Với sự khác biệt ở hai môn Toán - Lý, cụ thể khi hệ trục tọa độ thay đổi như vậy thì ảnh hưởng đến học sinh như thế nào? những khó khăn có thể xảy ra với học sinh? học sinh có nhận biết rằng hệ trục tọa độ đang sử dụng bên Vật lý cũng là hệ trục tọa
độ đã được học bên Toán?
Ở Việt Nam hiện nay lại có ít công trình nghiên cứu về hệ trục tọa độ Một công trình mà chúng tôi tham khảo được là: đề tài mang tên “Các hệ trục tọa độ đã học ở trung học phổ thông” của hai tác giả Lê Ngọc Thế Quỳnh, Nguyễn Kiến Trạch Đây là bài tiểu luận cho môn Phương pháp nghiên cứu khoa học tại trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Tiểu luận này đã giới thiệu tóm tắt về hệ trục tọa độ Descartes trong không gian hai chiều và ba chiều, hệ tọa độ cực, hệ tọa độ cầu, hệ tọa
độ trụ và ứng dụng của các hệ tọa độ này trong các ngành khoa học
Có nhiều hệ tọa độ khác nhau, nhưng chỉ có hệ trục tọa độ Descartes là được đưa vào giảng dạy Cùng là hệ trục tọa độ Descartes nhưng được sử dụng không hoàn toàn giống nhau trong Toán và trong Vật lý ở trung học, liệu có gây khó khăn gì cho học sinh hay không?
Với những ghi nhận ban đầu như trên, chúng tôi chọn chủ đề nghiên cứu của mình tập trung vào việc tìm kiếm những mối liên quan giữa Toán và Lý trong chủ đề
hệ trục tọa độ ở trường trung học và đó cũng là lí do để chúng tôi chọn cho luận văn thạc sĩ của mình đề tài:
“Nghiên cứu về hệ trục tọa độ trong dạy học Toán và Vật lý ở trường trung học”
2 Phạm vi lý thuyết tham chiếu
Để tìm kiếm các yếu tố cho phép trả lời câu hỏi trên, chúng tôi đặt nghiên cứu trong khuôn khổ của lí thuyết didactic toán, mà cụ thể là phân tích tri luận, thuyết nhân học (quan hệ thể chế, quan hệ cá nhân, tổ chức toán học) Nhờ vào phân tích tri thức luận chúng tôi phân tích một số giáo trình Toán và Vật lý ở bậc đại học đối với khái niệm hệ trục tọa độ Nhờ các tổ chức toán học, chúng tôi có thể phân tích được sách
Trang 13Toán và Vật lý của Việt Nam đã cho học sinh tiếp cận như thế nào về khái niệm hệ trục tọa độ Chúng tôi sử dụng công cụ của lí thuyết tình huống (Đồ án didactic) để tiến hành xây dựng một đồ án dạy học
3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
- Mục tiêu của luận văn là xây dựng một tiểu đồ án sư phạm nhằm giúp học sinh thấy được sự cần thiết phải thay đổi phương và chiều của các trục tọa độ Ox, Oy trong từng tình huống thích hợp để có thể vận dụng vào lĩnh vực ngoài toán học, cụ thể là ở môn Vật lý
- Câu hỏi nghiên cứu
Đối với các câu hỏi nghiên cứu sau, chúng tôi sẽ xem xét trong hai thể chế dạy học Toán và Vật lý:
CH1: Trong thể chế dạy học ở bậc đại học, những hệ toạ độ nào được xây dựng?
Chúng có những đặc trưng gì? Vai trò và chức năng của chúng?
CH2: Hệ toạ độ nào được chọn đưa vào giảng dạy ở bậc trung học? Mối quan hệ
thể chế với khái niệm hệ tọa độ đã được xây dựng và tiến triển ra sao? Những tương đồng và khác biệt nào có thể được ghi nhận? Có những tổ chức toán học nào gắn liền với khái niệm này? Có những ràng buộc nào của thể chế đối với khái niệm này?
CH3: Sự ảnh hưởng của mối quan hệ thể chế đến mối quan hệ cá nhân của học
sinh đối với tri thức hệ tọa độ?
4 Phương pháp nghiên cứu
Trước tiên, chúng tôi nghiên cứu tri thức luận thông qua phân tích một số giáo trình Toán và Vật lý ở bậc đại học Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu cách trình bày các vấn đề về khái niệm hệ tọa độ ở cấp độ tri thức bác học
Dựa vào phân tích trên, chúng tôi sẽ nghiên cứu thể chế dạy học Toán và Vật lý ở Việt Nam liên quan đến khái niệm hệ tọa độ
Những kết quả đạt được ở trên cho phép đề ra các câu hỏi mới và các giả thuyết nghiên cứu mà tính thích đáng của chúng sẽ được kiểm chứng bằng các thực nghiệm
Trang 145 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 phần:
MỞ ĐẦU
Trong phần này chúng tôi trình bày lí do chọn đề tài, khung lý thuyết tham chiếu, trình bày lại câu hỏi nghiên cứu, mục đích, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc của luận văn
Chương 1: Hệ tọa độ trong giáo trình Toán và Vật lý đại học
Trong chương này, chúng tôi trình bày việc phân tích khái niệm hệ tọa độ ở cấp
độ tri thức bác học Cụ thể là đề cập một số hệ tọa độ được đưa vào giảng dạy ở bậc đại học, phân tích cách trình bày khái niệm hệ tọa độ trong một số giáo trình Toán và Vật lý ở bậc đại học Thực hiện điều này để trả lời cho câu hỏi CH1
Chương 2: Hệ tọa độ trong các thể chế dạy học Toán và Vật lý ở trung học
Chúng tôi phân tích mối quan hệ thể chế của thể chế dạy học Toán ở trường trung học cơ sở và trung học phổ thông ở Việt Nam với khái niệm hệ tọa độ Đồng
thời, chúng tôi kết hợp nghiên cứu môn Vật lý để tìm câu trả lời cho câu hỏi CH2 và
CH3
Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm
Chương này bao gồm hai thực nghiệm:
Thực nghiệm 1: tìm hiểu quan hệ cá nhân của HS với khái niệm hệ trục tọa độ
Oxy và kiểm chứng giả thuyết GT về sự tồn tại quy tắc hợp đồng R
Thực nghiệm 2: Trên cơ sở kiểm chứng được giả thuyết trên, chúng tôi xây
dựng một tiến trình dạy học nhằm giúp học sinh thấy được sự cần thiết phải thay đổi phương và chiều của trục tọa độ Ox, Oy trong từng tình huống thích hợp để có thể vận dụng vào lĩnh vực ngoài toán học, cụ thể là ở môn Vật lý
KẾT LUẬN
Phần kết luận trình bày tóm lược các kết quả đã đạt được qua các chương 1, 2, 3 của luận văn
Trang 15Chương 1
HỆ TỌA ĐỘ TRONG GIÁO TRÌNH TOÁN VÀ VẬT LÝ ĐẠI HỌC
Trong chương này chúng tôi làm rõ các đặc trưng của khái niệm hệ tọa độ ở cấp
độ tri thức bác học Cụ thể hơn, thông qua phân tích một số giáo trình Toán và Vật lý ở bậc đại học chúng tôi làm rõ tiến trình, cách thức đưa vào, định nghĩa và vai trò của nó, cũng như sự nối khớp (nếu có) của tri thức này trong hai lĩnh vực Toán và Vật lý
1.1 Các hệ tọa độ trong giáo trình Toán ở bậc đại học
Trong phần này, chúng tôi tham khảo tài liệu Giáo trình Toán học cao cấp của tác giả Nguyễn Đình Trí Chúng tôi chọn tài liệu này để phân tích là vì giáo trình trên dành cho sinh viên các trường đại học kĩ thuật và cũng là giáo trình toán học thuần túy Hơn nữa giáo trình bao gồm cả ba tập: Đại số và Hình học giải tích, Phép tính giải tích một biến số, Phép tính giải tích nhiều biến số Như vậy, sử dụng giáo trình này để phân tích có thể nói là khá đầy đủ cho các lĩnh vực thuộc chuyên ngành Toán học
1.1.1 Hệ toạ độ Descartes vuông góc Oxy và hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz
Theo Nguyễn Đình Trí (2006), trục số thực được định nghĩa:
Để biểu diễn hình học tập hợp các số thực R, ta xét trục Ox, với O là điểm gốc
Mỗi điểm M trên trục Ox được ứng với số thực x sao cho 𝑂𝑀̅̅̅̅̅ = 𝑥 Mỗi số thực x
được ứng với điểm M trên trục Ox sao cho 𝑂𝑀̅̅̅̅̅ = 𝑥 Đó là một song ánh giữa tập
hợp R và trục Ox Người ta gọi trục Ox là đường thẳng thực hay trục số thực
[Nguyễn Đình Trí (2006), tr.14-15]
Trục số thực được giới thiệu từ nhu cầu biểu diễn hình học tập hợp số thực Với cách định nghĩa trục số thực, phương và chiều của nó không được quy định sẵn nhưng
Trang 16qua hình vẽ minh họa ngầm ẩn phương của trục số nằm ngang với chiều dương hướng
từ trái sang phải
a) Hệ toạ độ Descartes vuông góc Oxy
Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy được mô tả trong giáo trình Toán học cao
cấp của tác giả Nguyễn Đình Trí như sau:
Xây dựng một song ánh giữa tập tích Đềcác
R R và một mặt phẳng P bằng cách vẽ
một trục số nằm ngang hướng từ trái sang
phải, có gốc là O, gọi là trục số Ox trục số
Oy vuông góc với Ox, hướng từ dưới lên
trên; các đơn vị chọn trên Ox và Oy không
nhất thiết phải giống nhau, nhưng thường
người ta chọn các đơn vị đó giống nhau
(hình 2.1) Trục Ox được gọi là trục hoành, Oy là trục tung Mỗi điểm nằm trên trục hoành bên phải gốc O ứng với một số thực dương, mỗi điểm nằm trên trục hoành bên trái gốc O ứng với một số thực âm Trên trục tung Oy, mỗi điểm nằm trên gốc O ứng với một số thực dương, mỗi điểm nằm dưới gốc O ứng với một số thực âm; gốc O ứng với số không trên mỗi trục
Xét một cặp số thực có thứ tự ( , )a b R R, quy ước phần tử đầu tiên trong cặp đó (a) là phần tử của trục hoành, và phần tử thứ hai (b) là phần tử của trục tung, như vậy có nghĩa là:
1 Tọa độ đầu tiên của cặp số thực có thứ tự (x,y) (tức là tọa độ x) là khoảng cách
có dấu từ một điểm đến trục tung, khoảng cách có dấu đó lấy dấu dương nếu điểm
ở bên phải trục tung và lấy dấu âm nếu điểm đó ở bên trái trục tung
2 Tọa độ thứ hai của cặp số thực có thứ tự (x;y) (tức là tọa độ y) là khoảng cách
có dấu từ một điểm đến trục hoành, khoảng cách đó lấy dấu dương nếu điểm ở trên trục hoành, dấu âm nếu điểm ở dưới trục hoành
Như vậy, một điểm M bất kì trong mặt phẳng được ứng với một cặp số thực có thứ
tự (x; y); ngược lại, mỗi cặp số có thứ tự ( , )x y R R được ứng với một điểm M
của mặt phẳng với một cặp số thực có thứ tự (x; y), x được gọi là hoành độ của
Trang 17điểm M và y là tung độ của điểm M Kí hiệu M(x; y) được đọc là điểm M có
hoành độ là x và tung độ là y
Mặt phẳng xác định bởi trục hoành Ox và trục tung Oy được gọi là mặt phẳng
tọa độ, hệ tọa độ xây dựng theo kiểu trên gọi là hệ tọa độ vuông góc Đềcác, chính
hệ tọa độ vuông góc Đềcác này đã xác định song ánh giữa cặp số có thứ tự
( , )x y R R và một điểm của mặt phẳng tọa độ
[Nguyễn Đình Trí (2006), tr.45]
Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy được định nghĩa dựa trên lý thuyết tập hợp
Giáo trình đã mặc định trục hoành Ox được vẽ nằm ngang với chiều dương hướng từ trái sang phải, trục tung Oy được vẽ thẳng đứng với chiều dương hướng từ dưới lên
trên Độ dài đơn vị trên hai trục tọa độ không nhất thiết bằng nhau nhưng thường người ta chọn bằng nhau
Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy được sử dụng để biểu diễn số phức, dạng lượng giác của số phức cũng chính là biểu diễn một điểm hoặc một vectơ trong mặt
phẳng tọa độ Oxy
Công thức đổi trục trong hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy
a) Công thức tịnh tiến hệ trục Oxy thành hệ trục
O’x’y’ nếu O’x’//Oy (hình 25) Phép tịnh tiến trục
được hoàn toàn xác định khi cho tọa độ (a, b) của
O’ đối với hệ Oxy
Xét một điểm M trong mặt phẳng, liên hệ giữa
các tọa độ (x, y) của M trong hệ Oxy với các tọa
Trang 18b) Công thức quay trục Khi ta quay hệ cũ Oxy một góc xung quanh gốc O ta được một hệ mới Ox’y’
Phép quay trục được xác định hoàn toàn bởi góc (hình 26)
Xét một điểm M trong mặt phẳng Nó có tọa
độ (x, y) đối với hệ cũ và tọa độ (x’, y’) đối với hệ mới Ta có OM OP P M Chiếu đẳng thức hình học này lên hai trục Ox và Oy ta được liên hệ giữa (x, y) và (x’, y’):
Hệ trục tọa độ Oxy có thể có những cách biểu diễn khác chẳng hạn như tịnh tiến
hệ tọa độ cũ hoặc quay hệ tọa độ cũ một góc 𝛼 xung quanh gốc tọa độ O Nhờ vào việc đổi trục từ hệ tọa độ cũ sang hệ tọa độ mới mà phương trình bậc hai tổng quát đối với
x, y trở nên đơn giản
Kiểu nhiệm vụ T 5 : Khảo sát và vẽ đồ thị của hàm số y f x( )
Kỹ thuật5:+ Tìm miền xác định của hàm số f
+ Xác định chiều biến thiên + Tìm cực trị (nếu có)
+ Tính lồi, lõm, điểm uốn (nếu có)
+ Tiệm cận (nếu có)
+ Lập bảng biến thiên
+ Vẽ đồ thị hàm số trên mặt phẳng tọa độ Oxy
Trang 19Công nghệ 5:Tọa độ của một điểm; Đồ thị của hàm số; mối liên hệ giữa đạo
hàm với chiều biến thiên; tính lồi lõm, tiệm cận.
Bảng dấu của đạo hàm
khi
+ Cực trị: Đạo hàm đổi dấu từ - sang + khi vượt qua do đó là
+ […] f(x) là hàm số lồi
+ là điểm hàm số không xác định, do đó đồ thị có một tiệm cận đứng có
khi […]+ Từ những kết quả trên có bảng biến thiên sau:
3 ( )
y x x
Trang 20+ Đồ thị của hàm số:
[Nguyễn Đình Trí (2006), tr.171-174]
b) Hệ toạ độ Descartes vuông góc Oxyz
Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz không được định nghĩa tường minh trong
các giáo trình mà nó được sử dụng như một trường hợp mở rộng của hệ tọa độ Descartes vuông góc trong mặt phẳng ra không gian 3 chiều
Phương trình tham số của một đường cong L trong 3
R được thiết lập nhờ vào tọa
độ của một điểm trong hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz còn được sử dụng để biểu diễn những miền cần tích tích phân bội ba,
miền cần tính diện tích hoặc thể tích, miền cần tính tích phân mặt, miền cần tính tích phân đường loại 2 theo một đường kín L trong không gian cùng với S là một mặt định hướng giới hạn bởi L
Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz dùng để biểu diễn hình học phương trình
của các mặt bậc hai (mặt elipxôit, mặt hypebôlôit một tầng, mặt hypebôlôit hai tầng, mặt parabôlôit eliptic, mặt parabôlôit hypebôlic, mặt trụ bậc hai, mặt nón bậc hai)
Trang 211.1.2 Hệ toạ độ cầu
Hệ tọa độ cầu được định nghĩa như sau:
Tọa độ cầu của một điểm M x y z( , , ) trong không
gian Oxyz là bộ ba số ( , , ) r , trong đó rOM,
là góc giữa trục Ox và OM, M là hình chiếu của
M lên mặt phẳng Oxy, là góc giữa trục Oz và
OM (hình 3.31) Với mọi điểm M x y z , ta có 0( , , ) r ,0 ,0 2
Giữa các tọa độ đề các và tọa độ cầu của điểm M, có mối liên hệ
sin cos , sin sin , cos
Nếu r0,0 ,0 2 , thì các công thức trên xác định một song ánh giữa các tọa độ đềcác và tọa độ cầu Riêng điểm góc tọa độ có r 0, và tùy ý, còn những điểm trên Oz có r xác định, 0 hoặc , tùy ý
Các kiểu nhiệm vụ gắn liền với hệ tọa độ cầu
Kiểu nhiệm vụ T6: Tính tích phân bội ba của hàm số ( , , )f x y z được giới hạn bởi
miền V trong hệ tọa độ cầu
Kỹ thuật6:+ Chuyển biểu thức dưới dấu tích phân ( , , )f x y z sang tọa độ cầu
+ Xác định miền lấy tích phân V'
Trang 22Công nghệ 6: Định nghĩa hệ tọa độ cầu; Công thức tính tích phân bội ba trong hệ
tọa độ cầu; các định lý về biến đổi tương đương và hệ quả các phương trình.
Tọa độ trụ của một điểm M x y z( , , ) trong không gian
Oxyz là bộ ba số ( , , ),r z trong đó ( , )r là tọa độ
cực của điểm M x y( , ) , hình chiếu của M lên mặt
phẳng Oxy (hình 3.28) Với mọi điểm của không gian,
ta có r0,o 2 , z
Giữa các tọa độ đề các ( , , )x y z và tọa độ trụ ( , , )r z của điểm M có mối liên hệ:
cos , sin ,
xr yr zz Nếu r0,0 2 , z thì các công thức trên xác định một song ánh giữa các tọa độ đề các và tọa độ trụ Riêng các điểm trên trục Oz có z xác định r0 và tùy ý
[Nguyễn Đình Trí (2006), tr.122-123]
Trang 23Hệ tọa độ trụ được xây dựng dựa trên hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz , sự
xuất hiện của hệ tọa độ trụ làm cho phương trình của một số hình trong không gian đơn giản từ đó việc áp dụng vào tính tính phân bội ba được thực hiện dễ dàng hơn
Các kiểu nhiệm vụ gắn liền với hệ tọa độ trụ
Kiểu nhiệm vụ T7: Tính tích phân bội ba của hàm số f x y z( , , ) được giới hạn bởi
miền V trong hệ tọa độ trụ
Kỹ thuật 7: + Chuyển biểu thức dưới dấu tích phân ( , , )f x y z sang hệ tọa độ trụ
+ Xác định miền lấy tích phân V'
Trang 241.1.4 Hệ toạ độ cực
Hệ toạ độ cực được định nghĩa trong giáo trình Toán học cao cấp (Tập 2: Phép tính giải tích một biến số) của tác giả Nguyễn Đình Trí như sau:
Trong mặt phẳng chọn một điểm O cố định, gọi là cực và một vectơ đơn vị 𝑂𝑃⃗⃗⃗⃗⃗⃗, tia
mang vectơ 𝑂𝑃⃗⃗⃗⃗⃗⃗ gọi là trục cực; hệ toạ độ xác định bởi cực và trục cực được gọi
là hệ toạ độ cực (hình 5.12a)
Vị trí của mỗi điểm M trong mặt phẳng được xác
định bởi vectơ 𝑂𝑀⃗⃗⃗⃗⃗⃗⃗ , nghĩa là xác định bởi góc
𝜑 ≔ (𝑂𝑃⃗⃗⃗⃗⃗⃗, 𝑂𝑀⃗⃗⃗⃗⃗⃗⃗) và 𝑟 = |𝑂𝑀 ⃗⃗⃗⃗⃗⃗⃗|; 𝜑 được gọi là góc
cực và r được gọi là bán kính cực Góc 𝜑 là một
góc định hướng, lấy giá trị dương nếu chiều quay
𝑂𝑃
⃗⃗⃗⃗⃗⃗đến trùng với 𝑂𝑀 ⃗⃗⃗⃗⃗⃗⃗ ngược chiều kim đồng hồ và
lấy giá trị âm nếu ngược lại Nếu 0 2 và r0; cặp số có thứ tự ( , )r
được gọi là các toạ độ cực của điểm M trong mặt phẳng Bằng cách xây dựng như thế, ta đã thiết lập một song ánh giữa tập tích Đềcác [0, 2 ] [0, ) và các điểm trong mặt phẳng toạ độ cực; mỗi điểm M trong mặt phẳng ứng với một cặp số thứ
tự ( , )r ; riêng điểm O thì r0 còn 𝜑 có thể lấy tuỳ ý; và mỗi cặp số thứ tự
( , )r ứng với một điểm M của mặt phẳng
[Nguyễn Đình Trí (2006), tr.183]
Hệ toạ độ cực được xây dựng dựa trên hệ tọa độ Descartes vuông góc, mối liên
hệ giữa toạ độ Descartes vuông góc và toạ độ cực của điểm M:
Ta lấy trục hoành trùng với trục cực và trục tung ứng với tia
2
; gọi ( , )x y và
( , )r lần lượt là toạ độ của cùng một điểm M trong hệ toạ độ Đềcác vuông góc
và hệ toạ độ cực (hình 5.12) Khi đó, theo các định lí về phép chiếu vuông góc ta
Trang 25ứng (vì 0 2) ta sẽ lấy góc sao cho sin cùng dấu với y vì yrsin
[Nguyễn Đình Trí (2006), tr.183-184]
Nhờ mối liên hệ này mà việc tính tích phân kép của một số hàm số hai biến trở nên đơn giản, qua đó có thể tính diện tích của hình phẳng, thể tích của vật thể dễ dàng Khi biết tọa độ của một điểm trong hệ tọa độ Descartes vuông góc có thể tính được tọa
độ của điểm ấy trong hệ tọa độ cực
Các kiểu nhiệm vụ gắn liền với hệ tọa độ cực
Kiểu nhiệm vụ T8: Tìm tọa độ của điểm M trong hệ tọa độ cực khi biết tọa độ
của điểm M trong hệ tọa độ Descartes vuông góc
Kỹ thuật8: + Áp dụng định lý Py-ta-go tính r
+ Tính tansuy ra góc sao cho sin cùng dấu với y + Kết luận toạ độ cực của điểm M
Công nghệ 8: Hệ toạ độ cực; Cung góc lượng giác
Ví dụ: Biểu thức qua hệ tọa độ cực của điểm M( 3,1) Ta có
6 3
Trang 26Công nghệ 9: Công thức tính diện tích của hình quạt cong giới hạn bởi hai tia
Kiểu nhiệm vụ T10: Tính tích phân kép của hàm số f(x,y) giới hạn bởi miền D
Kỹ thuật10: + Chuyển biểu thức dưới dấu tích phân f(x,y) sang hệ tọa độ cực
+ Xác định miền lấy tích phân D' (D' xác định bởi
Công nghệ 10: Hệ tọa độ cực, Tích phân kép trong hệ tọa độ cực; các định lý về
biến đổi tương đương và hệ quả các phương trình.
đơn vị nằm trong góc phần tư thứ nhất (hình 3.16)
Chuyển sang tọa độ cực, biểu thức dưới dấu tích phân
Trang 27được viết là
2 1
rdrd r
, miền D' được giới hạn bởi hai đường 𝑟 = 0, 𝑟 = 1 và hai tia
𝜑 = 0, 𝜑 =𝜋2 Do đó
1 1
2
2 2
hệ tọa độ Oxy → hệ tọa độ cực
Hệ tọa độ Descartes vuông góc hệ tọa độ cầu
hệ tọa độ Oxyz
hệ tọa độ trụ
- Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy được định nghĩa thông qua trục số thực, trục hoành Ox được vẽ nằm ngang với chiều dương hướng từ trái sang phải, trục tung
Oy được vẽ thẳng đứng với chiều dương hướng từ dưới lên trên và thường chọn
độ dài đơn vị trên hai trục tọa độ bằng nhau, có thể quay hệ trục Oxy một góc bất
kỳ nhờ phép quay Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy dùng để biểu diễn đồ thị của hàm sơ cấp, biểu diễn tọa độ của một điểm hoặc một vectơ trong mặt phẳng
tọa độ Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz được xem như là trường hợp mở
rộng trong mặt phẳng ra không gian 3 chiều của hệ tọa độ Descartes vuông góc
Oxy, nó được sử dụng như một công cụ trong việc biểu diễn miền cần tính tích
phân, biểu diễn hình học phương trình của các mặt bậc hai
1.2 Các hệ tọa độ trong giáo trình Vật lý ở bậc đại học
Trong phần này, các tài liệu được sử dụng để phân tích là: giáo trình Cơ học của tác giả Đào Văn Phúc, Phạm Viết Trinh, giáo trình Vật lý đại cương và bài tập Vật lý đại cương (tập 1, 2, 3) của tác giả Lương Duyên Bình, các giáo trình này dành cho các sinh viên trong các trường đại học khối kĩ thuật công nghiệp
Trang 281.2.1 Hệ toạ độ Descartes vuông góc
Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz được mô tả trong giáo trình Vật lý đại cương (tập 1) của tác giả Lương Duyên Bình như sau:
Hệ tọa độ Đềcác gồm có ba trục Ox, Oy, Oz vuông góc với nhau từng đôi một hợp thành một tam diện thuận Oxyz; O gọi là gốc tọa độ Vị trí của một chất điểm M trong không gian sẽ được xác định bởi ba tọa độ x, y, z của nó đối với hệ tọa độ Đềcác, ba tọa độ này cũng là ba tọa độ của bán kính vectơ OM r trên ba trục
[Lương Duyên Bình (2013), tr.19]
Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz là một bộ phận cấu thành nên hệ quy chiếu
và nó được dùng để xác định vị trí của chất điểm trong không gian
Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz đóng vai trò chủ yếu trong việc lập phương trình của một đối tượng vật lý đang nghiên cứu
Tùy vào từng bài toán cụ thể sẽ chọn một hệ quy chiếu thích hợp để việc nghiên cứu chuyển động của chất điểm đơn giản, vì vậy ứng với mỗi bài toán sẽ có một hệ tọa
độ Descartes vuông góc Oxyz thích hợp được chọn
Cơ học cổ điển xây dựng trên cơ sở những quan điểm của Niutơn về không gian, thời gian và chuyển động Để cụ thể, chúng ta hãy xét hai hệ tọa độ : một hệ Oxyz đứng yên, một hệ O’x’y’z’ chuyển động so với hệ O; để đơn giản ta giả thiết chuyển động của
hệ O’ thực hiện sao cho O’x’ luôn luôn trượt dọc theo Ox; O’y’ song song và cùng chiều với Oy; O’z’ song song và cùng chiều với Oz […]
[Lương Duyên Bình (2013), tr.54]
Hai hệ tọa độ cùng một lúc được chọn để nghiên cứu một vấn đề trong Vật lý và hai hệ tọa độ này có thể có một hệ đứng yên, hệ còn lại chuyển động so với hệ kia
Trang 29Tùy vào từng tính chất của đối tượng nghiên cứu mà có cách chọn hệ tọa độ cho phù hợp:
Trong phần nhiệt học, hệ tọa độ Oxy được sử dụng để biểu diễn họ đường đẳng nhiệt, quá trình đẳng tích, quá trình đẳng áp, quá trình đẳng nhiệt; biểu diễn đồ thị tính nhiệt trong một quá trình cân bằng (đồ thị (T, S): trục tung ghi nhiệt độ T, trục hoành ghi entrôpi S)
Trang 30 Các kiểu nhiệm vụ gắn liền với hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy
Kiểu nhiệm vụ 𝐓𝟏𝟏: Xác định phương trình chuyển động của chất điểm
Kỹ thuật 𝝉𝟏𝟏:- Chọn hệ trục tọa độ Oxy (chọn gốc tọa độ O, phương và chiều
dương trên trục Ox, Oy)
xuống phía dưới (hình 1-1) Chọn gốc thời
gian là lúc bắt đầu ném đá Gọi x, y là tọa
độ của hòn đá tại thời điểm t
Theo phương nằm ngang Ox, hòn đá chuyển
động đều với vận tốc v o , do đó: xv t o (1)
Theo phương thẳng đứng Oy, hòn đá chuyển
(2) 2
y gt
(1) và (2) chính là các phương trình chuyển động của hòn đá
a) Khử t trong các phương trình (1) và (2) ta được phương trình quỹ đạo
Trang 31Muốn vậy thay
o
x t v
- Chiếu phương trình tổng hợp lực lên hệ tọa độ đã chọn
- Tính yếu tố đề bài yêu cầu
Công nghệ 𝜽𝟏𝟐: Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy; Phương trình Niu-tơn;
Trọng lực tác dụng lên vật có khối lượng m; Định lí về động lượng; Lực ma sát trượt; Định lí về mômen động lượng; Phương trình Niu-tơn trong hệ quy chiếu chuyển động (tịnh tiến)
Ví dụ: Bài tập thí dụ 2.2 trang 24
Người ta gắn vào mép bàn (nằm ngang) một ròng rọc có khối lượng không đáng
kể Hai vật A và B có khối lượng bằng nhau m Am B 1kg được nối với nhau bằng một sợi dây vắt qua ròng rọc hệ số ma sát giữa vật B và mặt bàn bằng
Trang 32Nhận xét: Đối với bài tập thuộc kiểu nhiệm vụ này, hệ tọa độ được chọn là hệ
tọa độ Descartes vuông góc Oxy hoặc chỉ chọn trục tọa độ Ox với phương của các trục tọa độ theo phương chuyển động, chiều dương là chiều chuyển động của vật
, ,
r Tọa độ r có giá trị bằng khoảng cách giữa điểm M và điểm gốc cố định O Tọa độ có giá trị bằng góc giữa bán kính vectơ OM của điểm M và nửa đường thẳng cố định Oz (gọi là trục cực) Tọa độ có giá trị bằng góc giữa mặt phẳng
cố định xOz và nửa mặt phẳng giới hạn bởi trục Oz và chứa điểm M Để cho mỗi điểm M chỉ ứng với một bộ ba r, , người ta quy ước: r chỉ có giá trị dương,
biến thiên trong khoảng 0 và biến thiên trong khoảng 0 2
phát từ O; đường tọa độ (kinh tuyến) là một nửa đường tròn có tâm tại O bán kính bằng ; đường tọa độ (vĩ tuyến) là một đường tròn có tâm trên trục Oz và bán kính bằng rsin
[Đào Văn Phúc - Phạm Viết Trinh (1990), tr.18]
Trang 33Định nghĩa hệ tọa độ cầu trong giáo trình Cơ học của tác giả Đào Văn Phúc hoàn toàn tương thích với giáo trình Toán học cao cấp của tác giả Nguyễn Đình Trí Hệ tọa
độ cầu cũng đóng vai trò công cụ trong việc lập phương trình quỹ đạo của chất điểm
1.2.3 Hệ tọa độ cực
Hệ tọa độ cực không được định nghĩa tường minh, nó được sử dụng như một
trường hợp thu hẹp của hệ tọa độ cầu: “Nếu chất điểm chuyển động trong một mặt
phẳng, ta chọn mặt đó là mặt xOy Khi đó hệ tọa độ cầu biến thành hệ tọa độ cực với hai tọa độ là r và 𝜑.” [Đào Văn Phúc – Phạm Viết Trinh (1990), tr.9]
Hệ tọa độ cực được sử dụng để xác định vectơ cường độ điện trường gây ra bởi lưỡng cực điện
Dùng các tọa độ cực r và 𝛼 (với gốc tại điện tích –q, và trục cực hướng theo 𝑝 ⃗⃗⃗⃗⃗) 𝑒
ta tính được hình chiếu 𝐸𝑟 của vectơ cường độ điện trường 𝐸⃗⃗ theo phương của
Pe
r o
Trang 34Tại mỗi vị trí A bất kì của chất điểm trên quỹ đạo, người ta chọn trục tọa độ thứ nhất cùng phương với tiếp tuyến của quỹ đạo tại A, và hướng theo chiều chuyển động Vectơ đơn vị của nó là Trục tọa độ thứ hai được chọn cùng phương và cùng chiều với pháp tuyến chính tại A Vectơ đơn vị của nó là n Như vậy và n
cùng nằm trong mặt phẳng mật tiếp với quỹ đạo tại điểm A Trục tọa độ thứ ba có vectơ đơn vị là b , và được chọn sao cho b n Hệ tọa độ tự nhiên thay đổi theo vị trí của chất điểm chuyển động trên quỹ đạo Tại từng vị trí chúng tạo thành một tam diện thuận tương tự như hệ tọa độ Đềcác Các phép tính toán trong hệ tọa độ tự nhiên tương tự như trong hệ tọa độ Đềcác đối với một chất điểm chuyển động trên một mặt phẳng
[Đào văn Phúc – Phạm Viết Trinh (1990), tr.29-30]
Như vậy, hệ tọa độ tự nhiên chỉ xuất hiện trong Vật lý mà không xuất hiện trong Toán sở dĩ như thế là vì hệ tọa độ tự nhiên là một hệ tọa độ chuyển động, khi chất điểm chuyển động thì hệ tọa độ chuyển động theo, khác hoàn toàn với những hệ tọa độ được đề cập trong Toán học
Kết luận
- Hệ tọa độ Descartes vuông góc, hệ tọa độ cực, hệ tọa độ cầu và hệ tọa độ trụ là những hệ tọa độ được đưa vào giảng dạy trong các giáo trình Vật lý bậc đại học Các hệ tọa độ này không được nghiên cứu như một đối tượng mà chỉ được mô tả
sơ lược sau đó vận dụng như một công cụ
- Hệ tọa độ Descartes vuông góc là một bộ phận cấu thành nên hệ quy chiếu, nó luôn gắn với một vật mốc xác định, vật mốc có thể đứng yên hoặc chuyển động Hai hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz được chọn để nghiên cứu một vấn đề nào
đó và hai hệ tọa độ này có một hệ đứng yên, hệ còn lại chuyển động so với hệ kia
- Những bài tập trong các giáo trình Vật lý chỉ gắn liền với hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy Nhưng khác với phân môn Toán, khi giải bài tập Vật lý phải chọn phương và chiều của các trục tọa độ Ox và Oy phù hợp Bởi lẽ đặc trưng của tri thức ở Vật lý là gắn liền với sự thay đổi vị trí của vật vì thế để phù hợp với việc nghiên cứu đòi hỏi phải điều chỉnh lại phương và chiều của các trục tọa độ
Trang 351.3 Kết luận
Trong chương 1, chúng tôi đã xem xét các hệ tọa độ trong các giáo trình Toán và Vật lý ở bậc đại học Một số kết quả chính của phân tích ở chương 1 được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.1 Đặc trưng, vai trò của các hệ tọa độ ở môn Toán và Vật lý bậc đại học
- Có trục hoành Ox được vẽ nằm ngang với chiều dương hướng từ trái sang phải, trục
tung Oy được vẽ thẳng đứng
với chiều dương hướng từ dưới lên trên, có thể quay hệ trục một góc nào đó
- Không định nghĩa tường minh
- Gốc tọa độ luôn gắn với một vật làm mốc xác định, vật làm mốc có thể đứng yên hoặc chuyển động
- Được vận dụng như một công
cụ trong khảo sát chuyển động
và biểu diễn quỹ đạo của một chất điểm
- Phương và chiều trên các trục tọa độ Ox và Oy không được cho sẵn mà phải chọn phương
và chiều thích hợp
Hệ tọa độ Descartes vuông góc
Oxyz
- Đóng vai trò là công cụ trong: lập phương trình tham
số của một đường cong L trong
R3; biểu diễn những miền cần tích tích phân; biểu diễn hình học phương trình của các mặt bậc hai
- Được sử dụng như một công
cụ trong: xác định vị trí của chất điểm trong không gian ;lập phương trình quỹ đạo của chất điểm; phân tích chuyển động của chất điểm thành ba chuyển động thành phần dọc theo ba trục tọa độ;
Trang 36- Được nghiên cứu trên hệ trục đứng yên
điện từ phẳng đơn sắc
- Các hệ trục có thể chuyển động
số hai biến trở nên đơn giản, qua đó có thể tính diện tích của hình phẳng, thể tích của vật thể
dễ dàng hơn
- Không được định nghĩa tường minh, xem như một trường hợp thu hẹp của hệ tọa độ cầu
- Được sử dụng để xác định vectơ cường độ điện trường gây ra bởi lưỡng cực điện
Hệ tọa độ cầu
- Định nghĩa dựa trên hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz
- Được sử dụng trong tính tích phân bội ba
- Định nghĩa dựa trên hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz
- Được dùng khi nghiên cứu những chuyển động có tính đối xứng cầu; lập phương trình quỹ đạo của chất điểm và phân tích chuyển động của chất điểm thành ba chuyển động thành phần dọc theo ba trục tọa độ
Hệ tọa độ trụ
- Định nghĩa dựa trên hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxyz
- Phương trình của một số hình trong không gian đơn giản khi chuyển qua hệ tọa độ trụ giúp tính tính phân bội ba được thực hiện dễ dàng
- Không được đưa vào giảng dạy
Hệ tọa độ tự nhiên Không được đưa vào giảng dạy
- Được sử dụng khi không cần quan tâm đến hình dạng của quỹ đạo của vật
- Phân tích bài tập ở hai môn cho thấy, các kiểu nhiệm vụ xuất hiện ở môn Toán chủ yếu liên quan đến phương diện đối tượng của các hệ toạ độ, ở phương diện công cụ các kiểu nhiệm vụ liên quan hiện diện ở các bài toán thuần tuý toán học
Trang 37Khác với môn Vật lý, các kiểu nhiệm vụ chỉ liên quan đến vai trò công cụ và gắn với các bài toán liên quan đến thực tế nên các kiểu nhiệm vụ ở hai môn này không có sự liên hệ với nhau
- Kết quả nghiên cứu ở chương 1 cho phép chúng tôi đặt ra câu hỏi: Trong môn Toán và môn Vật lý ở bậc trung học, những hệ tọa độ nào được đưa vào giảng dạy? Các đặc trưng của các hệ tọa độ ấy có được trình bày giống ở bậc đại học? Liệu có sự tương đồng và khác biệt nào đối với từng hệ tọa độ ở hai môn Toán và Vật lý?
Việc tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi này sẽ được chúng tôi tiếp tục thực hiện ở
chương 2 của luận văn
Trang 38Chương 2
HỆ TỌA ĐỘ TRONG CÁC THỂ CHẾ DẠY HỌC
TOÁN VÀ VẬT LÝ Ở TRUNG HỌC
Trong chương này chúng tôi phân tích các thể chế dạy học Toán lớp 6, 7, 9, 10,
11, 12 và thể chế dạy học Vật Lý lớp 10, 12 đối với khái niệm hệ tọa độ Hệ tọa độ không xuất hiện trong phần lý thuyết và bài tập ở môn Vật lý lớp 11 Chúng tôi muốn tìm hiểu có hay không sự nối khớp giữa hai môn Toán và Vật lý đối với khái niệm này
2.1 Hệ toạ độ trong môn Toán bậc trung học
Trục số được SGK Toán 6 trình bày:
Ta biểu diễn các số nguyên âm trên tia đối của tia số và ghi các số
-1, -2, -3,… như trong hình 32
Như vậy ta được một trục số Điểm 0 (không) được gọi là điểm gốc của
trục số Trên hình 32, chiều từ trái sang phải gọi là chiều dương (thường
được đánh dấu bằng mũi tên) chiều từ phải sang trái gọi là chiều âm của
trục số
Chú ý: Ta cũng có thể vẽ trục số như hình 34
[SGK Toán 6 (tập 1), tr.67]
Với cách mô tả như trên dường như sách giáo khoa đồng nhất giữa điểm (cụ thể
là điểm gốc) với số (cụ thể là số 0) trên trục số, đồng thời ấn định chiều dương của trục
số khi được vẽ nằm ngang (song song với mặt đất) là chiều từ trái sang phải
Trang 392.1.1 Hệ tọa độ trong SGK Toán 7
Phân tích SGK
Hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy được định nghĩa một cách tường minh lần đầu tiên trong bài 6 có tựa đề “Mặt phẳng tọa độ” thuộc chương II, phần Đại số SGK Toán 7, tập 1 Trước đó ở chương I học sinh đã được trang bị các kiến thức về tập hợp
số trong đó có cung cấp cho học sinh cách biểu diễn một số thực trên trục số
SGK định nghĩa hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy:
Trên mặt phẳng, ta vẽ hai trục Ox, Oy
vuông góc với nhau và cắt nhau tại gốc
của mỗi trục số như hình vẽ bên Khi đó
ta có hệ trục tọa độ Oxy
Các trục Ox và Oy gọi là các trục tọa độ,
Ox gọi là trục hoành, Oy gọi là trục tung
Người ta thường vẽ Ox nằm ngang, Oy
SGK không nói gì về phương của hai trục tọa độ, nhưng SGK nói thêm rằng:
“Người ta thường vẽ trục Ox nằm ngang, trục Oy thẳng đứng” [SGK Toán 7 (tập 1),
Trang 40tr.66], phải chăng với ý này SGK “ủng hộ” phương của trục Ox nằm ngang1 và phương của trục Oy thẳng đứng2 và trong tất cả các SGK được tham khảo thì các trục tọa độ đều được vẽ theo phương như đã nói Trục số có thể vẽ nằm ngang hoặc thẳng đứng nhưng khi sang hệ trục tọa độ Oxy thì một cách ngầm ẩn trục Ox phải nằm ngang với chiều dương hướng từ trái sang phải và trục Oy thẳng đứng hướng từ dưới lên trên
: Hệ trục tọa độ Oxy, tọa độ của một điểm trong mặt phẳng tọa độ
Ví dụ: Hoạt động 1: Vẽ hệ trục tọa độ Oxy trên giấy kẻ ô vuông và đánh dấu vị
trí của các điểm P, Q lần lượt có tọa độ là (2, 3); (3, 2)
1 Ngang ở đây có thể hiểu là nếu được vẽ trên bảng thì trục Ox song song với mép ngang của bảng tức song song với mặt đất, còn nếu được vẽ trên vở thì phương ngang là phương song song với mép ngang của quyển vở
2 Thẳng đứng ở đây có thể hiểu là nếu được vẽ trên bảng thì trục Oy song song với mép dọc của bảng tức vuông góc với mặt đất, còn nếu được vẽ trên vở thì có phương song song với mép dọc của quyển vở