Đánh giá thực trạng quản lý môi trường ở làng nghề đúc đồng Đại Bái - tỉnh Bắc Ninh
Trang 1PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Các làng nghề thủ công truyền thống là nét đặc trưng của nhiều vùng nôngthôn Việt Nam Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội nhiềungành nghề truyền thống đã được khôi phục và phát triển Hiện sản phẩm của làngnghề không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn vươn ra thị trường nướcngoài, thu về nguồn ngoại tệ lớn, cải thiện đời sống cho dân cư nông thôn
Theo số liệu của Viện khoa học và Công nghệ môi trường (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), hiện nước ta có khoảng 1450 làng nghề, trong đó có 228 làng
nghề truyền thống, 70% số làng nghề tập trung ở khu vực đồng bằng sông Hồng Ởmột số tỉnh như: Bắc Ninh, Hà Tây (cũ), Hưng Yên, Hải Dương… đời sống ngườidân được cải thiện, thu nhập từ các làng nghề đem lại chiếm tới 75% tổng thu nhập
Số dân địa phương tham gia vào sản xuất (tái chế thép dân dụng, chế biến lươngthực, dệt tơ lụa, tái chế giấy, thu gom và tái chế nhựa ) đã lên tới 20.000 người [2]
Làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh có lịch sử rất lâu đời, một số nghềđược xuất hiện từ thời Lý Đại Bái là một làng nghề đúc đồng nổi tiếng nằm vensông Đuống Đây là một làng nghề truyền thống với các nghề chính: đúc đồng, đúcnhôm, gò nhôm nhưng gò đúc đồng là chủ yếu Do sự phát triển thiếu bền vững cùngcông nghệ sản xuất lạc hậu… đã làm suy giảm chất lượng môi trường làng nghề vàkhu vực xung quanh từ đó ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người dân Để giúp tăngcường hiệu quả cho công tác quản lý sản xuất cũng như quản lý môi trường làngnghề thì việc đánh giá thực trạng quản lý môi trường tại địa phương là rất cần thiết
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý môi trường ở làng nghề đúc đồng Đại Bái - tỉnh Bắc Ninh”.
Trang 21.2 Mục đích, yêu cầu
1.2.1 Mục đích
- Tìm hiểu thực trạng môi trường và công tác quản lý môi trường ở làng nghềđúc đồng Đại Bái
- Đánh giá tình hình quản lý môi trường
- Đề xuất một số giải pháp quản lý môi trường tại địa phương
Trang 3PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về làng nghề Việt Nam
2.1.1 Xu hướng phát triển làng nghề
2.1.1.1 Xu hướng phát triển của làng nghề
Các làng nghề thủ công truyền thống là nét đặc trưng của nhiều vùng nôngthôn việt Nam Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội nhiềulàng nghề thủ công truyền thống đã được khôi phục, phát triển mạnh Hiện sản phẩmcủa làng nghề không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn vươn ra thị trườngnước ngoài, thu về nguồn ngoại tệ lớn, cải thiện đời sống cho dân cư nông thôn
Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song songvới quá trình phát triển KT - XH, văn hoá và nông nghiệp của đất nước, như: làngnghề đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm BátTràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình)hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước (Tp Đã Nẵng) cũng đã hình thành cáchđây hơn 400 năm… [2]
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, việc áp dụng các chính sách khuyếnkhích phát triển làng nghề nhằm thúc đẩy sản xuất đã làm tăng thu nhập bình quâncủa người dân nông thôn, các công nghệ mới đang ngày càng được áp dụng phổbiến
Toàn tỉnh Bắc Ninhcó 62 làng nghề, trong đó có 4 làng nghề mới hình thành,với trên 80 công ty TNHH, 196 HTX và trên 12.000 hộ sản xuất kinh doanh các sảnphẩm truyền thống thu hút gần 60.000 lao động Giá trị sản xuất đạt trên 700 tỷđồng, chiếm 75% giá trị công nghiệp ngoài quốc doanh và hơn 30% giá trị côngnghiệp toàn tỉnh [3]
Những hộ làm nghề tiểu thủ công nghiệp trong làng nghề nói chung và làngnghề truyền thống nói riêng đều có thu nhập cao hơn hộ thuần nông Thu nhập từngành nghề này càng đóng vai trò chủ yếu trong thu nhập của người dân Ngoài ra
Trang 4làng nghề ở nông thôn phát triển để tạo ra một lượng hàng hoá đáng kể, đáp ứng kịpthời nhu cầu đa dạng của đời sồng nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triểnkinh tế địa phương và tăng kim ngạch xuất khẩu
2.1.1.2 Sự phân bố các làng nghề
Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên,mật độ phân bố dân cư, điều kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sự phân bố và pháttriển làng nghề giữa các vùng của nước ta là không đồng đều, thông thường tậptrung vào những khu vực nông thôn đông dân cư nhưng ít đất sản xuất nông nghiệp,nhiều lao động dư thừa lúc nông nhàn
Theo thống kê của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - Đại học BáchKhoa Hà Nội, hiện cả nước có 1.450 làng nghề, phân bố tập trung chủ yếu ở đồngbằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%); còn lại là miền Trung (chiếm khoảng 30%)
và miền Nam (khoảng 10%) [2]
B ng 2.1 Phân b các lo i hình l ng ngh các vùng nông thôn Vi t Namố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam ại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam àng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam ề ở các vùng nông thôn Việt Nam ở các vùng nông thôn Việt Nam ệt Nam
Ươm tơ, dệtnhuộm, đồ da
Chế biếnNSTP
Tái chếphế liệu
Thủ công
mỹ nghệ
Vật liệuxây dựng
Nghềkhác
Theo ước tính, trong vòng 10 năm qua, làng nghề nông thôn Việt Nam đã có tốc
độ tăng trưởng nhanh, trung bình khoảng 8% năm, tính theo giá trị đầu ra Sản phẩm
và phương thức sản xuất của các làng nghề rất phong phú và đa dạng với hàng trămloại nghề khác nhau
Ngành nghề nông thôn Việt Nam rất đa dạng, có hàng trăm nghề và có rấtnhiều hình thức để phân loại làng nghề Căn cứ vào kết quả điều tra về làng nghềtrên cả nước, có thể phân chia thành 6 nhóm ngành sản xuất chính như sau:
Trang 5N1: ươm tơ, dệt vải và may đồ da
N2: chế biến lương thực, thực phẩm, dược liệu
N3: tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại…)
N4: thủ công mỹ nghệ, thêu ren
N5: vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá
2.1.2 Tác động của làng nghề tới môi trường
2.1.2.1 Tác động đến môi trường không khí
Ô nhiễm không khí chủ yếu tập trung ở các làng nghề sản xuất vật liệu xâydựng, gốm, sứ, nhựa Ước tính tải lượng ô nhiễm không khí do đốt than để nung
Trang 6vôi, nung gốm, sứ từ hàng trăm lò thủ công lên tới hàng triệu m3 khí độc Dân cưlàng nghề và cả các xã khác đều phải sống chung với khói bụi, hơi nóng và khí thảiđộc hại của các làng nghề này
Ở các làng nghề sản xuất gốm Bát Tràng, làng nghề gốm Xuân Quang (HưngYên), làng nung vôi Đôn Tân (Thanh Hoá), Kiên Khê (Hà Nam), Khai Thái (HàTây) Bụi phát sinh từ quá trình khai thác, gia công đất nguyên liệu, vận chuyểnvào lò, ra lò và bốc dỡ sản phẩm Hàm lượng bụi từ các làng nghề này lớn Khí ônhiễm, bụi, tiếng ồn còn phát sinh do hoạt động giao thông ở các làng nghề Đâycũng là nguồn ô nhiễm đáng kể ảnh hưởng đến chất lượng môi trường không khí tạilàng nghề Quá trình nung gạch sử dụng nhiên liệu than hỗn hợp có hàm lượng lưuhuỳnh cao (4 – 4,5%) nên phát sinh lượng bụi lớn và khí độc hại như SO2, NO2, CO,
CO2 [2]
Bảng 2.3 Chất lượng không khí làng nghề Khai Thái, Hà Tây
và Dạ Trạch, Hưng Yên
(Đơn vị: mg/m 3)
1 Khu lò gạch LN Khai Thái, Hà Tây 0,913 7,413 0,760 0,045
2 Đầu hướng gió khu lò gạch LN Khai
3 Sân UBND xã - LN Khai Thái, Hà Tây 0,068 2,315 0,003 0,008
4 Khu lò gạch LN Dạ Trạch, Hưng Yên 2,661 11,735 0,019 0,161
5 LN Dạ Trạch (Cạnh lò anh Với) 2,568 8,823 0,011 0,096
(Nguồn [2], Viện KH&CN Môi trường khảo sát tháng 9/2003)
Kết quả phân tích cho thấy: hàm lượng bụi ở khu vực sản xuất đều rất cao,vượt TCCP từ 3 đến 8,5 lần Khí SO2 khu lò gạch Khai Thái - Hà Tây lên tới0,76mg/m3 không khí
Trang 7Theo GS TS Đặng Kim Chi - Phó Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ môitrường: “Hầu hết các làng nghề hiện nay, nhiên liệu đốt dùng phổ biến là than củi vàthan đá nên ô nhiễm môi trường không khí do việc sử dụng nhiên liệu thông qua cácsản phẩm cháy là rất lớn”
Bảng 2.4 Chất lượng môi trường không khí tại làng nghề tái chế nhựa
Minh Khai, Trung Văn và Triều Khúc
K1: Xưởng đùn túi nilon ông Nguyễn Văn Hùng – Minh Khai
K2: Bãi rác – Minh Khai
K3: Xưởng nghiền nhựa ông Trần Xuân Thành – Minh Khai
K4: Xưởng đùn hạt ông Trần Xuân Thành – Minh Khai
K5: Xưởng nghiền nhựa ông Phan Đắc Thanh – Trung Văn
K6: Xưởng đùn hạt ông Nguyễn Văn Quyết – Trung Văn
K7: Xưởng đùn hạt Long Trúc – Trung Văn
Kết quả khảo sát tại các làng nghề tái chế nhựa cho thấy: nồng độ hơi khí ônhiễm hầu hết đều vượt TCCP, cụ thể là: Bụi trong không khí dao động trong
Trang 8khoảng 0,45 – 1,33mg/m3, vượt TCCP 0,5 – 4 lần Hàm lượng THC đo được ở khuvực các bãi rác của làng nghề tái chế nhựa là 5,36 mg/l vượt TCCP 1,16 lần.
Tại hầu hết các làng nghề các chỉ tiêu như: BOD, COD, SS đều lớn hơn rấtnhiều so với tiêu chuẩn, các chất này không được xử lý khi thải ra môi trường sẽphát sinh rất nhiều các chất ô nhiễm thứ cấp dạng khí: CH4, H2S, NH3 và là môitrường thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh phát triển Ở làng nghề tái chế sắt thép ĐaHội xã Châu Khê – Từ Sơn: Khí thải chủ yếu là khí từ quá trình đốt nhiên liệu than,khí CO2 với ước tính khoảng 255 tấn và một lượng bụi lên tới 6 tấn Nhiệt độ môitrường trong khu vực luôn cao hơn so với nhiệt độ khu vực xung quanh từ 5 – 60C,chất lượng không khí và các yếu tố vi khí hậu tại khu dân cư biểu hiện khá rõ ảnhhưởng của bụi, khí thải vượt nhiều lần so với TCCP [2]
Làng nghề tái chế giấy Phong Khê và Phú Lâm: khói thải cuộn lên từ việc đốtmột lượng lớn nhiên liệu than (ước tính khoảng 200 tấn than/ ngày) được các cơ sở
sử dụng cho lò hơi thải ra một lượng khí thải rất lớn bao gồm rất nhiều thành phầncác khí độc hại như SO2, CO, NOx… Ngoài ra, không khí trong làng nghề còn bị ônhiễm bởi mùi của hoá chất trong quá trình ngâm, tẩy phế liệu và phân huỷ chất thảirắn trong quá trình sản xuất [4]
Một nguồn gây ô nhiễm khác trong làng nghề hiện nay còn bao gồm khói, bụi
từ việc đốt rác tại các bãi rác có chứa các chất nilon, nhựa, băng dính, chứa nhiềukhí gây ô nhiễm độc hại, cùng với việc phân huỷ yếm khí các chất hữu cơ trong hệthống kênh chứa nước thải và các ao hồ đã bị lấp đầy bột giấy phát sinh khí H2S,
NOx… cũng góp phần làm cho môi trường không khí trong làng nghề bị ô nhiễmhơn
2.1.2.2 Tác động đến môi trường nước
Tại các làng nghề, 100% mẫu nước thải đều có các thông số vượt quá tiêuchuẩn cho phép; nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm, như ở các làngnghề chế biến nông sản thực phẩm, dệt nhuộm nước thải cống chung tại khu vựcsản xuất chứa hàm lượng BOD rất cao, có khi lên tới 2.003 mg/ lít, như làng nghề
Trang 9bún thôn Đoài (Bắc Ninh) Hoặc hàm lượng COD trong nước thải cao hơn so vớitiêu chuẩn cho phép từ 3,2 – 8,93 lần [2].
Chế biến nông sản thực phẩm là ngành có nhu cầu nước rất lớn và thải ra mộtlượng nước thải không nhỏ, giầu chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường Nước thải cáclàng nghề sản xuất bún, bánh,… đều có BOD vượt quá TCCP từ 12,8 – 140 lần;COD vượt quá TCCP từ 9,7 – 87 lần Hầu hết nước thải có pH thấp, thể hiện chấtthải hữu cơ đã bị phân giải yếm khí Tại hầu hết các làng nghề chỉ tiêu BOD, COD,
SS đều lớn hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn, các chất gây ô nhiễm này không được xử
lý sẽ phát sinh ra nhiều dạng khí gây ô nhiễm môi trường như CH2, H2S, NH3 [11]
B ng 2.5 Đặc trưng nước thải các làng nghề CBNSTPc tr ng nưng nước thải các làng nghề CBNSTP ưng nước thải các làng nghề CBNSTPớc thải các làng nghề CBNSTPc th i các l ng ngh CBNSTPàng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam ề ở các vùng nông thôn Việt Nam
Quang Minh, Kiến Xương
Thôn Đoài- Bắc Ninh
Tân Độ- Hà Tây
Phong lộc- Nam Định
Quang Bình, Kiến Xương
TCVN 5945- 1995 (B)
(Nguồn [2], Viện KH&CNMT khảo sát tháng 8/2002)
Các chất thải độc hại khó phân hủy cũng là một vấn đề môi trường nóng bỏngđặt ra cho các làng nghề, nhất là các làng nghề tái chế kim loại và dệt nhuộm, thuộc
da Các kết quả phân tích chất lượng nước thải cho thấy: Hàm lượng các chất độc hạiđang ở mức đáng báo động, vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Tại các làng nghềtái chế kim loại có nơi hàm lượng Pb2+ vượt tiêu chuẩn cho phép tới 4,1 lần, Cu2+
Trang 10vượt quá 3,25 lần Hàm lượng Phenol trong nước thải tại làng nghề tái chế giấy cũngvượt quá tiêu chuẩn cho phép 10 lần Các kết quả khảo sát cho thấy: nước mặt ở cáclàng nghề có mức độ ô nhiễm khác nhau Tại làng nghề ươm tơ Cổ Chất hàm lượngCOD trong nước mặt rất cao, COD = 341 mg/l (gấp 9,7 lần so với TCCP), đặc biệt
độ màu lên tới 2029,5 Pt-Co [2]
B ng 2.6 Ch t lất lượng nước mặt ở một số làng nghề dệt nhuộm ưng nước thải các làng nghề CBNSTPợng nước mặt ở một số làng nghề dệt nhuộmng nưng nước thải các làng nghề CBNSTPớc thải các làng nghề CBNSTPc m t m t s l ng ngh d t nhu mặc trưng nước thải các làng nghề CBNSTP ở các vùng nông thôn Việt Nam ột số làng nghề dệt nhuộm ố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam àng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam ề ở các vùng nông thôn Việt Nam ệt Nam ột số làng nghề dệt nhuộm
5942-1995 (loại B)
NM1: Nước mặt làng nghề Thái Phương – Thái Bình
NM2: Nước ao cạnh nhà ông Thắng – làng nghề ươm tơ Cổ Chất – Nam ĐịnhNM3: Nước hồ trong khu vực làng nghề ươm tơ tằm Bảo Lộc – Lâm Đồng.Tại làng nghề dệt nhuộm Tương Giang: đặc trưng nước thải dệt nhuộm từ các
cơ sở dệt nhuộm tại làng nghề là sự dao động lớn cả về lưu lượng và tải lượng cácchất ô nhiễm, nó thay đổi theo mùa, theo sản phẩm… Nhìn chung, nước thải dệtnhuộm có độ kiềm cao, độ màu và hàm lượng các chất hữu cơ, tổng chất rắn rất cao.Các thông số ô nhiễm chủ yếu: COD tới 1064 mg/l vượt tiêu chuẩn cho phép trên 10lần; BOD5 bằng 508 mg/l vượt TCCP trên 10 lần; NH4+ bằng 1,17 mg/l vượt TCCP1,17 lần; Coliform khoảng 13000 MNP/100ml Ngoài ra, còn một lượng hoá chất rất
Trang 11lớn từ quá trình tẩy trắng, nhuộm có chứa tác nhân kịm loại nặng… có trong thànhphần nước thải [2].
2.1.2.3 Tác động đến môi trường đất
Các chất thải không được các làng nghề xử lý hợp lý đang là nguồn gây ônhiễm đất Các loại hóa chất, kim loại nặng… có trong nước thải ở các làng nghề cóthể ngấm sâu xuống lòng đất, chảy ra đồng ruộng Vì vậy, hầu hết môi trường đất tạicác làng nghề có hiện tượng tích tụ kim loại, làm giảm độ mùn của đất, từ đó làmgiảm năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi
Hàng ngày làng nghề tái chế giấy Dương Ô (Bắc Ninh) thải ra 4,5- 5 tấn chấtthải rắn như xỉ than, nilon, đinh, ghim; làng nghề tái chế nhựa Trung Văn (Hà Nội)thải ra 3,5 tấn rác/ngày; làng nghề cơ khí Đa Hội (Bắc Ninh) thải ra khoảng 11tấn/ngày gồm xỉ, sắt, kim loại vụn, than, phế liệu; làng nghề cơ khí Vân Chàng(Nam Định) thải ra 7 tấn/ngày trong đó có các chất thải chứa kim loại và xỉ than cóchứa dầu mỡ khoáng Trong khi đó, các chất thải rắn được thu gom rất thủ công vàđem chôn lấp đơn giản ở các bãi chôn lấp hở, thậm chí là bị thải bỏ và đốt bừa bãingay trên các con đê làng hoặc đổ xuống dòng sông… Lượng chất thải này khôngđược quản lý đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đất, nước Vì thế, cầnsớm có những giải pháp cụ thể quản lý lượng chất thải này [2]
Kết quả phân tích chất lượng đất tại làng nghề tái chế nhựa cho thấy: môitrường đất chưa bị ảnh hưởng nhiều, các thông số như hàm lượng cacbon, nitơ,photpho, độ chua hay các kim loại nặng đều ở mức trung bình Tuy nhiên về mặt lâudài nếu không đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường sẽ gây ô nhiễm nặng nề hơnnữa, làm giảm sản lượng nông nghiệp nghiêm trọng
Bảng 2.7 Chất lượng môi trường đất tại làng nghề tái chế nhựa
Minh Khai, Trung V n v Tri u Khúcăn và Triều Khúc àng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam ề ở các vùng nông thôn Việt Nam
Trang 12Đ1: Cơ sở sản xuất nilon Anh Quang – Minh Khai
Đ2: Cạnh bãi rác Minh Khai
Đ3: Cơ sở ông Đỗ Văn Nhung – Trung Văn
Đ4: Cơ sở sản xuất nilon ông Nguyễn Văn Lượt – Trung Văn
Đ5: Cơ sở phân loại nhựa Nguyễn Văn Hồng – Triều Khúc
Các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm có nhu cầu lớn về nước nhưngcũng thải ra một lượng nước không nhỏ, với đặc tính chung là giàu chất hữu cơ, dễphân hủy sinh học Nước thải được xả thẳng ra ngoài mà không qua bất kỳ khâu xử
lý nào, chúng tồn đọng ở cống rãnh, gây ô nhiễm không khí và ngấm xuống lòng đấtgây ô nhiễm môi trường đất
Các làng nghề dệt nhuộm, nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là nước thải, nguồnnước thải này từ các hộ sản xuất được thải trực tiếp ra ao, hồ… trong làng gây ônhiễm nặng tới nguồn nước, gây hại cho các loài thuỷ sinh vật và ảnh hưởng tới môitrường đất
2.1.3 Ảnh hưởng của làng nghề đến sức khoẻ con người
Tỷ lệ mắc bệnh ở các làng nghề cao hơn 15 - 25% Kết quả điều tra mới đâycủa Viện Bảo hộ lao động cho thấy, người dân sống tại các làng nghề có tỷ lệ mắcbệnh cao hơn khoảng 15 - 25 % so với các làng thuần nông, trong đó tỷ lệ mắc bệnhchủ yếu là phụ nữ và trẻ em là 30 - 45% Hệ quả của việc ngày càng nhiều người dântại các làng nghề bị mắc các bệnh hiểm nghèo là do người lao động phải làm việc ởđiều kiện không được bảo đảm
Trang 13Tại các làng nghề dệt, người lao động luôn phải tiếp xúc với tiếng ồn, độ ẩmcao, bụi bông và hoá chất nhiều nên hay mắc các bệnh về thần kinh, viêm xoang,viêm họng, đau mắt…
Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng do phải sống trong môi trường có nồng
độ bụi và các khí độc, công việc lại nặng nhọc nên tỷ lệ mắc các bệnh về tai mũihọng, viêm đường hô hấp, bệnh về thần kinh và mắt khá cao
Tại các làng nghề đúc đồng Đại Bái (Gia Bình - Bắc Ninh), cơ kim khí Thạch
Xá (Thạch Thất - Hà Nội), tái chế nhựa, giấy Minh Khai (Văn Quỳnh - Hưng Yên)
… lượng nước thải và hơi khí độc do đốt cháy nguyên liệu từ các làng nghề này dàyđặc cũng làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân trong khu vực
Điều tra sơ bộ tại làng nghề ươm tơ Cổ Chất (Xã Phương Định, Trực Ninh Nam Định), tỷ lệ mắc bệnh do sản xuất chiếm tới 70%; Làng dệt nhuộm TháiPhương (Hưng Hà - Thái Bình) là 55%
-Kết quả điều tra y tế tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm cũng chothấy, 8 - 30% người dân có bệnh về đường tiêu hoá, 4,5 - 23% bệnh viêm da, 13 -38% phụ nữ làng nghề mắc bệnh phụ khoa [2]
Đơn cử, tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở làng nghề Dương Liễu (Hoài Đức - HàNội), làng bún bánh Vũ Hội (Thái Bình) là 70%, làng bún Phú Đô (Từ Liêm - HàNội) và làng rượu Tân Độ (Thường Tín, Hà Nội) là 50% [13]
Tại 30 cơ sở làng nghề tại ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định phổ biếnlàm mỹ nghệ, mây tre đan, dệt may, chế biến hoá thực phẩm và vật liệu xây dựng,bệnh tật trong các hộ gia đình làng nghề là đau lưng, đau cột sống, đau bụng, hộichứng dạ dày, viêm phế quản, viêm phổi, viên da, dị ứng, đau mắt Các nguy cơ màngười lao động tiếp xúc tại làng nghề ở Bắc Ninh: 95,5% tiếp xúc với bụi, 85,9%tiếp xúc với nhiệt, 59,6% với hoá chất, 58,9% với tai nạn Tại các làng nghề VănMôn đúc nhôm, chì, kẽm, bệnh hô hấp (44,4%), bệnh da liễu (13,4%) trong tổng số
Trang 14người được điều tra Tại làng nghề giết mổ gia súc Phúc Lâm (Bắc Giang), Văn Thái(Hải Dương), người dân cho biết vào tháng 2 - 3 sau mùa lụt, lại xuất hiện những đợtsốt xuất huyết cùng các bệnh như đau mắt hột, mắt đỏ, viêm đường ruột, phụ khoa,
ỉa chảy, đặc biệt là viên hô hấp ở trẻ em Ngoài ra, một số gia đình tham gia tái chếchì có con bị liệt và mù bẩm sinh [2]
Bảng 2.8 Số liệu thống kê về khám chữa bệnh tại làng nghề Đồng Kỵ,
năm 2004 Bệnh và các triệu
số, đường hô hấp là 44,4%, phụ khoa chiếm 35% [12]
Vì vậy, cần có các giải pháp làm giảm ô nhiễm môi trường và tăng cường sứckhỏe ở các làng nghề
2.2 Tổng quan về làng nghề tái chế kim loại
Trang 152.2.1 Giới thiệu chung
Làng nghề tái chế kim loại đóng vai trò quan trọng, chiếm tỷ lệ cao trong sốcác làng nghề, góp phần không nhỏ trong GDP của vùng và quốc gia
Trong những năm gần đây, do được sự hỗ trợ, quan tâm nhiều hơn của Nhànước mà cơ sở hạ tầng ở các làng nghề có nhiều cải thiện, hệ thống giao thông thuậnlợi hơn vì vậy các làng nghề tái chế kim loại đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, số
hộ gia đình tham gia sản xuất ngày càng tăng, lan toả từ thôm xóm này sang thômxóm khác, các sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ cả thị trường trong và ngoài nước,đóng góp đáng kể vào việc mở rộng ngành nghề và tăng kim ngạch xuất khẩu
Hiện nay, ở các làng nghề tái chế kim loại đã tiến hành quy hoạch các hộ giađình tham gia sản xuất thành cụm công nghiệp, tuy nhiên vẫn còn một số hộ sản xuấtnhỏ lẻ nằm xen lẫn trong khu dân cư
Các chất thải độc hại khó phân huỷ là một vấn đề môi trường nóng bỏng đặt racho các làng nghề tái chế kim loại này Qua các kết quả đã phân tích cho thấy hàmlượng độc hại đang ở mức báo động, vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Tại cáclàng nghề tái chế kim loại có nơi hàm lượng Pb2+ có thể vượt tiêu chuẩn cho phép tới4,1 lần, Cu2+ vượt quá 3,25 lần
Một thực tế cho thấy, trong quá trình chuyển đổi theo hướng công nghiệp hoá
và hiện đại hoá, sản xuất ở các địa phương thường đi sau một bước về thế hệ côngnghệ, việc phát triển các ngành nghề tái chế kim loại vẫn tận dụng hệ thống thiết bịlạc hậu, chắp vá hoặc nhận thiết bị thải loại từ những nhà máy, xí nghiệp của Trungương nên định mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu để tạo ra một đơn vị sản phẩmthường lớn, giá trị sản phẩm làm ra có giá thành cao khó có khả năng cạnh tranh trênthị trường Mặt khác, thiết bị chắp vá, thế hệ công nghệ bị lạc hậu dẫn đến tỷ lệ haohụt nguyên nhiên liệu nhiều, thất thoát trong quá trình vận hành sản xuất tăng, đây làmột trong những nguyên nhân chính làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở cáclàng nghề ngày càng tăng
Trang 16Hơn nữa, nguyên liệu dùng cho sản xuất hay tái chế kim loại được mua về từnhiều nguồn khác nhau, nguyên liệu chủ yếu được thu gom “thập cẩm” từ các nơiđem về bán lại cho các cơ sở sản xuất nhằm tái sử dụng Sau khi lựa chọn đượcnhững nguyên liệu thích hợp, có thể sử dụng được, các chủ xưởng thường dùngnhững cách thức khác nhau nhằm “tẩy rửa” nguyên liệu cho “sạch” bằng các hợpchất hóa học độc hại Những hóa chất gồm axit, chất tẩy trắng, làm bóng sản phẩmsau khi dùng xong không được xử lý mà được đổ thẳng ra cống rãnh gây ô nhiễmmôi trường nghiêm trọng Kết quả điều tra và nghiên cứu ở Hà Tây (cũ) cho thấy các
hộ gia đình vẫn tự xử lý chất thải mà chưa có một công nghệ mới nào mang tính tậptrung Hàng ngày họ vẫn xả chất thải chưa qua xử lý ra môi trường
Theo điều tra của Sở Tài nguyên - Môi trường Hà Tây (cũ) về nguồn nước vàkhông khí tại các làng nghề cho thấy: tình trạng ô nhiễm đang ở mức báo động ở tất
cả các điểm công nghiệp trong tỉnh và ở tất cả các loại hình làng nghề; nghiêm trọngnhất là các điểm công nghiệp Quảng Phú Cầu (Ứng Hoà), Phùng Xá (Thạch Thất),Thanh Thuỳ (Thanh Oai), làng nghề rèn Đa Sĩ (Hà Đông) với nhiều doanh nghiệp
và hộ sản xuất tham gia các ngành nghề nấu thép, sản xuất hàng kim khí Mỗi ngàycác xã sử dụng 50 - 100 tấn phế liệu sắt, thép, gang, nhựa phế liệu đưa vào lò nấu đểtạo phôi và sản xuất các loại sản phẩm, đã thải ra lượng khí thải, hoá chất độc hạichứa CO2, SO2, NO2 rất lớn Đặc biệt, trong quá trình tảy, rửa và mạ, nước thải tồn
dư nhiều hoá chất, các chất lơ lửng; riêng hàm lượng kim khí nặng trong nước ở cáclàng nghề kim khí vượt tiêu chuẩn cho phép cao như: Zn vượt 8 lần, Fe vượt 12 lần
và Pb vượt 4 lần trở lên
2.2.2 Tác động đến môi trường của các làng nghề tái chế kim loại
Tái chế kim loại là loại hình làng nghề gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởngđến sức khoẻ cộng đồng nhiều nhất do công nghệ lạc hậu và không có các giải phápkiểm soát ô nhiễm Môi trường không khí bị ô nhiễm nặng nề do khí thải của các lònấu tái chế kim loại ngoài các hơi khí độc hại cơ bản do đốt cháy nhiên liệu như
Trang 17CO, SO2, NOx còn có các loại hơi oxit kim loại như: PbO, Al2O3… là những tácnhân chính ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người, đặc biệt đối với trẻ em
Nước mặt và đất tại các làng nghề này cũng bị ô nhiễm nặng, hàm lượng kimloại nặng (Pb, Cu, Zn, …) vượt TCCP nhiều lần thậm chí còn xuất hiện hàm lượngxianua đáng kể, làm cho các loài thuỷ sinh vật không thể tồn tại được trong nước ao
hồ tại làng Đồng Mai (Hà Tây) và Văn Môn (Hưng Yên)
2.2.2.1 Tác động đến môi trường nước
Ở các cơ sở sản xuất làng nghề, lượng nước thải không được xử lý triệt để, màchỉ xử lý sơ bộ qua một hệ thống lắng lọc hoặc thải thẳng vào hệ thống thủy nông,gây ô nhiễm môi trường nước ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người lao động
Nước sử dụng trong tái chế kim loại gồm: nước làm mát, nước vệ sinh thiết bị,nhà xưởng
Nước thải từ làng nghề tái chế kim loại chứa bụi kim loại, bụi Silicat, rỉ sắt,dầu mỡ Nước thải quá trình tẩy rửa và mạ kim loại chứa hoá chất (axit, xút, kim loạinhư: Cr2+, Zn2+, Pb2+, Cu2+ …) gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước
Bảng 2.9 Kết quả phân tích môi trường nước mặt tại một số
l ng ngh tái ch kim lo iàng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam ề ở các vùng nông thôn Việt Nam ế kim loại ại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam
Trang 18Nước mặt tại các làng nghề tái chế kim loại có dấu hiệu bị ô nhiễm, các ionkim loại có nguồn gốc từ nước thải như Pb, Zn… Kết quả khảo sát cho thấy nướcmặt tại làng nghề Xuân Tiến – Nam Định có hàm lượng Pb2+ lớn gấp 2 lần TCCP,hàm lượng Zn vượt TCCP 0,6 mg/l.
Bảng 2.10 Kết quả phân tích hàm lượng kim loại trong nước thải
làng nghề Đồng Xâm
Ký hiệu mẫu TB
(mg/l)
TCVN 5945/2005 loại B (mg/l)
Trang 19vượt quá tiêu chuẩn cho phép hàng trăm lần, hàm lượng Fe và Mn vượt tiêu chuẩnhàng chục lần [9].
Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm hàng năm sử dụng một khối lượng kim loạimàu và hóa chất độc hại rất lớn như axit nitric (HNO3), axit sulfuric (H2SO4), cyanua(CN) và thủy ngân (Hg) Các hóa chất này được lưu giữ ngay trong nhà dân để sửdụng hàng ngày, đây là một mối nguy hiểm rất lớn cho sự an toàn về sức khỏe vàtính mạng của những thành viên trong gia đình họ Với khối lượng hóa chất lớnđược đưa vào sản xuất, một phần hóa chất tham gia vào các phản ứng tác động vàosản phẩm, số còn thừa theo nước thải và khí thải đi vào môi trường gây ô nhiễm môitrường không khí và môi trường nước Nước thải của việc rửa sau mạ lần 1, lần 2 vàtẩy rửa bằng hóa chất đều đổ ra vườn, ao, sông ngòi gây ô nhiễm môi trường và ảnhhưởng trực tiếp tới sức khỏe của dân trong khu vực
2.2.2.2 Tác động đến môi trường không khí
Ở các làng nghề tái chế kim loại các tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu là các khíđộc hại như: CO, CO2, NO2, SO2 phát hiện trực tiếp từ các lò đúc nhôm, chì do nhiênliệu hoá thạch bị đốt cháy không qua quá trình xử lý được thải trực tiếp vào bầu khíquyển
Bảng 2.11 Chất lượng môi trường không khí tại một số làng nghề
tái ch kim lo iế kim loại ại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam
Trang 20Ghi chú:
K1: Nhà ông Trần Văn Liên – Vân Chàng (cán kéo sắt)
K2: Nhà ông Nguyễn Mạnh Cường – Vân Chàng (đúc nhôm)
K3: Nhà ông Lê Văn Cường – Vân Chàng (nhúng nhôm)
K4: Nhà ông Nguyễn Văn Mạnh – Xuân Tiến (đúc đồng)
K5: Nhà ông Phan Văn Hải – Phước Kiều – Quảng Nam (đúc nhôm)
Công nghệ tái chế kim loại phát sinh một lượng lớn bụi kim loại, khí thải từ lòthan và hơi hoá chất từ các quá trình gia công và hoàn thiện sản phẩm, trong đó: bụi,khí ô nhiễm phát sinh chủ yếu từ khâu nấu chảy kim loại, ủ và tháo dỡ các khuônđúc; hơi kiềm, hơi axit sinh ra từ khâu tẩy rửa, làm sạch bề mặt kim loại và mạ
B ng 2.12 Ch t lất lượng nước mặt ở một số làng nghề dệt nhuộm ưng nước thải các làng nghề CBNSTPợng nước mặt ở một số làng nghề dệt nhuộmng môi trưng nước thải các làng nghề CBNSTPờng đất tại một số làng nghề tái chế kim loạing đất lượng nước mặt ở một số làng nghề dệt nhuộm ại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Namt t i m t s l ng ngh tái ch kim lo iột số làng nghề dệt nhuộm ố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam àng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam ề ở các vùng nông thôn Việt Nam ế kim loại ại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam
Ghi chú: (KPHĐ: không phát hiện được)
Đ1: Đất ao nhà ông Nguyễn Văn Vinh – Xuân Tiến
Đ2: Đất nhà ông Phan Văn Hạnh – Vân Chàng (cán kéo, đúc nhôm)
Trang 21Đ3: Đất ao nhà ông Lê Hữu Độ - Phước Kiều – Quảng Nam.
Tại vùng nghề chạm bạc truyền thống của tỉnh Thái Bình, nguyên liệu chính
sử dụng để chạm bạc ở Lê Lợi là đồng lá (80 - 100 tấn/năm) và bạc nguyên chất (1,5 - 2 tấn/năm) Đồng là nguyên liệu thô để gia công tạo hình cho sản phẩm trướckhi đưa vào công đoạn mạ Qua điều tra lấy mẫu Viện Địa lý thực hiện năm 2006cho thấy, lượng đồng thải ra môi trường đất thông qua công đoạn gia công và tẩy rửa
là rất đáng kể, biểu hiện rõ nét ngay bề mặt đất và màu nước Bạc tham gia vào côngđoạn mạ cuối cùng sau khi các sản phẩm thô đã được tảy rửa và tạo bề mặt nhám đểtăng độ bám Bạc không thể bám hết vào bề mặt nhám, lượng dư sẽ theo nước thảingấm vào đất và nguồn nước ngầm Trong số các mẫu đất lấy ở các vị trí khác nhau,
có mẫu hàm lượng Fe, Zn, Ni, CN vượt tiêu chuẩn cho phép Như vậy môi trườngđất ở Lê Lợi bị nhiễm độc ở mức báo động [9]
Bảng 2.13 Hàm lượng tổng số một số kim loại nặng trong
t nông nghi p xã V n Môn đất lượng nước mặt ở một số làng nghề dệt nhuộm ệt Nam ăn và Triều Khúc
+ trao đổi
Cu (mg/
kg)
Zn (mg/kg)
Trang 22Hàm lượng As trong các mẫu đều nằm trong giới hạn cho phép.
Hàm lượng Cd: có 8 mẫu vượt quy chuẩn, chiếm 53,33% Trong đó có mẫu số
7 vượt quy chuẩn gần 4 lần Nguyên nhân là do mẫu này được lấy tại ao nuôi trồngthuỷ sản thuộc thôn Mẫn Xá
Hàm lượng Pb: có 5 mẫu vượt quy chuẩn, chiếm 33,33%
Hàm lượng Cu: có 6 mẫu vượt quy chuẩn, chiếm 40%
Hàm lượng Zn: có 5 mẫu vượt quy chuẩn, chiếm 33,33%
Nhìn chung đất nông nghiệp làng nghề đúc nhôm, chì Văn Môn đã bị ô nhiễmmột số kim loại nặng Hàm lượng As trong đất vẫn chưa ở mức nhiễm bẩn, hàmlượng Cd, Pb, Cu, Zn trong đất tương đối cao, gây ô nhiễm kim loại nặng trong môitrường đất nông nghiệp
2.2.3 Ảnh hưởng của làng nghề tái chế kim loại đến sức khoẻ con người
Việc thu gom rác thải sản xuất cùng rác thải sinh hoạt ở các làng ghề tái chếchưa được triệt để, thường các làng ghề có bãi rác tập trung nhưng bãi rác này khôngđúng tiêu chuẩn vệ sinh, gần khu dân cư, là môi trường thuận lợi tạo ra các ổ dịchbệnh, ruồi, muỗi phát triển, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Số liệu điều tra sứckhỏe của người dân ở một số làng nghề tái chế kim loại dưới đây:
Bảng 2.14 Số liệu điều tra sức khỏe của người dân
Trang 23t i các l ng ngh tái ch kim lo iại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam àng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam ề ở các vùng nông thôn Việt Nam ế kim loại ại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam
lao động
Sức khỏe cộng đồng (tỉ lệ số dân mắc bệnh, %) Bệnh
2 Xuân Tiến, Xuân
Viêm phổi, lao, viêm
khớp
Lao phổi, viêm họng,viêm mũi, viêm khớp,
lao
4 Phước Kiều,
Nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh ở các làng nghề tái chế cao hơn 15 – 23% so vớicác làng nghề không sản xuất Tỷ lệ người dân mắc bệnh về tai mũi họng, mắt, daliễu, thần kinh và hệ tiêu hoá cao Bệnh về đường hô hấp ở trẻ em, phụ khoa ở phụ
nữ chiếm 30 – 45% trên tổng số trẻ em và phụ nữ trong làng Tuổi thọ trung bìnhkhu vực làng nghề này thấp, chỉ từ 55 – 63 tuổi Đặc biệt, tuổi thọ trung bình ở namgiới chỉ từ 50 – 55 tuổi Các bệnh dịch như tiêu chảy, đau mắt đỏ, ngộ độc cũngngày một tăng Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệ người dân mắc bệnh vềthần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm khoảng 65,6% và bịchứng hồng cầu giảm chiếm 19,4% [14]
2.3 Công tác quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề
2.3.1 Công tác quản lý môi trường làng nghề
Trang 24Làng nghề rất đa dạng về loại hình sản xuất và quy mô phát triển, có nhữngđặc thù riêng không giống với các ngành công nghiệp, dịch vụ khác
Tuy nhiên cho đến nay, ở các làng nghề tái chế kim loại nói riêng và các làngnghề nói chung hoàn toàn chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định riêng đốivới vấn đề BVMT làng nghề theo các đặc thù riêng của mỗi loại hình sản xuất làngnghề Các văn bản hướng dẫn hiện hành đều quy định chung cho tất cả các loại hìnhsản xuất kinh doanh, do đó để áp dụng được đối với làng nghề nhiều khi không phùhợp hoặc khó áp dụng
Theo Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Luật BVMT và Nghị định 21/2008/NĐ-CP ngày28/2/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định80/2006/NĐ-CP, mọi đối tượng sản xuất, kinh doanh dịch vụ đều phải lập báo cáođánh giá tác động môi trường hoặc cam kết BVMT (với các dự án đầu tư cơ sở mới)hoặc phải lập đề án BVMT (đối với các cơ sở đang hoạt động) Tuy nhiên, cho đếnnay, hầu như các hộ sản xuất trong các làng nghề vì nhiều lý do khác nhau mà không
có báo cáo tác động môi trường hay đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường Thực tế chothấy, nội dung này rất khó có thể áp dụng được đối với đặc thù làng nghề, do đó cầnthiết phải nghiên cứu, ban hành một hình thức cam kết BVMT với một nội dung đơngiản, gọn nhẹ quy định riêng
Tại một số làng nghề đã phát triển dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn.Kinh phí chi trả cho dịch vụ này được thu trực tiếp từ các hộ sản xuất và hộ dân cưvới mức thu trung bình tương ứng là 10.000 đồng/ hộ/ tháng và 3000 – 5000 đồng/hộ/ tháng Thực tế lượng thu này chưa đủ để chi công cho tổ dịch vụ và trang bị cácdụng cụ thu gom nên đã có nhiều kiến nghị tăng mức phí này lên và tính theo lượngchất thải rắn thải ra để dịch vụ này được tốt hơn và cũng là yếu tố để các hộ phảigiảm lượng thải của mình [1]
Nhìn chung, công tác bảo vệ môi trường làng nghề vẫn còn kém, lý do là chứcnăng, nhiệm vụ và tổ chức quản lý môi trường làng nghề chưa rõ ràng, sự kết hợp
Trang 25giữa các cơ quan quản lý môi trường các cấp còn nhiều hạn chế, thiếu các quy địnhpháp luật đặc thù cho bảo vệ môi trường làng nghề; quy hoạch không gắn với bảo vệmôi trường làng nghề; các loại phí BVMT đối với chất thải còn chưa thu được, xửphạt hành chính chưa được thực hiện nghiêm, công tác kiển tra, quan trắc còn yếukém Bên cạnh đó, nguồn nhân lực, tài chính trong BVMT làng nghề còn thiếu vàchưa phát huy được các nguồn lực xã hội.
2.3.2 Công tác xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề
Các chất thải rắn nguy hại không đựợc các làng nghề xử lý đến nơi đến chốncũng đang là nguồn gây ô nhiễm đất và nước
Ở các làng nghề tái chế giấy thì hầu như chất thải chưa được xử lý triệt để,nước thải và khí thải ô nhiễm vẫn được xả thải ra môi trường gây ảnh hưởng đếnmôi trường sinh thái và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người
Ở các làng nghề tái chế kim loại, khí độc không qua xử lý được thải trực tiếpvào không khí như ở các làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên), nồng độ chìvượt quá 2.600 lần TCCP Nghề thuộc da, làm miến dong ở Hà Tây (cũ) cũngthường xuyên thải ra các chất như bột, da, mỡ làm cho nước nhanh bị hôi thối, ônhiễm nhiều dòng sông chảy qua làng nghề [2]
Việc xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề đối với các làng nghề ở tỉnh BắcNinh đến nay vẫn còn bị bỏ ngỏ và nó là một vấn đề nan giải và chưa được chú trọng
do vấn đề tài chính, nhận thức và sự ủng hộ của địa phương Làng nghề Bắc Ninhnói riêng và làng nghề Việt Nam nói chung đang gặp khó khăn trong công tác xử lývấn đề ô nhiễm do hoạt động sản làng nghề gây nên
PHẦN 3 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 263.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Làng nghề đúc đồng Đại Bái, xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
3.1.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 1/2009 đến tháng 10/2009
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng môi trường và công tác quản lý môi trường ở làngnghề đúc đồng Đại Bái
Đánh giá tình hình quản lý môi trường
Đề xuất một số giải pháp quản lý môi trường tại địa phương
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập tài liệu thứ cấp
Thu thập các số liệu thống kê cấp xã: tình hình sản xuất làng nghề, rác thảisinh hoạt và quản lý môi trường của xã Số liệu khám chữa bệnh tại Trạm Y tế xã
Thu thập các tài liệu liên quan đến làng nghề và môi trường từ sách, báo,internet, tạp chí khoa học kỹ thuật, các đề tài nghiên cứu đã công bố
Thu thập tài liệu sơ cấp
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: nhóm tiến hành điều tra 50 phiếu ở
50 hộ gia đình trong làng Đại Bái Số phiếu được chia về các xóm theo tỉ lệ số dân
và quy mô sản xuất Cụ thể:
- Xóm Ngoài 11 phiếu
- Xóm Sôn 11 phiếu
- Xóm Trại 8 phiếu
- Xóm Tây Giữa 8 phiếu
- Xóm Mới 10 phiếu (điều tra thực trạng rác thải sinh hoạt, do ở đây khôngsản xuất làng nghề)
Trang 27 Khảo sát thực địa, tìm hiểu tình hình sản xuất và chụp ảnh làm tư liệu
3.2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu điều tra được phân tích và xử lý thống kê bằng phần mềm Excel 2003
3.2.2.3 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo.
Sử dụng phương pháp ước lượng chất ô nhiễm phát sinh của tác giả Lê Văn
Nãi trong luận án “Nghiên cứu ứng dụng mô hình khuếch tán ô nhiễm để đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí do các ống khói công nghiệp gây ra” cùng
đặc tính kỹ thuật của than đá để ước tính các chất ô nhiễm trong khí thải từ các lònấu đồng, nhôm
Sau đó, sử dụng công cụ đánh giá nhanh trong tài liệu Assessment of sources
of air, water and land pollution, của World Health Organization (WHO), 1993 để
tính tải lượng chất ô nhiễm trong khí thải từ hoạt động đốt than tại làng nghề
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trang 284.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Đại Bái
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Đại Bái có diện tích tự nhiên 689,38 ha, bao gồm 3 thôn: Ngọc Xuyên,Đoan Bái, Đại Bái Xã nằm về phía Tây Bắc, cách trung tâm huyện Gia Bình 1 km.Với vị trí địa lý như sau:
+ Phía Đông giáp thị trấn Gia Bình và xã Quỳnh Phú
+ Phía Tây giáp huyện Thuận Thành
+ Phía Nam giáp huyện Lương Tài
+ Phía Bắc giáp xã Đông Cứu, xã Lãng Ngâm
4.1.1.2 Khí hậu
Đại Bái mang đầy đủ các đặc trưng của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ, khí hậunhiệt đới gió mùa Thời tiết trong năm chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa hè kéo dài từtháng 5 đến tháng 9, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Mùa đông kéo dài từ tháng 11 đếntháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 23,3°C, nhiệt độ trung bình tháng caonhất là 28,9°C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8°C (tháng 1) Sựchênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,1°C
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1400 - 1600mmnhưng phân bố không đều trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng
10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sauchỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm Độ ẩm tương đối trung bình: 79%
Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1530 - 1776 giờ, trong đó tháng cónhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng trong năm là tháng 1
Độ ẩm trung bình năm khoảng 86% - 89%, ít thay đổi theo các tháng vàthường giao động trong khoảng 80% – 90% Tốc độ gió trung bình là 2m/s và ítchênh lệch trong năm
4.1.1.3 Địa hình, địa chất
Trang 29Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuốngNam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống
và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường
có độ cao phổ biến từ 3 7 m, địa hình trung du đồi núi có độ cao phổ biến 300 400m Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ, ngoài ra còn một số khu vực thấp trũngven đê Đặc điểm địa chất mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất thuộcvùng trũng sông Hồng
-4.1.1.4 Thuỷ văn
Xã Đại Bái có sông Bái Giang chảy qua Với hệ thống sông này nếu biết khai
thác trị thuỷ và điều tiết nước sẽ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tiêu thoátnước của xã Trong khi đó tổng lưu lượng nước mặt của Đại Bái khá dồi dào Cùngvới kết quả thăm dò địa chất cho thấy trữ lượng nước ngầm cũng khá lớn, trung bình400.000 m³/ngày, tầng chứa nước cách mặt đất trung bình 3 - 5 m và có bề dàykhoảng 40 m, chất lượng nước tốt Toàn bộ nguồn nước này có thể khai thác để phục
vụ chung cho cả sản xuất và sinh hoạt của xã, trong đó có các hoạt động của đô thị
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 304.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai
Diện tích tự nhiên của xã là 891.98 ha
B ng 4.1 Di n tích các lo i hình s d ng ệt Nam ại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam ử dụng đất tại xã Đại Bái ụng đất tại xã Đại Bái đất lượng nước mặt ở một số làng nghề dệt nhuộm ại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Namt t i xã Đại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nami Bái
2.5 Diện tích sông suối mặt nước 85,91
2.6 Đất phi nông nghiệp khác 18,47
(Nguồn: UBND xã Đại Bái, 2008)
Điều đáng lo ngại của Bắc Ninh cũng như của Đại Bái là dân số cứ ngày mộttăng lên dẫn đến đất thổ cư cũng ngày một tăng theo, làm giảm diện tích đất nôngnghiệp, diện tích đất chuyên dung, Hiện bình quân đất nông nghiệp của xã chỉ còn491,77 m2/người
4.1.2.2 Tình hình phát triển của các ngành kinh tế
Nông nghiệp
Đại Bái là một xã nông nghiệp, trong những năm gần đây thực hiện CNH –HĐH nông nghiệp nông thôn, cơ cấu cây trồng vật nuôi cũng được thay đổi phù hợpvới điều kiện tự nhiên của xã và yêu cầu của nền kinh tế thị trường
Năm 2008, tổng diện tích gieo cấy toàn xã là 370 ha Năng suất bình quân là58,2 tạ/ha; màu quy thóc đạt 140,8 tạ/ha Chăn nuôi phát triển: đàn lợn có 6000con,
55000 con gia súc – gia cầm, 200 con trâu bò, đây là nguồn thực phẩm dồi dào đểnâng cao đời sống cho nhân dân Năm 2008 tổng sản phẩm nông nghiệp, chăn nuôi
của toàn xã đạt 26 tỷ 844 triệu đồng (Nguồn: Số liệu UBND xã Đại Bái)
Tiểu thủ công nghiệp