1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp xử lý, quan trắc chất lượng nước tại Huyện Hương Khê và Vũ Quang, tỉnh Hà tĩnh

48 413 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Chất Lượng Và Đề Xuất Giải Pháp Xử Lý, Quan Trắc Chất Lượng Nước Tại Huyện Hương Khê Và Vũ Quang, Tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả Đoàn Thế Lợi, Đặng Ngọc Hạnh, Trần Đức Anh
Trường học Học Viện Khoa Học và Công Nghệ
Chuyên ngành Môi Trường
Thể loại Báo Cáo
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp xử lý, quan trắc chất lượng nước tại Huyện Hương Khê và Vũ Quang, tỉnh Hà tĩnh

Trang 1

BÁO CÁO Đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp xử lý,

quan trắc chất lượng nước tại Huyện

Hương Khê và Vũ Quang, tỉnh Hà tĩnh

Nhóm tư vấn thực hiện:

1) Đoàn Thế Lợi, nhóm trưởng

2) Đặng Ngọc Hạnh, thành viên

3) Trần Đức Anh, thành viên

Trang 2

MỤC LỤC

I GIỚI THIỆU, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, KẾT QUẢ MONG ĐỢI VÀ PHƯƠNG PHÁP

THỰC HIỆN 2

1.1 Giới thiệu 2

1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của Nhóm tư vấn 2

1.3 Kết quả mong đợi 2

1.4 Phương pháp thực hiện 2

II TỔNG QUAN VÀ THỰC TRẠNG VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2

2.1 Về kinh tế xã hội 2

2.2 Thực trạng về nguồn nước và sử dụng nước cho ăn uống và sinh hoạt 2

2.3 Về công tác tổ chức thực hiện dự án (làm giếng, bể lọc, nhà vệ sinh) 2

III KẾT QUẢ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC MẪU NƯỚC VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI

PHÁP XỬ LÝ PHÙ HỢP 2

3.1 Về đánh giá chất lượng nước với các mẫu phân tích 2

3.2 Kiến nghị một số giải pháp công trình xử lý nước: 2

3.3 Đề xuất các giải pháp quan trắc chất lượng nước và xử lý ứng phó khi có lũ 2

IV CÁC KIẾN NGHỊ VỀ THIẾT KẾ VÀ THI CÔNG GIẾNG, BỂ LỌC, NHÀ VỆ SINH 2

4.1 Công trình nhà vệ sinh 2

4.2 Về công trình giếng nước và bể lọc 2

4.3 Về tổ chức thực hiện 2

V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 2

Phụ lục 1: Các thông tin chung về mẫu nước lựa chọn để phân tích 2

Phụ lục 2: Bảng tổng hợp kết quả phân tích và đánh giá chất lượng các mẫu nước 2

Phụ lục 3: Kết quả phân tích các mẫu nước 2

Phụ lục 4: Tóm tăt một số thông tin đánh giá nhanh về nguồn nước trong quá

trình khảo sát 2

Phụ lục 5: Bảng câu hỏi thu thập thông tin đánh giá chất lượng nguồn nước tại

huyện Hương Khê và Vũ Quang, tỉnh Hà tĩnh 2

Trang 3

I GIỚI THIỆU, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, KẾT QUẢ MONG ĐỢI

VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 1.1 Giới thiệu

Đầu tháng 10 năm 2010, 2 đợt lũ lớn ( lũ lịch) liên tiếp (từ ngày 1-6/10 và từ 18/10) xảy ra tại 5 tỉnh miền Trung Việt Nam, bao gồm: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Hà Tĩnh là nơi gánh chịu thiệt hại nặng nề nhất, trong đóhuyện Hương Khê và Vũ Quang là hai huyện nghèo của tỉnh Hà Tĩnh bị tàn phá hết sứcnghiêm trọng Lũ lụt đã làm cho ngươi dân vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn, ảnhhưởng lớn đến cuộc sống, sinh hoạt và sản xuất

14-Theo báo cáo của Dự án cứu trợ và Phục hồi Sinh kế sau lũ tại tỉnh Hà Tĩnh doOxfam thực hiện, 15 xã thuộc hai huyện Vũ Quang và Hương Khê đã được Oxfam lựachọn để cứu trợ khẩn cấp và phục hồi sau lũ (7 xã của huyện Hương Khê là Lộc Yên,Hương Thủy, Hoà Hải, Phúc Đồng, Hà Linh, Phương Điền và Phương Mỹ và 8 xã củahuyện Vũ Quang là thị trấn Vũ Quang, Hương Minh, Hương Quang, Hương Thọ, ÂnPhú, Đức Lĩnh, Đức Giang và Đức Liên) Để triển khai tiếp các hoạt động trợ giúp xâydựng nhà vệ sinh, giếng nước theo kế hoạch đã phê duyệt, Nhóm tư vấn thực hiện nhiệm

vụ khảo sát, đánh giá chất lượng nguồn nước, đề xuất giải pháp xử lý và quan trắc chấtlượng nước sinh hoạt của 10 xã theo đề xuất của Oxfam

Để triển khai tốt hoạt động trên, bảo đảm tính khoa học và phù hợp với thực tiễncủa địa phương, Nhóm tư vấn có trách nhiệm khảo sát, đánh giá và đề xuất giải pháp tối

ưu để đạt được mục tiêu của dự án Nhiệm vụ của Nhóm tư vấn đã được nêu trong TOR

và đề cương hoạt động đã được Oxfam chấp thuận Cụ thể là:

1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của Nhóm tư vấn

Mục tiêu 1: Thiết lập cơ sở dữ liệu ban đầu về chất lượng nước sử dụng cho sinh

hoạt trong 10 xã của cả 2 huyện (danh mục các xã xem phụ lục 1)

Mục tiêu 2: Đề xuất các giải pháp cần thiết bao gồm cả khía cạnh vận động chính

sách cho Oxfam và các cơ quan đối tác trong việc cải thiện, giám sát chất lượng nước vàquan trắc trong vùng bị ảnh hưởng lũ

Trang 4

Để đạt được mục tiêu nêu trên, Nhiệm vụ của Nhóm tư vấn đã triển khai các hoạtđộng sau:

+ Từ ngày 13/3/2011 đến ngày 22/3/2011, Nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sátthực tế tại 10 xã của cả 2 huyện

- Làm việc với Ban quản lý dự án Oxfam huyện Vũ Quang và Hương Khê để nắmcác thông tin chung và nghe báo cáo kết quả triển khai thực hiện dự án, các thuận lợi khókhăn Thảo luận kế hoạch và lựa chọn địa điểm khảo sát

- Khảo sát xác định các nội dung thông tin theo đề cương mà tư vấn đã trìnhOxfam

- Lựa chọn điểm lấy mẫu nước; lấy mẫu, lập hồ sơ mẫu (tập trung ở những nơi mànguồn nước có vấn đề theo phản ánh của người dân) Xem xét, đánh giá chất lượng cáccông trình xử lý hiện đang áp dụng ở địa phương, kinh nghiệm xử lý nước và các công tácchuẩn bị phòng tránh lũ của người dân

1.3 Kết quả mong đợi

Theo TOR và đề cương nghiên cứu, Nhóm tư vấn đã đạt được các kết quả chủ yếusau:

Kết quả 1: Báo cáo phân tích chất lượng nước của 5 xã thuộc huyện Hương Khê

và 5 xã thuộc huyện Vũ Quang

Kết quả 2: Đánh giá hồ sơ thiết kế các công trình giếng đào, nhà vệ sinh và

khuyến nghị những giải pháp cần thiết để giúp Ban quản lý Oxfam huyện thực hiện hiệuquả dự án

Kết quả 3 : Trên cơ sở kết quả phân tích mẫu, đề xuất các giải pháp cụ thể để xử

lý và quan trắc chất lượng nước trong các vùng bị ảnh hưởng lũ

Kết quả 4: Tập huấn công tác giám sát cộng đồng Hướng dẫn quản lý, tu sửa

giếng nước và giải pháp ứng phó khi có lũ lụt xảy ra

1.4 Phương pháp thực hiện

Các phương pháp sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu bao gồm:

- Phương pháp thống kê, thu thập tài liệu hiện có,

- Phương pháp thảo luận nhóm,

- Phương pháp có sự tham gia của cộng đồng,

- Phương pháp khảo sát chuyên gia, đo đạc, đánh giá, chụp ảnh hiện trường,

- Phương pháp phân tích chất lượng,

- Phương pháp so sánh, đánh giá, tính toán, thiết kế

Phương pháp thực hiện được mô tả ở khung logic nghiên cứu như sau

Trang 5

Khung logic nghiên cứu:

Đánh giá các mẫu giếng và công trình lọc nước do đơn vị tư vấn thiết kế lập cho Oxfam, kiến nghị các giải pháp chỉnh sửa, bổ sung (nếu có)

Xử lý số liệu, kiến nghị về kế công trình, lập báo cáo, xây dựng tài liệu tập huấn , báo cáo kết quả và tập huấn tại hai huyện

nhân viên đại

diện của Oxfam,

- Thông tin về các loại công trình khai thác, công trình

xử lý tốt, chưa tốt, bị phá huỷ trong lũ

- Quan sát, đánh giá sơ bộ khả năng nguồn nước, chất lượng nước bằng các chỉ số gián tiếp

- Khảo sát đánh giá các công trình xử lý nước do dân tự xây dựng sử dụng lọc cát, tính kỹ thuật, kích thước, vật liệu sử dụng, bảo dưỡng đánh giá khả năng xử lý

- Thiết kế chương trình lấy mẫu, xác định hồ sơ mẫu nước gồm: Ví trí, đặc điểm nguồn nước, khả năng cung ứng, sơ bộ đánh giá chất lượng

Phương pháp

phân tích

- Lấy mẫu, khảo sát đo đạc các chỉ tiêu tại thực địa,

- Bảo quản theo đúng quy định

- Phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước tại phòng thí nghiệm, tập hợp bảng kết quả

- Đánh giá chất lượng, dự báo tác hại do chất lượng nước không đảm bảo, khuyến cáo sử dụng

Trang 6

II TỔNG QUAN VÀ THỰC TRẠNG VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1 Về kinh tế xã hội

a) Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng dự án

+ Huyện Hương Khê: Hương khê là huyện miền núi của Hà tĩnh, phía Tây giáp

Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Đông giáp huyện Cẩm Xuyên và Thạch Hà,phía Bắc giáp huyện Vũ Quang và Can Lộc Địa hình nhiều đồi núi, cao nhất là núi Rào

Cỏ (2.235 m) Sông Ngàn Trươi chảy qua địa bàn xuống đổ vào sông Ngàn Sâu Tổngdiện tích tự nhiên là 1278,09 km², dân số: 107.996 người (tháng 1/2009) gồm các dân tộc:

Thổ, Thái, Kinh,Chứt, nhưng dân tộc Kinh chiếm đa số Hương Khê có 22 đơn vị hànhchính trực thuộc Sản suất nông nghiệp là kế sinh nhai chủ yếu của nhân dân trong huyện.Đất canh tác ít, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, đời sống của đại đa số hộ gia đình còn thấp,

tỷ lệ hộ nghèo còn cao

Huyện Vũ Quang: Vũ Quang là huyện miền núi của Hà tĩnh, cách thành phố HàTĩnh 70 km về phía Tây, có 42 km đường biên giới tiếp giáp với Lào, địa hình nhiều đồinúi đặc biệt có vườn quốc gia Vũ Quang Huyện Vũ Quang có diện tích tự nhiên là62.284 ha, dân số 35.877 người (tháng 1/2009) gồm 12 đơn vị hành chính trực thuộc là

Thị trấn Vũ Quang và các xã: Đức Liên, Đức Hương, Đức Bồng, Đức Lĩnh, Đức Giang,

Ân Phú, Hương Thọ, Hương Minh, Hương Điền, Hương Quang và Sơn Thọ Đất canh tác

ít, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, đời sống của đại đa số hộ gia đình còn thấp, tỷ lệ hộnghèo còn cao

Các xã thuộc diện được Oxfam trợ giúp đều là các xã nghèo trong huyện, Hộnghèo chiếm tỷ lệ rất cao (55,38 % ở huyện Hương Khê và 50,27 % ở Huyện Vũ Quang).Cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, trong khi đất đai lại rất

ít, ở Hương khê bình quân một hộ chỉ đạt 0,34 ha/hộ và ở Vũ Quang là 0,29 ha /hộ Đấtđai ít, chủ yếu là đất trồng màu, tỷ lệ đất canh tác được một vụ lúa rất thấp (Hương khê là

43 % và Vũ Quang là 49 %) Trong năm, chỉ canh tác được một vụ ăn chắc (vụ xuân),còn vụ mùa rất bấp bênh do ngập lũ hàng năm Lũ lụt hàng năm đã gây nhiều khó khăncho bà con nông dân như mất mùa, thiếu lương thực, bệnh tật… (xem Bảng 1)

Bảng 1: Diện tích đất nông nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo

Trang 7

Các xã được dự án hỗ trợ đều nằm trong vùng trũng, sát bờ sông nên thường xuyên

bị ngập lũ Thời gian lũ về thường bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 10, có khi kéodài đến tháng 11 Trung bình mỗi năm có khoảng từ 2-3 đợt lũ, thời gian ngập lũ mỗi đợtthường từ 4-7 ngày Những năm có lũ lớn, lũ lịch sử (như năm 2007, năm 2010 ) khoảng

từ 10 – 15 năm xuất hiện 1 lần, mỗi lần kéo dài từ 5-7 ngày có khi tới 10-15 ngày

c) Những tác động, ảnh hưởng khi lũ, lụt xuất hiện:

Lũ lụt xảy ra hàng năm đã gây ra thiệt hại lớn cho nhân dân trong xã Khi lũ về thìhầu hết các diện tích đất canh tác nông nghiệp bị ngập từ 3-5 ngày đã gây thiệt hại lớncho sản xuất nhất là những năm lũ về sớm phá hoại mùa màng, đặc biệt là hoa màu vụmùa, thậm chí có những năm lũ tiểu mãn lớn gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nôngnghiệp Khi có lũ chính vụ, thường có khoảng từ 35-45% số hộ trong xã bị ngập nước(nước vào ngập nền nhà), nếu có lũ lớn xảy ra thì có đến 70-80% số hộ bị ngập lũ, thậmtrí như xã Phương Điền, Lộc Yên, Hà Linh lũ năm 2010 có tới 90-95% số nhà bị ngập

Lũ lụt tàn phá tài sản của nhân dân và phá hủy hoa màu đã ảnh hưởng trực tiếp tớisản xuất và đời sống của người dân, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, môi trường sinhthái như: mất mùa; trôi nhà cửa, đồ đạc; bệnh dịch bùng phát; môi trường ô nhiễm; cở sở

hạ tầng hư hỏng… Do sống chung với lũ từ nhiều năm nay nên người dân cũng nhưchính quyền địa phương chủ động thực hiện rất tốt công tác phòng chống lũ, góp phầngiảm thiểu các thiệt hai do lũ gây ra Các xã đều xây dựng phương án phòng chống lũ rấtsớm (xong trước tháng 4) Phương án đã đều đề cập các tình huống có thể xảy ra và cáchứng phó như công tác sơ tán và bố trí dân cư về các điểm tập kết Hơn nữa tinh thầnphòng chống lũ của người dân trong vùng rất tốt Trước mùa lũ, họ đã chuẩn bị chu đáocác vật dụng cần thiết cho gia đình như thuyền, bè; sơ tán trâu, bò vật nuôi (gửi nhờ các

hộ ở trên cao) khi có dự báo lũ trước 1 đến 3 ngày .Vì vậy các ảnh hưởng của lũ cũngđược hạn chế, đặc biệt ít xảy ra tổn thất về người

d) Về công tác phòng chống lũ tại địa phương

Chính quyền các cấp rất coi trọng công tác phòng chống lũ và thiên tai, các tổ chứcđoàn thể của địa phương như hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh phối hợp vớichính quyền xây dựng phương án phòng chống lũ lụt Công việc này đã thu hút sự quantâm của hầu hết các thành viên là cán bộ chủ chốt cũng như các đoàn thể ở địa phương

Trang 8

tham gia Khảo sát tại 10 xã vùng lũ, nhóm tư vấn nhận định công tác phòng chống lũđược thực hiện rất nghiêm túc và hiệu quả cụ thể:

- Phương án chống lũ và thiên tai đều được xây dựng xong trước tháng 4 hàngnăm Tổ chức họp phổ biến, triển khai phương án đến tận các thôn, xóm, khu dân cư, các

hộ gia đình đều biết

- Phương án đã đề cập khá chi tiết, đầy đủ các tính huống khi có lũ như :

+ Thiết kế những khu tập kết dân để sơ tán dân (khi cần), các điều kiện sinh hoạtcần thiết nếu lũ xảy ra

+ Các phương án về thông tin liên lạc, thuyền đi lại ở bộ phân chỉ huy (thường ởtrụ sở UBND)

+ Phân công nhiệm vụ cho từng thôn, xóm, đặc biệt là việc xen ghép các hộ thấp

và hộ trên cao đảm bảo tính cộng đồng rất cao khi có lũ xảy ra

+ Bố trí và giao trách nhiệm sơ tán dân, tài sản của từng khu vực cho từng cán bộchủ chốt thôn xóm, đoàn thể cụ thể

+ Kế hoạch triển khai công tác vệ sinh tập thể, sửa chữa khôi phục công trình côngcộng như kênh mương, đường xá nông thôn sau lũ

Đối với từng hộ dân Tuân thủ nghiêm phương án chống lũ của xã, đồng thời xâydựng kế hoạch cho gia đình mình như :

+ Chuẩn bị thuyền, xuồng hoặc bè để sử dụng khi khẩn cấp

+ Chuẩn bị phương án chuyển đồ đạc lên cao và sơ tán trâu, bò, lợn, gà …đến nơi

an toàn khi có thông báo của xã (năm 2010 do lũ qúa lớn và về quá nhanh nên không kịpphản ứng)

Các hộ đã biết lấy cao trình đỉnh lũ của những năm có lũ lớn, lũ lịch sử để làmchạn gác bảo vệ tài sản (như năm 2007, năm 2010) Sau đợt lũ lịch sử năm 2010, nhiều

hộ đang nâng cao chạn, gác để phòng lũ cho những năm tiếp theo Nhờ chuẩn bị chu đáo

để ứng phó với lũ nên đã giảm thiểu được các thiệt hại do lũ gây ra, đặc biệt, rất ít khi cóthiệt hại về người

2.2 Thực trạng về nguồn nước và sử dụng nước cho ăn uống và sinh hoạt

a) Thực trạng về nguồn nước:

Nguồn nước chủ yếu sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt của các xã trong vùng dự

án là nguồn nước ngầm Nước ngầm được các hộ khai thác sử dụng bằng cách đào giếnghoặc khoan giếng và trực tiếp sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt Từ kết quả khảo sát thực

tế và phản ánh của người dân địa phương có thể đánh giá chung là nguồn nước ngầm củakhu vực dự án là tốt, trữ lượng khá phong phú, đáp ứng đủ cho nhu cầu ăn uống và sinhhoạt của người dân trong vùng

Trang 9

Phần lớn các giếng đào có độ sâu khoảng từ 7- 10m nên về mùa khô hạn thườngkhông đủ nước để sử dụng, nhất là năm hạn hán lớn Xu hướng gần đây người dân sửdụng giếng khoan với độ sâu tư 20-25m, có nơi từ 30 - 45m Tuy nhiên sử dụng giếngkhoan xác suất gặp phải mạch nước nhiễm sắt cao hơn.

b) Thực trạng về chất lượng nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt

Theo nhận xét đánh giá chung cán bộ xã, các tổ chức đoàn thể và người dân, chấtlượng nguồn nước ở các xã trong vùng dự án cơ bản tốt, có thể sử dụng để ăn uống vàsinh hoạt Đặc điểm nhận biết về chất lượng nguồn nước tốt xấu, theo kinh nghiệm củangười dân là khi bơm lên nước trong, không có mùi, đem nấu nước chè xanh cho nướcxanh, thơm và uống ngon Khi lấy mẫu ở các giếng nước này đi phân tích thường đáp ứng

đủ điều kiện vệ sinh môi trương theo tiêu chuẩn của Bộ Y Tế Trừ một số giếng khi đàogặp phải mạch nước không tốt, có dấu hiệu ô nhiễm (thường gặp với giếng khoan trên20m) như có mùi tanh, có váng và tạo cặn sau khi bơm lên Nếu nguồn nước bị nhiễm sắtkhi nấu chè xanh cho nước đỏ thẩm, không còn mùi thơm Tuy vậy, các dấu hiệu ô nhiễmnày không nghiêm trọng đến sức khỏe, chỉ cần xử lý thông thường là có thể sử dụng đượcnhư phơi nắng và lọc qua bể lọc cát… Hiện tại các hộ dân cũng đã áp dụng hình thức xử

lý như dùng bể lọc cát v.v nhưng do làm không đúng kỹ thuật nên hiệu quả xử lý nướcchưa tốt (ảnh 2, ảnh 3, ảnh 4, ảnh 5 phụ lục 2)

Dù chất lượng nguồn nước tốt, nhưng tập quán sinh hoạt của dân cư địa phương cóphần ảnh hưởng đến vệ sinh nguồn nước sinh hoạt như các bể chứa nước không có nắpđậy dễ bị nhiễm bẩn và làm chổ để muỗi sinh sản (Ảnh 2 phụ lục 2) hoặc các hộ gia đìnhthường bố trí chuồng trâu bò, gia súc ở phía trước nhà, gần nhà bếp và giếng nước, đây làtập quán không tốt dễ gây ô nhiễm cho nguồn nước Có hộ bố trí giếng nước cách chuồngtrâu chỉ khoảng 3-5m và nguy cơ ô nhiễm vi sinh rất cao

c) Mô tả, đánh giá và dự báo khả năng bị ảnh hưởng bởi chất ô nhiễm khi lũ xảy ra

và các giải pháp nguồn nước và vệ sinh môi trường trong những trường hợp khẩn cấp:

Sống trong vùng thường xuyên xảy ra lũ lụt, các hộ gia đình thường có chuẩn bịdụng cụ tích trữ nước dể dùng khi có lũ xảy ra Trừ khi có lũ lớn kéo dài, hết nguồn nướctích trữ thì các hộ thường dùng thuyền đến lấy nước từ các khe, suối trong núi hoặc lấy

từ các hộ ở trên cao (có giếng không ngập) Đây là kinh nghiệm sống chung với lũ củangười dân địa phương để có nước sạch trong mùa lũ (trừ các hộ không có phương tiệnhoặc lũ qúa lớn, nước chảy mạnh không thể dùng thuyền bè đi lại) Vì vậy việc sử dụngnước ô nhiễm khi lũ xảy ra là ít có khả năng xảy ra Đây cũng là vấn đề cần xem xét khitiến hành các hoạt động cứu trợ

Nhìn chung, sau các trận lũ các giếng nước bị ngập và thường bị ô nhiễm do nước

lũ chảy vào giếng và người dân chưa biết biện pháp phòng chống giếng bị nhiễm bẩn khingập lụt Sau khi lũ rút, các hộ thường phải chờ để thau giếng, xử lý nhiễm trùng mới sửdụng lại Giai đoạn sau lũ nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt rất lớn để vệ sinh môi trường,

Trang 10

nhà cửa Nếu hướng dẫn, phổ biến các biện pháp phòng chống giếng bị nhiễm bẩn khingập lụt phù hợp thì sau khi nước rút là có nước sử dụng ngay mà không phải chờ thaurửa Ví dụ khi mưa lớn có nguy cơ gây ra lũ lụt, chỉ cần hứng nước mưa vào giếng chođến khi đầy miệng giếng, sau đó che kín miệng giếng, khi có lũ tràn qua, nguồn nước bị ônhiễm không thể xâm nhập vào giếng nên có thể sử dụng ngay sau khi nước lũ rút Khi lũrút là có thể lấy nước giếng để sử dụng mà không sợ bị ô nhiễm, mất vệ sinh

Ở các giếng, sau lũ phát hiện nước bị đục do nước lụt tràn vào, thì trước khi dùngnhất thiết phải bơm nước lên bể trữ (đa số các hộ đều có bể trữ nước với khối lượngkhoảng 0,5m3) để lắng trong và xử lý hoá chất Cloramin B theo hướng dẫn của Y tế Các

hộ có bể lọc nên xử lý qua bể lọc trước khi khử trùng

d) Về công trình vệ sinh: Hầu hết các hộ trong xã đều có nhà vệ sinh riêng, nhưngphần lớn là nhà tạm, chưa bảo đảm các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường Trừ một số hộ khágiả hoặc các hộ trước đây đươc tổ chức Danida hỗ trợ xây nhà vệ sinh theo kiểu hai ngăn

là tương đối tốt Qua các đợt lũ, bà con đánh giá tốt về nhà vệ sinh thiết kế theo mẫu hố xí

2 ngăn là rất phù hợp với vùng lũ Khi có lũ dùng đất đắp kín cửa lấy phân và đậy kín nắp

hố thì phân không bị trôi ra ngoài Mẫu thiết kế này trước đây tổ chức Danida đã áp dụngkhi tài trợ xây nhà vệ sinh Qua đợt lũ vừa rồi cơ bản vẫn bảo đảm được vệ sinh và tươngđối bền vững, ít bị hư hỏng và mong muốn được hỗ trợ để mỗi nhà sẽ có một hố xí 2 ngănnày Tuy nhiên để bảo đảm ổn định thì phải bổ sung thêm kết cấu móng (ảnh 6, ảnh 7 phụlục 2)

Sau các đợt lũ, các tổ chức phụ nữ, thanh niên, đều tham gia dọn dẹp nhà cửa,đường xóm, vệ sinh môi trường với tinh thần trách nhiệm cao, đây là truyền thống tốt,cần phát huy

e) Hiện trạng về các giếng nước đang sử dụng

- Giếng đào có đường kính khoảng từ 0,7-1,2m; thành giếng được đúc bằng cácống bê tông, trừ các giếng đào từ hàng chục năm trước đây (khoảng 10-15 năm) thìthường là giếng đất, phía gần mặt đất trở lên thành giếng được xây bằng gạch khoảng 1m.Tuy nhiên, qua nhiều lần ngập lũ về cơ bản các giếng vẫn tồn tại, chỉ rất ít giếng bị sạt lở,trôi vì có luồng cát, nước xoáy (Ảnh 8, ảnh 9) Khảo sát các giếng đào trong khu vựccho thấy rằng, địa chất ở khu vực tương đối tốt, giếng đào sâu tới 7-8m không cần thànhgiếng mà vẫn tồn tại hàng chục năm nay Các hộ đào giếng sau này thường dùng ống bilàm thành giếng để bảo đảm vệ sinh nguồn nước, ngăn không cho nước mặt thấm vàogiếng Kinh nghiệm đào giếng thường thực hiện vào mùa khô, khi đó nền đất cứng ổnđịnh hơn, và nếu trong mùa khô giếng đủ nước là đảm bảo đủ cấp nước quanh năm

- Giếng khoan: Trong những năm gần đây, một số hộ đã sử dụng giếng khoan.Giếng khoan thường do thợ khoan giếng vì họ có phương tiện, kinh nghiệm Hơn nữa họ

có kinh nghiệm phát hiện nguồn nước ngầm Tuy nhiên giếng khoan có xác suất gặp nướcnhiễm sắt nhiều hơn

Trang 11

f) Về các công trình xử lý nước Phần lớn các hộ có nguồn nước khá tốt, nên sửdụng ngay sau khi bơm lên do đó cũng không cần có công trình xử lý nước Thôngthường nước bơm vào bể chứa, rồi sử dụng cho nấu ăn và sinh hoạt Trừ một số giếng bịnhiễm sắt có mùi tanh, nước đục hoặc nước bơm lên để có váng, ngả màu vàng thì mới

xử lý trước khi sử dụng Phương pháp xử lý thông dụng hiện nay là lọc bằng bể cát vàphơi nắng trước khi sử dụng Các bể lọc cát thường làm theo tập quán và hầu hết khôngđúng kỹ thuật nên chất lượng xử lý nước chưa tốt

Trong quá trình khảo sát, nhóm tư vấn thấy hộ nhà chị Hằng, Anh Thành (xóm 8,

xã Hà Linh, số điện thoại 0393874402) xây dựng làm bể lọc tương đối tốt, dù nước bịnhiễm sắt nhưng sau khi lọc bằng cảm quan và trải nghiệm của gia đình là rất tốt (Ảnh 10phụ lục 2) Hỏi gia đình về cách làm, gia đình cho biết họ học cách xử lý nước thông quađọc báo Nếu làm các bể lọc đúng kỹ thuật thì có thể xử lý được cả nước mặt, nước lũđọng lại trong các giếng để sử dụng mà không cần phải chờ thau rửa Nếu có hướng dẫn

kỹ thuật lọc nước thì hiệu quả và khả năng áp dụng vào thực tế rất cao bởi vì đại đa sốngười dân rất quan tâm đến chất lượng nước sinh hoạt (Ảnh 3, ảnh 4, ảnh 5 phụ lục 2)

Hơn nữa với phương pháp lọc thông thường (lọc cát), thì các loại vật liệu lọc nhưcát, sỏi rất sẵn có ở địa phương, có thể lấy trực tiếp dưới sông, suối, về để dùng

2.3 Về công tác tổ chức thực hiện dự án (làm giếng, bể lọc, nhà vệ sinh)

a) Đối với Ban quản lý dự án Oxfam huyện

Ban quản lý dự án Oxfam huyện đã tổ chức triển khai các công việc của dự án nhưsau :

- Tổ chức họp với lãnh đạo các xã, Ban cứu trợ xã để phổ biến tiêu chi lựa chọn hộđược hưởng trợ giúp trong đợt này Tổ chức họp dân để bình bầu dân chủ công khai theocác tiêu chí đã được thống nhất

- Tổ chức lập hồ sơ thiết kế và dự toán nhà vệ sinh, giếng nước

- Thảo luận và quyết định phướng án tổ chức triển khai xây dựng nhà vệ sinh vàgiếng nước

Nhìn chung các hộ được nhận trợ giúp đều đúng đối tượng, nên không xảy ra thắcmắc, khiếu kiện Việc quyết định lựa chọn nhà thầu để xây dựng nhà vệ sinh và khoangiếng cho bảo đảm tiến độ và yêu cầu kỹ thuật là phù hợp Giao các hộ dân tự tổ chức đàogiếng (giếng khơi) là hợp lý để bảo đảm tiến độ Khi hoàn thành công trình bảo đảm chấtlượng, Ban quản lý dự án huyện sẽ trực tiếp nghiệm thu và thanh toán

b) Đối với Chính quyền xã, thôn và Ban cứu trợ xã

Ban cứu trợ xã thường do chủ tịch hoặc phó chủ tịch trực tiếp chỉ đạo, cùng với sựtham gia của các tổ chức xã hội như phụ nữ, cựu chiến binh… Các thành viên trong nhiệttình tham gia các hoạt động của Ban, như:

Trang 12

- Xác định các đối tượng theo tiêu chí nghèo, bị thiệt hại trong lũ Công khai mức

hỗ trợ (giếng khoảng 2 triệu đ/giếng; Nhà vệ sinh 4 triệu đồng/ cái, bể lọc 1 triệu / bể)

- Phân số lượng công trình cho các các thôn theo tỷ lệ hộ nghèo trong thôn

- Các hộ đăng ký loại công trình cần thiết (giếng, bể lọc hoặc nhà vệ sinh) Bancứu trợ xã phối hợp với lãnh đạo, đoàn thể các thôn tổ chức họp và bắt thăm để xác địnhdanh sách các hộ được hỗ trợ với từng loại công trình (trừ các hộ đã được Danida hỗ trợthì không được hỗ trợ lần này)

- Các hộ viết cam kết phối hợp thực hiện và bố trí đủ vốn đối ứng để hoàn thànhcông trình, nhất là giếng khoan Tuy nhiên, đối với những hộ khó khăn, hộ hoàn cảnh giađình già yếu mặc dù đã cam kết, nhưng tính khả thi cũng không cao, vì họ không có tiền

c) Một số vấn đề phát sinh cần nghiên cứu xem xét:

- Dù các hộ rất phấn khởi với sự giúp đỡ của Oxfam, nhưng họ cho rằng mức hỗtrợ chưa thật phù hợp giữa các công trình khác nhau Chẳng hạn nhà vệ sinh với mức hỗtrợ (200 USD, khoảng 4,2 triệu), mức này là tương đối đủ để xây dựng công trình mà hộhưởng lợi không cần đóng góp thêm; nhưng với giếng với mức hộ trợ (100 USD, khoảng2,1 triệu đồng) thì hộ hưởng lợi phải đóng góp thêm khá nhiều Theo các hộ dân cho biết,

để làm một giếng khoan hoàn chỉnh với độ sâu từ 25-30m có giá khoảng 3,5 triệu, nhưvậy gia đình phải đóng góp thêm 1,5 triệu Nếu làm 1 giếng đào hoàn chỉnh (phải thuê thợđào) theo mẫu thiết kế với độ sâu 15-20m thì giá thành trong khoảng 5-7 triệu đ/giếng thìmức đóng góp còn cao hơn Mức đóng góp này đối với hộ nghèo trong giai đoạn này(trong mùa giáp hạt) là khó thực hiện nhất là hộ già yếu, neo đơn Nếu điều chỉnh mức hộtrợ theo hướng bù trừ cho nhau giữa nhà vệ sinh và giếng nước (bình quân 150 USD/côngtrình) thì có lẽ sẽ tốt hơn

Trong quá trình xem xét lựa chọn các hộ được trợ giúp, Ban quản lý xã vẫn dựavào bình bầu của bà con (theo tiêu chi của Huyện) mà chưa xem xét kỹ điều kiện củatừng hộ, những thuận lợi, khó khăn và mong muốn cụ thể của từng hộ nên vẫn còn cónhững bất hợp lý, ví dụ hộ ông Nguyễn Đình Chính1 xóm 9 -Hà Linh hiện đã có giếng sâu

12 m mà vẫn trong diện được hỗ làm giếng, trong khi bể lọc chưa có, nhà chị Phan thịHồng xóm 8 - Hà Linh hộ nằm ở vùng thấp đang thuộc diện di chuyển lên vùng cao

III KẾT QUẢ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC MẪU NƯỚC VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI

PHÁP XỬ LÝ PHÙ HỢP 3.1 Về đánh giá chất lượng nước với các mẫu phân tích

a) Phương pháp đánh giá: Đánh giá chất lượng nước dựa vào kết quả phân tích ởphòng thí nghiệm do Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Hà tĩnh (theo chỉ tiêu của Bộ y tế) vàtheo kinh nghiệm thực tế ở địa phương đối với nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt

b) Đánh giá chung về chất lượng nước ở các xã thuộc dự án:

Từ kết quả phân tích mẫu nước và thực tế khảo sát kiểm tra tại xã có thể rút ra cácđánh giá như sau:

1 Hiện tại đã có giếng sâu 12m, thành xây gach tư cốt -1 đến +0,7 Gia đình dự kiên sử dụng tiền hỗ trợ để đào sâu thêm 3m và bỏ bi Theo kinh nghiệm, giếng đang sử dụng tốt trong 5 hoặc 10 năm nữa Tuy nhiên chưa có bể lọc, nếu làm bể lọc sẽ hiệu quả hơn.

Trang 13

1) Nhìn chung chất lượng nguồn nước sử dụng hiện nay là tương đối tốt, đảm bảocác yêu cầu vệ sinh để sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt

2) Về trữ lượng nguồn khá dồi dào, đáp ứng đủ yêu cầu của nhân dân Chỉ trừnhững năm có hạn nghiêm trọng, các giếng đào nông mới bị thiếu nước

3) Một số mẩu nước chưa đạt yêu cầu về chất lượng Các chỉ tiêu chưa đạt chủ yếu

là hàm lượng sắt, độ đục, độ pH; những nơi nước có nhiều sắt (nước ngả màu vàng rõ rệt,làm vàng thành bể ) Tuy nhiên mức độ ô nhiễm này không nghiêm trọng mà chỉ cần sửdụng các biện pháp xử lý thông thường là sử dụng được Ví dụ nếu nước vẫn đục, hoặc cóhàm lượng sắt cao chỉ cần xử lý bằng bể lọc cát (lọc chậm) Và đặc biệt lưu ý đến chiềudày lớp cát lọc cho phù hợp với từng giếng Qua kiểm tra thực tế, kết hợp kinh nghiệm xử

lý nước, thông thường chều dày lớp vật liệu lọc khoảng 50-70cm là đạt tiêu chuẩn (trong

đó sỏi 10-20 cm; cát 40-50cm)

5) Trong số các mẫu nước phân tích, có một mẩu bị nhiễm vi sinh Nguyên nhân

do giếng đào gần chuồng bò (cách chuồng bò khoảng 3m) Đây là vấn đề cần lưu ý khihướng dẫn người dân lựa chọn ví trí đào giếng và quản lý bảo quản giếng trong quá trình

sử dụng Tuyệt đối không bố trí giếng ở gần các nơi ô nhiễm, bẩn thỉu, thấp trũng nhưchuồng chăn nuôi gia súc, nơi chưa nước tù đọng…làm ô nhiễm nguồn nước giếng Khiphát hiện nuớc bị nhiễm vi sinh phải đun sôi trước khi uống (Chi tiết xem phụ lục 1)

3.2 Kiến nghị một số giải pháp công trình xử lý nước:

Căn cứ kết quả khảo sát và kết quả phân tích một số mẫu nước của các xã thuộchuyện Hương Khê và Vũ Quang kết hợp với kinh nghiệm thực tế về xử lý nước ở Việtnam, Nhóm tư vấn đề xuất một số phương pháp xử lý nước bị ô nhiễm như sau:

a) Phương pháp lọc chậm

Phương pháp này áp dụng cho những hộ mà nguồn nước bị nhiễm sắt, có mùitanh, có váng màu vàng và nước đục, cấu tạo bể lọc (xem hình 1) Hệ thống lọc gồm 2phần, phần lọc và phần chứa Các giếng có mùi tanh cần xử lý theo phương pháp này

+ Phần lọc là một ống bê tông đường kính trong 50-60 cm Bên trong rải các lớpvật liệu lọc gồm: Lớp trên cùng là lớp cát, có chiều dày khoảng 45-65 cm, căn cứ vàochất lượng nước sau khi lọc có thể tăng hoặc giảm bớt chiều dày lớp cát lọc cho phù hợp.Cát lấy từ sông Ngàn Sâu về cần sàng loại bỏ các tạp chất trước khi sử dụng Lớp tiếptheo là sỏi nhỏ có chiều dày khoảng 10-15 cm Ở những nơi có điều kiện có thể bố tríthêm một lớp than củi xen giữa lớp cát và sỏi dày 10-15 cm Sỏi lấy từ sông, suối về đượcrửa sạch và loại bỏ các tạp chất trước khi cho vào bể lọc Ở những hộ có nồng độ sắt caokhi đưa vào bể lọc nên cho chảy qua vòi hoa sen để tăng tốc độ ôxi hóa của sắt như hình

2

Hình 1 Sơ đồ lọc chậm áp dụng tại huyện Vũ Quang

Trang 14

Hình 2.

+ Phần bể chứa dùng để chứa nước sau khi lọc Bể chứa đựơc đúc bằng bê tôngnhư bản vẽ

Trang 15

Các hộ đã có bể lọc nhưng làm chưa đúng kỷ thuật có thể tham khảo kết cấu này để điều chỉnh lại cho phù hợp.

b) Phương pháp lọc nhanh

Trong mùa lũ, khi các giếng nước và các bể lọc đều bị ngập mà không thể tiếp cậnđược với các nguồn nước sạch khác có thể vận dụng một số phương pháp lọc nước đơngiản như sau để có nước sử dụng

Lọc bằng xô chậu:

+ Chuẩn bị dụng cụ:

- Xô nhựa hoặc xô tôn

-Vòi nước (vòi nhựa hoặc bằng ống tre tự tạo)

- Cát , sỏi

+ Cách làm:

-Đục lỗ gần dưới đáy xô để lắp vòi nước

-Vặn chặt vòi, nếu vòi tre thì có thể lấy đất sét để trám kín

-Đổ lớp sỏi có đường kính hạt từ 5 – 10mm, dày từ 25- 5cm phía dưới đáy xôthùng, sau đó đổ tiếp lớp cát đường kính 0,15 - 0,35mm dày khoảng 15 – 20cmlên trên lớp sỏi

+ Cách sử dụng:

- Đổ nước nguồn vào xô (thùng) đã chứa đủ vật liệu lọc như trên hình vẽ để nướcchảy qua vòi hứng nước để dùng

- Khi nước chảy ra khỏi vòi là nước trong thì có thể dùng cho sinh hoạt

- Nếu nước chảy ra chưa trong thì cần lọc lại lần nữa

Phương pháp này áp dụng trong trường hợp khẩn cấp như trong lúc ngập lũ, sau

lũ khi mà chưa khôi phục được các công trình lọc chậm của hộ gia đình

 L c b ng bình l c ọc bằng bình lọc ằng bình lọc ọc bằng bình lọc

Vật liệu

1- Xô chứa 2- Lớp cát lọc

3 - Lớp sỏi lọc.

4- Vòi nước (có thể làm bằng tre hoặc trúc).

5- Chậu chứa nước đã lọc.

Trang 16

+ Vật liệu làm bình lọc

- Xô nhựa hoặc thùng dung tích tùy ý.

- Vỏ chai nước khoáng (vỏ nhựa PET)

- Bông sợi hoặc vải xô

- Than củi hoặc than gáo dừa (tốt nhất là than hoạt

- Đục thủng nắp chai để cắm ống nhựa dẻo để cho

nước chảy ra

- Bỏ vật liệu lọc như hình vẽ

3.3 Đề xuất các giải pháp quan trắc chất lượng nước và xử lý ứng phó khi có lũ

1 Trước khi lấy nước sử dụng cần phải được kiểm tra kỹ Theo kinh nghiệm, nướcđược coi là sạch khi nó không có màu, không mùi, không vị Trong suốt, không vẩn đục,không có tạp chất lạ lắng đọng và không có vi trùng và các chất gây bệnh Các nguồnbơm lên có màu vàng, bị vẫn đục nhất thiết phải xử lý trước khi sử dụng như lọc cát(theo hướng dẫn) Trước khi uống phải đun sôi

2 Khí có lũ về cần bịt kín miệng giếng để tránh nguồn nước nhiễm bẩn chảy vào.Mỗi hộ nên may sẵn tấm bịt miệng giếng bằng tấm vải bạt dứa, có rút dây thừng hoặc dâychun để thuận lợi trong triển khai nhanh công tác bịt giếng (không dùng vải mưa, ninon

để vì dễ bị bung khi nước ngấm vào giếng do không khí không thoát được)

3 Để không cho nước ô nhiễm chảy vào giếng, khi có lũ nên hứng nước mưa chođầy miệng giếng (hứng từ mái nhà, hoặc làm bạt hứng, trừ mái nhà lợp bằng tấmproximăng) sau đó bịt kín miệng giếng Phương pháp này rất đơn giản hiệu quả, dể thựchiện

Đối với giếng khoan, phần ống nhựa giếng nhô lên khỏi mặt đất phải bịt kín ốnggiếng và đóng cọc định vị xung quanh để ngăn các vật trôi nổi va chạm vào ống làm gẫyống

4 Các bể lọc nước cần bịt kín phần miệng Những vị trí có khả năng có dòng nước

lũ chảy mạnh, dòng nước xoáy cần phải chằng, chống tránh bị trôi

5 Các hộ gia đình cần chuẩn bị sẵn các phương tiện, công cụ trước mùa lũ để ứngphó khí lũ về, như:

- Chuẩn bị các dụng cụ trữ nước như can, xô chậu… và các dụng cụ hứng nướcmưa để ăn uống, sinh hoạt trong những ngày ngập lũ

Trang 17

- Chuẩn bị các vật tư vật liệu để xử lý nước như xô chậu, phèn chua, thuôc sáttrùng, các tấm bịt miệng giếng, bể lọc.…

6 Sau lũ cần xử lý nước giếng theo hướng dẫn của ngành y tế Mỗi gia đình nênxây một bể lọc như đề xuất ở trên để chủ động nguồn nước sử dụng

IV CÁC KIẾN NGHỊ VỀ THIẾT KẾ VÀ THI CÔNG GIẾNG,

BỂ LỌC, NHÀ VỆ SINH 4.1 Công trình nhà vệ sinh

- Mẫu thiết kế do Ban quản lý dự án huyện đề xuất cơ bản đáp ứng các yêu cầu kỹthuật Tuy nhiên kết cấu móng là chưa phù hợp do không có móng, khi có lũ dễ bị trôihoặc đổ Đề nghị bổ sung kết cấu móng Nhóm tư vấn đã đề xuất sửa đổi thiết kế và Banquản lý dự án đã tiếp thu và đã chỉnh sửa lại thiết kế;

- Địa điểm/thiết kế xây dựng công trình phải đảm bảo về vệ sinh môi trường,nhưng cũng nên tạo điều kiện thuận lợi, dễ tiếp cận cho người sử dụng, đặc biệt là phụ

nữ, trẻ em và người cao tuổi;

- Để đảm bảo công trình xây dựng có chất lượng tốt, cần huy động sự tham giagiám sát của cộng đồng bằng cách tập huấn hướng dẫn cho họ biết về kết cấu, chủng loạivật tư xi măng, gạch, cát đá … Tổ tư vấn đã soạn thảo tài liệu hướng dẫn giám sát cộngđồng và đã lồng ghép tập huấn giám sát cộng đồng trong hội thảo phổ biến kết quả nghiêncứu nguồn nước Phương pháp/tài liệu giám sát này nên được áp dụng rộng rãi hơn nữatrong vùng có dự án;

- Do thời gian thi công hạn hẹp, nên việc thi công các công trình phải được tiếnhành đồng loạt tại tất cả các xã mục tiêu;

- Tăng cường vai trò của Ban cứu trợ xã và sự phối hợp của cán bộ Oxfam trongkiểm tra, hướng dẫn giám sát, kiểm tra chất lượng, đối với hộ hưởng lợi trực tiếp và nhàthầu

4.2 Về công trình giếng nước và bể lọc

- Cần lựa chọn vị trí đào giếng thích hợp, không đào giếng gần nguồn gây ô nhiễmnhư chuồng, trại chăn nuôi gia súc, các vị trí tù, đọng nước…

- Để tránh nước bẩn ngấm xuống giếng, nền giếng nên đổ bê tông

- Đối với các giếng đào, hàng năm cần kiểm tra rò rỉ giữa các ống giếng

- Đối với bể lọc, sau khi góp ý với BQLDA Oxfam huyện Vũ Quang, thiết kế đãđược điều chỉnh cho phù hợp, nhưng kinh phí xây dựng cho từng bể lọc không thay đổi

(xem hình 1 & 2 trang 14 và ảnh minh họa ở phần cuối báo cáo này).

Trang 18

4.3 Về tổ chức thực hiện

- Với các hộ tự đào giếng, cần khuyến cáo quy trình và biện pháp đào để bảo đảm

an toàn trong quá trình đào Nhất là các hộ cải tạo, sửa chữa… tránh sụt, sạt, lở đất gâynguy hiểm đên tính mạng người đào

- Một số hộ quá nghèo, không có khả năng đóng góp kinh phí, chính quyền xãhoặc các tổ chức đoàn thể tìm cách trợ giúp như cho vay trả dần…

- Báo cáo của nhóm tư vấn đã giúp ích tốt cho Ban quản lý dự án huyện, Ban cứutrợ xã triển khai thực hiện tốt các nội dung của dự án Bảo đảm công trình do Oxfam tàitrợ phát huy hiệu quả tốt, thiết thực phục vụ lợi ích của người nghèo và phù hợp với đặcđiểm sinh hoạt của nhân dân Kết quả thực hiện dự án là mẫu hình tốt để nhân rộng ra các

hộ khác (ngoài các hộ được trợ giúp) và các thôn xã khác trong huyện

Kiến nghị: Đề nghị Oxfam tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát để đôn đốc

các Ban quản lý dự án huyện hoàn thành đúng tiến độ

Đề nghi Ban quản lý dự án huyện nghiên cứu giải pháp hỗ trợ những hộ quá nghèokhông đủ khả năng đóng góp thêm chi phí xây dựng công trình (giếng nước)

Nhóm chuyên gia xin cảm ơn sự hợp tác, phối hợp với tinh thần trách nhiệm caocủa các cán bộ thuộc tổ chức Oxfam, các Ban quản lý dự án huyện, lãnh đạo chính quyền,các tổ chức xã hội và bà con nhân dân các xã trong vùng dự án tham gia giúp đỡ, cungcấp thông tin cho Nhóm tư vấn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ

Thay mặt nhóm tư vấn

Đoàn Thế Lợi

Trang 19

Phụ lục 1:

Các thông tin chung về mẫu nước lựa chọn để phân tích

a) Các mẫu tại huyện Hương Khê

PhươngMỹ

Đại diện cho hầu hết các giếng đào, qua đêm mặt giếng có váng và có mùi hơi tanh

2 11 Phạm Văn

Bảy

Xóm 1 Phương

Điền

Đại diện các giếng đào các thôn 1, 2, 3 nước bơm lên

để ngả màu vàng, có váng trên mặt, chất lượng cảm nhận là chưa tốt

3 12 Lê văn Hải xóm 10 Phương

Điền

Đại diện cho nước giếng khơi dưới chân đồi, thấp, mạch ngang, khi mưa nước đục, mực nước dâng lên gần mặt đất, nước lúc lấy mẫu nhìn hơi đục

60-5 14 Nguyễn

Văn Kính

Tân Đình

Lộc Yên

Đại diện giếng đào có độ sâu từ 8-12m hiện đang sử dụng để ăn uống

30 hộ sử dụng giếng này để ăn uống và sinh hoạt

Đức Liên

Đại diện cho hầu hết nước giếng khoan, giếng đào bơm lên có váng, mùi hơi tanh

Hoà

Đức Liên

Nước giếng đào, giếng khoan có biểu hiện váng và cómùi hơi tanh sau xử lý lọc cát chưa đúng kỹ thuật thờigian loc 5 phút, độ sâu tầng cát sỏi lọc 30cm

3 5 Nguyễn Văn

Bường

Thôn 10

HươngThọ

Đại diện cho nước giếng khơi gần chuồng trại gia súc,nhưng cảm quan chất lượng cũng là tốt

4 6 Trần Đình

Đàn

Thôn 11

HươngThọ

Nước giếng sau lọc cát sỏi 30cm, chưa đúng kỹ thuật,cảm quan chưa đảm bảo

5 7 Nguyễn Thị

Quế

Xóm 2 Ân Phú Đại diện giếng đào sâu từ 8-12m (phổ biến ở các thôn

1, 2, 3) Nước hơi đục, chưa tốt

Trang 20

Phụ lục 2:

Bảng tổng hợp kết quả phân tích và đánh giá chất lượng các mẫu nước

I Tại Huyện Hương Khê

TT Tên hộ, thôn xã, nguồn

tanh (mẫu này có số

lượng nhiều nhất trong

vùng)

- Có 16/18 chỉ tiêu đạt yêu cầu

- 2/18 chỉ tiêu chưađạt, tuy nhiên đều

là các chỉ tiêu dễ xửlý

Các chỉ tiêu khôngđạt ít tác động tớisức khoẻ Khi sửdụng để nấu ăn dễ bịmất mùi thực phẩmnhư mất mùi chè

- Nên lắng và phơinắng trước khi sửdụng

- Tốt nhất nên lọcqua bể lọc chậm như

đề xuất của tư vấn)trước khi sử dụng

2 Phạm văn Bảy, Xóm 1,

Xã Phương Điền Đại

diện nước giếng đào

nước bơm lên để ngả

màu vàng, có váng trên

mặt

- Có 16/18 chỉ tiêu đạt yêu cầu

- 2/18 chỉ tiêu chưađạt là sắt và mùi dễ

xử lý

- 2 chỉ tiêu vi sinhđạt nhưng ở mứchơi cao

Các chỉ tiêu khôngđạt ít tác động tớisức khoẻ, sử dụng

để nấu ăn dễ bị mấtmùi thực phẩm nhưmất mùi chè

- Nên lọc qua bể lọcchậm (như đề xuấtcủa tư vấn) trước khi

sử dụng

- Nên khử trùng bằng Cloramin B hoặc đun sôi trước khi uống

3 Lê văn Hải, xóm 10, xã

Phương Điền; Đại diện

cho nước giếng khơi

dưới chân đồi, thấp,

mạch ngang, khi mưa

nước đục, mực nước

dâng lên gần mặt đất

- Có 17/18 chỉ tiêu đạt yêu cầu

- 1/18 chỉ tiêu chưađạt nhưng đó làmàu sắc dễ xử lý

- Có vi sinh

Các chỉ tiêu khôngđạt ít tác động tớisức khoẻ Cảm giác

sử dụng chưa thực

sự yên tâm

- Nên lọc qua bể lọcchậm (như đề xuấtcủa tư vấn ) trướckhi sử dụng

- Đun sôi trước khiuống

- 1/18 chỉ tiêu chưađạt (hàm lượng sắthơi cao hơn mứcbình thường )

Chỉ tiêu không đạtkhông tác động tớisức khoẻ

Nên chỉnh sửa bể lọc theo mẫu của tư vấn đề xuất

5 Nguyễn Văn Kính,

Xóm Tân Đình, Xã

Lộc Yên (Là nguồn

- Có 14/18 chỉ tiêu đạt yêu cầu

- 4/18 chỉ tiêu chưa

Chỉ tiêu không đạtkhông tác động tớisức khoẻ Sử dụng

- Nên lọc qua bể lọcchậm (như đề xuấtcủa tư vấn) trước khi

Trang 21

chủ yếu trong xã) đạt là màu sắc, mùi

vị, độ đục và sắt

để nấu ăn dễ bị mấtmùi thực phẩm nhưmất mùi chè

- 2/18 chỉ tiêu chưa đạt, màu sắc và sắt

dễ xử lý Vẫn có dấu hiệu của vi sinh

Các chỉ tiêu khôngđạt ít tác động tớisức khoẻ Cảm giác

sử dụng chưa thực

sự yên tâm

- Cần lắng và xử lý

vi khuẩn bằngCloraminB

- Đun sôi trướcuống

7 Nguyễn Tuấn Huế,

Xóm 2, Xã Phúc Đồng;

Đại diện cho các giếng

khơi, giếng đào phổ

biến đang được sử

dụng ở trong xã có độ

sâu từ 8-14m

- Có 15/18 chỉ tiêu đạt yêu cầu

- 3/18 chỉ tiêu chưađạt gồm màu sắc,

độ đục, mùi vị, vàhàm lượng sắt

Cảm giác nướckhông ngon sửdụng để nấu ăn dễ bịmất mùi thực phẩmnhư mất mùi chè

- Nên lắng và phơinắng trước khi sửdụng

- Tốt nhất nên lọcqua bể lọc chậm như

đề xuất của tư vấn)trước khi sử dụng

II Huy n V Quang ện Vũ Quang ũ Quang

giếng khoan, giếng

đào bơm lên có

váng, mùi hơi tanh

- Có 15/18 chỉ tiêu đạt yêu cầu

- 3/18 chỉ tiêu chưađạt gồm pH, mùi vị

và sắt

Các chỉ tiêu khôngđạt ít tác động tớisức khoẻ; Sử dụng

để nấu ăn dễ bị mấtmùi thực phẩm nhưmất mùi chè

Nên lọc qua bể lọcchậm (như đề xuấtcủa tư vấn ) trước khi

sử dụng

2

Phan Hữu Toàn,

Thôn Liên Hoà, Xã

Đức Liên; Nước

giếng đào, giếng

khoan có biểu hiện

- 2/18 chỉ tiêu chưa đạt là Nitrat (NO3-)

và, mùi tanh

Các chỉ tiêu khôngđạt ít tác động tớisức khoẻ

Nên sửa lại bể lọc(như đề xuất của tưvấn )

Bường, xóm 10, xã

Hương Thọ; Nguồn

- Có 16/18 chỉ tiêu đạt yêu cầu

- 2/18 chỉ tiêu chưa

Dễ gây ra các bệnhđường ruột; Sửdụng để nấu ăn dễ

- Nên lọc qua bể lọcchậm (như đề xuấtcủa tư vấn) kết hợp

Trang 22

3 chuồng trại gia xúc

(3m)

đạt là Nitrat (NO3-)

và, mùi tanh

- Nhiễm vi sinh(Biểu hiện rất rõ về

vi khuẩn )

phẩm như mất mùichè

phơi năng trước khi

sử dụng

- Nên khử trùng bằngCloramin B hoặc đunsôi trước khi uống

- 3/18 tiêu chuẩnchưa đạt, màu sắc,mùi vị, và hàmlượng sắt

Các chỉ tiêu khôngđạt ít tác động tớisức khoẻ; Sử dụng

để nấu ăn dễ bị mấtmùi thực phẩm nhưmất mùi chè

Nên sửa lại bể lọc(như đề xuất của tưvấn)

- 4/18 chỉ tiêu chưa đạt màu sắc, độ đục,mùi vị, sắt

- Có dấu hiệu nhiễm

vi sinh

Dễ gây ra các bệnhđường ruột; Sửdụng để nấu ăn dễ

bị mất mùi thựcphẩm như mất mùichè

- Nên lọc qua bể lọcchậm (như đề xuấtcủa tư vấn ) trước khi

sử dụng

- Nên khử trùng bằngCloramin B hoặc đunsôi trước khi uống

- 1/18 chỉ tiêu không đạt đó là Nitrat (NO3-)

Sử dụng tốt - Chú ý giữ vệ sinh

và thường xuyên và thay cát lọc

- 4/18 chỉ tiêu chưa đạt, màu sắc, độ đục, mùi vị, sắt

Các chỉ tiêu khôngđạt không ảnhhướng lớn tới sứckhoẻ Sử dụng đểnấu ăn dễ bị mấtmùi thực phẩm nhưmất mùi chè dohàm lượng sắt cao

- Nên lọc qua bể lọcchậm (như đề xuấtcủa tư vấn ) trước khi

- 3/18 chỉ tiêu chưađạt là màu sắc,Nitrat (NO3-) và sắt(nhưng ở mức thấp)

- Có dấu hiệu của vikhuẩn

Các chỉ tiêu khôngđạt không ảnhhướng lớn tới sứckhoẻ

- Để lắng trong bểtrong bể chứa trướckhi sử dụng

- Đun sôi trước khiuống

Trang 23

Phụ lục 3:

Kết quả phân tích các mẫu nước

I Huyện Hương Khê

Mẫu số: 1 (mã số mẫu 4):

Loại nước giếng khoan: Đại diện cho hầu hết các giếng đào, qua đêm mặt giếng có váng và có

mùi hơi tanh

Địa điểm mẫu: H ồ Đức Ngọc, Thôn Mỹ Trung, Xã Phương Mỹ - Hương Khê Đức Ngọc, Thôn Mỹ Trung, Xã Phương Mỹ - Hương Khê c Ng c, Thôn M Trung, Xã Ph ọc bằng bình lọc ỹ Trung, Xã Phương Mỹ - Hương Khê ương Mỹ - Hương Khê ng M - H ỹ Trung, Xã Phương Mỹ - Hương Khê ương Mỹ - Hương Khê ng Khê

TT Tên chỉ tiêu Ðơn vị

tính

Kết quả PT

TC cho phép

Đánh giá

Đánh giá chất lượng và khuyến cáo sử dụng và xử lý

1) Đánh giá chung so với tiêuchuẩn Việt nam về nước sinhhoạt:

- Có 16/18 chỉ tiêu phân tíchđạt theo Tiêu chuẩn cho phép

- 2/18 tiêu chuẩn chưa đạt, tuynhiên nếu được lắng thôngthường thì các chỉ tiêu như màusắc, mùi vị sẽ được xử lý; đồngthời hàm lượng sắt mằc dùkhông vi phạm tiêu chuẩn xũng

sẽ được xử lý từ thể hoà tan diđộng về trạng thái kết tủa vàlắng

2) Nếu không xử lý thì nhìnchung ít tác động tới sức khoẻ,

sử dụng để nấu ăn dễ bị mấtmùi thực phẩm như mất mùichè nguyên nhân chính dovẫn còn sắt ở dạng hòa tan diđộng

3) Nếu có thể cần phải khuyếncáo giải pháp xử lý như thếnào:

- Cần phải lắng, phơi nướctrước khi sử dụng

2 Mùi vị (lúc vừa

lấy mẫu)

hơitanh

K cómùi, vị lạ

Trang 24

Mẫu số: 2 (mã số mẫu 11):

Loại nước giếng khoan: Đại diện nước giếng đào các thôn 1, 2, 3 nước bơm lên để ngả màu

vàng, có váng trên mặt, chất lượng được người dân đánh giá cảm quan là chưa tốt

Địa điểm mẫu: Ph m v n B y, Xóm 1, Xã Ph ạm văn Bảy, Xóm 1, Xã Phương Điền - Hương Khê ăn Bảy, Xóm 1, Xã Phương Điền - Hương Khê ảy, Xóm 1, Xã Phương Điền - Hương Khê ương Mỹ - Hương Khê ng i n - H Đ ền - Hương Khê ương Mỹ - Hương Khê ng Khê

TT Tên chỉ tiêu Ðơn

vị tính

Kết quả PT

TC cho phép

Đánh giá

Đánh giá chất lượng và khuyến cáo sử dụng và xử lý

1) Đánh giá chung so với tiêuchuẩn Việt nam về nước sinhhoạt:

- Có 15/18 chỉ tiêu phân tích đạttheo Tiêu chuẩn cho phép

- 3/18 tiêu chuẩn chưa đạt, tuynhiên nếu được lắng, lọc cátthông thường thì các chỉ tiêunhư mùi vị, Sắt sẽ được xử lý,còn NO3 cũng sẽ giảm hàmlượng và cũng có thể được xử

lý về tiêu chuẩn cho phép.2) Nếu không xử lý thì cảm giácnước không ngon, sử dụng đểnấu ăn dễ bị mất mùi thực phẩmnhư mất mùi chè nguyên nhânchính do chỉ tiêu hàm lượng sắtcao hơn TCCP

3) Nếu có thể cần phải khuyếncáo giải pháp xử lý như thế nào:

2 Mùi vị (lúc vừa

lấy mẫu)

hơitanh

K cómùi, vị lạ

Ngày đăng: 27/04/2013, 23:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:  Diện tích đất nông nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo - Đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp xử lý,  quan trắc chất lượng nước tại Huyện Hương Khê và Vũ Quang, tỉnh  Hà tĩnh
Bảng 1 Diện tích đất nông nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo (Trang 6)
Bảng tổng hợp kết quả phân tích và đánh giá chất lượng các mẫu nước - Đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp xử lý,  quan trắc chất lượng nước tại Huyện Hương Khê và Vũ Quang, tỉnh  Hà tĩnh
Bảng t ổng hợp kết quả phân tích và đánh giá chất lượng các mẫu nước (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w