Từ một nước sản xuất nông sản không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, Việt Nam đã có thể xuất khẩu gạo ra thị trường quốc tế và từng bước phát triển, vươn lên thành một trong nhữn
Trang 1CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2014
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 2
HÀ NỘI, 2014
Trang 2CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2014
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 2
Họ và tên sinh viên: Trần Vân Anh - Nữ
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.5 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 4
CHƯƠNG 2 6
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6
2.1 TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM 6
2.1.1 Đặc điểm thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam 6
2.1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu gạo đối với Việt Nam 8
2.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM 9
2.2.1 Các nhân tố chủ quan 9
2.2.2 Các nhân tố khách quan 22
CHƯƠNG 3 27
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA 27
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 27
3.1 SẢN LƯỢNG VÀ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU 27
Trang 53.2 CHẤT LƯỢNG GẠO XUẤT KHẨU 30
3.3 GIÁ GẠO XUẤT KHẨU 31
3.4 CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 34
CHƯƠNG 4 38
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 38
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 38
4.1.1 Phương pháp nghiên cứu 38
4.1.2 Giả thiết và mô hình nghiên cứu 39
4.2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
4.2.1 Phân tích thống kê mô tả và tương quan 40
4.2.2 Mô hình hồi quy 41
4.3 SỰ PHÙ HỢP CỦA MÔ HÌNH VỚI LÍ THUYẾT VÀ THỰC TẾ 47
CHƯƠNG 5 50
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM 50
5.1 TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH 50
5.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM 50
5.2.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 50
5.2.2 Cải thiện chất lương gạo Việt Nam 51
5.2.3 Một số giải pháp khác 53
5.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO CỦA ĐỀ TÀI 54 KẾT LUẬN 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC ii
Trang 64.4 Kết quả hồi quy đơn sản lƣợng xuất khẩu và sản lƣợng sản
4.5 Kết quả hồi quy đơn sản lƣợng gạo xuất khẩu và diện tích đất 44
4.6 Kết quả hồi quy đơn sản lƣợng gạo xuất khẩu và số lao động 46
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
3.1 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam
3.2 Giá gạo xuất khẩu của các nước 33
3.3 10 thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam
4.1 Sản lượng gạo sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam
(giai đoạn 1990-2012) 48
Trang 8FOB Free On Board Giao hàng trên tàu
GAP Good Agricultural Practices Các thông lệ sản xuất
nông nghiệp tốt
USD United States Dollar Đô la Mỹ
USDA United States Department of
Agriculture Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
VFA Vietnam Food Association Hiệp hội Lương thực Việt
Nam
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp Từ một nước sản xuất nông sản không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, Việt Nam đã có thể xuất khẩu gạo ra thị trường quốc tế và từng bước phát triển, vươn lên thành một trong những cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Để đạt được những thành công to lớn đó phải kể đến đường lối chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực, cố gắng của hàng triệu hộ nông dân, cũng như của những nhà doanh nghiệp và nhà nghiên cứu Tuy nhiên, bên cạnh đó, xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế và vướng mắc Mặc dù sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đứng thứ hai thế giới nhưng kim ngạch xuất khẩu lại không cao do giá gạo thấp hơn nhiều so với các cường quốc xuất khẩu gạo còn lại Giá xuất khẩu bình quân của Việt Nam chỉ đạt khoảng 80% so với giá bình quân của thế giới, trong khi
đó giá gạo của 4 cường quốc xuất khẩu còn lại là Thái Lan, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Pakistan thấp nhất cũng trên 90%, cao nhất là gần 120% Hơn nữa, trải qua hơn hai mươi năm xuất khẩu, gạo Việt Nam vẫn chưa tạo được một thương hiệu và hình ảnh đến với người tiêu dùng trên thế giới do chỉ xuất qua các nước trung gian
Có rất nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, cho những bất cập trên, tuy nhiên phải kể đến đầu tiên đó là chất lượng gạo thấp, môi trường pháp lí chưa minh bạch, cơ chế tổ chức xuất khẩu gạo còn bất hợp lí và ảnh hưởng từ sự biến động hàng ngày của thị trường gạo thế giới Chất lượng gạo
Trang 10ảnh hưởng rất lớn đến giá gạo xuất khẩu và cũng là một rào cản không nhỏ khi gạo Việt Nam muốn thâm nhập vào các thị trường yêu cầu khắt khe như Nhật Bản và Châu Âu Tuy đã có những biến chuyển tích cực nhưng gạo xuất khẩu của Việt Nam đa số vẫn là gạo chất lượng trung bình và thấp, do tác động trực tiếp từ quá trình sản xuất và chế biến Môi trường pháp lí và cơ chế xuất khẩu gạo cũng còn tồn tại nhiều bất cập, chưa tạo được động lực và sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gạo đạt hiệu quả cao Hơn nữa, sự biến động hàng ngày của cung cầu gạo trên thị trường thế giới với những thay đổi trong chính sách xuất, nhập khẩu gạo của các nước, đặc biệt là các nước xuất, nhập khẩu gạo với khối lượng lớn, đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam Do vậy, chúng ta cần nghiên cứu kĩ lưỡng và có cái nhìn đầy đủ, chính xác về tầm ảnh hưởng của những nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam, để qua đó đưa ra những chính sách và chiến lược phát triển đúng đắn trong thời gian tới
Gạo là ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, do đó cho đến nay
đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam Điển hình là cuốn sách “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới” của tác giả Phạm Văn Bính đề cập đến những thành tựu trong xuất khẩu gạo, đồng thời chỉ ra những thuận lợi, khó khăn của phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó có vấn đề sản xuất và xuất khẩu gạo Bài viết “Để Việt Nam giữ vững vị trí nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới” của tác giả Nguyễn Trần Trọng đăng trên tạp chí nghiên cứu kinh tế số 3 (370) tháng 3 năm 2009 cũng đã nghiên cứu tổng quan tình hình xuất, nhập khẩu gạo của Việt Nam trong lịch sử, đưa ra một số nhận xét về xuất, nhập khẩu gạo trong những năm gần đây và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để Việt Nam giữ
Trang 11vững vị trí xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Tuy nhiên, do mục đích và khuôn khổ của các công trình nghiên cứu, cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và đƣa ra những đánh giá chi tiết về những nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam, nhất là những nghiên cứu định lƣợng và mô hình hóa
và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam thời gian tới
Mục tiêu cụ thể
Đề tài tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Những nhân tố nào tác động đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam?
- Các nhân tố định lƣợng có mối quan hệ toán học nhƣ thế nào với sản lƣợng xuất khẩu gạo của Việt Nam?
- Các khuyến nghị chính sách nào phù hợp cho Việt Nam để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gạo trong thời gian tới?
Trang 121.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: sự ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: khoảng thời gian từ khi Việt Nam bắt đầu tham gia xuất khẩu gạo ra thị trường quốc tế đến nay (từ năm 1989 đến năm 2013)
Đối với câu hỏi thứ nhất, chúng tôi dựa vào những lí thuyết kinh tế và thực tiễn để đưa ra những đánh giá và kết luận về sự ảnh hưởng của các nhân
tố tác động đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam Các phương pháp được sử dụng chủ yếu là phân tích, tổng hợp, thống kê, đánh giá và so sánh
Đối với câu hỏi thứ hai, chúng tôi dựa vào bộ số liệu thống kê có sẵn đáng tin cậy từ những nguồn như Tổng cục thống kê, Tổng cục Hải quan, FAO và USDA để xây dựng mô hình hồi quy giữa sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam với các biến giải thích như sản lượng gạo sản xuất, diện tích đất trồng lúa cả nước và số người trong độ tuổi lao động làm việc trong ngành nông
Công trình nghiên cứu ngoài phần danh mục bảng, biểu đồ, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung bao gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 1 tập trung vào
những lí do, mục đích và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lí thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 2 sẽ
đánh giá tổng quan về mặt lí thuyết chung, được chia thành 2 phần: i) Tổng
Trang 13quan về xuất khẩu gạo của Việt Nam, ii) Các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam
Chương 3: Thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thời gian qua Chương 3 sẽ trình bày tổng quan về tình hình xuất khẩu gạo
của Việt Nam trong thời gian 10 năm qua, từ năm 2004 đến năm 2013
Chương 4: Mô hình nghiên cứu và đánh giá kết quả nghiên cứu
Chương 4 sẽ mô tả chi tiết các biến số, số liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu để xây dựng được mô hình hồi quy giữa các biến định lượng và sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam
Chương 5: Kết luận và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam Chương 5 sẽ đưa ra các kết luận chung cho
công trình nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu gạo Việt Nam Cuối cùng, nhóm tác giả sẽ đưa ra các hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu cho các công trình nghiên cứu tiếp theo
Trang 14CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam
Thị trường là một tập hợp các thoả thuận giữa người mua và người bán, tuy nhiên gạo là sản phẩm thiết yếu và là sản phẩm của ngành nông nghiệp nên thị trường gạo tồn tại một số khác biệt so với các thị trường hàng hóa thông thường khác Cũng như thị trường gạo thế giới, thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam có tính thời vụ trong
trao đổi Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, tính thời vụ được quy định bởi đặc điểm khí hậu sinh thái kết hợp với đặc điểm kỹ thuật của cây trồng Lúa gạo cũng vậy, do có tính thời vụ trong sản xuất nên cũng hình thành tính thời vụ trong trao đổi Xuất khẩu gạo gắn liền với quá trình sản xuất, chế biến
và điều hành lúa gạo của từng nước Cứ sau thời điểm thu hoạch thì thị trường lúa gạo thế giới lại sôi động hơn Tuy nhiên, sự liên tục và sôi động đó diễn ra như thế nào và diễn ra trong bao lâu lại tuỳ thuộc vào khả năng dự trữ và điều hành gạo của từng nước Ở Việt Nam, vụ đông xuân là vụ lúa có năng suất, sản lượng và chất lượng tốt nhất, được tập trung cho xuất khẩu Tuy nhiên, do điều kiện về khả năng dự trữ, bảo quản nên chúng ta không thể phân bổ xuất khẩu dàn trải đều vào tất cả các tháng trong năm mà thường chỉ tập trung vào sau khi thu hoạch
Thứ hai, buôn bán giữa các Chính phủ là phương thức chủ yếu Gạo là
loại hàng hoá có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người nên
có thể nói nhu cầu về gạo có tính chất ổn định hơn các loại hàng công nghiệp
Trang 15Mặt khác, Chính phủ cũng phải có chính sách giữ sự ổn định trong cung cấp lương thực nói chung và gạo nói riêng, hay nói cách khác đó là sự đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Do đó, khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu bị chi phối bởi các hiệp định hoặc hợp đồng của Chính phủ có tính chất lâu dài và định lượng cụ thể hàng năm vào đầu các niên vụ
Thứ ba, chủ thể nhập khẩu gạo không ổn định Hàng năm, số lượng gạo
cung cấp ra thị trường thế giới cùng với các chủ thể xuất khẩu và nhập khẩu là không ổn định, sự không ổn định này là do sự tác động của thời tiết khí hậu và chính sách của Chính phủ các nước Philippines, Malaysia và Indonesia là những đối tác nhập khẩu gạo lâu dài của Việt Nam, tuy nhiên thời gian gần đây cơ cấu thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam đã có sự thay đổi Philippines ban hành chính sách khuyến khích tư nhân tham gia nhập khẩu gạo và phát triển sản xuất nông nghiệp, tiến tới hạn chế sự phụ thuộc quá lớn vào xuất khẩu gạo của Việt Nam Trung Quốc lại đẩy mạnh nhập khẩu gạo của Việt Nam, do đó vươn lên chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2012 Mặt khác, điều kiện thời tiết thuận lợi cho sản xuất lúa gạo cũng có thể làm giảm khối lượng nhập khẩu gạo của các nước này từ Việt Nam
Thứ tư, thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam chịu tác động lớn từ các
cường quốc xuất khẩu gạo khác trên thế giới Gạo là hàng hoá thiết yếu nên các nước đều trực tiếp có chính sách điều hành hoặc độc quyền, tập trung kinh doanh và coi trọng xây dựng dự trữ quốc gia Các nước lớn có tác động trực tiếp, chi phối đến chiều hướng của thị trường gạo thế giới như Mỹ, Thái Lan
và Trung Quốc Họ có thể điều tiết khối lượng mua vào hay bán ra trên thị trường quốc tế và qua đó ảnh hưởng đến giá cả và các tác nhân tham gia thị trường Với vị thế của cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, giá và sản
Trang 16lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan từng thời kì sẽ gây nên những biến động về giá cũng như cung cầu gạo của các nước khác, trong đó có Việt Nam
Thứ năm, chủng loại gạo xuất khẩu phong phú, tùy thuộc vào sự khác
biệt về thị hiếu của mỗi nước Ngày nay, do sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã đem lại những thành tựu to lớn cho ngành nông nghiệp nhất là những thành tựu về công nghệ sinh học Bằng việc áp dụng các loại giống mới, Việt Nam đã sản xuất được gạo với nhiều chủng loại và mẫu mã khác nhau phù hợp với thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng Với mỗi thị trường xuất khẩu, Việt Nam hướng đến đáp ứng các chủng loại gạo khác nhau, phù hợp với yêu cầu và thị hiếu của từng nước Tuy nhiên, do điều kiện sản xuất, gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn là gạo trung bình và cấp thấp Gạo cấp cao mới chỉ chiếm một tỉ trọng rất nhỏ trong cơ cấu gạo xuất khẩu của Việt Nam
Những đặc điểm của thị trường gạo nói trên có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình kinh doanh xuất khẩu gạo, do vậy cần phải tìm hiều và phân tích sâu các đặc điểm đó
2.1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu gạo đối với Việt Nam
Xuất khẩu gạo là giải pháp quan trọng tạo nguồn ngoại tệ mạnh phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế Việt Nam có nền sản xuất lúa nước từ lâu đời
và cũng là một trong những nước nông nghiệp và công nghiệp kém phát triển, muốn đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế phải thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh
tế phải có vốn, có thiết bị máy móc và công nghệ sản xuất tiên tiến Trong điều kiện kinh tế chưa phát triển muốn có thiết bị máy móc, công nghệ tiên tiến cần phải có ngoại tệ Xuất khẩu nông sản, đặc biệt là xuất khẩu gạo, là một trong các giải pháp tạo nguồn ngoại tệ mạnh cho Việt Nam
Trang 17Xuất khẩu gạo không những góp phần cải thiện cán cân thương mại mà còn là điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại Xuất khẩu gạo sẽ kéo theo sự phát triển sản xuất lúa theo hướng chuyên môn hoá, phát triển của ngành chế tạo máy nông nghiệp, công nghiệp chế biến bảo quản, hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển để đáp ứng việc đẩy mạnh xuất khẩu Như vậy, xuất khẩu gạo đã tạo điều kiện cho các ngành liên quan phát triển theo, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho sự tăng trưởng
và phát triển của đất nước
Xuất khẩu gạo góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp Cơ sở kinh tế của xu hướng này là lợi ích của các tác nhân khi tham gia vào quá trình thường lớn hơn khi không tham gia vào giao thương quốc tế, trong đó các nước xuất khẩu tìm cách khai thác lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ, để phát triển kinh tế còn nhóm các nước nhập khẩu lại tìm cách xuất khẩu
tư bản, tìm môi trường đầu tư có lợi về mặt tài chính
Xuất khẩu gạo giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này hoàn thiện hơn, năng động hơn bởi lẽ chỉ có sự luôn đổi mới thì mới làm cho doanh nghiệp đứng vững được trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường thế giới
CỦA VIỆT NAM
2.2.1 Các nhân tố chủ quan
2.2.1.1 Môi trường pháp lý
Nhóm nhân tố này thể hiện sự tác động của Nhà nước tới hoạt động xuất khẩu gạo Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam mới tham gia thị trường xuất khẩu rất cần tới sự quan tâm hướng dẫn của nhà
Trang 18nước Đặc biệt hiện nay khả năng marketing, tiếp cận thị trường, sự am hiểu luật kinh doanh, khả năng quản lý của doanh nghiệp còn hạn chế, vì thế việc tác động của Nhà nước vào hoạt động xuất khẩu gạo là rất quan trọng Cơ chế quản lý, chính sách kinh tế và các quan hệ đối ngoại là các yếu tố rất nhạy cảm, tác động trực tiếp nền kinh tế nói chung và xuất khẩu gạo nói riêng
Sự tác động của cơ chế chính sách đến xuất khẩu gạo có thể theo hai hướng: kìm hãm xuất khẩu nếu chính sách đó không phù hợp và thúc đẩy xuất khẩu nếu chính sách đó phù hợp Đối với xuất khẩu gạo, các chính sách tác động mạnh mẽ nhất là chính sách đầu tư, chính sách vốn tín dụng, chính sách bảo hiểm và trợ giá, chính sách Marketing
Ở mỗi một giai đoạn, Nhà nước có những chính sách khác nhau để điều chỉnh và quản lí hoạt động xuất khẩu gạo sao cho phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước và thế giới, cũng như định hướng phát triển của đất nước trong từng thời kì
Giai đoạn 1989 - 2000
Năm 1991, chế độ hạn ngạch xuất khẩu gạo được thiết lập
Năm 1994 bắt đầu thực hiện chế độ thu gom đầu mối xuất khẩu nhằm hạn chế tình trạng tranh mua - tranh bán
Năm 1996, Chính phủ đã chấn chỉnh việc xuất khẩu gạo, ngừng hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ và phân tán, chỉ định các doanh nghiệp thực sự đủ điều kiện xuất khẩu gạo làm đầu mối xuất khẩu nhằm nâng cao trình độ tập trung và chuyên môn hóa
Năm 1998, hạn ngạch đã được lới lỏng dần Hạn ngạch được phân bố từ đầu năm dựa trên cơ sở kết quả hoạt động thực tế trong năm trước và sự xem xét tình hình sản xuất của năm
Trang 19 Giai đoạn 2001 - 2005
Nhà nước thực hiện chính sách thưởng kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng đã góp phần làm tăng số lượng gạo xuất khẩu, giúp nông dân tiêu thụ được sản phẩm Giá gạo đã tăng khiến cho người nông dân yên tâm hơn trong sản xuất Bên cạnh đó nhờ các cơ chế, chính sách khuyến khích xuất khẩu, các doanh nghiệp đã giảm bớt được khó khăn về tài chính
Giai đoạn 2006 đến nay
Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ sau khi ban hành nghị quyết Trung ương 7 khóa X, nhiều chính sách được ban hành và thực thi như đầu tư mạnh cho nghiên cứu, chọn lọc, phân nhánh các loại lúa có năng suất cao, chất lượng tốt để đảm bảo cho xuất khẩu; ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu, chế tạo, nhập khẩu, phổ biến các loại máy móc phục vụ sấy, bảo quản, chế biến lúa gạo phù hợp với từng vùng; hỗ trợ tín dụng để các doanh nghiệp thu mua lúa của nông dân phục vụ cho xuất khẩu, để người nông dân không phải bán lúa với giá rẻ ngay sau khi thu hoạch, nhất là người dân ở ĐBSCL
Nhìn chung, những chính sách đúng đắn của Nhà nước đã góp phần thúc đẩy xuất khẩu gạo của Việt Nam trong hơn hai thập kỉ qua, từng bước đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới
2.2.1.2 Nhóm các nhân tố tác động đến chất lượng gạo
Chất lượng gạo là một trong những yếu tố quyết định tới sự cạnh tranh trên thị trường, đồng thời cải thiện được hiệu quả xuất khẩu Chất lượng gạo xuất khẩu cần được hiểu một cách rộng hơn với ý nghĩa là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ thoả mãn nhu cầu của gạo xuất khẩu về quy cách, phẩm chất, kiểu dáng, sở thích, tập quán tiêu dùng Chất lượng gạo phụ thuộc vào
Trang 20nhiều yếu tố, trong đó giống, môi trường sinh thái, kỹ thuật canh tác và chế biến, bảo quản là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng gạo
a Giống
Những năm qua, Việt Nam đã đưa vào canh tác nhiều giống lúa khác nhau, bao gồm bộ giống lúa chủ lực, chất lượng cao gồm OM1490, OMCS2000, OM3536, OM2517, OM2717, OM2718, VNĐ95-20, MTL250, TNĐB100; bộ giống lúa đặc sản Jasmine 85, VĐ20, nhóm lúa Thơm, nhóm lúa nếp (OM85, Nếp Bè,v.v ); bộ giống cao sản chất lượng thấp OM576, IR50404 Những giống triển vọng đang có xu hướng phát triển như OM4495, OM4498, OM2514,…Trong số hàng chục giống lúa cao sản ngắn ngày không những thơm ngon mà còn kháng được sâu rầy, cho năng suất cao có hơn 30 giống đã được thuần chủng gieo cấy đại trà và được người dân đón nhận Một
bộ mười giống chủ lực "dẻo cơm thơm hạt" như IR64, OM1490, OM2031, MTL250, VND95-20, Khao39 có phẩm chất gạo cao, hạt dài trong, không bạc bụng, thơm ngon đáp ứng nhu cầu xuất khẩu đang được nhân rộng ra sản xuất đại trà Bên cạnh việc đưa vào nhiều bộ giống lúa phong phú, công nghệ hạt giống của Việt Nam cũng có những bước tiến vượt bậc
Gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn là loại gạo tẻ hạt dài, được sản xuất chủ yếu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Gạo chất lượng cao được sản xuất phục vụ xuất khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu là lúa có hạt dài, thon, trong, dẻo như IR64, OMCS 2000…Ngoài ra, nhu cầu thị trường quốc tế
về loại gạo đặc sản, như Basmati, Khaodokmali, Jasmine, chiếm tỷ lệ khoảng 6 - 7% gạo hàng hóa thế giới, với mức giá lại rất cao, cũng đã được đưa vào sản xuất tại đồng bằng sông Cửu Long Vùng đồng bằng sông Hồng, gạo chất lượng cao được sản xuất để xuất khẩu chủ yếu là các giống lúa đặc sản truyền thống như tám thơm, dự hương, nếp cái hoa vàng Tuy nhiên, với
Trang 21lượng xuất khẩu quá nhỏ và không thường xuyên nên nhìn chung xuất khẩu gạo đặc sản của Việt Nam chưa đem lại hiệu quả cao
b Môi trường sinh thái
Nhân tố này gồm các điều kiện về đất đai, khí hậu, nguồn nước, vị trí địa lí của mỗi quốc gia, tạo nên thuận lợi cũng như khó khăn cho nông nghiệp nói chung và sản xuất gạo nói riêng Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là chịu tác động mạnh của các yếu tố tự nhiên, do đó mức độ rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu gạo là rất lớn Sự bất ổn định về thời tiết và điều kiện tự nhiên cũng gây khó khăn trong việc vận chuyển và giao hàng Mỗi quốc gia và doanh nghiệp hiểu và nắm bắt được tính bất ổn về thời tiết thì không những hạn chế được rủi ro, tổn thất mà còn nâng cao được hiệu quả xuất khẩu gạo
Việt Nam được hưởng nhiều ưu đãi về điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa nước, nhờ đó có được lợi thế so sánh về mặt hàng gạo so với nhiều nước trên thế giới
Đất đai
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên trên 33,1 triệu ha, trong đó có khoảng 4,1 triệu ha đất đang được sử dụng để trồng lúa Diện tích đất có khả năng nông nghiệp ở nước ta có trên 10 triệu ha, trong đó đất có khả năng trồng lúa khoảng 8,5 triệu ha, như vậy quỹ đất chưa sử dụng vẫn còn rất lớn
Việt Nam có hai vùng trồng lúa chính là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng sông Hồng là đồng bằng lớn có diện tích 1,5 triệu ha được bồi đắp do hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, là vùng đồng bằng cổ màu mỡ trên thế giới, độ PH đạt trị số 6-6.5 được xem như trung tính Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành chủ yếu do phù sa của
hệ thống sông Mê Kông bồi tụ hàng năm, đất phù sa nơi đây có rất nhiều tính
Trang 22trội, lượng đạm, lân và các nguyên tố vi lượng khác khá cao, đây là vùng đồng bằng lớn nhất cả nước Với chất lượng đất như trên, cả hai vùng đồng bằng lớn này đều có những ưu điểm nổi trội phù hợp với sự phát triển của cây lúa nước theo hướng thâm canh cho năng suất Độ màu mỡ và đặc điểm khí hậu thời tiết mùa vụ cho phép cả hai vùng đồng bằng này sản xuất lúa quanh năm trên diện tích rộng và thích nghi với nhiều lúa giống lúa cao sản, lúa đặc sản
có năng suất cao
Khí hậu và nguồn nước
Tài nguyên nước dồi dào là một trong những lợi thế nổi bật trong nghề trồng lúa ở Việt Nam Số ngày mưa lý tưởng 120-140 ngày trong một năm ở hai đồng bằng lớn, lượng mưa hàng năm trung bình 1500-2000mm, không chỉ cung cấp cho lúa nguồn nước trời phú quý giá mà còn bồi bổ cho lúa một nguồn đạm tự nhiên dễ hấp thụ Ngoài ra hệ thống thuỷ lợi nước ta với 10% ngân sách nhà nước đầu tư hằng năm đã đạt được những thành quả to lớn Hơn nữa Việt Nam còn sở hữu một hệ thống sông, hồ, kênh rạch phong phú phù hợp với cây lúa nước, thuận lợi cho thu hoạch, vận chuyển và thực hiện xuất khẩu gạo
Ngoài lợi thế về đất đai và nguồn nước,Việt Nam còn có khí hậu nhiệt đới gió mùa rất phù hợp cho hai vựa lúa ĐBSH và ĐBSCL có điều kiện lý tưởng trồng cây lúa nước, cùng với sự kết hợp chặt chẽ các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng như nắng gió Điều kiện khí hậu ưu đãi hiếm
có này còn là lợi thế tuyệt vời cho phép ở ĐBSCL và ĐBSH sản xuất lúa quanh năm trên diện rộng và thích nghi với nhiều giống lúa cao sản, lúa đặc chủng có năng suất cao
Trang 23c Kĩ thuật canh tác
Kĩ thuật canh tác là tổng thể các biện pháp bao gồm các khâu gieo cấy, bón phân, chăm sóc, phòng trừ sâu, bệnh hại và thu hoạch Đây là các nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa, việc thực hiện đúng qui trình kỹ thuật là vô cùng quan trọng đối với việc tạo ra một loại gạo phẩm chất cao
Những năm qua, tỷ lệ cơ giới hóa đã được nâng cao; hệ thống thủy lợi, khuyến nông được xây dựng và củng cố; máy móc cũng được trang bị nhiều hơn như máy suốt lúa, máy gặt đập liên hợp Tuy nhiên, kỹ thuật canh tác chưa đều và chưa vững Tại ĐBSH và các tỉnh miền Trung, trình độ canh tác theo mô hình truyền thống, sử dụng lao động thủ công và sức kéo trâu bò vẫn còn phổ biến Hơn nữa, quy mô ruộng đất nhỏ, manh mún, tổ chức sản xuất phân tán đã khiến hiệu quả của sản xuất lúa gạo giảm đi
d Kĩ thuật chế biến, bảo quản
Về khâu phơi sấy, giai đoạn này phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống kho chứa và cách thức bảo quản, nhất là đối với một nước có khí hậu nhiệt đới như
ở Việt Nam Kỹ thuật phơi nói chung thường rất lạc hậu, nông dân thường làm theo cách thủ công rất bị động, gây tình trạng lẫn lộn, lẫn tạp và nhất là hạt thóc không khô đều từ ngoài vào trong nên khi xay xát tỷ lệ gạo gãy, gạo tấm cao làm giảm giá trị hạt gạo Hiện nay trong nước đã có nhiều loại máy sấy có chất lượng tốt, song vì chi phí cao (cả đầu tư ban đầu cũng như năng lượng cho quá trình sấy), thời gian sử dụng lại ngắn, chỉ phù hợp với điều kiện sản xuất hàng hoá lớn nên chưa phát triển
Về khâu thu gom và bảo quản, hình thức giao dịch gạo phổ biến hiện nay là mua bán tự do giao hàng ngay và không có hợp đồng, mua bán thông
Trang 24qua kí kết hợp đồng giữa doanh nghiệp với hộ nông dân, giao dịch qua chợ đầu mối Vì vậy, việc thu gom lúa gạo rất manh mún với số lượng nhỏ và gây hao hụt trong quá trình vận chuyển Hệ thống kho chứa gạo cũng chỉ mang tính tạm thời, không thể tồn trữ và bảo quản để đảm bảo chất lượng gạo tốt nhất Gạo chỉ chứa trong bao nhựa PP, bao bố hoặc chất trong kho có mái che được xây dựng khá đơn giản Chất lượng gạo vì thế cũng bị ảnh hưởng khá nhiều
Về khâu chế biến, công nghệ chế biến thiếu và lạc hậu dẫn đến lúa gạo xuất khẩu chủ yếu mới ở dạng thô và sơ chế Phần lớn các cơ sở xay xát sử dụng máy xát do các doanh nghiệp nhà nước cung cấp, một số khác thì nhập khẩu từ nước ngoài Tỷ lệ thu hồi gạo ở các cơ sở xay xát tư nhân chỉ đạt 60 -62%, trong đó gạo nguyên chiếm 42 – 45%, tấm 18 – 20% Chỉ các nhà máy thuộc Tổng công ty lương thực và công ty lương thực ở các tỉnh được trang bị máy tốt, các công đoạn được thực hiện hoàn chỉnh từ đầu đến cuối (loại bỏ tạp trước khi xay, bóc vỏ trấu, xát trắng, đánh bóng gạo, phân loại gạo, tách màu
và đóng bao) nên đạt tỷ lệ thu hồi gạo tới 75 – 76% (gạo nguyên 52 – 55%)
Về khâu kiểm tra trước khi xuất khẩu, cơ quan quan trọng nhất của Việt Nam trong lĩnh vực kiểm tra chất lượng là Vinacontrol, cơ quan chịu trách nhiệm kiểm tra tới 95% lượng gạo xuất khẩu Tiến trình kiểm tra chất lượng bao gồm các bước sau:
- Kiểm tra chất lượng kho chứa gạo
- Kiểm tra chất lượng đóng bao
- Kiểm tra chất lượng trước khi xuất khẩu
Theo kết quả nhận định của Vinacontrol, trong xuất khẩu gạo tồn tại hai vấn đề chính, đó là chất lượng yếu kém của các kho gạo dẫn đến tăng tỷ lệ gạo
Trang 25ẩm mốc trong mùa mưa và các kho chứa phải di chuyển đến nơi khác gây khó khăn cho việc vận chuyển gạo xuất khẩu.Việc khắc phục những nhược điểm
về chất lượng gạo là một vấn đề không đơn giản Tuy nhiên, chúng ta phải cố gắng nỗ lực tìm ra mấu chốt và giải quyết hợp lý, nâng cao chất lượng gạo, từ
đó tăng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu
2.2.1.3 Hệ thống tổ chức xuất khẩu gạo
Hiện nay, Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ điều hành xuất khẩu gạo của Việt Nam Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 quy định định hướng điều hành xuất khẩu gạo là “Bộ Thương mại phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh có sản lượng lúa hàng hóa lớn và Hiệp hội Lương thực Việt Nam, điều hành việc xuất khẩu gạo hàng năm theo nguyên tắc bảo đảm về an ninh lương thực, tiêu thụ hết lúa hàng hóa và bảo đảm giá lúa có lợi cho nông dân, đồng thời phù hợp mặt bằng giá cả hàng hóa trong nước, kiến nghị Thủ tường chính phủ các giải pháp xử
lý khi các nguyên tắc này không được bảo đảm hài hòa.” Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ dự báo và tính toán khối lượng gạo hàng hóa
có thể xuất khẩu sau khi trừ đi tiêu dùng nội địa và dự trữ Bộ Thương mại và Hiệp hội Lương thực Việt Nam sẽ giao dịch, kí kết hợp đồng và giao hàng đối với các hợp đồng Chính phủ, hoặc có thể chỉ định giao dịch dự thầu, lựa chọn thương nhân dự thầu Thương nhân được cử tham gia dự thầu và trúng thầu hoặc được chỉ định để ký hợp đồng tập trung sẽ được xuất khẩu trực tiếp 20%
số lượng hàng hóa của hợp đồng đã ký 80% số lượng hàng hóa còn lại của hợp đồng, Hiệp hội sẽ phân giao cho các thương nhân thành viên có năng lực khác ủy thác xuất khẩu Còn lại khoảng dưới 50% tổng lượng xuất theo hợp đồng thương mại, do các doanh nghiệp tự quyết định, tự tìm nguồn hàng và đăng kí với Hiệp hội Hiệp hội trên cơ sở chỉ tiêu xuất khẩu gạo của Chính
Trang 26phủ định hướng và căn cứ vào kết quả đăng kí, thực hiện hợp đồng 6 tháng đầu năm để đăng kí tiếp số lượng xuất khẩu 6 tháng cuối năm cho các đơn vị Các thành viên khi đàm phán với đối tác phải đưa vào điều khoản về việc đăng kí hợp đồng với Hiệp hội và phải được Hiệp hội chấp nhận mới có hiệu lực Có nghĩa là, doanh nghiệp xuất khẩu phải đăng kí hợp đồng và được Hiệp hội chấp nhận mới được xuất khẩu
Có thể thấy cơ chế xuất khẩu hiện nay đã được nới lỏng rất nhiều so với trước đây Tuy nhiên, tổng lượng gạo xuất khẩu phải theo kế hoạch đã quy định với việc phân giao chỉ tiêu và quy định đăng ký số lượng xuất khẩu cho các hợp đồng cũng thể hiện bản chất của cơ chế điều hành xuất khẩu gạo hiện nay là theo hạn ngạch Cơ chế phân bổ chỉ tiêu có thể dẫn đến vấn đề xin – cho, mua bán chỉ tiêu cũng như sự chọn lựa thiếu công bằng giữa các nhà xuất khẩu Do đó không tạo ra cơ hội cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu và làm giảm hiệu quả của hoạt động xuất khẩu gạo
2.2.1.4 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng cho ngành sản xuất lúa gạo luôn được Nhà nước quan tâm, đầu tư và phát triển Các công trình thuỷ lợi được đầu tư tu bổ và xây mới, thuận lợi cho tưới tiêu, nâng cao năng suất lúa Hệ thống đường giao thông nông thôn, cầu cống, kho trung chuyển lúa gạo, chợ đầu mối, hệ thống thu gom…đã hình thành và phát triển khá nhanh trên phạm vi cả nước, nhất là các vùng ĐBSCL và Đông Nam Bộ Nhờ đó, hiệu quả của hoạt động sản xuất gạo được nâng cao với năng suất, sản lượng lớn hơn và chất lượng gạo tốt hơn; tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam, cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của gạo Việt Nam trên trường quốc tế Bên cạnh
đó, sự phát triển của vận tải hàng hóa bằng đường biển cũng góp phần tạo nên
Trang 27sự thuận lợi trong vận chuyển, lưu thông với chi phí thấp hơn và tính an toàn cao hơn
Tuy vậy, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nhiều nơi còn yếu kém Nguồn đầu tư phát triển nông nghiệp và xây dựng công trình kết cấu
hạ tầng nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đặc biệt là giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc Hệ thống thủy lợi cho sản xuất ở một số vùng còn chưa đáp ứng nhu cầu, tỷ lệ diện tích lúa hàng năm được tưới bằng công trình thủy lợi ở Duyên hải miền Trung là 44%, miền núi phía Bắc là 32%, Tây Nguyên là 25% và Đông Nam Bộ là 51%
Hầu hết khối lượng gạo trong buôn bán quốc tế thường được vận chuyển bằng đường biển Riêng phương thức này đã chiếm khoảng 80% buôn bán quốc tế Việt Nam có vị trí giao thông đường biển rất thuận lợi Hệ thống cảng biển Việt Nam nói chung đều nằm gần sát đường hàng hải quốc tế và có hành trình theo tất cả các tuyến đi Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Thái Bình Dương, Trung Cận Đông, Châu Mỹ, Châu Âu, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển hoạt động xuất khẩu gạo
2.2.1.5 Phương thức thanh toán
Trong những năm đầu xuất khẩu gạo, do còn gặp nhiều khó khăn nên Việt Nam chủ yếu đổi hàng và trả nợ, phương thức thanh toán L/C rất ít nên khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới rất kém Qua thời gian phát triển, đến năm 1994-1995 hình thức thanh toán trực tiếp và đổi hàng không còn nữa
mà thay vào đó là thanh toán qua L/C, gần như chiếm tỉ trọng tuyệt đối Hiện nay các phương thức thanh toán của hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam khá đa dạng và linh hoạt như bán trả chậm, đại lý, gửi bán, đổi hàng, tham gia đấu thầu bán lẻ cho các siêu thị và hợp tác liên doanh với người tiêu thụ Với
Trang 28mỗi thị trường và khách hàng khác nhau sẽ áp dụng linh hoạt các phương thức khác nhau để nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả xuất khẩu Ví dụ đối với thị trường Châu Phi, một trong những thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam, với nhu cầu cao nhưng khả năng thanh toán kém, chúng ta đã áp dụng phương thức trả chậm, trả sau và tuần hoàn Hay với thị trường Irac, ngoài các hợp đồng mua bán gạo thông thường, Việt Nam còn xuất gạo sang nước này theo chương trình “Đổi dầu lấy lương thực” Chính sự linh hoạt trong phương thức thanh toán đã giúp Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh
so với gạo các nước khác, thu hút khách hàng và mở rộng thị trường xuất khẩu
2.2.1.6 Tâm lí của người nông dân và các nhà xuất khẩu gạo
Người nông dân là điểm yếu nhất trong chuỗi giá trị lúa gạo Do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thời tiết, thiên tai nên nông dân trở thành nhóm sản xuất rất dễ bị tổn thương Hơn nữa họ thiếu hệ thống bảo hiểm rủi ro, thiếu vốn, thiếu tài sản, trình độ học vấn thấp và thiếu khả năng tiếp cận tín dụng Nông dân sẽ chịu tác động rất mạnh khi các yếu tố đầu vào tăng giá và cũng là nạn nhân của sự lạm phát tăng vọt Khi giá lúa tăng, họ cũng không được hưởng lợi trọn vẹn nhưng khi giá lúa sụt giảm thì thiệt hại rất lớn Chính vì những lí do đó mà nông dân luôn có tâm lí dao động mạnh trước những thay đổi trong chính sách của Chính phủ hay biến động của thị trường Có không ít trường hợp nông dân bỏ ruộng hay trồng cây khác vì giá lúa sụt giảm, lợi nhuận thu về quá ít Một vấn đề cấp thiết hơn đó là những người nông dân có thể vì lợi nhuận mà không quan tâm đúng mức đến vệ sinh
an toàn thực phẩm, gây nên những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng gạo
So với thương lái, nông dân và các nhà máy, các công ty xuất khẩu vượt trội hơn về trình độ tổ chức, hiểu biết thị trường tâm lý khách hàng bởi họ có
Trang 29bộ máy tổ chức tốt hơn, đội ngũ nhân viên thành thạo hơn Các công ty kinh doanh có tài sản, hệ thống kho hàng và khả năng tiếp cận vốn Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam lại là những đối thủ yếu trên thị trường toàn cầu Chiến lược quen thuộc của các công ty xuất khẩu vẫn là chiến lược về giá Ký hợp đồng xuất khẩu khi giá trong nước thấp với kỳ vọng được lợi nhờ vào giá trong nước tiếp tục giảm Tìm cách giao hàng khi giá trong nước tăng Sách lược quen thuộc áp dụng khi giá lúa trong nước thấp là ngưng mua để chờ chính phủ hỗ trợ mua tạm trữ Khi giá trong nước leo thang thì tìm cách ngưng xuất, hạn chế xuất khẩu để ghìm giá lại với những lý do về an ninh lương thực, lạm phát gia tăng Chiến lược và sách lược này được áp dụng nhiều năm, các nhà nhập khẩu nước ngoài đã quen thuộc, tạo nên một ấn tượng không tốt
về cách làm việc thiếu chuyên nghiệp, ảnh hưởng đến tâm lý lựa chọn đối tác của các nhà nhập khẩu nước ngoài
2.2.1.7 Lực lượng lao động
Theo số liệu thống kê, ước tính năm 2013 dân số Việt Nam vào khoảng hơn 91 triệu người, với gần 70% dân số sống ở nông thôn và hơn 33% dân số trong độ tuổi lao động đang làm trong ngành nông nghiệp Việt Nam không chỉ có nguồn lao động dồi dào với giá nhân công rẻ, mà còn kế thừa được rất nhiều kinh nghiệm về nghề trồng lúa do ông cha truyền lại Tuy nhiên nhìn chung trình độ lao động của khu vực này vẫn còn khá thấp, đa số là lao động phổ thông, không có nhiều kiến thức về khoa học kĩ thuật, chưa tiếp cận được các thông tin về thị trường Đó cũng là một trong những nhân tố khiến năng suất lao động vẫn còn thấp và chất lượng gạo của Việt Nam chưa cao
2.2.1.8 Tỷ giá
Trong mua bán quốc tế, các nước thường dùng ngoại tệ mạnh để trao đổi, thanh toán với nhau Vì thế tỷ giá hối đoái là một yếu tố tác động không
Trang 30nhỏ tới hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gia, nó tác động tới giá cả tương đối giữa hàng hoá trong nước và hàng hoá nước ngoài Không nằm ngoài vấn đề kinh tế đó, xuất khẩu gạo Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi nhân
tố tỷ giá hối đoái Chính phủ có thể quản lý và điều khiển hoạt động xuất khẩu gạo qua tỷ giá hối đoái, nhằm ổn định giá gạo của Việt Nam so với giá gạo quốc tế Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả xuất khẩu gạo vì
nó biểu hiện mối quan hệ tương đối về giá (giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ USD) Nếu giá trị đồng đôla lên cao hơn so với tiền Việt Nam thì xuất khẩu là
có lợi do thu mua bằng tiền Việt Nam và bán bằng đôla, nhưng điều này lại có hại đến các nhà xuất khẩu hàng hoá khác Vì tỷ giá luôn có sự biến động nên các Doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều
bị ảnh hưởng nhất định theo hướng có lợi và bất lợi Quản lí tỉ giá hối đoái là
cả quá trình điều chỉnh có tính nghệ thuật xuất phát từ lợi ích của nền kinh tế
xã hội
2.2.2 Các nhân tố khách quan
2.2.2.1 Thị hiếu của người tiêu dùng
Mỗi một quốc gia, khu vực có thị hiếu khác nhau về tiêu dùng gạo, do
đó cần nắm bắt được sở thích và nhu cầu của từng thị trường để đưa ra những chính sách và định hướng xuất khẩu hợp lí
Thị trường gạo phẩm chất cao, hạt dài chủ yếu là Châu Âu, Trung Đông, các quốc gia vùng Caribe, Singapo, Malaysia và khu vực Hồng Kông
Từ trước đến nay Thái Lan và Hoa Kỳ xuất gạo chủ yếu cho thị trường này với số lượng khá lớn
Gạo thơm có nhu cầu về thị trường quốc tế khá nhỏ so với thị trường gạo hạt dài, amylose trung bình Tuy giá trị xuất khẩu gạo thơm khá cao
Trang 31nhưng sức ép về giá cả cũng khá lớn nếu cung vượt cầu Có hai loại thị trường
đó là thị trường có nhu cầu gạo thơm như một tập quán trong bữa cơm hàng ngày như quốc gia Trung Đông và thị trường tiêu dùng gạo thơm như món hàng cao cấp, phục vụ cho du lịch khách sạn
Các nước xuất khẩu gạo như Việt Nam, Thái Lan, Pakistan đều phát triển khá thuận lợi với thị trường gạo phẩm chất trung bình hạt dài Tỷ lệ gạo gãy biến thiên từ 5% đến 25%, đáp ứng nhu cầu cho các quốc gia đang hoặc kém phát triển, ví dụ như Châu Phi
Thị trường gạo japonica, hạt tròn, cơm dính dẻo có nhu cầu nhập khẩu hàng năm khá lớn Nước xuất khẩu gạo kiểu này là Mỹ, Úc, Trung Quốc Nước nhập khẩu là Hàn Quốc và Nhật Bản Tiêu chuẩn đặt ra ở thị trường này khá đặc biệt và việc đáp ứng nhu cầu không phải dễ dàng
2.2.2.2 Sự biến động của thị trường gạo thế giới
Gạo là một hàng hóa đặc biệt bởi nó là lương thực chính của rất nhiều nước trên thế giới, do đó vấn đề đảm bảo an ninh lương thực luôn được đặt lên hàng đầu Tùy vào tình hình tiêu dùng cũng như sản xuất trong nước, mỗi Chính phủ sẽ đưa ra những chính sách xuất, nhập khẩu gạo tương ứng trong từng thời kì, tạo nên những biến động lớn trên thị trường gạo thế giới Có thể nói cung cầu mặt hàng gạo trên thế giới ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam bởi không chỉ tạo nên áp lực về sản lượng xuất khẩu
mà còn tác động trực tiếp đến giá gạo xuất khẩu Với lượng cung lớn nhưng cầu ít, nghiễm nhiên giá sẽ giảm xuống thấp và ngược lại Do đó, không hẳn
cứ xuất khẩu được sản lượng gạo lớn thì kim ngạch xuất khẩu đã cao
Hiện nay, cầu về lượng gạo trên thế giới có xu hướng tăng chậm, tuy nhiên cầu về gạo chất lượng cao lại ngày càng tăng lên do đời sống được cải
Trang 32thiện, con người không chỉ nhu cầu về ăn đủ no mà còn phải ngon và đảm bảo chất lượng Đó cũng là một thách thức rất lớn đối với xuất khẩu gạo của Việt Nam do chất lượng gạo chưa cao và không có sự quan tâm đúng mức đến vệ sinh an toàn thực phẩm Xét về cung, Việt Nam gần đây không chỉ phải đối mặt với sự cạnh tranh từ những cường quốc xuất khẩu gạo như Thái Lan mà còn từ một số quốc gia xuất khẩu gạo khác ở Châu Á Do đó chúng ta cần có những dự báo và đánh giá chính xác, kịp thời về biến động cung cầu của thị trường gạo trên thế giới để đưa ra chiến lược xuất khẩu và những chính sách sản xuất hợp lí nhằm giảm thiểu được rủi ro
2.2.2.3 Chính sách xuất, nhập khẩu gạo của các nước
Về mặt tiêu dùng, gạo là lương thực chính của khoảng 55% dân số thế giới, phân bố rộng từ Châu Á sang Châu Phi và Nam Mỹ Các nước Châu Âu
và Bắc Mỹ chỉ sử dụng gạo như là lương thực phụ nhưng khối lượng cũng lên đến hàng triệu tấn mỗi năm Về mặt sản xuất, Châu Á chiếm đến hơn 90% sản lượng gạo của thế giới Bên cạnh đó, vấn đề đảm bảo an ninh lương thực đã ràng buộc các quốc gia phải dự trữ gạo thường xuyên rất lớn, dao động trong khoảng từ 90 – 96 triệu tấn Trên nền tảng đó, khối lượng mậu dịch gạo hai chiều trên thị trường thế giới thường chiếm tỷ trọng từ 7 – 8,5% so với sản lượng sản xuất và tiêu dùng gạo hàng năm (hơn 31 triệu tấn vào năm 2010 và được dự báo tăng lên hơn 41 triệu tấn vào năm 2020) Tham gia vào thị trường gạo toàn cầu có 3 nhóm quốc gia sau đây:
Nhóm 1, thừa gạo và thường xuyên xuất khẩu là Thái Lan, Việt Nam,
Myanmar, Campuchia, Pakistan, Hoa Kỳ…
Nhóm 2, thiếu gạo và thường xuyên nhập khẩu là Indonesia,
Philippines, Malaysia, Iran, Iraq, Saudi Arabia, Nigieria, các nước Châu Phi
và một số nước EU
Trang 33Nhóm 3, Ấn Độ và Trung Quốc thuộc dạng đặc biệt, có mức chi phối
trên dưới 50% sản lượng sản xuất, tiêu dùng và dự trữ gạo của thế giới Về cơ bản, hai quốc gia có số dân lớn nhất thế giới này đủ khả năng tự túc lương thực và thường xuyên có xuất khẩu ròng về gạo, nhưng cũng có khả năng gây xáo trộn mạnh thị trường gạo thế giới do tăng sản lượng xuất khẩu đột ngột (khi đảo kho dự trữ bảo hiểm an ninh lương thực) hoặc tăng sản lượng nhập khẩu đột ngột (khi mất mùa phải mua để bổ sung kho dự trữ bảo hiểm an ninh lương thực)
Chính sách xuất, nhập khẩu gạo của các nước, đặc biệt là các nước chiếm tỉ trọng lớn sẽ gây nên những ảnh hưởng đáng kể cho thị trường gạo thế giới Một ví dụ điển hình trong thời gian gần đây đó là chính sách trợ giá lúa gạo của Chính phủ Thái Lan hơn hai năm trước Tháng 10 năm 2011, chính sách bắt đầu được thực thi với việc Chính phủ Thái Lan thu mua thóc gạo của nông dân với giá khoảng 500 USD/ tấn, cao hơn 50% so với thị trường thế giới Do Chính phủ thu mua thóc gạo với giá cao, buộc các nhà xuất khẩu phải nâng giá xuất khẩu, khiến giá gạo Thái Lan đắt hơn gạo Ấn Độ, Pakistan và Việt Nam khoảng 30% Nhờ đó gạo Việt Nam đã nâng cao được sức cạnh tranh trên trường quốc tế so với gạo xuất khẩu của Thái Thủ tướng Thái Lan khi đó đã tin rằng họ có thể đẩy giá gạo toàn cầu gia tăng bằng cách găm lúa gạo trong những nhà kho khổng lồ Tuy nhiên việc tính toán thời điểm áp dụng chính sách trợ giá lúa gạo của Thái Lan là một sai lầm lớn Ngay khi nước này bắt đầu găm hàng lúa gạo, Ấn Độ nối lại xuất khẩu mặt hàng này sau một thời gian dài tạm ngưng Các nước nhập khẩu gạo lớn như Philippines
do lo ngại về biến động giá gạo đã bắt đầu sản xuất gạo nhiều hơn Kết quả là, giá gạo thế giới giảm từ mức đỉnh hơn 1.000 USD/tấn vào năm 2008 xuống ngưỡng khoảng 390 USD/tấn Có thể thấy, các chính sách khác nhau của các
Trang 34nước xuất, nhập khẩu gạo đã khiến giá gạo và hoạt động giao dịch gạo trên thị trường quốc tế biến động rất mạnh