Điều này dẫn đến tình trạng cácdoanh nghiệp, công ty với năng lực sản xuất, năng suất lao động khác nhau, quymô và tốc độ phát triển khác nhau đã tìm mọi cách hoặc chèn ép, thôn tính đối
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2014
Tên công trình:
Kinh nghiệm quản lý tập đoàn kinh tế tư nhân trên Thế giới
và một số gợi ý về mặt chính sách với Việt Nam
Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội
HÀ NỘI, 2014
i
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Ưu điểm và hạn chế của mô hình TĐKT công ty mẹ nắm vốn 22
Bảng 2: Ưu điểm và hạn chế của mô hình tập đoàn tập trung quyền lực 24
Bảng 3: Sự phát triển của các TĐKT ở Trung Quốc giai đoạn 1997-2001 53
Bảng 4: Số lượng các TĐKT Trung Quốc theo lĩnh vực hoạt động năm 2001 54
Bảng 5: Thống kê tài sản và kết quả kinh doanh của một số Tập đoàn lớn tại Việt Nam năm 2010 57
DANH MỤC HÌNH Hình 1: Mô hình liên kết đầu tư hoặc sở hữu vốn phổ biến tại các TĐKT 16
Hình 2: Mô hình tập đoàn công ty mẹ nắm vốn 20
Hình 3: Mô hình tập đoàn tập trung quyền lực 23
Hình 4: Mô hình tập đoàn theo cấu trúc hỗn hợp 25
Hình 5: Mô hình TĐKT theo cấu trúc sở hữu đơn giản 27
Hình 6: Mô hình TĐKT các thành viên đồng cấp sở hữu và kiểm soát lẫn nhau .28 Hình 7: Mô hình TĐKT có công ty cấp trên trực tiếp đầu tư, kiểm soát các công ty con không thuộc cấp dưới trực tiếp của mình 28
Hình 8: Mô hình TĐKT có cấu trúc sở hữu hỗn hợp 30
Hình 9: Mô hình tập đoàn trong tập đoàn 31
Trang 4Hình 10: Mô hình tập đoàn Keiretsu theo chiều dọc 37
Hình 11: Mô hình Keiretsu liên kết theo chiều ngang 39
Hình 12: Mô hình tập đoàn Chaelbol của Hàn Quốc 43
Hình 13: Vòng đời phát triển phổ biến của một số TĐKTTN tại Việt Nam 55
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Mục đích nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC VẤN ĐỀ MỚI VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ 5
1.1 Khái niệm, quan điểm về tập đoàn kinh tế 5
1.2 Sự hình thành của các tập đoàn kinh tế 8
1.2.1 Tính tất yếu của sự hình thành các TĐKT 8
1.2.2 Điều kiện dẫn đến sự hình thành TĐKT 10
1.2.3 Các phương thức hình thành TĐKT 11
1.3 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế 13
1.3.1 Đặc điểm về địa vị pháp lý 13
1.3.2 Đặc điểm về quan hệ sở hữu 13
1.3.3 Đặc điểm về cấu trúc và tổ chức 14
1.3.4 Đặc điểm về quy mô 14
1.3.5 Đặc điểm về đầu tư, quản lý vốn 15
1.3.6 Đặc điểm về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh 17
1.3.7 Đặc điểm về liên kết trong quá trình sản xuất kinh doanh 19
1.4 Các mô hình tập đoàn kinh tế 20
1.4.1 Xét từ góc độ tổ chức 20
1.4.2 Xét từ góc độ sở hữu và cơ chế đầu tư, quản lý vốn 26
Trang 6CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA PHÁT TRIỂN TRÊN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI CÁC MÔ HÌNH
TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN TRỌNG ĐIỂM 33
2.1 Kinh nghiệm xây dựng, quản lý TĐKTTN của chính phủ Nhật Bản 33
2.2 Kinh nghiệm quản lý, tái cấu trúc các TĐKTTN của chính phủ Hàn Quốc từ năm 1962 đến nay 41
2.3 Kinh nghiệm từ chính sách “zhuada fangxiao” - xây dựng hệ thống các tập đoàn kinh tế lớn của chính phủ Trung Quốc từ năm 1997 đến nay 50
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GỢI Ý VỀ MẶT CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆC QUẢN LÝ TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM 55
3.1 Thực trạng hoạt động của mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân đang được triển khai tại Việt Nam 55
3.2 Khuôn khổ hiện hành của hệ thống pháp lý về tập đoàn kinh tế tư nhân tại Việt Nam 58
3.3 Sự cần thiết của việc tăng cường chính sách quản lý, hỗ trợ đối với các tập đoàn kinh tế tư nhân tại Việt Nam 60
3.4 Một số gợi ý về mặt chính sách đối với việc quản lý hệ thống tập đoàn kinh tế tư nhân tại Việt Nam 63
3.4.1 Ban hành các quy định về luật để điều chỉnh tổ chức và hoạt động đối với tập đoàn kinh tế tư nhân 63
3.4.2 Xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ, khuyến khích các tập đoàn kinh tế tư nhân 65
3.4.2.1 Định hướng một số lĩnh vực ưu tiên phát triển tập đoàn kinh tế tư nhân 65
3.4.2.2 Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác giữa các hội ngành nghề, TĐKTNN với TĐKTTN 67
3.5 Kiến nghị điều kiện thực hiện đối với các chính sách được gợi ý 68
3.5.1 Đối với chính phủ 68
3.5.2 Đối với các tập đoàn kinh tế tư nhân 69
Trang 73.5.2.1 Áp dụng quản trị khoa học phù hợp 69 3.5.2.2 Tái cấu trúc tập đoàn một cách hiệu quả 70
KẾT LUẬN 75
Trang 8Trong chương II, đề tài sẽ tập trung đi sâu vào việc nghiên cứu thực tiễn đãđược chính phủ Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc áp dụng trong việc quản lý,xây dựng chính sách đối với các tập đoàn kinh tế tư nhân trọng điểm tại các quốcgia này Đối với Nhật Bản và Hàn Quốc, đề tài sẽ nghiên cứu ưu, nhược điểm của
hệ thống chính sách đối với sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế tưnhân vốn có sự liên kết rất chặt chẽ với chính phủ Tại Trung Quốc, chương trình
cải cách “zhuada fangxiao” được Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra năm 1997,
nhằm mục tiêu khuyến khích các doanh nghiệp vừa và lớn, bao gồm hỗn hợp cảtập đoàn kinh tế nhà nước và tập đoàn kinh tế tư nhân, đã có những tác động to lớnvới nền kinh tế quốc gia này Từ đó, một số bài học kinh nghiệm về vai trò quản lýcủa nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế tư nhân tại Việt Nam cũng đã được rútra
Trong chương III, phần đầu, thông qua tìm hiểu thực trạng triển khai môhình tập đoàn và thực trạng hoạt động tại các tập đoàn kinh tế tư nhân Việt Nam,nghiên cứu sẽ đưa ra những đánh giá chung nhất về tình hình hoạt động và pháttriển của đối tượng này tại Việt Nam Nghiên cứu cũng sẽ đánh giá thực trạng quản
lý tập đoàn kinh tế tư nhân về mặt chính sách thông qua việc thu thập và phân tích
hệ thống luật, hướng dẫn và nghị định đối với đối tượng này Với mục đích đề xuấtđưa ra một số gợi ý về mặt chính sách đối với việc quản lý các tập đoàn kinh tế tưnhân dựa trên kinh nghiệm của bốn quốc gia trên và dựa trên thực trạng tại ViệtNam, đề tài chỉ rõ thực trạng còn thiếu sót và thiếu hiệu quả của hệ thống chínhsách quản lý đối với các tập đoàn kinh tế tư nhân tại Việt Nam cũng như chỉ rõ sựcần thiết trong việc cải cách các chính sách hiện hành và nghiên cứu các chínhsách mới Sau đó, nội dung chi tiết của các chính sách gợi ý đã được đưa ra choViệt Nam Mặc dù chưa thể kiểm định được độ hiệu quả, chính xác của các chính
Trang 9sách do khó khăn trong việc tìm kiếm số liệu, nghiên cứu cũng đã kiến nghị nhữngđiều kiện cần được tạo ra để thực hiện các chính sách được gợi ý một cách có hiệuquả tại Việt Nam.
Trang 101 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hơn hai mươi năm đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc Sựlớn mạnh không ngừng của các thành phần kinh tế, trong đó có lực lượng đông đảo
là các doanh nghiệp tư nhân - lực lượng đóng góp trên 40% tổng GDP đã dẫn đếnmột hệ quả tất yếu là khá nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh không ngừng Sựphát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư nhân cả về quy mô và chất lượng đãkhiến không ít doanh nghiệp tích tụ được một lượng vốn, tài sản lớn, hoạt động,quản lý theo phương thức tiên tiến, đồng thời xây dựng mô hình phát triển có mốiliên hệ với nhau về vốn, kỹ thuật và quản trị, kinh doanh trên nhiều ngành nghề vàkhông giới hạn phạm vi Thực tế, đã xuất hiện những tên tuổi lớn trong cộng đồngdoanh nghiệp tư nhân Việt Nam khẳng định được tầm vóc ở phạm vi toàn quốc vàkhu vực như: Kinh Đô, Hòa Phát, Đồng Tâm, Hoàng Anh Gia Lai, Sacombank,v.v Đây có thể xem là sự phôi thai của việc hình thành những mô hình TĐKTTNtại Việt Nam Sự phát triển của các tập đoàn này là tất yếu của quá trình hợp tácphát triển các loại hình doanh nghiệp trên cơ sở nhu cầu phát triển thị trường vàhội nhập kinh tế quốc tế Việc hình thành các TĐKTTN cho phép phát huy lợi thếkinh tế có quy mô lớn, khai thác triệt để thương hiệu, hệ thống dịch vụ đầu vào,đầu ra và nhiều loại hình dịch vụ Đây được xem là là quá trình tất yếu trong cơchế thị trường và khi nhu cầu về chuyên môn hóa, tích tụ vốn, năng lực quản lý vàcạnh tranh quốc tế lớn đến một mức độ nhất định, mô hình tập đoàn kinh tế sẽ làlựa chọn tất yếu của những công ty lớn nhằm mục tiêu cao nhất là hoạt động ngàycàng hiệu quả hơn
Tuy nhiên, trên thực tế do không có một hệ thống chính sách hướng dẫn, hỗtrợ hay tập trung ưu tiên cho một nhóm TĐKTTN giàu tiềm năng để các TĐKTTNnày phát triển mạnh mẽ hơn nữa nên nhiều TĐKTTN đã bị mắc bẫy đầu tư theophong trào, không xây dựng được giá trị thương hiệu thực sự Điều này ảnh hưởngxấu không những ảnh hưởng xấu đến các bản thân TĐKTTN mà còn vừa gây lãngphí một nguồn lực phát triển hùng hậu, vừa gây hậu quả nghiêm trọng đối với toàn
bộ nền kinh tế Việt Nam Thêm vào đó, khuôn khổ pháp lý hiện hành cũng đang
Trang 11thiếu sót một chuẩn mực nhất định nên thời gian vừa qua, trong khi nhiều DN tưnhân đã xứng đáng được công nhận là Tập đoàn kinh tế dù vẫn phải núp dướinhững tên gọi rất khập khiễng như Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát, Công ty
cổ phần Tập đoàn FPT, v.v thì cụm từ tập đoàn cũng được không ít doanh nghiệp
tư nhân lạm dụng Tình trạng loạn mô hình tập đoàn đang có cơ đánh đồng giá trị
mà những doanh nghiệp tư nhân lớn phải dày công xây dựng nhiều năm với nhữngdoanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có tiếng tăm, vị thế, tạo nên sự không công bằng vàthiếu lành mạnh trong môi trường kinh doanh hiện nay Đây là một kẽ hở pháp lýrất cần được nhìn nhận và đánh giá nghiêm túc
Từ những phân tích trên, người nghiên cứu quyết định chọn đề tài: “Kinh nghiệm quản lý tập đoàn kinh tế tư nhân trên Thế giới và một số gợi ý về chính sách đối với Việt Nam” cho công trình nghiên cứu của mình.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên Thế giới, TĐKT đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà kinh tếhọc, xã hội học và chính trị học ngay từ đầu thế kỷ XX và tiếp tục trở thành đốitượng gây ra nhiều tranh cãi cho đến tận ngày nay Tại Việt Nam, những vấn đề lýluận về mô hình TĐKT đã được nhiều cơ quan, tổ chức và các học giả triển khainghiên cứu bởi nhiều hội thảo và các công trình nghiên cứu khác nhau, trong đó
tiêu biểu là hội thảo “Mô hình tập đoàn kinh tế: Lý luận và thực tiễn” và nghiên cứu “Mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước Việt Nam đến 2020”.
Nghiên cứu sẽ tiến hành xây dựng một cơ sở lý luận về mô hình TĐKT bằngviệc hệ thống hóa lại các thành tựu đạt được trong các nghiên cứu nói trên và bổsung thêm lý giải cho những vấn đề mới được nảy sinh gần đây Sau đó, nghiêncứu sẽ phân tích một cách tương đối chi tiết quá trình hình thành và phát triển hệthống TĐKTTN tại ba quốc gia là Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Những bàihọc rút ra được từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của ba quốc gia trên sẽ được vậndụng trong việc đề xuất một số gợi ý về mặt chính sách và kiến nghị trong việcquản lý mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành kinh tế quốc tế, tập trung chuyên sâuvào những vấn đề về hoạt động của mô hình TĐKTTN, quan hệ sở hữu, đầu tư,
Trang 12mua bán cổ phần trong nội bộ TĐKT và hệ thống chính sách quy định, hỗ trợ hìnhthành, phát triển loại hình doanh nghiệp này.
Về không gian, đề tài chủ yếu nghiên cứu về hệ thống TĐKTTN tại Nhật Bản,Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam
Về thời gian, giai đoạn nghiên cứu trải dài từ khi các TĐKT đầu tiên ở NhậtBản ra đời từ những năm 1920 đến nay, với trọng tâm được xác định tùy thuộc vàotừng quốc gia Bên cạnh đó, các giai đoạn khác cũng được đề cập đến để hỗ trợnghiên cứu các vấn đề được nêu trong đề tài
4 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm đưa ra các gợi ý về phương thức hình thành, kinhnghiệm hoạt động sản xuất kinh doanh cho các TĐKTTN và gợi ý về mặt chínhsách quản lý, hỗ trợ cho Nhà nước đối với đối tượng này tại Việt Nam, thông quakinh nghiệm áp dũng thực tiễn từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có kế thừa và sử dụng kết quả nghiên cứu, hội thảo khoa học về TĐKTtrong và ngoài nước làm cơ sở lý luận và tham khảo
Do phạm vi nghiên cứu chịu ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố tổng hợp, bên trong
và bên ngoài hệ thống tập đoàn kinh tế, phương pháp phân tích được sử dụng chủyếu, đồng thời kết hợp thu thập dữ liệu, nghiên cứu tình huống để so sánh, đánhgiá hiệu quả các gợi ý chính sách
Trang 13 Đề xuất một số gợi ý về mặt chính sách và kiến nghị cho Nhà nước và cácTĐKTTN trong việc quản lý hệ thống TĐKTTN tại Việt Nam.
7 Kết cấu đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận và các vấn đề mới về mô hình Tập đoàn
kinh tế
Chương 2: Kinh nghiệm quản lý của một số quốc gia phát triển trên
Thế giới đối với các tập đoàn kinh tế tư nhân trọng điểm
Chương 3: Một số gợi ý về mặt chính sách đối với việc quản lý tập
đoàn kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC VẤN ĐỀ MỚI VỀ MÔ
HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ
Tại Việt Nam, những vấn đề lý luận về mô hình TĐKT đã được nhiều cơquan, tổ chức và các học giả triển khai nghiên cứu bởi nhiều hội thảo và các công
trình nghiên cứu khác nhau, trong đó tiêu biểu là hội thảo “Mô hình tập đoàn kinh
tế: Lý luận và thực tiễn”1 và nghiên cứu “Mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước Việt
Nam đến 2020”2 Công trình dưới đây tổng hợp lại các nội dung quan trọng và bổsung cho một số thành tựu đã đạt được trong hai nghiên cứu trên
1.1 Khái niệm, quan điểm về tập đoàn kinh tế
TĐKT không phải là một khái niệm mới trong lịch sử phát triển kinh tế.Trên thực tế, các TĐKT đầu tiên đã xuất hiện từ cách đây hơn một thế kỷ cùng vớiquá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra mạnh mẽ ở thời kỳ này TĐKT đã trởthành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế học, xã hội học và chính trị họcngay trong khoảng thời gian này Bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ XIX, dưới sự tác độngtrực tiếp của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 ở các nước Hoa Kỳ và Tây Âu(dẫn đầu là Anh, Đức), các ngành công nghiệp luyện kim, điện khí hóa, vận tảiđường sắt, đường biển v.v… phát triển vũ bão, nền sản xuất hàng hóa trên Thế giớiphát triển chưa từng có trong lịch sử loài người Cùng với đó, các học thuyết kinh
tế cổ điển của William Petty, Adam Smith, David Ricardo, Thomas Malthus3 với
sự đề cao tuyệt đối tính tự do và “bàn tay vô hình” của thị trường đang thống trị
Trang 15các nhà hoạch định chính sách ở phương Tây Điều này dẫn đến tình trạng cácdoanh nghiệp, công ty với năng lực sản xuất, năng suất lao động khác nhau, quy
mô và tốc độ phát triển khác nhau đã tìm mọi cách hoặc chèn ép, thôn tính đối thủ
của mình hoặc tự nguyện trở thành các Cartel “chung sống hòa bình” với nhau trên
cơ sở các liên minh hay tổ hợp để cùng “phân chia” thị trường, để từ đó, khai thácnhững tiềm năng riêng có của từng công ty, doanh nghiệp trong một “vỏ bọc” vữngchắc hơn bởi một liên minh rộng hơn Ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã
có nhiều tên gọi, cụm từ để chỉ các tập hợp này, đó là “Cartel”, “Association”,
“Consortium”, “Conglomerate”, … (ở phương Tây), “Zaibatsu” (ở Nhật Bản) Gầnđây, các cụm từ được sử dụng phổ biến là “Chaebol” (tại Hàn Quốc), “Keiretsu”(tại Nhật Bản), “Jituan Gongsi” (tại Trung Quốc) “Corporation”, “Conglomerate”(tại Hoa Kỳ), “Business House” (tại Ấn Độ), “Group”, “MNC”, v.v…
Tùy vào lịch sử phát triển kinh tế, các luật định tại quốc gia sở tại mà các tậpđoàn kinh tế ít nhiều có sự khác nhau về phương thức hình thành cũng như cơ cấu
tổ chức, tuy nhiên, tất cả những cụm từ trên đều có chung một tinh thần chủ đạo là
sự liên minh, liên kết, nhóm, thỏa thuận ở các cấp độ khác nhau như phối hợpchiến lược, góp vốn, phân chia chiếm lĩnh thị trường, cung ứng nguyên liệu – sảnphẩm, có nguyên tắc kiểm soát nội bộ, v.v… không gì khác hơn nhằm phát triển vàbảo vệ các công ty thành viên trong đó, tối đa hóa sức cạnh tranh, tránh khỏi nguy
cơ bị chèn ép, thôn tính trên thương trường Tất cả những cụm từ đó, khi đượcnghiên cứu và dịch sang Tiếng Việt, đều được gọi chung là “tập đoàn”, hoặc “tậpđoàn kinh tế’
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau về TĐKT trên Thế giới.Các quan điểm thường dựa trên truyền thống, nguyên tắc pháp lý và đa số được thểchế hóa bởi các luật định (như Luật công ty, Luật cạnh tranh, các quy định về thuế,mua bán sáp nhập v.v…) do Chính phủ ban hành Trong khuôn khổ này, nghiêncứu sẽ chỉ ra một số quan điểm phổ biến trên Thế giới hiện nay
Một số quốc gia như Mỹ, Hà Lan, Vương quốc Anh thì đưa ra khái niệm tậpđoàn dựa trên nguyên tắc các công ty là các pháp nhân độc lập, liên kết với nhaudựa trên mối lợi ích chung, cùng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trongmột hoặc nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế
Trang 16Một số quốc gia như Brazil, Bồ Đào Nha, tiêu biểu là CHLB Đức, lại đưa rakhái niệm về TĐKT theo cách tiếp cận coi TĐKT là một thực thể thống nhất, mộtđơn vị kinh tế4 Ví dụ cụ thể ở CHLB Đức, có hai mô hình kinh tế chủ đạo là
“Gleichordnungkonzernen” là TĐKT đồng cấp (hoặc TĐKT không phụ thuộc) và
“Unterordnungskonzern” là TĐKT theo thứ bậc (hoặc TĐKT phụ thuộc) Mô hìnhTĐKT theo thứ bậc thường xuyên được điều chỉnh bởi chính phủ, và được côngnhận là một thực thể thống nhất có địa vị pháp lý Với hình thức TĐKT đồng cấp,
vị thế bình đẳng giữa các doanh nghiệp thành viên (không có doanh nghiệp chiphối), và theo quy định của luật pháp Đức, các doanh nghiệp này phải tự ký kếthợp đồng cùng nhau hình thành một cơ quan lãnh đạo tâp đoàn (dưới dạng một hộiđồng tham vấn hoặc tương tự) để phù hợp với khái niệm TĐKT của Luật
Tại Nhật Bản, TĐKT được coi là một nhóm các doanh nghiệp độc lập vềmặt pháp lý (tương tự như tại Hoa Kỳ), nhưng nắm giữ cổ phẩn lẫn nhau và thiếtlập mối quan hệ sống còn về vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, nguyên liệu đầu vào
và các phương án tiêu thụ sản phẩm Trong quá khứ, luật pháp Nhật Bản cấmdoanh nghiệp trong tập đoàn được sở hữu vốn tại ngân hàng, tuy nhiên, hiện này,các doanh nghiệp này được tổ chức quanh một ngân hàng “đồng minh” để phục vụlợi ích các bên
Tại Hàn Quốc, các công ty trong tập đoàn cũng nắm giữ cổ phần, góp vốncủa nhau dưới dạng nhiều công ty con được hình thành xoay quanh một công ty
mẹ có quy mô rất lớn Chủ sở hữu các công ty con cũng như người đứng đầu tậpđoàn đa số là những người chung huyết thống, vì vậy, TĐKT ở Hàn Quốc mangtính chất gia đình trị rất lớn
Tại Trung Quốc, TĐKT tại Trung Quốc cũng được định nghĩa bao gồm công
ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên, ở đó, các doanh nghiệp thành viên phải cóquyền và nghĩa vụ pháp nhân độc lập trong khi tập đoàn không có tư cách phápnhân Điểm đặc biệt đó là TĐKT tại Trung Quốc lại được chi phối mạnh mẽ bởicác yếu tố định lượng bao gồm vốn đăng ký tối thiểu của doanh nghiệp thành viên,tổng vốn cả tập đoàn, vốn điều lệ, tập đoàn chỉ được công nhận khi công ty mẹ sởhữu 5 công ty con trở lên v.v…
4
CHLB Đức không có nghị định riêng về TĐKT nhưng TĐKT, gọi là “Konzern”, là đối tượng được quy định bởi Luật tổ chức doanh nghiệp
Trang 17Mặc dù không có sự nhất quán trong quan điểm về TĐKT giữa các nền kinh
tế hàng đầu, nhưng thực tế phát triển các TĐKT tại các quốc gia trên đã chỉ ra sựkhông nhất quán này không hề chỉ ra một mô hình hay quy định về TĐKT nào hiệuquả hơn hay cần phải có một sự thống nhất tuyệt đối về khái niệm TĐKT Nói cáchkhác, không có minh chứng nào thuyết phục rằng quan điểm TĐKT cần rập khuôntheo một mô hình tối ưu nhất Các khái niệm về TĐKT có thể khác nhau tùy vàohoàn cảnh và định hướng chính sách của mỗi quốc gia, tuy nhiên, có thể chỉ ra 2điểm chung cơ bản mà mọi quan điểm về TĐKT cùng chia sẻ, đó là:
(1) TĐKT là một tổ hợp các doanh nghiệp, bao gồm 3 yếu tố cấu thành công
ty mẹ, công ty con và doanh nghiệp liên kết Công ty mẹ là hạt nhân của tập đoàn,
là đầu mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên, doanh nghiệp liên kết vớinhau, nắm quyền kiểm soát, chi phối hoạt động các doanh nghiệp thành viên cũngnhư các chính sách, chiến lược phát triển
(2) Tập đoàn có thể hoạt động trong một ngành, liên kết theo kiểu hàng dọc,
ở đó các thành viên thành viên cung cấp nhiều hơn một sản phẩm, dịch vụ trongtoàn bộ quy trình sản xuất Hoặc, tập đoàn có thể hoạt động trong nhiều ngànhkhác nhau, liên kết với nhau thông qua nắm giữ cổ phần lẫn nhau hoặc bằng cáchình thức khác Các doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về vốn, đầu tư,tài chính, công nghệ thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các mối liên kết khác xuấtphát từ lợi ích của các doanh nghiệp trong tập đoàn
1.2 Sự hình thành của các tập đoàn kinh tế
1.2.1 Tính tất yếu của sự hình thành các TĐKT
Theo quy luật tích lũy, tích tụ tập trung, quy luật cạnh tranh và tối đa hóa lợiích kinh tế, sự ra đời của TĐKT là một sản phẩm tất yếu, mang tích khách quan.Yếu tố tất yếu, khách quan đó được thể hiện qua các đặc điểm:
- TĐKT ra đời đáp ứng yêu cầu quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất Với sự phát triển không ngừng của lực lượngsản xuất trong thời đại ngày nay, quan hệ sản xuất trong các TĐKT là yếu tố kháchquan đáp ứng lại sự phát triển đó Sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ sản xuấttrong các TĐKT được thể hiện rõ nhất qua hai mặt: (1) Quan hệ sở hữu đối với tưliệu sản xuất hiệu quả và (2) Quan hệ tổ chức lao động sản xuất hiệu quả Đây
Trang 18cũng là hai yếu tố cơ bản được đề cập trong cấp bậc về trình độ quản trị mà cácdoanh nghiệp, tập đoàn áp dụng.
- TĐKT ra đời và phát triển đáp ứng yêu cầu quy luật tích tụ và tập trungvốn nhằm tối đa hóa lợi nhuận TĐKT có khả năng khắc phục được hạn chế về vốncủa từng công ty riêng lẻ Trong TĐKT, nguồn vốn được huy động từ tất cả công
ty thành viên và được luân chuyển theo một chiến lược xuyên suốt, tập trung vàocác dự án có hiệu quả nhằm tạo ra lợi ích kinh tế tối đa cho từng công ty thành viêncũng như cho cả tập đoàn Việc huy động vốn, đầu tư đan xen lẫn nhau giữa cáccông ty thành viên tạo nên sức mạnh liên kết, gắn bó trong tập đoàn, giúp tập đoànphát triển
- TĐKT ra đời và phát triển giúp tăng cường sức mạnh kinh tế thông quakhả năng cạnh tranh của từng công ty thành viên Điều này bao gồm hai yếu tố: lợithế về quy mô lớn và lợi thế về thương hiệu Thứ nhất, TĐKT giúp cho việc huyđộng được tối đa các nguồn lực vật chất, lao động và vốn trong xã hội vào quátrình sản xuất, từ đó hình thành nên một nền sản xuất có tính chất công nghiệp hiệnđại, quy mô lớn Thứ hai, việc hình thành tập đoàn giúp cho việc phát triển thươnghiệu chung cũng như thống nhất phương hướng, chiến lược trong phát triển kinhdoanh để có khả năng đối phó với sự cạnh tranh của các đơn vị kinh tế khác
- TĐKT ra đời và phát triển phù hợp với xu hướng đầu tư trong thời đại mới,
đó là đầu tư dàn trải chiến lược nhằm phân tán rủi ro Yếu tố đầu tư đa ngành, dàntrải chiến lược trong nhiều trường hợp lại có tác dụng ngược, và sẽ được bàn đến ởphần sau của nghiên cứu
- TĐKT ra đời và phát triển phù hợp với nhu cầu bức thiết về sở hữu trình
độ khoa học quản lý, trình độ khoa học – công nghệ tiên tiến vào hoạt động sảnxuất kinh doanh ở thời kỳ mới Nếu như trước đây, các doanh nghiệp có thể thànhcông đơn thuần bởi một hoặc số ít sản phẩm vượt trội có vòng đời dài, thì ngàynay, sự phát triển vũ bão của khoa học – công nghệ khiến các công ty luôn phảithay đổi trọng tâm từ chú trọng sản phẩm sang chú trọng sở hữu bí quyết côngnghệ nhằm tránh nguy cơ bị bắt chước, sao chép, chèn ép trên thị trường hoặc bịtụt hậu về mặt công nghệ Thực tế cho thấy các TĐKT lớn trên Thế giới, dù hoạtđộng trong ngành công nghiệp truyền thống hay ngành công nghiệp mới, thì nhucầu nghiên cứu và cải tiến về mặt khoa học – công nghệ áp dụng vào hoạt động sản
Trang 19xuất kinh doanh luôn là nhu cầu bức thiết hàng đầu Điều này có yếu tố tiên quyết,thậm chí sống còn đối với năng suất lao động của một doanh nghiệp Việc cungứng trang thiết bị nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ đòi hỏi nhiều thờigian, nguồn vốn lớn và đội ngũ cán bộ nghiên cứu đông đảo khó có thể thực hiệnbởi các công ty hoạt động một mình Chính vì vậy, sự ra đời của các TĐKT là điềutất yếu để tạo ra sự hợp tác trong việc nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa họccông nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như thực hiện chuyển giaocông nghệ phù hợp với chi phí thấp.
- Đối với khuôn khổ một nền kinh tế quốc dân, sự hình thành và phát triểnTĐKT có vai trò quan trọng, là một trong những giải pháp bảo vệ nền sản xuấttrong nước chống lại sự thâm nhập thị trường của các tập đoàn đa quốc gia của cácnước khác
1.2.2 Điều kiện dẫn đến sự hình thành TĐKT
TĐKT được hình thành trong những điều kiện, yêu cầu nhất định Các điềukiện được chia ra ra làm hai nhóm: điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan
Về điều kiện khách quan, thứ nhất, điều kiện môi trường kinh tế - xã hội bao
gồm trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ phát triển của các loại thịtrường, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính; xu hướng đaquốc gia, xu hướng khu vực hóa, xu hướng toàn cầu hóa, xu hướng hội nhập và tự
do hóa thương mại; các điều kiện để hình thành nên tập đoàn Thứ hai, khi hoạt
động sản xuất kinh doanh đạt đến một trình độ xã hội hóa nhất định, nhu cầu bứcthiết về sở hữu công nghệ và sản xuất quy mô lớn của các công ty lớn sẽ dẫn tớiđòi ỏi khách quan phải lựa chọn mô hình tập đoàn để tăng cường sức mạnh của tất
cả công ty thành viên qua sức mạnh tổng thể của tập đoàn
Về điều kiện chủ quan, thứ nhất, về phía các nhóm công ty muốn thành lập
tập đoàn, các điều kiện về vốn, số lượng doanh nghiệp (đôi khi theo luật định), thịphần, năng lực sản xuất, trình độ quản lý trên thực tế, khả năng tích tụ và tập trungvốn thông qua các mối liên kết và cấu trúc sở hữu, trình độ và mức độ sở hữu bí
quyết khoa học – công nghệ là những tiêu chí quan trọng cần xem xét Thứ hai, về
phía Chính phủ, các cơ quan quản lý kinh tế chức năng cần xây dựng một hệ thốngpháp luật, môi trường chính trị - xã hội và hệ thống chính sách phù hợp tạo điềukiện để hình thành tập đoàn Phương hướng phát triển kinh tế của chính phủ được
Trang 20chứng minh là có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển của các tậpđoàn Chẳng hạn như ở Trung Quốc, các TĐKTNN thường có quy mô khổng lồ5,vừa là trụ cột, vừa là công cụ điều chỉnh kinh tế vĩ mô của chính phủ Trung Quốc.Mức độ và cách thức hỗ trợ, can thiệp của chính phủ đối với quá trình hình thành
và phát triển tập đoàn tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế và mục tiêu của chính phủtrong từng thời kỳ Kinh nghiệm xây dựng tập đoàn của nhiều quốc gia, đặc biệt là
ở Hàn Quốc và Nhật Bản đã chứng minh sự hỗ trợ tích cực từ phía Nhà nước bằngcác định hướng, ưu tiên đúng đắn, phù hợp sẽ giúp các TĐKT có thể phát triển
vững cao, bởi ba nguyên nhân Một là, việc hình thành tập đoàn qua phương thức
phát triển tuần tự cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đượcchứng minh là hiệu quả và có tính bền vững cao Quyết định thành lập TĐKT saumột quá trình phát triển kinh doanh thành công thể hiện tính khách quan trong điều
kiện hình thành TĐKT đã được phân tích ở mục 1.1.2.2 Hai là, quá trình mua cổ
phần, chi phối các công ty khác được thực hiện qua các quy luật thị trường (doanhnghiệp mạnh thôn tính doanh nghiệp yếu hơn), do đó, liên kết về vốn trong nội bộTĐKT tự thân phát triển thường bền chặt, khó có nguy cơ bị thôn tính lại bởi đối
thủ Ba là, trải qua quá trình dài cạnh tranh khốc liệt trên thương trường, đội ngũ
5
Theo thống kê của tạp chí Forbes, trong năm 2011, có 3 TĐKTNN của Trung Quốc lần lượt hoạt động trong lĩnh vực khai thác dầu khí, hóa dầu và sản xuất đồ điện gia dụng nằm trong số 10 tập đoàn có tổng doanh thu lớn nhất trên Thế giới
Trang 21lãnh đạo của TĐKT phát triển tự thân thường có năng lực quản lý giỏi, kinhnghiệm xử lý, đối phó tình huống phong phú Đây là một yếu tố quan trọng, bởi lẽ,các TĐKT được thành lập khi thời cơ chưa chín muồi hoặc do ý muốn chủ quanthường không có được một đội ngũ lãnh đạo đảm đương được chức năng điều phối
cả 1 TĐKT có quy mô lớn
Thứ hai, TĐKT hình thành bởi liên kết tự phát, tự nguyện giữa các doanhnghiệp có chung mối quan tâm Các doanh nghiệp, thường là hoạt động trong cùngmột ngành công nghiệp hoặc cung ứng các khâu khác nhau trong một quá trình sảnxuất khép kín, trên cơ sở tự nguyện, độc lập liên kết với nhau để trở thành TĐKT
có tiềm lực tài chính, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường Trong quá trìnhhoạt động, liên minh này tiếp tục sử dụng tiềm lực đó để mở rộng quy mô sản xuất,
đa dạng hóa ngành nghề Chẳng hạn, tập đoàn IKEA của Thụy Điển chuyên sảnxuất đồ gỗ và nội thất gia dụng, ban đầu là một công ty tư nhân khai thác bán gỗ,nhận thấy tiềm năng của việc chế biến gỗ thành phẩm so với việc bán gỗ nguyênliệu, đã liên kết với một số công ty chuyên thiết kế nội thất Liên minh này hoạtđộng song song trên cả hai lĩnh vực kinh doanh, và liên kết với các công ty cùngngành lẫn các công ty cung ứng ngành công nghiệp bổ trợ (như gia công, chế tạocác linh kiện kim loại, chế biến gỗ ván ép) Hiện nay, IKEA là tập đoàn cung cấp
đồ gia dụng, sản phẩm gỗ lớn nhất châu Âu
Thứ ba, TĐKT hình thành dựa trên quyết định thành lập của chính phủ trên
cơ sở các doanh nghiệp, tổng công ty thuộc sở hữu nhà nước Đây là phương thứchình thành nên các TĐKTNN ở các quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam CácTĐKTNN thường bị cho là thành lập dựa trên mệnh lệnh hành chính chủ quan duy
ý chí, không tuân theo quy luật thị trường, sử dụng nguồn vốn ngân sách nên thiếuđộng lực kinh tế thuần túy, dẫn đến việc làm ăn thua sút Tuy nhiên, nhiều học giảcho rằng không thể đầy đủ đánh giá vai trò của các TĐKTNN đơn thuần thông quahiệu quả kinh tế Các lập luận này cho rằng TĐKTNN còn thực hiện một số chứcnăng chính trị - xã hội quan trọng như là một công cụ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệcác nguồn tài nguyên thiên nhiên quốc gia khỏi yếu tố nước ngoài, bảm đảm anninh quốc gia bằng việc thực hiện độc quyền tại một số ngành nhạy cảm, chẳnghạn như khai thác năng lượng và sản xuất điện
Thứ tư, TĐKT hình thành dưới sự kết hợp của quá trình tự phát và sự tácđộng, hỗ trợ của Nhà nước Đây là phương thức hình thành đã tạo nên những
Trang 22TĐKT hùng mạnh ở Hàn Quốc như Samsung, Huyndai, LG, v.v Trong một giaiđoạn nhất định, Chính phủ sẽ lựa chọn những nhóm công ty có tiềm lực mạnh vềtài chính, có vị trí và thị phần lớn trong ngành và có tiềm năng phát triển để thànhlập tập đoàn mũi nhọn để phục vụ cho một hay nhiều mục tiêu, kế hoạch tăngtrưởng kinh tế nào đó Các chính sách hỗ trợ bao gồm các khoản tín dụng với lãisuất ưu đãi, đánh thuế sản phẩm nhập khẩu cạnh tranh trong giai đoạn đầu, thậmchí là tạo độc quyền ngành.
Có thể khẳng định dù theo phương thức nào, việc hình thành TĐKT cần phảidựa trên nhu cầu về thị trường và lấy mục tiêu nâng cao khả năng sử dụng vốn,nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động lên hàng đầu Bên cạnh đó,trách nhiệm hướng dẫn, quản lý của Nhà nước đối với các TĐKT cần phải đượcphân biệt và không nên có sự can thiệp không cần thiết với hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp
1.3 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế
Đặc điểm về TĐKT được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Trongkhuôn khổ đề tài, nghiên cứu sẽ tổng hợp 7 đặc điểm của TĐKT, bao gồm đặcđiểm về mặt địa vị pháp lý; về quan hệ sở hữu; về cấu trúc và tổ chức; về quy môhoạt động; về đầu tư và quả lý vốn; về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và về liênkết trong quá trình sản xuất kinh doanh
1.3.1 Đặc điểm về địa vị pháp lý
TĐKT không có tư cách pháp nhân độc lập Quá trình liên kết, hình thànhtrong tập đoàn trên cơ sở tự nguyện, hoặc bắt buộc, hoặc bằng các văn bản quyđịnh hành chính (như trường hợp các TĐKT Nhà nước) Các doanh nghiệp trongtập đoàn, bao gồm cả công ty mẹ và các công ty thành viên bình đẳng với nhautrước pháp luật và được đăng ký, thành lập theo quy định pháp luật
1.3.2 Đặc điểm về quan hệ sở hữu
Quan hệ sở hữu ở TĐKT rất đa dạng Sở hữu ở TĐKT có thể là một chủ duynhất ở công ty mẹ, cũng có thể là nhiều chủ sở hữu (đa sở hữu) Hình thức sở hữu
có thể là sở hữu cổ phần (chẳng hạn như cổ phần của các thành viên theo luật địnhtại các nước châu Âu), sở hữu gia đình (tiêu biểu như ở Hàn Quốc hoặc Nhật Bản)hoặc sở hữu nhà nước (tiêu biểu như ở Trung Quốc, Việt Nam) Với kiểu TĐKT đa
Trang 23sở hữu, thì công ty mẹ đóng vai trò rõ rệt trên thị trường hơn là công ty mẹ ở sởhữu một chủ Ở đó, các công ty mẹ thường được tổ chức dưới hình thức công ty cổphần để nâng cao khả năng huy động vốn và tăng năng lực cạnh tranh.
1.3.3 Đặc điểm về cấu trúc và tổ chức
Hầu hết các TĐKT là một tổ hợp của nhiều công ty thành viên Ở đây, cầnlàm rõ có hai kiểu cấu trúc phổ biến ở các TĐKT Một là, TĐKT một công ty mẹlàm trung tâm điều phối hoạt động nhiều các công ty con kinh doanh đa ngànhnghề, lĩnh vực để giảm thiểu rủi ro, chi phí và hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành để tối
đa hóa lợi nhuận đầu – cuối (ví dụ như Tập đoàn Hòa Phát sở hữu một công ty conthứ nhất sản xuất và bán thép, sau đó thép được sử dụng trong công ty con thứ 2chuyên xây dựng bất động sản, tiếp theo công ty con thứ 3 chuyên kinh doanh nộithất cung ứng cho các bất động sản được xây dựng, v.v…) Hai là, dưới dạng mộtliên minh ngang hàng giữa các công ty riêng lẻ bổ trợ theo hình thức cộng sinh lẫnnhau trong một ngành công nghiệp (ví dụ như Tập đoàn công nghệ MK chuyên sảnxuất thẻ tại Việt Nam, là liên minh của ba công ty: công ty MKTech chuyên về sảnxuất phôi thẻ, MKSmart chuyên phát triển các phần mềm thông minh trên thẻ,Vinapay cung ứng các dịch vụ thẻ) Tuy nhiên, ở hình thức thứ 2 thì TĐKT cũng
sẽ có xu hướng xác định một công ty chủ chốt nắm giá trị cốt lõi (core-value) củangành
1.3.4 Đặc điểm về quy mô
Quy mô của TĐKT đang là một phạm trù gây nhiều tranh luận Nhiều ý kiếncho rằng không cần thiết và không nên, quy định hoặc đánh giá TĐKT qua quy môhoạt động của nó Những ý kiến này cho rằng sự đa dạng ngành hoặc mối liên kếtkinh tế giữa các doanh nghiệp thành viên trong liên minh là yếu tố quan trọng hơn
để đánh giá TĐKT Ý kiến khác cho rằng, đã gọi là TĐKT thì TĐKT đó cần thiếtphải đạt được một quy mô và phạm vi hoạt động ở một mức nào đó Các liên minhkinh tế đều có xu hướng tự nhận mình là một “Tập đoàn” mà thường không quáquan tâm đến quy mô thực sự của nó
Quy mô của TĐKT được thể hiện ở một số chỉ tiêu như tổng số vốn, tài sảnvốn hóa, doanh thu, số quốc gia mà tập đoàn đó có chi nhánh hoặc văn phòng đạidiện, và quan trọng nhất đó là thị phần đối với một hoặc nhiều nhóm sản phẩm chủyếu Trên Thế giới, có rất nhiều TĐKT có quy mô cực lớn và phạm vi hoạt động
Trang 24rất rộng Các TĐKT đều có xu hướng phát triển thành tập đoàn đa quốc gia, mởrộng mạng lưới ra khắp Thế giới Ví dụ, tập đoàn Nestlé của Thụy Sĩ, chuyên kinhdoanh sản phẩm dinh dưỡng cao cấp, có hơn 30 công ty 100% vốn của công ty mẹ,
17 công ty có trên 51% vốn của công ty mẹ và gần 30 công ty có dưới 50% vốncông ty mẹ, đa số các công ty đều có hoạt động tại nước ngoài Tập đoàn Nestlé códoanh thu khoảng 11.2 tỉ đô la Mỹ (trong năm 2011); có chi nhánh, nhà phân phốihoặc văn phòng đại diện ở 194 quốc gia; mở 447 nhà máy trên hơn 60 nước vàthuê khoảng 333000 nhân công6
Các TĐKT ngày càng có xu hướng bành trướng hoặc sáp nhập đa ngành, đalĩnh vực Các chuỗi giá trị được thiết lập trên toàn cầu với sự tham gia của nhiềuquốc gia khác nhau Các tập đoàn lớn thường có chiến lược linh hoạt trong đầu tư,sản xuất và phân phối sản phẩm để phù hợp với nhiều vùng địa lý khác nhau Đây
là một kiểu phân tán rủi ro theo khôn gian địa lý Quy mô rộng lớn, vượt qua biêngiới của các quốc gia thường được các nhà kinh tế học mô tả là một trong nhữngyếu tố cấu thành nên sự toàn cầu hóa
Mặt khác, quy mô cũng như khả năng sản xuất khổng lồ của các TĐKT cótác động to lớn, và đôi khi mới là thế lực thực sự nắm quyền điều khiển sự pháttriển của nền kinh tế, sự ổn định chính trị - xã hội tại hầu hết các quốc gia trên Thế
giới Nhà kinh tế học John Perkins (2004)7 sử dụng thuật ngữ tập đoàn trị
(corpotatocracy) 8 để chỉ hiện tượng này Chẳng hạn, Jefferey Sachs (2011)9 mô tảHoa Kỳ là một quốc gia điển hình của chế độ tập đoàn trị, khi mà “những nhómsiêu tập đoàn kiểm soát toàn bộ hệ thống chính sách” Quy mô chắc chắn ngàycàng được mở rộng của các TĐKT và ảnh hưởng của nó sẽ là yếu tố được các nhàhoạch định chính sách nghiên cứu trong thời gian tới
Trang 251.3.5 Đặc điểm về đầu tư, quản lý vốn
Bên cạnh việc các công ty thành viên trong tập đoàn có mối quan hệ về côngnghệ, kỹ thuật, thị trường, thương hiệu, v.v thì liên kết chủ yếu chính là liên kếtthông qua quan hệ về đầu tư vốn Các công ty thành viên trong tập đoàn sở hữuvốn lẫn nhau, vốn của công ty này được đầu tư vào công ty khác và ngược lại.Nguồn vốn được huy động từ công ty thành viên và được tập trung vào nhữngcông ty, dự án có hiệu quả cao Điều này giúp các công ty liên kết với nhau chặtchẽ hơn và tối đa hóa được các khoản đầu tư của mình Tại một số quốc gia, trongnội bộ tập đoàn thường có một ngân hàng thương mại làm trung gian tài chính giữacác thành viên, có vai trò phân phối vốn theo yêu cầu các công ty thành viên Tuynhiên, nhiều nhà phân tích kinh tế cho rằng hiện tượng trong nội bộ tập đoàn sởhữu một hay nhiều ngân hàng này sẽ tạo ra sự lũng đoạn các NHTM bởi cácTĐKT, và theo TS Lê Tuấn Nghĩa, thì đây chính là nguồn cơn cho “khủng hoảng
hệ thống ngân hàng”10
Trong mối quan hệ công ty mẹ - công ty con, công ty mẹ đầu tư toàn bộhoặc có cổ phần (để xác lập mối quan hệ công ty mẹ - công ty con thì công ty mẹcần phải là cổ đông lớn nhất) Sự chi phối của công ty mẹ đối với công ty con phụthuộc vào mức độ vốn đầu tư Tương tự, các công ty con đầu tư tiếp vào các công
ty cháu để hình thành mối quan hệ công ty mẹ - công ty con mới Chuỗi đầu tư cứtiếp tục như vậy và hình thành nên mối quan hệ cơ bản, chủ đạo Mối liên kết công
ty mẹ - công ty con này được chấm dứt khi công ty mẹ thoái vốn khỏi công ty đủ
để đảm bảo không trở thành cổ đông lớn nhất nữa Quyền lợi kinh tế của công ty
mẹ được đẩm bảo thông qua chế độ phân chia lợi nhuận theo tỉ lệ góp vốn Mặc dùcông ty mẹ, công ty con có tư cách pháp nhân và hạch toán độc lập nhưng hầu hếtcác công ty mẹ trong tập đoàn sẽ nắm quyền chi phối hoạt động các công ty con vềmặt tài chính và chiến lược phát triển
Hình 1: Mô hình liên kết đầu tư hoặc sở hữu vốn phổ biến tại các TĐKT
10
TS Lê Tuấn Nghĩa, Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển kinh doanh; Hội thảo “Những khuyến nghị chính sách
kinh tế và điều hành chính sách tiền tệ 2014 - 2015”, tháng 11/2013, Hà Nội
Trang 26Công ty mẹ/ NHTM trung gian
Công ty con/ Công ty A
Công ty con/ Công ty C
Công ty con/ Công ty B
Liên kết đầu tư hoặc sở hữu
Bên cạnh việc liên kết vốn theo hình thức công ty mẹ - công ty con hoặcthông qua một NHTM trung gian, sự liên kết giữa các thành viên trong TĐKT cóthể đơn thuần và liên kết tài chính, nhưng tỉ lệ góp vốn chưa đến mức phụ thuộcthành công ty mẹ - công ty con Khi đó, công ty này có thể trở thành cổ đông công
ty kia và vẫn đứng trong cùng một tập đoàn Thậm chí, một hoặc nhiều doanhnghiệp thành viên hay cả tập đoàn có thể thu hút các doanh nghiệp độc lập không
có liên kết về vốn, nhưng có quan hệ kinh tế với các công ty trong tập đoàn như giacông, phân phối thành phẩm, thương hiệu tập đoàn v.v
1.3.6 Đặc điểm về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh
Có thể khẳng định, hầu như các TĐKT đều hoạt động kinh doanh đa ngành,
đa lĩnh vực và xu thế cũng như mục tiêu phát triển của các TĐKT là trở thành cácTĐKT đa ngành, đa lĩnh vực Tuy nhiên, các tập đoàn thường phát triển khởinguồn từ một ngành kinh doanh chính và trong từng giai đoạn đều chọn cho mìnhmột ngành kinh doanh cốt lõi (core business) Các ngành kinh doanh khác sẽ hoặcxoay quanh hoặc có liên quan đến ngành chính, nhằm tận dụng tối đa các nguồn
Trang 27lực và phân tán rủi ro Yếu tố này sẽ được phân tích cụ thể hơn bằng chính sáchtrên thực tế của một số TĐKT lớn trên thế giới tại phần sau Bên cạnh đó, cũng cónhững TĐKT có chiến lược hoạt động kinh doanh trong một ngành tương đối hẹpnhằm khai thác thế mạnh về chuyên môn, công nghệ và tăng khả năng chi phối thịtrường Chẳng hạn như trường hợp của Tập đoàn MKSmart tại Việt Nam, chiếnlược của tập đoàn là dồn toàn lực đầu tư, nghiên cứu, mua quyền sở hữu bí quyết
về công nghệ trên thị trường thẻ thông minh Điều này cho thấy hai xu hướng phát
triển ngành nghề kinh doanh của TĐKT Một là, phát triển theo hướng đa dạng hóa, đa ngành nghề nhằm phân tán rủi ro và tăng khả năng chi phối trị trường Hai
là, phát triển chuyên hóa sâu để khai thác thế mạnh về chuyên môn, bí quyết, tạo
nên uy tín đặc biệt trong ngành
Hiện nay, do sức ép cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên toàn cầu, các TĐKT
dù đi theo xu hướng nào, cũng đều phải không ngừng mở rộng quy mô và phạm vihoạt động Do đó, xu hướng đa ngành, đa lĩnh vực đang có chiều hướng vượt trộihơn so với xu hướng chuyên ngành hóa Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, xu hướng
đa ngành hóa không đảm bảo TĐKT đó phát triển hơn Ba yếu tố bao gồm (1) Sựđầu tư ồ ạt thiếu đánh giá về lâu dài cho các ngành kinh doanh khác, mà đa số làkinh doanh tài chính, bất động sản; (2) sự quản lý yếu kém ở các ngành kinh doanhmới, (3) thiếu duy trì hoạt động kinh doanh ngành cốt lõi hiệu quả; là các nguyên
nhân chính dẫn đến sự thua lỗ, thậm chí là sụp đổ của các TĐKT Theo TS Võ Trí Thành11 (2013), các TĐKT đa ngành thất bại không phải vì kinh doanh đa ngành,
mà vì năng lực lãnh đạo và sự đầu tư theo phong trào thiếu đánh giá về khả năngsinh lời Thêm vào đó, khi TĐKT kinh doanh đa ngành dựa vào quan hệ chính trị
và thiếu một chiến lược xuyên suốt cũng không phải là cơ sở bền vững Tại ViệtNam, điển hình trong việc kinh doanh đa ngành dàn trải nhưng thất bại là CTCPTập đoàn Mai Linh (MLG) khi vừa đầu tư taxi, rồi lấn sân sang thương mại, bấtđộng sản và cả giáo dục Kết quả là lỗ lũy kế đến tháng 6/2013 ở mức 123 tỷ đồng,
vay nợ ngắn và dài hạn tới 1,395 tỷ đồng Theo Scriven (2013)12, để kinh doanh đa
ngành thành công, TĐKT phải có cơ cấu tài chính vững mạnh, đầu óc phân tích
Trang 28kinh doanh giỏi, quản trị doanh nghiệp tốt, năng lực lãnh đạo xuất sắc để tạo rachiến lược thích hợp xuyên suốt và quan trọng phải có kế hoạch thoái vốn kiênđịnh.
1.3.7 Đặc điểm về liên kết trong quá trình sản xuất kinh doanh
Các TĐKT đều có xu hướng kết hợp cả liên kết theo chiều ngang (hay còngọi là liên kết về tài chính) và liên kết theo chiều dọc (hay còn gọi là liên kết côngnghiệp) trong quá trình sản xuât kinh doanh Liên kết theo chiều ngang thường baogồm 1 NHTM kết hợp với các định chế tài chính làm trung gian giữa các công tythành viên Liên kết theo chiều dọc thường bao gồm các nhà cung cấp đầu mối vàcác nhà phân phối thành phẩm gắn kết chặt chẽ với các công ty chế tạo và thươngmại lớn Chiến lược sản xuất kinh doanh của các tập đoàn đa ngành, đa lĩnh vựcđều được hoạch định với mục tiêu dài hạn là đa dạng sản phẩm và đảm bảo phânđoạn thị trường linh hoạt Ví dụ như tập đoàn Samsung (Hàn Quốc) sở hữu hơn 10công ty con liên hệ mật thiết với nhau sản xuất hàng trăm loại sản phẩm từ thiết bịphát thanh truyền thông, đồ điện gia dụng, công nghệ hình ảnh và y tế v.v thậmchí đến cả động cơ, linh kiện pháo, xe tăng trong quân sự Các mối liên kết kinh tếgiữa các đơn vị thành viên có vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng tới sức cạnhtranh và khả năng phát triển của tập đoàn Nếu như trước đây, các mối liên kết giữacác thành viên trong tập đoàn còn lỏng lẻo, thì hiện nay, dưới áp lực của quá trìnhquốc tế hóa và cạnh tranh gay gắt trên phạm vi rộng, các tập đoàn đã và đang phảicải tổ cơ cấu và tăng cường kiểm soát nội bộ thông qua các liên kết ràng buộc lẫnnhau về mặt kinh tế Vấn đề tái cơ cấu các TĐKT tại Việt Nam sẽ được bàn tới tạichương sau của nghiên cứu Thay vì chỉ phụ thuộc đơn thuần vào mặt tài chính,giờ đây các công ty thành viên có xu hướng tăng cường sự liên kết và thống nhất
về chiến lược xuyên suốt TĐKT
Như vậy, có thể chỉ ra 4 trọng tâm mà đa số các TĐKT tập trung hướng đến
Một là, xu hướng tăng cường vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo
sự phối hợp giữa các công ty thành viên Hai là, phối hợp chiến lược kinh doanh
trên tất cả các chức năng, các mặt và ở mọi phương diện; phối hợp giữa chiến lược
nội địa, chiến lược khu vực hóa với chiến lược toàn cầu hóa Ba là, phối hợp nhịp
nhàng và có hiệu quả giữa ngành kinh doanh mũi nhọn và chiến lược đa dạng hóa.Đảm bảo quá trình đa dạng ngành phù hợp với quy mô và năng lực thực sự của tậpđoàn, không bị rơi vào “bẫy” đầu tư theo phong trào và không ngần ngại tái cơ cấu
Trang 29tập đoàn khi cần Bốn là, tăng cường vai trò chi phối của công ty tài chính nhằm
linh hoạt hóa khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho các công ty thành viên và tránhnguy cơ bị thôn tính
1.4 Các mô hình tập đoàn kinh tế
Đi tìm một mô hình TĐKT tối ưu là một câu hỏi chưa có lời giải đáp Thực
tế hàng nghìn TĐKTTN thành công trên Thế giới với nhiều mô hình và cách tổchức khác nhau là bằng chứng rõ rệt nhất chỉ ra một mô hình tổ chức được coi làphù hợp khi nó phải gắn với hoàn cảnh cụ thể của từng TĐKT Chúng ta chỉ có thểchỉ ra điểm chung của các TĐKT khi xây dựng mô hình của mình đó là: (1) Môhình này phải phụ thuộc vào mục tiêu và định hướng chiến chung của tập đoàn, (2)Phù hợp với đặc điểm, tính chất, mục tiêu và chiến lược của các công ty thành viêntrong tập đoàn và (3) Phù hợp với môi trường kinh doanh và hệ thống pháp luật ởcác quốc gia mà công ty mẹ và các công ty thành viên hoạt động Tuy nhiên, xácđịnh được chiến lược xuyên suốt của TĐKT giữa các công ty thành viên khôngphải việc đơn giản và trên thực tế quá trình này đòi hỏi nhiều lần tái cơ cấu và điềuchỉnh kể từ khi tập đoàn ra đời Đa phần các công ty con được thành lập ra chỉ đểgiải quyết một nhiệm vụ kinh doanh ngắn hạn, có tính cơ hội của công ty mẹ.Thậm chí, ở các quốc gia quy định tính chất định lượng của tập đoàn (như ở TrungQuốc) hay không có quy chế tập đoàn hoặc quy định tổng quy mô của tập đoàn(như ở Việt Nam), thì các công ty con nhiều khi được thành lập ra chỉ để cho có sốlượng và tăng tính thuyết phục khi công ty mẹ muốn xây dựng tập đoàn
Nghiên cứu sẽ tổng hợp các mô hình TĐKT xét trên hai góc độ: từ góc độ tổchức và từ góc độ sở hữu, đầu tư, quản lý vốn
1.4.1 Xét từ góc độ tổ chức
i) Mô hình tập đoàn theo cấu trúc công ty mẹ nắm vốn
Mô hình theo cấu trúc công ty mẹ nắm vốn thường xuất hiện ở các doanhnghiệp liên kết theo chiều dọc Đây là mô hình tổ chức không có sự kiểm soát tậptrung Cơ cấu bao gồm một văn phòng chịu trách nhiệm điều phối chung (thường
là vốn) của cả tập đoàn nhưng không trực tiếp can thiệp hay kiểm soát các hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp thành viên
Hình 2: Mô hình tập đoàn công ty mẹ nắm vốn
Trang 30Trong mô hình này, công ty mẹ và công ty con đều có tư cách pháp nhân
độc lập, tài sản và bộ máy quản lý riêng Giao dịch nội bộ giữa các công ty thành
viên trở thành giao dịch thị trường
Về công ty mẹ, công ty mẹ nắm vốn có nghĩa là công ty mẹ là cổ đông lớn
nhất của công ty các công ty con Công ty mẹ có chức năng đề ra chiến lược và
định hướng phát triển của toàn bộ tập đoàn và có quyền phân bổ nguồn lực thông
qua các hoạt động tài chính ở công ty con (như phát hành, mua bán chứng khoán,
cơ cấu lại tài sản, v.v.) Công ty mẹ cũng có quyền sử dụng vốn của mình để đầu
tư, góp vốn cổ phần tạo ra các công ty liên doanh hoặc hình thành nên công ty con
mới Theo phạm vi hoạt động, công ty mẹ có thể chỉ đơn thuần nắm vốn hoặc vừa
nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh Đối với hình thức công ty mẹ nắm vốn thuần
túy thì hoạt động kinh doanh chính là hoạt động đầu tư vào công ty thành viên
khác Mô hình này thường được cho là có nhiều điểm tương đồng với sự ra đời của
các NHTM trung gian trong nội bộ tập đoàn Tuy nhiên, hình thức này trước đây bị
cấm trong quy chế tập đoàn tại một số quốc gia, ví dụ như ở Hàn Quốc, Nhật Bản
Nhiều học giả cho rằng quy mô khổng lồ và đôi khi “đại diện cho cả một nền kinh
tế” của các TĐKT sẽ dẫn đến tình huống khủng hoảng khi các công ty thành viên
n
ắ
m v
Trang 31trong TĐKT làm ăn thua lỗ nhưng “không thể sụp đổ và vay càng nhiều tiền thì họcàng an toàn”13 Thuật ngữ “too big too fail” được McKinney (1984) dùng để mô
tả tình trạng này14 Hiện nay, các quốc gia trên đã xóa bỏ hạn chế với mô hình này
và cho phép tồn tại với một số điều kiện nhất định
Về các công ty thành viên, họ có quyền tự chủ về hoạt động kinh doanh vàhình thức có thể rất đa dạng như sau:
+ Công ty cổ phần do công ty mẹ làm cổ đông chính
+ Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên và công ty mẹ nắm giữ tỷ lệ vốn gópquyết định
+ Công ty TNHH một thành viên do công ty mẹ làm chủ sở hữu
+ Công ty liên doanh với đối tác nước ngoài do công ty mẹ nắm giữ tỷ lệ vốn gópquyết định
Có thể tổng hợp ưu điểm và hạn chế của mô hình này dưới bảng sau:
Bảng 1: Ưu điểm và hạn chế của mô hình TĐKT công ty mẹ nắm vốn
+ Thuận lợi trong việc tách biệt khâu quản lý
với quyền sở hữu giữa công ty mẹ và các công
ty thành viên
+ Công ty nắm vốn tự quyết định đầu tư, do đó
dễ dàng tham gia vào hoạt động kinh doanh
mới, rút lui khỏi hoạt động kinh doanh nhiều
rủi ro và tự xây dựng danh mục đầu tư phù hợp
+ Các công ty thành viên có quyền chủ động
quyết định về quy mô doanh nghiệp, hoạt động
+ Việc để các công ty con thànhviên tự do hoạt động kinh doanh
sẽ dẫn đến tình trạng thiếu mộtchiến lược xuyên suốt trong toàntập đoàn Công ty con có thể salầy vào các ngành kinh doanh gâythua lỗ
+ Do công ty nắm vốn phải13
Trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, nhiều học giả cho rằng dù làm ăn thua lỗ nhưng các tập đoàn chaebol khổng lồ của Hàn Quốc sẽ không thể sụp đổ vì quy mô quá lớn của nó và chính phủ Hàn Quốc sẽ phải có phương án cứu trợ các tập đoàn trên Tuy nhiên, thực tế là các chaebol làm ăn thua lỗ đã buộc phải tự cải tổ,
bị sáp nhập vào các chaebol khác và thậm chí bị công ty nước ngoài thôn tính.
14
Steward McKinney; hội nghị ”Federal Deposit Insurance Corporation's intervention with Continental
Illinois “, 1984 Thuật ngữ “too big to fail” là một học thuyết kinh tế, cho rằng trong một vài tình huống các công ty
không thể sụp đổ vì quy mô quá lớn của nó.
Trang 32kinh doanh.+ Trên thực tế, công ty mẹ nắm vốn
thường chấp nhận rủi ro của các công ty con
bằng cách bảo lãnh nợ và tiến hành các hoạt
động thương mại nội bộ Điều nay mang lại sự
chia sẻ rủi ro giữa các công ty, tạo ra sự liên kết
chặt chẽ hơn
thường xuyên duy trì khoản cổphần sở hữu tại công ty con, dẫnđến tình trạng hạn chế về mức độ
tự do trong lưu chuyển của dòngtiền mặt
ii) Mô hình tập đoàn theo cấu trúc tập trung quyền lực (nhất nguyên)
Đặc điểm nổi bật của mô hình tập đoàn theo cấu trúc tập trung quyền lực đó
là sự có mặt của một văn phòng trung tâm của tập đoàn Văn phòng này sẽ baogồm một ủy ban điều hành và là cơ quan quản lý của tập đoàn, được tổ chức tạicông ty mẹ và không có tư cách pháp nhân độc lập Văn phòng sẽ thực hiện haichức năng chính: (1) Thực hiện sự quản lý đối với hoạt động kinh doanh thườngxuyên của các đơn vị kinh doanh cấp dưới (2) Là trung tâm đầu tư, kiểm soát lợinhuận/ thua lỗ, tổ chức và phân công chức năng nhiệm vụ cho các phòng ban Toàn
bộ hoạt động của văn phòng sẽ được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng Giámđốc với sự trợ giúp của một ban tham mưu Các hoạt động sản xuất kinh doanh củatất cả công ty thành viên tập đoàn cũng sẽ được tập trung quản lý bởi Ban giámđốc, đứng đầu là Tổng Giám đốc
Hình 3: Mô hình tập đoàn tập trung quyền lực
Trang 33Mô hình này thường xuất hiện ở các tập đoàn có hoạt động sản xuất kinh
doanh tương đối đồng nhất Đôi khi, các tập đoàn được hình thành trên cơ sở gia
đình trị (phổ biến ở Hàn Quốc, Nhật Bản) cũng sử dụng mô hình này để dễ dàng
tập trung quyền lãnh đạo cao nhất cho người đứng đầu Có thể tổng hợp ưu điểm
và hạn chế của mô hình tập đoàn này qua bảng như sau:
Bảng 2: Ưu điểm và hạn chế của mô hình tập đoàn tập trung quyền lực
+ Bảo đảm sự quản lý, điều hành
tập trung của lãnh đạo tập đoàn
đối với các công ty thành viên
Điều này giúp xây dựng một
chiến lược kinh doanh xuyên
suốt
+ Bảo đảm sự giám sát thường
xuyên và can thiệp kịp thời của
lãnh đạo tập đoàn đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh của các
công ty thành viên
+ Việc can thiệp và thực hiện quyền quản lýquá sâu của ban điều hành vào các công ty conlàm giảm tính tự chủ, năng động, sáng tạo ởcác công ty con Thêm vào đó, chi phí quản lý,thường khá tốn kém, cũng sẽ làm giảm hiệuquả chung của cả tập đoàn
+ Việc phân bổ nguồn lực do văn phòng tậpđoàn kiểm soát, do đó, nếu Ban tham mưu làmviệc không hiệu quả, điều này dễ dẫn đến tìnhtrạng tiêu cực như cơ chế xin-cho giữa cáccông ty thành viên và ban điều hành tập đoànthay vì phân bổ theo chiến lược hoặc bằngphân tích thị trường, sa vào các hoạt động kinh
u
Trang 34doanh thiếu hiệu quả v.v.
Tóm lại, để có thể kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả của cácđơn vị trong tập đoàn, TĐKT theo mô hình tập trung quyền lực cần sự phối hợpchặt chẽ và minh bạch từ cả 2 phía văn phòng điều hành và các công ty thành viên.Đối với các đơn vị thành viên, đòi hỏi phải đảm bảo cung cấp thông tin thườngxuyên, cập nhật, minh bạch và đầy đủ cho cấp lãnh đạo Đối với ban điều hành, đòihỏi phải có một Ban tham mưu làm việc hiệu quả, có một chiến lược xuyên suốt,phân bổ nguồn lực minh bạch theo phân tích khách quan, không sa vào cơ chế xin-cho trong nội bộ tập đoàn, không lãnh đạo theo tinh thần chủ quan duy ý chí
iii) Mô hình tập đoàn theo cấu trúc đa trung tâm
Mô hình tập đoàn theo cấu trúc đa trung tâm là một mô hình kết hợp giữa
mô hình tập trung quyền lực và mô hình công ty mẹ nắm vốn Mô hình này hiệnđang phổ biến ở nhiều TĐKT thành công trên thế giới, vừa đảm bảo được yếu tốtập trung, vừa đảm bảo được tính chất phân quyền hợp lý trong một tập đoàn lớn
Yếu tố tập trung được thể hiện ở cơ chế kiểm soát của lãnh đạo tập đoàn đốivới ba lĩnh vực quan trọng nhất Một là, ban lãnh đạo quyết định các vấn đề mangtính chiến lược của tập đoàn Hai là, ban lãnh đạo điều hành các giao dịch nội bộtrong tập đoàn cũng như các chính sách chung giữa các công ty thành viên Ba là,tuyển chọn, bổ nhiệm, đánh giá và giám sát các lãnh đạo cao cấp của tập đoàn
Tính chất phân quyền được thể hiện ở việc các công ty con nhận được sự ủyquyền và cho phép hoạt động khá tự do từ ban lãnh đạo tập đoàn khi thực hiện cácquyết định đầu tư, kinh doanh Nói cách khác, các công ty thành viên có quyền tựchủ trong kinh doanh, trong khuôn khổ chiến lược của tập đoàn Hoạt động của cáccông ty thành viên chịu sự quản lý, giám sát trực tiếp của các phòng ban cức năngnhư phòng tài chính, phòng thực thi dự án, phòng kế hoạch, v.v
Hình 4: Mô hình tập đoàn theo cấu trúc hỗn hợp
Trang 35Cơ quan lãnh đạo cao nhất chính là ban lãnh đạo tập đoàn Đây là cơ quan ra
quyết định cao nhất, thông qua các chiến lược phát triển tập đoàn qua các kỳ họp
với các cơ quan chức năng Các cơ quan chức năng có nhiệm vụ giúp Hội đồng
quản trị xây dựng chiến lược, điều hành giao dịch nội bộ và giám sát các công ty
thành viên Các phòng chức năng này thường được đặt ở công ty mẹ và có nhân
viên hoặc phương thức giám sát đại diện tại các công ty thành viên Các công ty
con chuyên trách hoạt động độc lập, trực tiếp thực hiện sản xuất phù hợp với chiến
lược của tập đoàn Mô hình này còn được gọi là mô hình hỗn hợp, bởi nó kết hợp
được các ưu điểm vượt trội của hai mô hình tập trung cũng như mô hình phân
quyền Các nhà lãnh đạo cấp cao của tập đoàn tập trung vào cào các chiến lược,
phương hướng phát triển mang tính dài hạn của tập đoàn mà không cần trực tiếp
quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh Các quyết định điều hành kinh doanh
được phân quyền cho các công ty thành viên, do đó, đảm bảo được tính tự chủ,
năng động, sáng tạo của các công ty thành viên cũng như luôn giúp các công ty
thành viên phản ứng kịp thời với thị trường Từ đó, hoạt động của tập đoàn và của
các đơn vị thành viên sẽ hiệu quả hơn thông qua một mối quan hệ hai chiều: tập
đoàn sẽ có đánh giá khách quan về khả năng kinh doanh của các công ty con,
Trang 36ngành nào có nhiều tiền năng, ngành nào tiềm ẩn nhiều nguy cơ để đề ra chiếnlược xuyên suốt Ngược lại, các công ty thành viên sẽ được độc lập trong các hoạtđộng kinh doanh của mình, kết quả kinh doanh cũng như nhu cầu về vốn, nhân lựctại công ty thành viên sẽ được đánh giá chính xác hơn qua khách quan thị trường.
1.4.2 Xét từ góc độ sở hữu và cơ chế đầu tư, quản lý vốn
Phân loại các mô hình TĐKT trên góc độ sở hữu thường được các học giả sửdụng bởi ưu điểm trực quan Xét cho cùng, yếu tố không thể thiếu giữa các thànhviên trong một tập đoàn vẫn là liên kết về mặt tài chính, hay còn gọi là liên kếttheo chiều dọc Có rất nhiều hình thức sở hữu, đầu tư và kiểm soát lẫn nhau giữacác công ty thành viên trong nội bộ TĐKT và trên thực tế, đa phần các TĐKT đềuthay đổi cơ chế quản lý vốn của mình sao cho phù hợp với quy mô, hoàn cảnh củacông ty qua từng thời kỳ Nói một cách khác, quan hệ sở hữu và đầu tư trong nội
bộ tập đoàn là một mối quan hệ linh hoạt, thường xuyên được các lãnh đạo tậpđoàn thay đổi cho phù hợp với tình hình thị trường, triển vọng, phương hướng,chiến lược của tập đoàn, v.v Do đó, thường là rất khó khăn trong việc đánh giáchính xác tại một thời điểm nhất định, TĐKT cụ thể nào đó đang sở hữu cơ chếđầu tư, quản lý vốn như thế nào
i) Mô hình cấu trúc sở hữu đơn giản
Cơ cấu đầu tư vốn theo cấu trúc sở hữu đơn giản có thể hình dung như một
“dòng thác” vốn chảy đều từ công ty mẹ xuống các công ty con cấp 2, và tương tự
từ công ty con cấp 2 xuống công ty con cấp 3, v.v Cụ thể, các công ty mẹ nắm giữ
đa số cổ phiếu tại các công ty cấp 2, các công ty cấp 2 là cổ đông chính của công tycấp 3 và quan hệ chi phối về mặt tài chính này tiếp tục cho đến công ty con cấpthấp nhất Đây là dạng đơn giản nhất trong các loại cấu trúc, nhưng trên thực tế thìcấu trúc này ít tồn tại mà thường phải kết hợp với các cấu trúc sở hữu khác để tăngcường liên minh trong tập đoàn
Hình 5: Mô hình TĐKT theo cấu trúc sở hữu đơn giản
Trang 37Trong điều kiện thị trường chứng khoán phát triển, các công ty cấp trên chỉ
cần sở hữu cổ phần ở mức độ đủ chi phối với các công ty con của mình Các cổ
đông lớn của các công ty thành viên trong tập đoàn có thể bao gồm cả các doanh
nghiệp và cá nhân ngoài tập đoàn nắm giữ
ii) Mô hình các công ty con đồng cấp đầu tư và kiểm soát lẫn nhau
Mô hình tập đoàn có các doanh nghiệp thành viên đồng cấp có sự đầu tư và
kiểm soát lẫn nhau có đặc điểm tương đồng về liên kết dọc từ công ty mẹ - công ty
con bậc 2 – công ty con bậc 3, v.v như ở mô hình cấu trúc đơn giản, nhưng có
điểm khác biệt đó là cho phép các công ty con được đầu tư và nắm giữ cổ phiếu ở
công ty con đồng cấp với mình Mô hình này cho thấy sự liên kết chặt chẽ hơn
giữa các thành viên trong tập đoàn
Hình 6: Mô hình TĐKT các thành viên đồng cấp sở hữu và kiểm soát lẫn
Trang 38Ưu điểm của việc sở hữu nội bộ bằng đầu tư đồng cấp đó là bằng sự kiểm
soát lẫn nhau giữa các công ty đồng cấp, tập đoàn sẽ ít có nguy cơ bị các cá nhân
hay doanh nghiệp ngoài thôn tính các công ty con của mình Đây là mô hình từng
được các TĐKT lớn, chẳng hạn như các chaebol tại Hàn Quốc như Samsung,
Huyndai, LG áp dụng để tăng cường liên kết tài chính chặt chẽ hơn
iii) Mô hình công ty cấp trên trực tiếp đầu tư, kiểm soát các công ty con không
thuộc cấp dưới trực tiếp của mình
Mô hình này cũng có điểm tương đồng như mô hình i), đó là sự đầu tư của
các công ty cấp trên xuống các công ty cấp dưới, tuy nhiên phạm vi đầu tư được
mở rộng và quy định công ty thành viên có thể được đầu tư xuống cấp thuộc quyền
quản lý gián tiếp của mình
Hình 7: Mô hình TĐKT có công ty cấp trên trực tiếp đầu tư, kiểm soát các
công ty con không thuộc cấp dưới trực tiếp của mình
Trang 39Công ty mẹ
Công ty bậc 2 – Công ty A1 Công ty bậc 2 – Công ty A2 Công ty bậc 2 – Công ty B1
Công ty bậc 3 – Công ty B11 Công ty bậc 3 – Công ty B12
Mô hình này không thường xuất hiện trong các kế hoạch dài hạn của tậpđoàn Bởi lẽ, để tiết kiệm chi phí quản lý và tránh tình trạng bộ máy quản lý cồngkềnh, các tập đoàn sẽ có xu hướng chuyển về mô hình ii) khi có điều kiện Mặtkhác, mô hình này thường xuất hiện trong các kế hoạch ngắn hạn của tập đoàn, khicông ty mẹ hoặc công ty cấp trên muốn có sự kiểm soát đặc biệt ở một công ty cấpdưới gián tiếp có tầm quan trọng với chiến lược tập đoàn, hoặc một yêu cầu cấpbách về vốn đầu tư Chẳng hạn, công ty mẹ nhận thấy công ty bậc 2, hoặc thậm chícông ty bậc 3 đang nằm trong chiến lược phát triển ngắn hạn của tập đoàn, cần huyđộng một lượng lớn vốn hoặc cần sự giám sát đặc biệt từ công ty mẹ, thì công ty
mẹ có thể đứng ra trực tiếp đầu tư Khi các nhu cầu trong ngắn hạn kết thúc, công
ty mẹ sẽ điều chỉnh dòng vốn để trả quyền quản lý cho công ty cấp trên trực tiếp.iv) Mô hình cấu trúc sở hữu hỗn hợp
Mô hình này có sự kết hợp của tất cả các quan hệ sở hữu cổ phần của các môhình i), ii) và iii) và có một đặc điểm riêng biệt, đó là, cho phép có sự đầu tư củacông ty cấp dưới lên công ty cấp trên Về mặt sở hữu, đây là mô hình có cấu trúcphức tạp và đòi hỏi một trình độ quản lý dòng vốn ở mức cao nhất Tuy nhiên, trênthực tế, đây là mô hình đang được rất nhiều TĐKT lớn áp dụng trong bối cảnh phát
Trang 40Công ty mẹ
Công ty bậc 1 – Công ty B Công ty bậc 1 – Công ty C
Công ty bậc 2 – Công ty B1 Công ty bậc 2 – Công ty B2 Công ty bậc 2 – Công ty C1
Công ty bậc 3 – Công ty B21 Công ty bậc 3 – Công ty C12
Công ty bậc 1 – Công ty A
Công ty bậc 3 – Công ty B22
triển cao độ của thị trường tài chính Trong mô hình này, công ty mẹ vừa quản lýcác công ty con trực tiếp, đồng thời kiểm soát cả các công ty cháu thuộc cấp tiếptheo Các công ty thành viên cùng cấp và khác cấp có quan hệ đầu tư đan xen lẫnnhau thông qua việc nắm giữ cổ phiếu của nhau
Hình 8: Mô hình TĐKT có cấu trúc sở hữu hỗn hợp
Trong mô hình này, công ty mẹ và các công ty thành viên kiểm soát cổphiếu của nhau theo cơ chế sau:
Công ty mẹ kiểm soát trực tiếp các công ty con bậc 1
Công ty mẹ kiểm soát các công ty thuộc cấp gián tiếp (công ty con bậc 2,công ty con bậc 3)
Các công ty đồng cấp và khác cấp có thể sở hữu cổ phiếu và đầu tư đan xenlẫn nhau Ví dụ: công ty cấp 1 đầu tư cho công ty cấp 1 khác và công ty cấp