1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đất đai và sinh kế hộ gia đình tại các vùng ven đô hà nội trường hợp làng ngọc hồi

41 454 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 91,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khung lý thuyết Để có thể đánh giá một cách toàn diện tác động của việc mất đất đến sinh kế của người nông dân, nghiên cứu của chúng tôi sử dụng khung sinh kế bền vững sustainable liveli

Trang 1

Đất đai và sinh kế hộ gia đình tại các vùng ven đô Hà Nội: Trường hợp làng Ngọc Hồi

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

I. Giới thiệu

1.1 Đặt vấn đề

Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng, việc làm và thu nhập của các hộ gia đình ở hầu hết các quốc gia đang phát triển (DFID, 1999) Do vậy, đất đai trở thành một tài sản sinh kế quan trọng Đất và sinh kế nông thôn luôn là chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách

Trong một tài liệu bàn về vai trò của đất đai đối với giảm nghèo, DFID (1999) cho rằng đất là tài sản sinh kế bởi vì nó cung cấp nơi ở và lương thực mà các hoạt động sinh kế khác phải nhờ cậy vào đất Tài liệu này cũng cho rằng đất đai có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế một cách bền vững thông qua năng suất và hiệu quả sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch

vụ Hơn nữa, đất đai còn giúp người nghèo đạt được sự bình đẳng cao hơn và giảm thiểu tính tổn thương của sinh kế khi họ được đảm bảo quyền sử dụng và tiếp cận với đất đai Ngoài ra, đất đai và sự đầu tư của người nông dân vào đất đai trở thành tài sản có giá trị nhất Tuy thế, khi thảo luận về vai trò của chính sách đất đai đối với giảm nghèo, tài liệu này cũng cho rằng việc có đất để canh tác là một điều kiện cần và không phải là một điều kiện đủ để giảm nghèo

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế nhanh luôn

đi cùng với quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang phục vụ công nghiệp, cơ sở hạ tầng và xây dựng nhà ở (Ramankutty, Foley, & Olejniczak, 2002) Quá trình này gây ra cả những tác động tích cực và tiêu cực tới nhiều bên liên quan và do vậy có những quan điểm trái chiều về việc có nên duy trì đất nông nghiệp hay nên chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp

Ở Việt Nam, ngành nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và xóa đói giảm nghèo Bên cạnh đó, nông

Trang 4

nghiệp giúp ổn định kinh tế xã hội khi tạo việc làm cho 48,6% dân số hiện nay (2013), cung cấp lương thực thực phẩm đầy đủ, ổn định giá cả và là ngành mũi nhọn của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu vì là ngành duy nhất luôn có xuất siêu Đồng thời, nông nghiệp Việt Nam cũng cung cấp nguồn nguyên liệu giá rẻ thúc đẩy đầu tư tư nhân vào khu vực phi nông nghiệp Trong giai đoạn suy giảm kinh tế, nông nghiệp được cho là khu vực

an toàn giúp nền kinh tế Việt Nam giảm bớt những bất ổn Tuy nhiên, sự ưu tiên phát triển công nghiệp đã khiến cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp Theo báo cáo tổng điều tra đất đai năm 2010, diện tích đất nông nghiệp

cả nước là 26.100.160 ha tăng gấp 1.25 lần so với năm 2000, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp 10.177.893 ha tăng thêm 1.140.393 ha so với năm 2000 Tuy nhiên đất trồng lúa lại suy giảm đáng kể, trung bình mỗi năm giảm 34.000 ha và 41/63 tỉnh thành giảm diện tích trồng lúa Ngược lại, đất phi nông nghiệp tăng nhanh và tuyến tính trong suốt giai đoạn 2000-2010, tăng 82.000 ha, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm xấp xỉ 29%, đa số là đất lúa chuyển đổi Trong giai đoạn 2011-2013, diện tích đất lúa vẫn tiếp tục giảm từ 4120,2 nghìn ha năm 2011 xuống còn 4097,1 nghìn ha năm 2013 Theo quy hoạch đến năm 2020, diện tích đất nông nghiệp là 26.732 nghìn ha tăng 506 nghìn ha so với năm 2010 nhưng diện tích đất trồng lúa chỉ còn khoảng 3,81 triệu ha Tính trung bình, mỗi ha đất nông nghiệp sẽ tạo việc làm cho khoảng 13 lao động và con số này còn cao hơn nhiều ở Đồng bằng sông Hồng (15.53) và Hà Nội (20) ) (Huyền Ngân, 2009) Như vậy với tốc độ suy giảm đất nông nghiệp như hiện nay, sẽ có khoảng 3,64 triệu lao động bị ảnh hưởng

Tính riêng cho Hà Nội- một trong những tỉnh thành có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng nhiều nhất cả nước, giai đoạn 2000-2010, 11000 ha đất nông nghiệp chủ yếu là đất mùa hàng năm bị thu hồi để phục vụ cho xây dựng 1736 dự án khiến 150.000 nông dân mất

Trang 5

đất Giai đoạn 2011-2014, Hà Nội chuyển mục đích sử dụng đất 2719 ha đất trồng lúa, rừng phòng hộ, rừng đăc dụng sang xây dựng công trình và 3457

ha phục vụ cho 1012 dự án đầu tư Theo quy hoạch giai đoạn 2016-2020, khoảng 19.039 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi sang phi nông nghiệp trong

đó có 7442 ha đất trồng lúa

Với áp lực lớn về đất, Hà Nội cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước đang phải đối mặt với bài toán nan giải về sinh kế của các hộ gia đình nông thôn Nhận thấy các nghiên cứu trong thời điểm hiện tại về vấn đề này còn hạn chế, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu về đề tài “Đất đai và sinh kế

hộ gia đình tại các vùng ven đô Hà Nội: Trường hợp làng Ngọc Hồi” Ngọc Hồi

là một làng ngoại thành Hà Nội đã bị thu hồi đa số diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2003- 2007 để tiến hành xây dựng khu công nghiệp Ngọc Hồi Liệu rằng trong thời gian dài, họ đã thích ứng như thế nào sau khi bị thu hồi đất

và đã có được sinh kế bền vững chưa?

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính trong nghiên cứu của chúng tôi là xem xét vai trò của đất đai với lựa chọn sinh kế và qua đó ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình tại những vùng ven đô Hà Nội Các mục tiêu cụ thể mà nghiên cứu hướng tới là:

Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa đất đai và sinh kế hộ gia đình nông thôn.

Phân tích và đánh giá tác động của đất đai đối với sinh kế và phúc lợi của các

hộ gia đình ở làng Ngọc Hồi – Hà Nội.

Kiến nghị chính sách đảm bảo sinh kế bền vững và nâng cao phúc lợi cho các

hộ gia đình vùng ven đô.

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Trang 6

Tại Việt Nam, do số liệu không đầy đủ, rất ít các công trình nghiên cứu

sử dụng phương pháp định lượng để xem xét ảnh hưởng của đất nông nghiệp đối với sinh kế các hộ gia đình ở nông thôn Vì thế chúng tôi đã tiến hành điều tra 110 hộ gia đình ở làng Ngọc Hồi để thu thập số liệu Với bộ số liệu có được

và trên cơ sở khung sinh kế bền vững chúng tôi sẽ ước lượng vai trò của đất nông nghiệp cũng như các nhân tố khác đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình.

Thông qua mô hình này, chúng tôi kì vọng cung cấp một cái nhìn khách quan về mức độ ảnh hưởng của đất đai đến sinh kế các hộ gia đình từ đó giúp các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách hạn chế những tác động tiêu cực của thu hồi đất đến các hộ gia đình mất đất và hỗ trợ họ có được chiến lược sinh kế bền vững.

1.5 Điểm mới của nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu sơ cấp được nhóm tác giả trực tiếp điều tra trong năm 2015 Bên cạnh, chúng tôi sẽ nghiên cứu tại một khu vực mà quá trình thu hồi đất đã diễn ra lâu để tìm hiểu vai trò của đất nông nghiệp tại những khu vực này và tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế của

Trang 7

các hộ tại đây để từ đó đưa ra những kiến nghị chính sách nhằm đạt được một chiến lược sinh kế bền vững cho người dân mất đất.

Trang 8

II Tổng quan lý thuyết

2.1. Khung lý thuyết

Để có thể đánh giá một cách toàn diện tác động của việc mất đất đến sinh kế của người nông dân, nghiên cứu của chúng tôi sử dụng khung sinh kế bền vững (sustainable livelihoods framework)-một phương pháp tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển thông qua việc nhấn mạnh đến thảo luận sinh kế của con người Nó có nguồn gốc từ phân tích của Amartya Sen về các nhân tố trong mối quan hệ với nạn đói và đói nghèo (1981) và gần đây được Cục Phát triển Quốc tế Anh (DFIT) thúc đẩy (Diana Carne (ed.) 1998) cũng như được các học giả cùng với các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi (Anthony Bebbington 1999; Koos Neefjes 2000; Frank Ellis 2000).

Thuật ngữ "sinh kế" được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo Chambers và Conway "Một sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản và các hoạt động cần thiết để sinh sống"(Chambers & Conway,1992, p 6) và họ cũng chỉ

ra rằng "Sinh kế theo nghĩa đơn giản nhất là một phương tiện để kiếm sống"(Chambers & Conway, 1992, p 5) Ngoài ra, một sinh kế có thể được định nghĩa là sự kết hợp của năm loại vốn (tự nhiên, vật chất, con người, tài chính và vốn xã hội), các hoạt động, và các phương pháp tiếp cận các nguồn vốn (qua các yếu tố trung gian như các tổ chức và các mối quan hệ xã hội)

mà quyết định đời sống của cá nhân hoặc hộ gia đình (Ellis, 2000).

"Một sinh kế bền vững khi nó có thể ứng phó và phục hồi từ áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản của cá nhân hoặc

hộ gia đình trong hiện tại và tương lai, mà không làm xói mòn cơ sở tài nguyên thiên nhiên "(Vụ Phát triển Quốc tế (DFID), 1999, p 1) Dựa trên tính bền vững, Chambers và Conway chia khái niệm này thành phát triển bền vững môi trường và xã hội Scoones chỉ ra rằng khái niệm về sinh kế bền

Trang 9

vững mở rộng phạm vi của các cuộc tranh luận về mối quan hệ giữa nghèo đói và môi trường và những lý thuyết hiện tại đã làm rõ một phần những mâu thuẫn và mối quan hệ giữa chúng (Scoones, 1998) Bắt đầu từ thời điểm này, Scoones (1998) đề xuất năm yếu tố cần xem xét trong việc xác định liệu một sinh kế bền vững hay không Chúng bao gồm số ngày làm việc, sự giảm nghèo, sự giàu có và hai yếu tố cuối cùng để đánh giá tính bền vững là sự thích ứng với sinh kế, tính dễ bị tổn thương và khả năng phục hồi cơ sở tài nguyên thiên nhiên.

Ngầm ẩn trong khung sinh kế bền vững là một lý thuyết cho rằng con người dựa vào năm loại tài sản vốn, hay hình thức vốn để giảm nghèo và đảm bảo sinh kế của mình, bao gồm: vốn vật chất (physical capital), vốn tài chính (financial capital), vốn xã hội (social capital), vốn con người (human capital)

và vốn tự nhiên (natural capital), là những loại vốn đóng cả hai vai trò đầu vào và đầu ra.

Trang 10

2002) Scoones cũng nhấn mạnh rằng con người là một yếu tố rất quan trọng cho sự thành công trong việc theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau (Scoones, 1998).

Vốn xã hội

Vốn xã hội được định nghĩa là "các nguồn lực xã hội mà người dân tạo

ra để theo đuổi mục tiêu sinh kế của họ "(DFID, 1999, p 9) Ngoài ra, Ellis cho rằng vốn này đề cập đến các hiệp hội, các tổ chức mà mọi người tham gia và

từ đó họ có thể nhận được sự hỗ trợ cho sinh kế (Ellis,2000)

Vốn xã hội được phát triển thông qua các tổ chức và các mối quan hệ tin cậy, có trao đổi qua lại (DFID, 1999) Vì vậy, như đã chỉ ra bởi DFID (1999), bằng nhiều cách vốn xã hội mang lại những hiệu ứng tích cực Ví dụ, thông qua các tổ chức, người dân nâng cao niềm tin và khả năng của họ trong việc hợp tác và mở rộng khả năng tiếp cận với các tổ chức lớn hơn, chẳng hạn như các tổ chức chính trị hay công dân Do đó, bằng cách tăng cường hiệu quả hoạt động của các mối quan hệ kinh tế, vốn xã hội có thể cải thiện thu nhập và tiết kiệm của người dân Ngoài ra, là một thành viên của một nhóm chính thức buộc mọi người phải tuân theo quy định chung Trong tình huống nhất định vốn xã hội có thể giúp giảm nhẹ các cú sốc và bù đắp cho sự thiếu hụt ở các nguồn vốn khác (DFID, 1999) Vì vậy, con người sử dụng các mạng lưới để giảm nguy cơ, giảm chi phí giao dịch nhờ thu thập được thông tin, từ

đó giảm bớt được các bất lợi do các cú sốc kinh tế gây ra (Frankenberger, Drinkwater, và Maxwell, 2000) Ngược lại, trong một số trường hợp, vốn xã hội có thể gây ra tác động tiêu cực Ví dụ, thành viên chính thức có thể hạn chế khả năng tiếp cận các cơ hội và nguồn lực của các thành viên không chính thức (DFID,1999)

Vốn tự nhiên

Trang 11

"Vốn tự nhiên là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tài nguyên thiên nhiên giúp con người tạo dựng sinh kế "(DFID, 1999, p 11).

Trong thực tế, có rất nhiều yếu tố tạo thành vốn tự nhiên, từ hàng hóa công cộng vô hình như không khí và đa dạng sinh học tới các tài sản hữu hình như đất, nước, cây cối, vv mà có thể được sử dụng trực tiếp cho sản xuất (DFID, 1999) Trong ngắn hạn, vốn tự nhiên bao gồm đất, nước và tài nguyên được khai thác bởi con người để tạo ra một phương tiện sinh sống (Ellis, 2000) Rõ ràng, vốn tự nhiên là quan trọng nhất đối với những người có sinh

kế phụ thuộc một phần hoặc hoàn toàn vào thiên nhiên như nông nghiệp, lâm nghiệp, khoáng sản, và du lịch sinh thái (DFID, 1999).

Vốn vật chất

"Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các yếu tố sản xuất cơ bản cần thiết để hỗ trợ đời sống "(DFID, 1999, p 13) Do đó, nguồn vốn này gồm một loạt các thành phần, bao gồm cả phương tiện vận chuyển; nhà ở; nguồn cung cấp nước và điều kiện vệ sinh; năng lượng sạch và giá cả phải chăng; khả năng tiếp cận thông tin (DFID, 1999; Kollmair & Gamper, 2002) Ngoài ra, Ellis (2000) chỉ ra rằng tài sản vật chất bao gồm: vốn được tạo ra bởi quá trình sản xuất kinh tế Vì vậy các tòa nhà, hệ thống thủy lợi, đường giao thông, máy móc, thiết bị, dụng cụ là vốn vật chất Ngoài ra, nhìn vào vốn vật chất từ một góc độ kinh tế, nguồn vốn này được ký hiệu là một mặt hàng sản xuất ngược lại với mặt hàng tiêu dùng.

Vốn vật chất là quan trọng đối với sinh kế vì với cơ sở hạ tầng nghèo nàn như là đường giao thông, đường sắt, viễn thông, thủy lợi con người phải chịu mức chi phí cao trong giao thông vận tải, năng suất thấp hơn và khó khăn trong việc trao đổi hàng hoá Nếu không tiếp cận được các dịch vụ như nước, năng lượng và vệ sinh môi trường, sức khỏe con người có thể xấu đi (DFID, 1999; Kollmair & Gamper, 2002) Ở cấp độ hộ gia đình, vốn vật chất, bao gồm

Trang 12

thiết bị và công cụ có thể được sử dụng để làm việc hiệu quả hơn (DFID, 1999) Hơn nữa, vốn vật chất của hộ gia đình cũng bao gồm các tài sản khác như chăn nuôi, xe cộ và nhà ở (Jansen, Pender, Damon, & Schipper, 2006) Các

hộ gia đình nông thôn không có tư liệu sản xuất như trâu, ngựa, máy kéo, và máy bơm nước sẽ phải sử dụng sức mạnh thể chất của họ, dành nhiều thời gian vào công việc khó khăn và do đó hoạt động kém hiệu quả.

Vốn tài chính

"Vốn tài chính là các nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế "(DFID, 1999, p 15) Nguồn vốn này bao gồm hai nguồn chính: nguồn tiền có sẵn và các luồng tiền thường xuyên Nguồn đầu tiên tồn tại trong các hình thức tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tài sản lưu động khác như đồ trang sức và gia súc chăn nuôi Vốn tài chính cũng có thể thu được thông qua các tổ chức tín dụng Nguồn thứ hai là nhận được từ tiền lương hưu, các khoản chuyển giao từ chính phủ và kiều hối (DFID, 1999; Kollmair & Gamper, 2002) Theo định nghĩa ngắn gọn bởi Ellis (2000), vốn tài chính liên quan đến lượng tiền mà hộ gia đình có thể tiếp cận và vốn này hầu hết là các khoản tiết kiệm, hoặc có thể tiếp cận dưới hình thức các khoản vay.

So với các loại vốn khác, vốn tài chính linh hoạt nhất vì có thể dễ dàng chuyển đổi thành các vốn khác và hơn nữa, nó có thể được sử dụng để ngay lập tức có được kết quả sinh kế như mong muốn (Kollmair & Gamper, 2002) Trong khi vốn tài chính rất quan trọng cho việc thông qua bất kỳ chiến lược sinh kế (Scoones, 1998), vốn này có vẻ là ít sẵn có cho người nghèo và như vậy các loại tài sản sinh kế khác quan trọng với họ hơn (DFID, 1999).

Trang 13

(DFID, 1999; Keeley, 2001; Kollmair & Gamper, 2002) Do đó, ở cấp độ hộ gia đình, thể chế xã hội xác định khả năng tiếp cận các loại vốn khác nhau, lựa chọn sinh kế, chuyển đổi giữa các loại tài sản sinh kế, và từ đó ảnh hưởng đến chiến lược sinh kế (DFID, 1999).

Chiến lược sinh kế

Chiến lược sinh kế có thể được định nghĩa là phạm vi và sự kết hợp của các hoạt động và lựa chọn của người theo đuổi để đạt được mục tiêu sinh kế của họ (Kollmair & Gamper, 2002) Theo Scoones (1998), chiến lược sinh kế

có thể được xác định ở mức độ khác nhau, từ các cá nhân, hộ gia đình, đến cấp thôn, cấp độ khu vực và thậm chí cả quốc gia Ellis (2000) định nghĩa chiến lược sinh kế của hộ gia đình như là một sự kết hợp của các hoạt động tạo ra các phương tiện tồn tại cho hộ gia đình.

Đối với nghiên cứu hoặc chính sách công, phân loại các chiến lược sinh

kế có thể hữu ích Ví dụ, Scoones (1998) phân thành ba loại chiến lược, bao gồm mở rộng và thâm canh, đa dạng hóa sinh kế, và di cư, do đó có thể áp dụng để phân tích sinh kế nông thôn trong thực tế Mức độ tiếp cận và sự kết hợp các nguồn vốn có thể đem lại một cuộc sống khác nhau, chịu ảnh hưởng đáng kể của sự lựa chọn về chiến lược sinh kế Ngoài ra, mặc dù chiến lược sinh kế khác nhau đòi hỏi các điều kiện khác nhau, nguyên tắc chung là những người đang dồi dào tài sản có nhiều khả năng lựa chọn sinh kế tốt hơn (DFID, 1999).

Kết quả sinh kế

Kết quả sinh kế là những kết quả đầu ra của các chiến lược sinh kế, có thể được đo bằng chỉ số khác nhau, chẳng hạn như thu nhập, tính dễ bị tổn thương, an ninh lương thực và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên môi trường (DFID, 1999) Các chỉ số này cho biết một sinh kế bền vững hay không Tuy nhiên, Scoones khẳng định rằng năm chỉ số này là khá khác biệt, và có

Trang 14

thể được đo bằng cách sử dụng một loạt các tiêu chí, từ định lượng chính xác đến các biện pháp định tính (Scoones, 1998) Ellis lưu ý rằng " các thành phần và mức độ thu nhập cá nhân và hộ gia đình tại một thời điểm nào đó là kết quả trực tiếp nhất và có thể đo được của quá trình sinh kế "(Ellis, 2000, p 10) Hơn nữa, Ellis cho thấy rằng sẽ hữu ích nếu phân chia tổng thu nhập hộ gia đình thành các loại khác nhau dựa theo nguồn thu nhập hay hoạt động Phân tách như vậy cho phép xác định những thuộc tính khác nhau của các nguồn lực cần thiết để tạo ra nguồn thu nhập khác nhau.

Bối cảnh dễ bị tổn thương

“Bối cảnh dễ bị tổn thương liên quan đến mùa vụ, các xu hướng và các cú sốc ảnh hưởng đến sinh kế của người dân” (DFID, 1999, p.1) Bối cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng tài sản sinh

kế của người dân và cản trở họ có được sinh kế có lợi (DFID, 1999)

Bối cảnh dễ bị tổn thương bao gồm các xu hướng khác nhau (dân số, tài nguyên, xu hướng kinh tế, chính trị, và công nghệ), những cú sốc (các nguy cơ

tự nhiên, những cú sốc kinh tế, bệnh dịch, chiến tranh, xung đột) và mùa vụ (giá cả, khí hậu, việc làm theo mùa) Tình trạng dễ bị tổn thương gây ra bởi nhiều yếu tố, trong đó một số thường gặp có liên quan đến chính sách, thể chế

và thiếu vốn sống, ngoài ra là xu hướng xã hội, những cú sốc hoặc biến động mùa vụ (DFID, 1999) Cần lưu ý rằng xu hướng như vậy không phải lúc nào cũng tiêu cực và gây tổn thương Ví dụ, các xu hướng công nghệ có thể thúc đẩy năng suất, và biến động giá cả theo mùa có thể dẫn đến kết quả thuận lợi (DFID, 1999a; Kollmair & Gamper, 2002).

2.2. Đất đai và sinh kế hộ gia đình các nước đang phát triển

Khung sinh kế bền vững coi đất đai là một tài sản tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế nông thôn, tạo cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác và những sự lựa chọn sinh kế thay thế (Tim Hanstad, Robin

Trang 15

Nielsn and Jennifer Brown 2004) Chẳng hạn, đảm bảo quyền sử dụng đất có thể là một mục tiêu sinh kế Đất đai cũng là một tài sản tự nhiên mà qua đó

có thể đạt được các mục tiêu sinh kế khác như bình đẳng giới và sử dụng bền vững các nguồn lực (Paulo Filipe 2005: 2) Ở một số quốc gia, việc thiếu tiếp cận với đất đai là một hạn chế quan trọng đối với sinh kế của nhiều người và những người không được đảm bảo quyền sở hữu/sử dụng đất đai thì khi thu hồi thường bị đền bù không công bằng (DFID 2007: 16) Tuy nhiên, trong khi thảo luận về vai trò của chính sách đất đai trong xóa đói giảm nghèo, các tài liệu ghi nhận rằng có đất chỉ là một điều kiện cần, nhưng chưa đủ để giảm nghèo, cải cách chính sách đất đai phải được đi kèm với cải thiện tiếp cận dịch vụ (giáo dục, y tế, giao thông vận tải, tài chính, vv), công nghệ và thị trường Vì vậy, DFID cho thấy rằng khả năng tiếp cận đất đai là quan trọng đối với người nghèo nếu họ có thể đóng góp và hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế (DFID, 2002b).

Do đó rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra mối quan hệ giữa sinh kế và đất đai ở nông thôn các nước đang phát triển Một nghiên cứu quy mô lớn của nhiều nước châu Phi cho thấy đô thị hóa và chậm phát triển công nghiệp đã không thể hấp thụ lao động nông thôn dư thừa Trong khi đó, mật độ dân số ngày càng tăng trong khu vực nông thôn lại dẫn đến sự sụt giảm nhanh chóng về quy mô đất nông nghiệp của mỗi hộ, đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sinh kế nông thôn ở châu lục này (Bryceson, 1996), E Soini (2005) Thật không may, do thiếu kỹ năng và hỗ trợ đầy đủ, không phải tất cả các hộ gia đình đều có thể tiếp cận được các việc làm phi nông nghiệp Ngoài ra, do không có các yếu tố hỗ trợ như các khoản tín dụng

và thị trường nên đã hạn chế đáng kể việc nông dân đa dạng hóa và tăng sản lượng nông nghiệp.

CM Shackleton, SE Shackleton và B Cousins (2001) đã chỉ ra rằng ở Nam Phi, thu nhập từ hoạt động nông nghiệp có lẽ là lớn hơn tổng các nguồn thu

Trang 16

nhập khác, bao gồm thu nhập từ việc làm và lương hưu Một thực tế tương tự

có thể được tìm thấy ở Trung Mỹ, nơi các hộ có ruộng đất nhỏ và người nông dân không có đất đã trở thành nhóm dễ bị tổn thương nhất trong số người nghèo nông thôn (Siegel, 2005) Ở Trung Quốc, quốc gia đông dân nhất, đô thị hóa đã chiếm đoạt một diện tích đáng kể đất nông nghiệp, cũng như làm tăng mối quan tâm đặc biệt về an ninh lương thực và sinh kế nông thôn (Chen, 2007) Các hậu quả có vẻ nặng nề hơn ở Ấn Độ bởi vì dân số đông tạo ra áp lực rất lớn về nguồn cung cấp thực phẩm

S Mahapatra (2007) sử dụng các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu xuất bản ở Ấn Độ để kiểm tra ảnh hưởng của việc không có đất đến lựa chọn sinh kế của nông dân Orrisa, đã cho thấy khoảng một phần ba số hộ gia đình không có đất đã lựa chọn một chiến lược sinh kế hoàn toàn dựa vào làm công ăn lương Vì không có đủ đất để canh tác, nhiều người lao động nông thôn tại Ấn Độ đành bán sức lao động của họ Điều này đôi khi có thể đưa họ vào thế bất lợi do biến động của thị trường lao động Hơn nữa, sự suy giảm đất canh tác làm giảm tiêu dùng và thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn này Không chỉ ảnh hưởng đến kết quả và chiến lược sinh kế, không có đất cũng đã trở thành nguyên nhân chính của các cuộc xung đột xã hội.

Mặt khác, có những lập luận rằng trong những tình huống nhất định, mức tăng hộ gia đình không có đất hoặc thu hẹp đất đai nên được xem như là một xu hướng tích cực vì điều này tạo ra cơ hội để đa dạng hóa các chiến lược sinh kế và giảm thiểu sự phụ thuộc vào đất nông nghiệp (ví dụ như Davis, 2006; Deshingkar, 2005; Koczberski & Curry, 2005; Rigg, 2006) Khan hiếm đất đai được coi như là một trong những yếu tố thúc đẩy, khiến các hộ gia đình nông thôn đa dạng hóa sinh kế của họ H Jansen, J Pender, A Damon, W Wielemaker và R Schipper (2006) sử dụng mô hình kinh tế lượng

để khảo sát các nhân tố quyết định đến chiến lược sinh kế và đầu ra thu nhập

Trang 17

của hộ gia đình trong những vùng sườn đồi của Honduras Phát hiện của họ cho thấy đất đai không phải là một ràng buộc chính quyết định thu nhập, và nhiều đất hơn không dẫn tới thu nhập trên đầu người cao hơn của các hộ gia đình Hộ gia đình sở hữa ít đất có khuynh hướng đạt được năng suất cao hơn hoặc tham gia vào những hoạt động phi nông nghiệp Winters et al (2009) đã đưa ra những bằng chứng kinh tế lượng khác cho thấy hộ gia đình ít đất tham gia nhiều hơn vào những hoạt động làm công ăn lương và theo cách này họ có thể tăng được phúc lợi Vì vậy, các tác giả xác nhận vai trò quan trọng của hoạt động phi nông nghiệp trong chiến lược sinh kế của hộ gia đình nông thôn Những thảo luận trên đây hàm ý rằng mất đất hoặc thiếu đất có thể được xem xét như nhân tố tích cực nhằm đa dạng hóa sinh kế nông thôn.

Ở các nước đang phát triển, nhu cầu về đất đô thị đặc biệt cao để xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng, nhà máy, trung tâm thương mại, nhà ở Những yêu cầu này có thể dẫn đến những thay đổi đáng kể đến sinh kế ven

đô, tốt hơn hoặc tồi tệ hơn (Mattingly, 2009) Đô thị hoá sẽ gây nên sự cạnh tranh khốc liệt về đất đai và tác động tiêu cực đến sinh kế dựa vào tài nguyên thiên nhiên Nhưng mặt khác, đô thị hóa lại mang lại một loạt các cơ hội việc làm, tiếp cận tốt hơn đến thị trường, mở rộng các dịch vụ và thương mại, tăng lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp Điều này giúp các hộ gia đình ven đô đa dạng hóa sinh kế và giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Ở Trung Quốc, một phần lớn giá trị cao trong nông nghiệp xuất phát từ khu vực đô thị và ven đô Đô thị hóa đã mở rộng không gian kinh tế cho khu vực nông thôn, cung cấp một sự đa dạng các lựa chọn sinh kế Hơn

100 triệu việc làm được tạo ra ở các doanh nghệp, thị trấn và ngôi làng Trung Quốc(Johnson, 2002) Một nghiên cứu ở Bangladesh(Toufique & Turton,2002) cho thấy rằng mặc dù một lượng lớn đất nông nghiệp bị thu hồi, nhưng số lượng việc làm phi nông nghiệp được tạo ra cho nông dân Nhiều nông dân không có đất có thể theo đuổi các chiến lược sinh kế mới và

Trang 18

vốn con người được coi là lợi thế của cơ hội việc làm Bên cạnh đó, các chương trình nghiên cứu DARE được tiến hành trong sáu quốc gia châu Phi (Ethiopia, Nigeria, Tanzania, Malawi, Zimbabwe và Nam Phi) trong giai đoạn 1996-1998 cho thấy thu nhập phi nông nghiệp đóng góp 60-80 phần trăm tổng thu nhập hộ gia đình ở các nước này (Bryceson, 2002).

2.3. Đất đai và sinh kế nông thôn Việt Nam

Tại Việt Nam, cải cách ruộng đất và quá trình chuyển đổi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường đã được thực hiện như một phần của chính sách đổi mới kinh tế Kể từ khi luật Đất Đai được ban hành năm

1993, bằng việc cấp quyền sử dụng đất nông nghiệp ổn định và lâu dài, người nông dân an tâm canh tác Cùng với việc tự do hóa thị trường nông sản, nông nghiệp trở thành ngành lao động chính của nhiều hộ gia đình giúp họ xóa đói giảm nghèo và thậm chí là làm giàu trên mảnh đất của mình.

Sự phát triển kinh tế xã hội và cải cách ruộng đất cũng khiến cho một lượng lớn đất nông nghiệp bị thu hồi hoặc chuyển đổi giữa các cá nhân Điều này tạo nên một bộ phận người nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất Tuy nhiên, bằng cách sử dụng dữ liệu mảng của hộ gia đình, từ những cuộc khảo sát mức sống của các hộ gia đình Việt Nam (VHLSS), Ravallion và Van de Walle (2008) cung cấp bằng chứng kinh tế để bác bỏ giả thiết rằng sự gia tăng tình trạng mất đất đã dẫn đến sự gia tăng đói nghèo ở nông thôn Việt Nam Ngoài ra, tác giả nhận thấy rằng tỷ lệ giảm nghèo trong người không có đất là giống (hoặc thậm chí lớn hơn) những người có đất Do đó, họ cho rằng sự gia tăng số hộ gia đình nông thôn không có đất là một yếu tố tích cực trong quá trình xóa đói giảm nghèo nói chung, vì các hộ nông dân đã tìm được cơ hội việc làm mới, đặc biệt là những công việc có lương.

Mối quan hệ giữa đất nông nghiệp và đời sống nông thôn đã được đề cập trong một số nghiên cứu về vai trò của các hoạt động phi nông nghiệp ở

Trang 19

nông thôn trong quá trình giảm đói nghèo ở Việt Nam (ví dụ, Phạm, Bùi, & Đào, 2010; Van de Walle & Cratty, 2004) Cả hai nghiên cứu cung cấp bằng chứng kinh tế cho các ảnh hưởng tiêu cực của đất nông nghiệp đến vệc tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp, có nghĩa là các hộ gia đình có đất nông nghiệp nhiều hơn có xu hướng ít tham gia tích cực vào các hoạt động phi nông nghiệp Van de Walle và Cratty (2004) nhận thấy rằng mặc dù tiếp cận đất đai có xu hướng tăng đáng kể phúc lợi hộ gia đình, xác suất rơi vào nghèo đói cũng cao hơn đáng kể ở các hộ gia đình không tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp tự do Các tác giả chỉ ra rằng có một mối quan hệ giữa đa dạng hóa hoạt động phi nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo, có thể dẫn đến một kỳ vọng lớn rằng các ngành phi nông nghiệp mới nổi sẽ là một động lực xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Vì vậy, việc thúc đẩy các hoạt động phi nông nghiệp nông thôn là một yếu tố quan trọng trong việc giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam (Pham et al, 2010; Van de Walle & Cratty, 2004).

Nhiều nghiên cứu cũng được tiến hành ở các vùng ngoại ô của các thành phố lớn để đưa ra một bức tranh tổng quát về tác động của mất đất đến cuộc sống người dân, chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả Nguyễn Văn Sửu (2009) đã tiến hành nghiên cứu một làng ven đô Hà Nội và nhận thấy rằng nhiều hộ gia đình đã được hưởng lợi từ sự gần gũi của họ với các trường đại học và các đô thị trung tâm Thu nhập từ cho thuê nhà trọ cho sinh viên và lao động nhập cư đã nổi lên như là nguồn thu nhập quan trọng nhất đối với đa số các hộ gia đình Tuy nhiên, một số hộ gia đình phải đối mặt với cuộc sống không an toàn vì họ không có phòng cho thuê và nhiều nông dân không có đất đai đã trở thành thất nghiệp, đặc biệt người già và nông dân ít được giáo dục Một nghiên cứu khác cũng ở một huyện ven đô Hà Nội,

sử dụng phương pháp định lượng Tran Quang Tuyen và các cộng sự (2014) cho thấy mất đất là động lực để người nông dân chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp đặc biệt là các công việc có lương phi chính thức, và mặc dù

Trang 20

tổng thu nhập của các hộ bị giảm nhưng chi tiêu vẫn được đảm bảo do nguồn tiền đền bù Những tác động tiêu cực chỉ mang tính tạm thời trong thời gian ngắn khi người nông dân chưa kịp thích nghi với các cú sốc mất đất Đặc biệt, giáo dục và đất( đất nông nghiệp, vị trí nhà ở hay đất dịch vụ) là những nhân

tố quan trọng gia tăng sự giàu có của hộ.

Sử dụng dữ liệu khảo sát định lượng và phương pháp thống kê mô tả, Nguyễn Thị Hồng Hạnh và các cộng sự (2013) phát hiện rằng sau 10 năm kể từ khi bị thu hồi đất ở một số vùng của Hưng Yên, các hộ gia đình mất đất nhiều hơn có sự thay đổi nghề rõ ràng hơn và có thu nhập cao hơn những hộ bị thu hồi đất ít hơn Các kết quả nghiên cứu này hàm ý rằng việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đem lại những tác động tích cực qua việc tạo ra những áp lực buộc các nông hộ chuyển đổi sinh kế và nhờ vậy có đời sống tốt hơn

2.4. Kết luận

Từ những nghiên cứu trên có thể nhận ra rằng vai trò của đất nông nghiệp đến quá trình xóa đói giảm nghèo ở các quốc gia rất khác nhau Tại một số khu vực, mất đất là nguyên nhân gây nên những bất ổn trong đời sống kinh tế và xã hội Tuy nhiên những bằng chứng tích cực cũng được ghi nhận, làm gia tăng phúc lợi của hộ gia đình Một nhận định chung là vấn đề việc làm phi nông nghiệp là chìa khóa để giảm thiểu bất lợi cho người nông dân mất đất sản xuất Những tác động hỗn hợp cũng đã được tìm thấy ở Việt Nam và gây nhiều bối rối cho các nhà hoạch định.

III. Ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến kết

quả sinh kế hộ gia đình tại làng Ngọc Hồi

3.1. Số liệu và mô tả các biến số:

Chúng tôi đã tiến hành thu thập số liệu từ 110 hộ gia đình tại làng Ngọc Hồi – xã Ngọc Hồi – huyện Thanh Trì – Hà Nội trong thời gian tháng 3/2015

Ngày đăng: 09/01/2016, 19:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Huyen Ngan. (2009). Hàng triệu lao động bị ảnh hưởng bởi thu hồi. VNeconomy. http://vneconomy.vn/20090615035833755P0C17/hang-trieu-lao-dong-bianh-huong-boi-thu-hoi-dat.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàng triệu lao động bị ảnh hưởng bởi thu hồi
Tác giả: Huyen Ngan
Nhà XB: VNeconomy
Năm: 2009
3. Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thanh Trà và Hồ Thị Lam Trà (2013), Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống, việc làm của nông dân huyện Văn Lâm, Hưng Yên, tập 11, số 1, trang 59-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống, việc làm của nông dân huyện Văn Lâm, Hưng Yên
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thanh Trà, Hồ Thị Lam Trà
Năm: 2013
4. Nguyễn Văn Sửu (2009), Tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sinh kế nông dân Việt Nam : Trường hợp một làng ven đô Hà Nội, VNH3.TB6.276, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sinh kế nông dân Việt Nam : Trường hợp một làng ven đô Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Văn Sửu
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
8. Tran Quang Tuyen, Steven Lim, Michael P. Cameron and Vu Van Huong: Farmland loss and livelihood outcomes: a microeconometric analysis of household surveys in Vietnam Journal of the Asia Pacific Economy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Farmland loss and livelihood outcomes: a microeconometric analysis of household surveys in Vietnam
Tác giả: Tran Quang Tuyen, Steven Lim, Michael P. Cameron, Vu Van Huong
Nhà XB: Journal of the Asia Pacific Economy
1. DFID. (1999b). Sustainable livelihood guidance sheets. Department for International Development, UK Retrieved from Emergency Nutrition Network website, http://www.ennonline.net/pool/files/ife/dfid-sustainablelivelihoods-guidance-sheet-section1.pdf Link
6. Nghị quyết về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) của thành phố Hà Nội số 06/NQ- CP ngày 9/1/2013 Khác
7. Nghị quyết về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) cấp quốc gia số 17/2011/QH13 ngày 22/11/2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các biến giải thích trong mô hình - Đất đai và sinh kế hộ gia đình tại các vùng ven đô hà nội trường hợp làng ngọc hồi
Bảng 1 Các biến giải thích trong mô hình (Trang 23)
Bảng 1. Thống kê mô tả Tên biến Trung - Đất đai và sinh kế hộ gia đình tại các vùng ven đô hà nội trường hợp làng ngọc hồi
Bảng 1. Thống kê mô tả Tên biến Trung (Trang 25)
B3: Hình thành chuỗi các trọng số w i  = (1 – u i 2 ) với u i 2  <1 hoặc w i  = 0 với - Đất đai và sinh kế hộ gia đình tại các vùng ven đô hà nội trường hợp làng ngọc hồi
3 Hình thành chuỗi các trọng số w i = (1 – u i 2 ) với u i 2 <1 hoặc w i = 0 với (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w