TỔNG QUAN VỀ DẦU NHỚT , DẦU NHỚT THẢI - HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ NHỚT THẢI TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
Trang 1ƯƠ NG IV TỔNG QUAN VỀ DẦU NHỚT , DẦU NHỚT THẢI - HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ NHỚT THẢI
TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
4.1 Tổng quan về dầu nhớt và dầu nhớt thải và ảnh h ư ởng cúa chúng đến sức khoẻ con ng ư ời và môi tr ư ờng xung quanh
4.1.1 Dầu nhớt
4.1.1.1 Nguồn gốc và mục đích sử dụng dầu nhớt
Dầu nhớt là một loại hydrocacbon đa vòng, thành phần dầu nhớt gồm có dầu gốc
và các phụ gia (calxium sulphonate) Đây là nguồn nguyên liệu chính dùng để bôi trơn tất cả các động cơ xe máy, ôtô và các loại xe cơ giới khác Vì hệ thống bôi trơn giữ vai trò quan trọng trong sự hoạt động của động cơ, mặc dù các chi tiết máy được lắp ráp rất kỹ nhưng chúng vẫn có vết gồ ghề trên chi tiết, khi trượt lên nhau sẽ sinh nhiệt, tiêu hao công và làm mài mòn các chi tiết, do đó các chi tiết phải luôn được bôi trơn bởi dầu Mục đích của việc sử dụng dầu nhớt trong việc bôi trơn động cơ là:
- Giảm mài mòn, ma sát - Làm kín lòng xy lanh và piston
- Giảm bớt công suất tiêu hao - Giải nhiệt, làm mát động cơ
4.1.1.2 Đặc tính của dầu nhờn (dầu nhớt)
1 Độ nhớt
Là đặc tính quyết định khả năng lưu động của dầu nhớt Độ nhớt của dầu thay đổi theo nhiệt độ Khi ở nhiệt độ cao, độ nhớt giảm và ngược lại Dầu có độ nhớt thấp dễ
di chuyển hơn so với dầu có độ nhớt cao Ngoài ra, do trọng lượng của các phân tử cấu thành nên dầu nhờn có liên quan trực tiếp đến độ nhớt của nó nên người ta thường gọi thành dầu nặng hay dầu nhẹ Dầu nhẹ dùng để chỉ loại có độ nhớt thấp, dầu nặng chỉ dầu có độ nhớt cao Trên thực tế, dầu nhẹ dễ bơm và luân chuyển qua động cơ nhanh hơn Ngược lại, dầu nặng thường có độ nhớt cao, di chuyển chậm hơn nên có áp suất cao hơn nhưng lưu lượng dầu qua bơm lại thấp hơn
Trang 22 Độ nhớt quy ước
Là tỷ số thời gian 200cc dầu nhớt chảy qua thiết bị đo so với cùng 1 thể tích nước cất ở 200C Đơn vị độ nhớt là Engler (0E) hay XăngTuốc (Centistokes) Độ nhớt của nước cất ở 200C là 1 Xăng tuốc (Cst)
3 Đặc tính chống cacbon hoá
Nhiệt độ thành xy lanh cao nên dầu nhớt dễ bị cháy thành Cacbon Cacbon này được tích luỹ làm xét măng bị dính xếp, vách xy lanh bị trầy Lớp Cacbon bám trên đỉnh piston và vách buồng nổ sẽ gây kích nổ và giảm khả năng truyền nhiệt của piston Bụi than lẫn vào dầu nhớt sẽ làm nghẽn mạch dầu Do đó dầu nhớt phải có khả năng chống Cacbon hoá, ngoài ra dầu nhớt không được lẩn axit và nước
4 Phân loại dầu nhớt: Có 2 cách phân loại: Phân loại dầu nhờn theo độ nhớt và
phân loại dầu nhờn theo tính năng
Phân loại dầu nhờn theo độ nhớt:
Ở phương pháp phân loại theo độ nhớt, các nhà sản xuất dầu nhớt thống nhất dùng cách phân loại của Hiệp hội kỹ sư ôtô Mỹ SAE (Society of Automotive Engineers)
Hệ thống phân loại của SAE khá phức tạp, nó liên quan tới nhiều khái niệm khác nhau Tuy nhiên, có thể chỉ ra những yếu tố chính Đối với dầu đa cấp, sau chữ SAE
là tiền tố như 5W, 10W hay 15W, 20W Những số đứng trước chữ “W” dùng để chỉ khoảng nhiệt độ mà loại dầu động cơ đó có độ nhớt đủ để khởi động xe lúc lạnh Để xác định nhiệt độ khởi động theo ký tự này, bạn chỉ cần lấy 30 trừ đi các số đó nhưng theo nhiệt độ âm Ví dụ, dầu 10W sẽ khởi động tốt ở âm 20 độ C, dầu 15W khởi động tốt ở âm 15 độ C
Các loại dầu động cơ ở các nước Hàn đới thường là loại 5W, 10W, 15W nhưng
đa số các sản phẩm ở Việt Nam chỉ là loại 15W hay 20W Mặc dù không có ý nghĩa quan trọng khi khởi động vì thời tiết ở Việt Nam thường không quá lạnh, nhưng để đạt được các yêu cầu khởi động lạnh, các nhà sản xuất phải thêm vào các chất phụ gia nên dầu có số càng nhỏ thì càng đắt Loại 15W và 20W có mức giá trung bình nên được các hãng dầu nhờn nhập về hoặc sản xuất ở Việt Nam
Trang 3Đứng sau chữ “W” ở loại dầu đa cấp có thể là chữ 40, 50 hoặc 60 Đây là ký tự dùng để chỉ khoảng độ nhớt ở 100 độ C của các loại dầu nhờn Thông thường, số càng
to thì độ nhớt càng lớn và ngược lại Ví dụ, với xe hoạt động không quá khắc nghiệt như động cơ ôtô chẳng hạn, chỉ số này ở khoảng 30, 40 hoặc 50 là đủ Với những động cơ hoạt động ở vùng nhiệt độ cao, chỉ số này phải cao hơn, khoảng trên 60
Do đặc tính của dầu đa cấp nên người ta thường gọi nó là “dầu bốn mùa” Khi có chữ “W”, khách hàng có thể hiểu nó dùng được cho cả mùa đông và mùa hè
Ngoài loại đa cấp, nhiều nhà sản xuất cho ra cả loại dầu đơn cấp và chỉ có ký hiệu như SAE 40, SEA 50 Loại dầu này thường được dùng cho các loại động cơ 2 kỳ, máy nông nghiệp, công nghiệp Tuỳ theo nước sản xuất, loại dầu và độ nhớt của dầu được quy định như sau:
Các nước Anh, Mỹ
- SAE 20: thật lỏng, dùng pha xăng động cơ 2 thì
- SAE 30:Lỏng dùng đổ vào Catte động cơ mới
- SAE 40: Hơi lỏng dùng cho động cơ cũ
- SAE 50 và 90: Dùng cho cầu xe và hộp số
Theo nước Liên Xô cũ
- Dầu nhờn M - 8bI dùng trong động cơ xăng của xe vận tải, sử dụng cho cả bốn mùa Dầu nhớn AC – 10 dùng cho mùa hè, AC – 6 cho mùa đông
- Động cơ Diesel dùng loại dầu nhớt M – 10B2
- Động cơ xăng tốc độ quay lớn dùng dầu nhờn M – 63 10RI cho cả bốn mùa
Phân loại dầu nhờn theo tính năng:
Khi phân loại theo tiêu chuẩn này, các nhà sản xuất lại thống nhất phân theo tiêu chuẩn của Viện dầu mỏ Mỹ API (American Petroleum Institute)
API phân ra theo cấp S (Service) dùng để dành cho dầu đổ vào động cơ xăng và
C (Commercial) cho các động cơ diesel Hiện tại, với động cơ xăng, API phân ra nhiều loại với thứ tự tiến dần từ SA, SB, SC tới mới nhất là SM Đối với động cơ diesel, API chia thành CA, CD, CC tới CG, CH và CI Càng về sau, chất lượng sản phẩm càng tốt do các nhà sản xuất phải thêm vào những chất phụ gia đặc biệt để thích nghi với những công nghệ động cơ mới
Trang 44.1.1.3 Những nguyên tắc đúng khi sử dụng dầu nhớt
Để duy trì động cơ hoạt động tốt luôn luôn, đồng thời gia tăng tuổi thọ cho động
cơ, người sử dụng xe cần phải am tường nguyên tắc “3 đúng” trong việc sử dụng dầu nhớt bôi trơn động cơ như sau
Dùng dầu đúng chỉ số: Chúng ta sử dụng loại gì cũng được nhưng dầu nhớt
phải đúng chỉ số theo nhà chế tạo động cơ ấn định Thông thường các động cơ từ
100 phân khối trở xuống lưu hàng ở Á Châu được nhà chế tạo ấn định dùng dầu nhớt có chỉ số 30 trong việc bôi trơn, “Chỉ số 30” là độ nhờn của dầu nhớt đó gấp
30 lần độ nhờn của nước cất ở 200C
Đổ dầu vào catte đúng dung lượng: Dung lượng dầu nhớt trong catte của động
cơ 50 phân khối là từ 0,5 – 0,7 hoặc 0,9 lít (tuỳ theo loại động cơ), chúng ta nên
đổ dầu đúng dung lượng theo nhà chế tạo động cơ ấn định, không nên đổ nhiều hơn hay ít hơn lượng nhớt quy định, sẽ không tốt cho động cơ lúc hoạt động
Thay dầu đúng định kỳ: Định kỳ thay dầu nhớt cho động cơ 2 thì là 3000Km
đường xe chạy, đối với động cơ 4 thì định kỳ thay nhớt chì 2000Km, vì dầu nhớt trong động cơ 4 thì làm việc nhiều hơn động cơ 2 thì Nếu trễ định kỳ lâu quá nhiều mà chúng ta không thay dầu nhớt trong catte, lúc bấy giờ dầu nhớt chỉ còn
là một thứ nước lạnh màu đen, mất hết chất nhờn, không thể làm trơn các chi tiết động cơ
4.1.2 Tổng quan về dầu nhớt thải (dầu nhớt cặn)
Theo giáo trình Quản Lý Chất Thải Nguy Hại của TS Lê Thanh Hải kết quả khảo sát về tình hình sử dụng nhớt trên địa bàn thành phố của Chi cục bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, đường đi của dầu nhớt như sau:
Trang 5Hình 4.1 Đường đi của dầu nhớt
4.1.2.1 Nguồn gốc phát sinh:
Dầu nhớt thải có nguồn gốc phát sinh rất rộng lớn từ các khu công nghiệp, khu chế xuất, các xí nghiệp, cơ sở sản xuất có sử dụng máy móc đều có sử dụng dầu nhớt
để bôi trơn các máy móc Do đề tài này chỉ nghiên cứu bên lĩnh vực hoạt động giao thông nên dầu nhớt có nguồn gốc phát sinh từ các hoạt động bảo dưỡng xe ôtô của các xưởng sửa chữa, từ các cơ sở sửa - rửa xe máy, từ các cây xăng có rửa xe thay nhớt, từ các điểm rửa xe thay nhớt mà phát sinh ra dầu thải, đây là một loại chất thải nguy hại điển hình, nằm trong danh mục chất thải nguy hại (ban hành kèm theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTN ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường)
4.1.2.2 Thành phần của dầu nhớt thải
Dầu nhớt thải là dầu sau khi sử dụng xong được thải bỏ, là chất nhờn có màu đen, quánh lại, không hoà tan trong nước, bền vững và có chứa các chất hoá học độc hại
và các kim loại nặng, nó phân huỷ rất chậm và có ở khắp mọi nơi Trong suốt quá trình sử dụng dầu để bôi trơn động cơ xe, chúng sẽ bị nhiễm bụi, kim loại nặng nguy hại do sự mài mòn chi tiết máy và chứa những chất hoá học độc hại do quá trình cacbon hoá xảy ra trong lúc vận hành động cơ, chứa nước hay một số hợp chất hoá
Nhà sản xuất dầu nhớt
Công ty kinh doanh
Xí nghiệp, nhà máy, cơ
Lượng nhớt chưa được
Dùng để quét gỗ chống
mối mọt Thải ra môi trường tự nhiên Tái chế nhớt, sản xuất dầu bôi trơn
Trang 6học khác làm cho dầu không còn tính tốt nữa Điều này dẫn đến dầu trở thành phế thải nhưng dầu thải hoàn toàn 100% có khả năng tái sinh hay tái chế lại sử dụng cho mục đích khác
Theo Quyết định 23/2006/QĐ-BTHMT về việc ban hành Danh mục chất thải nguy hại, dầu nhớt thải có “Mã CTNH” và một số đặc tính sau:
Theo mã Basel (A/B) được ký hiệu là A3020, mã Basel (Y) là Y8
Là chất thải nằm trong Mục 17, bao gồm nhóm chất thải chung mà mọi nguồn thải đều có thể phát sinh
Tính chất nguy hại chính là: độc, độc sinh thái, cháy
- Tính độc có 3 loại sau
Độc cấp tính: Các chất thải có thể gây tử vong, tổn thương nghiêm trọng hoặc
có hại cho sức khỏe qua đường ăn uống, hô hấp, qua da
Độc tính từ từ hoặc mãn tính: Các chất thải có thể gây ra các ảnh hưởng từ từ
hoặc mãn tính, kể cả gây ung thư, do ăn phải, hít thở phải hoặc ngấm qua da
Sinh khí độc: Các chất thải chứa các thành phần mà khi tiếp xúc với không khí
hoặc với nước sẽ phóng ra khí độc, gây nguy hiểm đối với người và sinh vật
Trong trường hợp này dầu thải có tính chất độc từ từ hoặc mãn tính, do khi tiếp xúc nó sẽ ngấm từ từ qua da gây hay hít thở phải hơi, khí độc sinh ra trong quá trình tái chế dẫn đến tích luỹ sinh học và gây bệnh ung thư
- Tính độc sinh thái: Là chất có thể gây ra các tác hại nhanh chóng hoặc từ từ đối với môi trường thông qua tích luỹ sinh học và hoặc gây tác hại đến các hệ sinh vật
- Dầu thải tại các cơ sở sửa xe máy bị đổ, thấm ra môi trường đất, khi mưa xuống, thấm vào đất, vào mạch nước ngầm, một phần bị cuốn theo nước mưa chảy ra kênh, rạch sông Do là chất khó phân huỷ nên nó bền vững trong môi trường và tồn tại trong trầm tích đáy sông, tích luỹ trong cơ thể sinh vật từ bậc thấp đến cao theo chuỗi thức ăn, gây độc cho môi trường và sinh vật
- Đặc tính cháy, có một số dạng sau:
Chất thải lỏng dễ cháy: Là các chất thải ở dạng lỏng, hỗn hợp chất lỏng
hoặc chất lỏng chứa chất rắn hoà tan hoặc lơ lửng, có nhiệt độ bắt cháy thấp theo các tiêu chuẩn hiện hành
Trang 7 Chất thải rắn dễ cháy: Là các chất thải rắn có khả năng tự bốc cháy
hoặc phát lửa do bị ma sát trong các điều kiện vận chuyển
Chất thải có khả năng tự bốc cháy: Là chất thải rắn hoăc lỏng có thể tự
nóng lên trong điều kiện vận chuyển bình thường, hoặc tự nóng lên do tiếp xúc với không khí và có khả năng tự bốc cháy
Chất thải tạo ra khí dễ cháy: Là các chất thải khi tiếp xúc với nước có
khả năng tự cháy hoặc tạo ra lượng khí dễ cháy nguy hiểm
Theo những đặc tính trên thì dầu nhớt thải là chất thải lỏng dễ cháy, do đó người
ta mua dầu thải về trộn với dầu FO làm nhiên liệu đốt trong các lò nấu sắt, gang, nhôm Nhưng khi đốt dầu nhớt thải không đúng quy cách sẽ tạo ra những chất cực độc như Furan, Dioxin,…, có mùi rất khó chịu và gây ô nhiễm môi trường chính vì không có chính sách quản lý dầu nhớt thải một cách hợp lý nên để tình trạng mua bán, sử dụng chất thải nguy hại một cách tràn lan, tự phát, gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người
Trạng thái tồn tại của dầu thải là ở dạng lỏng, còn ở dạng rắn là các giẻ lau dầu nhớt, can thùng chứa nhớt thải Các giẻ lau dầu nhớt này chính là nguồn chất thải nguy hại tại các điểm sửa, rửa xe mà họ đổ trực tiếp chung với rác sinh hoạt Nếu tại các cơ sở này, việc phân loại các giẻ lau dầu tốt là không đổ chúng chung với rác sinh hoạt thì cách phân loại tại nguồn này sẽ giúp một phần lớn công tác phân loại chất thải nguy hại trong rác thải sinh hoạt, giúp việc xử lý chúng một cách dễ dàng hơn
Ngưỡng nguy hại: luôn là chất thải nguy hại trong mọi trường hợp
4.1.3 Ảnh hưởng của dầu thải đến sức khỏe con người và môi trường xung quanh
Dầu bôi trơn sau khi sử dụng xong không được thải ra môi trường vì nó là chất làm ô nhiễm môi trường, chúng có chứa nhiều chất bẩn, axit, các kim loại nặng do trong thành phần của nó đã có sẵn hàm lượng kim loại nặng (gồm các kim loại Ca,
Mg, Zn) và do quá trình mài mòn các chi tiết máy lúc vận hành…, nên chú ý không cho dầu thấm vào đất, vào nguồn nước, hệ thống cống rãnh, mương, gây nguy hại đến môi trường đất, nước, và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Chỉ với một lít dầu phát tán vào trong môi trường thì sẽ làm ô nhiễm một triệu lít nước ngọt
Trang 8Đối với sức khoẻ con người, có thể tiếp xúc qua da, ăn uống, hô hấp, không nên
để da thường xuyên tiếp xúc tiếp với nguồn nhớt đã sử dụng vì chúng có thể tiếp xúc trực tiếp qua da và tích luỹ trong cơ thể làm tích tụ sinh học gây nên bệnh ung thư,
và các bệnh mãn tính khác ảnh hưởng đến sức khoẻ của chúng ta Sử dụng dầu thải làm than tổ ong siêu cháy còn gây nguy hiểm cho con người rất nhiều, việc đốt than
tổ ong hàng ngày có nhiều tác hại cho sức khỏe do khí CO và CO2 từ bếp than xâm nhập vào cơ thể, sẽ gây tổn thương vỏ não, dẫn tới hôn mê, thậm chí tử vong nếu như không được cứu chữa kịp thời Vì trong các loại dầu nhớt thải có rất nhiều kim loại nặng độc hại Khi than cháy, các phân tử kim loại có thể theo khói đi vào phổi người
sử dụng và gây nguy cơ ung thư phổi
Dầu thải hoàn toàn 100% có khả năng tái chế đựơc (như đã trình bày ở sơ đồ trên) hiện nay thị trường dầu thải cũng đang có sự cạnh tranh nhau giữa những người thu mua dầu thải, họ thu mua với nhiều mục đích khác nhau, để sản xuất nhớt tái sinh, tái chế ra các sản phẩm thứ cấp như mỡ cấp thấp, dầu bôi trơn thông thường (once through),…và cuối cùng dầu thải được đưa vào lò đốt sử dụng nhiên liệu nặng
là dầu FO như những lò nấu gang, nấu sắt,…Do đó có sự cạnh tranh nhau giữa những điểm thu mua trong khi hiện nay thì giá xăng, dầu trên thế giới tăng cao, kéo theo giá thành nhiên liệu trong nước cũng tăng vọt theo, mà đặc tính của dầu nhớt thải lại có khả năng cháy, nên nguồn hàng này vô cùng quý giá cho những cơ sở sử dụng nó làm nhiên liệu Và chính việc sử dụng dầu nhớt thải làm nhiên liệu đã tạo ra nhiều khí CO2, CO, thậm chí có cả Furan, Dioxin, và khói đen gây ô nhiễm môi trường không khí, và có mùi hôi, xốc, hăng hắt rất khó chịu nếu ngửi phải
4.2 Hiện trạng quản lý dầu nhớt thải ở một số n ư ớc trên thế giới
Tại Mỹ
Theo Cục Bảo Vệ Môi Trường Hoa Kỳ (EPA), người ta vừa ban bố đưa ra chiến dịch liên quan đến chương trình quản lý dầu nhớt thải đó là chiến dịch
“You Dump it, You Drink it” có nghĩa là “Bạn thải nó – Bạn uống nó” nhằm nhắm vào đối tượng là các điểm sửa chữa động cơ ôtô, các trung tâm bảo dưỡng, bảo trì, và các đối tượng khách hàng có liên quan đến việc sử dụng dầu nhớt xe môtô, ôtô Nội dung của chiến dịch này gồm các phần chính sau:
Trang 9- Dành cho người tiêu dùng và những việc làm của họ liên quan đến việc quản
lý dầu nhớt thải
- Dành cho nhân viên tại các điểm rửa - sửa xe, trung tâm bảo trì xe ôtô, xe máy
về cách lưu trữ nguồn dầu nhớt thải
- Dành cho chủ tiệm và chủ quản lý tại các điểm rửa - sửa xe, trung tâm bảo trì
xe ôtô, xe máy về cách lưu trữ và quản lý dầu nhớt thải một cách hợp lý
- Cuốn sách hướng dẫn người tiêu dùng và hành động của họ trong cách thay đổi và bố trí nguồn dầu thải xe máy
- Hướng dẫn nhân viên tại các điểm rửa - sửa xe, trung tâm bảo trì xe ôtô, xe máy về cách quản lý thích hợp khi có dầu thải bị chảy tràn, rò rỉ
- Dầu thải bị nhiễm vào trong nguồn nước của chúng ta
- Các bước cơ bản để quản lý dầu nhớt thải
Trên đó là toàn bộ nội dung của chiến dịch “bạn thải nó, bạn uống nó” của EPA Hoa Kỳ đưa ra đối với chất thải là dầu nhớt xe máy – ôtô
Ước tính mỗi năm nước Mỹ có khoảng 380 triệu ga-lông (1ga-lông = 3,78 lít) tương đương với 1,4364 triệu m3 dầu thải được thu gom, xử lý và tái sử dụng Nếu tất cả lượng dầu thải tại Mỹ được những chủ cở sở tái chế thu gom và tái sinh hết, thì lượng dầu nhớt tái sinh đó sẽ cung cấp đủ cho hơn 50 triệu xe hơi 1 năm, nếu như vậy thì sẽ tiết kiện được một số lượng lớn dầu nhớt mà phải nhập
từ nước ngoài vào
Tại cộng đồng chung Châu Âu
Trong khi đó, mỗi năm liên minh châu Âu (EU) phải quản lý 2.500.000 tấn dầu nhờn phế thải Hiện EU đang khuyến khích các nước trong khối tái chế để
sử dụng Sau đó mới là các giải pháp đốt, phân giải, lưu giữ có thời hạn và chôn
Tại Nhật
Còn tại Nhật Bản, dầu nhờn phế thải được xử lý như rác thải công nghiệp Dầu thải thu hồi chủ yếu dùng làm chất đốt, làm dầu gia nhiệt cho ngành phát điện và đóng tàu tại nơi đây
Tại Đài Loan
Tại Đài loan, trong lĩnh vực này có các nhà máy thu hồi dầu nhờn đã qua
sử dụng để tái chế thành dầu gốc và các loại sản phẩm thứ cấp khác đang được các
Trang 10nước trong khu vực quan tâm, hệ thống tái sinh dầu nhờn trong các nhà máy của Đài Loan hiện nay dựa trên phương pháp chưng cất ba bước tiên tiến nhất trên thế giới Khi nhà máy này hoạt động sẽ triệt tiêu việc thu gom dầu thải tự phát ở khắp các làng quê, ngõ xóm, giống như những bãi thải không người quản lí
Cùng với giá dầu thô trên thế giới ngày càng tăng, các quốc gia hiện nay đều khuyến khích tái sử dụng dầu nhờn phế thải để tạo thành dầu tái sinh Do đó, việc thu hồi, xử lý dầu nhờn phế thải là đặc biệt quan trọng trên thế giới hiện nay, một mặt tránh ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nguồn tài nguyên và phát triển kinh tế bền vững cho mỗi quốc gia và trên thế giới
3.3 Hiện trạng quản lý dầu nhớt thải tại Việt Nam:
Quản lý nhà nước
Quản lý dầu nhớt cũng giống như quản lý chất thải nguy hại, phải bắt đầu ngay từ quá trình sinh ra chất thải đến quá trình xử lý và khâu cuối cùng là thải bỏ dầu nhớt Hiện nay ngoài Quyết Định 23 có quy định dầu nhớt thải là CTNH, còn lại chưa hề
có một văn bản hướng dẫn nào liên quan đến việc quản lý dầu nhớt thải phát sinh từ các họat động giao thông vận tải
Tại thành phố Hồ Chí Minh, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiện chính trong việc quản lý môi trường tại thành phố, do đó Sở có trách nhiệm chính trong việc quản lý dầu nhớt thải Vì vậy, cán bộ của Sở phải liên kết chặt chẽ với các nhà máy và các nhà sản xuất để nắm rõ tình hình phát thải và xử lý dầu nhớt thải tại các nơi này Sở đã tách bộ phận quản lý chất thải rắn ra làm hai bộ phận, bộ phận quản lý chất thải rắn phụ trách về việc quản lý chất thải rắn thông thường và bộ phận quản lý chất thải nguy hại sẽ chuyên về quản lý những chất thải nguy hại cả ở dạng lỏng như dầu thải, nước nhiễm dầu, dạng rắn như bùn thải từ sản xuất công nghiệp hay dạng khí như hơi dung môi…Hai bộ phận thuộc phòng Quản lý chất thải rắn sẽ thường xuyên trao đổi, cập nhật tình hình phát thải và hiện trạng quản lý chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại Sở tại Nguyên và Môi trường cũng nên có quy trình và lập trình kiểm soát việc lưu trữ, vận chuyển và xử lý chất thải của các cơ sở sản xuất, các tiệm rửa - sửa xe máy hay các nơi có sử dụng và xả dầu nhớt thải
Bên cạnh phòng quản lý chất thải rắn, việc giám sát dầu thải cũng được sự hổ trợ của cán bộ môi trường thuộc các quận, huyện Cán bộ môi trường quận huyện có