Một đất nước, cho dù có tài nguyên thiên nhiên có phong phú đến đâu, mà không xây dựng được một lực lượng lao động có chất lượng cao, thiếu những con người có trình độ cao để có thể quản
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu này là của riêng tôi, là kết quả làm việc của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Đặng Văn Thắng, PGS.TS Vũ Văn Hân và sự giúp đỡ của các thầy cô trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Các số liệu được dẫn ra trong Luận án có nguồn gốc đầy đủ, trung thực, kết quả đóng góp của Luận án là mới và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về Lời cam đoan của mình
Tác giả Luận án
Huỳnh Thanh Bình
Trang 4Tác giả Luận án xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, Viện Đào tạo Sau Đại học và các thầy, cô giáo của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, kỹ năng và tạo nhiều thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập theo chương trình nghiên cứu sinh và cả quá trình làm Luận
án tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cám ơn đến Tổng cục Hải quan Việt Nam, Cục Hải quan Đồng Nai, đã quan tâm, hỗ trợ và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm Luận án
Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm Luận án tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Đặng Văn Thắng và PGS.TS Vũ Văn Hân, những người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong quá trình làm Luận án
Tác giả Luận án
Huỳnh Thanh Bình
Trang 5LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG QUẢN LÝ CỦA HẢI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 10
1.1.1 Những nghiên cứu về nguồn nhân lực 10
1.1.2 Những nghiên cứu về lao động quản lý 12
1.1.3 Những nghiên cứu về quản lý, phát triển cán bộ, công chức 15
1.1.4 Những nghiên cứu về nguồn nhân lực hải quan 16
1.2 Cách tiếp cận 18
1.2.1 Tiếp cận từ góc độ Tổ chức lao động khoa học 18
1.2.2 Tiếp cận Lý thuyết vốn con người 22
1.2.3 Tiếp cận Lý thuyết Quản lý phát triển nguồn nhân lực 25
1.2.4 Tiếp cận từ góc độ quản lý hành chính nhà nước 30
1.3 Phương pháp nghiên cứu 35
1.3.1 Phương pháp phân tích số liệu thứ cấp 36
1.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 36
1.3.3 Mô hình đánh giá chất lượng lao động quản lý 37
1.4 Tiểu kết Chương 1 39
Trang 6ĐỊA PHƯƠNG 40
2.1 Những vấn đề cơ bản về lao động và quản lý 40
2.1.1 Những vấn đề về lao động 40
2.1.2 Những vấn đề về quản lý 44
2.2 Những vấn đề về lao động quản lý và chất lượng lao động quản lý 50
2.2.1 Lao động quản lý 50
2.2.2 Chất lượng lao động quản lý 52
2.3 Tổ chức hành chính nhà nước và lao động quản lý trong tổ chức hành chính nhà nước 56
2.3.1 Những vấn đề cơ bản về tổ chức hành chính nhà nước 56
2.3.2 Lao động quản lý trong tổ chức hành chính nhà nước 58
2.4 Chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương 63
2.4.1 Đánh giá chất lượng lao động quản lý 63
2.4.2 Đặc điểm của lao động quản lý hải quan địa phương 64
2.4.3 Đánh giá chất lượng lao động quản lý hải quan 67
2.5 Kinh nghiệm quản lý, phát triển lao động quản lý 72
2.5.1 Kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp 72
2.5.2 Kinh nghiệm của Nhật bản 74
2.5.3 Kinh nghiệm của Malaysia 78
2.5.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho việc nâng cao chất lượng lao động 79
2.6 Tiểu kết Chương 2 80
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG QUẢN LÝ TẠI CÁC CỤC HẢI QUAN ĐỊA PHƯƠNG 82
3.1 Khái quát về Bộ máy quản lý Hải quan Việt Nam 82
3.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức hải quan thông qua số liệu về công tác tổ chức 86
3.2.1 Trình độ công chức hải quan theo ngạch 86
3.2.2 Trình độ công chức theo văn bằng đào tạo 88
3.2.3 Trình độ được đào tạo về lý luận chính trị & quản lý nhà nước 89
Trang 73.2.6 Đánh giá chung về đội ngũ công chức quản lý 95
3.2.7 Nguyên nhân hạn chế về chất lượng lao động công chức quản lý 99
3.3 Đánh giá chất lượng lao động quản lý thông qua điều tra khảo sát 102
3.3.1 Phiếu và mẫu điều tra 102
3.3.2 Phân tích chất lượng cán bộ quản lý và công tác quy hoạch cán bộ 105
3.4 Tiểu kết Chương 3 115
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG QUẢN LÝ 116
4.1 Khái quát bối cảnh quốc tế, khu vực ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng lao động quản lý của hải quan 116
4.1.1 Vai trò, đặc điểm của lao động quản lý Hải quan tỉnh, thành phố 119
4.1.2 Mục tiêu, phương hướng của ngành cho đến năm 2020 120
4.2 Định hướng phát triển của ngành Hải quan Việt Nam 124
4.2.1 Quan điểm, mục tiêu của Chiến lược phát triển 124
4.2.2 Nội dung của chiến lược phát triển ngành Hải quan 126
4.3 Quan điểm chung để nâng cao chất lượng lao động quản lý Hải quan 133
4.4 Hệ thống các giải pháp nâng cao chất lượng lao động quản lý 136
4.4.1 Nhóm giải pháp về thể chế, chính sách, pháp luật 136
4.4.2 Nhóm giải pháp về quy hoạch, phát triển 139
4.4.3 Nhóm giải pháp về nhân sự đào tạo và bồi dưỡng 142
4.4.4 Nhóm giải pháp về tuyển dụng và sử dụng 147
4.4.5 Nhóm giải pháp về hoàn thiện bộ máy tổ chức, sắp xếp, phân công, phân loại 153
4.5 Tiểu kết Chương 4 155
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 156
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 159 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CCT : Chi cục trưởng
CCVC : Công chức, viên chức
CNH : Công nghiệp hóa
CNTT : Công nghệ thông tin
CV : Chuyên viên
CVC : Chuyên viên chính
EU : Cộng đồng Châu Âu
FTA : Khu vực mậu dịch tự do
GATT : Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch
HĐH : Hiện đại hóa
VCIS : Hệ thống thông tin quản lý
VNACCS : Hệ thống thông quan tự động
WCO : Tổ chức Hải quan Thế giới
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
XHCN : Xã hội Chủ nghĩa
XNK : Xuất, nhập khẩu
Trang 9BẢNG
Bảng 2.1: Phân biệt nhà quản lý và nhà lãnh đạo 46
Bảng 3.1: Thống kê ngạch công chức Hải quan và tương đương 87
Bảng 3.2: Trình độ công chức đã qua đào tạo theo văn bằng 88
Bảng 3.3: Trình độ CCVC được đào tạo về lý luận chính trị và quản lý nhà nước 90
Bảng 3.4: Trình độ CCVC về đào tạo tin học 92
Bảng 3.5: Trình độ CCVC qua đào tạo ngoại ngữ 94
Bảng 3.6: Phân bổ mẫu điều tra 104
Bảng 3.7: Giới tính * Vị trí quản lý * Số lần bổ nhiệm Crosstabulation 106
Bảng 3.8: Tuổi * Vị trí quản lý * Số lần bổ nhiệm Crosstabulation 107
Bảng 3.9: Trình độ chuyên môn*Vị trí quản lý*Số lần bổ nhiệm Crosstabulation 108
Bảng 3.10: Trình độ lý luận chính trị*Vị trí quản lý*Số lần bổ nhiệm Crosstabulation 109
Bảng 3.11: Ngạch công chức*Vị trí Quản lý*Số lần bổ nhiệm Crosstabulation 111
Bảng 3.12: Trình độ ngoại ngữ*Vị trí quản lý*Số lần bổ nhiệm Crosstabulation 112
Bảng 3.13: Trình độ tin học*Vị trí quản lý*Số lần bổ nhiệm Crosstabulation 114
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Mô hình đánh giá chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương 38
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức ngành Hải quan 85
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1 Nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) là điều kiện cần, là tiền đề cho sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung và các ngành, các tổ chức nói riêng; trong đó, nguồn lực con người luôn là nhân tố quan trọng nhất, giữ vai trò quyết định
Một đất nước, cho dù có tài nguyên thiên nhiên có phong phú đến đâu, mà không xây dựng được một lực lượng lao động có chất lượng cao, thiếu những con người có trình độ cao để có thể quản lý và khai thác các nguồn lực đó, thì khó có khả năng đạt được sự phát triển như mong muốn Ngược lại, thực tế chứng minh rằng, nhiều quốc gia quan tâm đến yếu tố con người, có chiến lược đầu tư và chăm
lo phát triển con người một cách đúng đắn và phù hợp, xây dựng được một đội ngũ những người lao động có chất lượng cao, thì các quốc gia đó đều đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp phát triển đất nước của họ, mặc dù, họ có ít, thậm chí rất ít nguồn tài nguyên thiên nhiên
Ngày nay, con người được xem là “tài nguyên đặc biệt”, giữ vị trí trung tâm trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Do đó, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, là yếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất xã hội, mà còn là chủ thể của quá trình lịch sử - xã hội, do đó, sự quan tâm đầy đủ đến con người là điều kiện bảo đảm chắc chắn nhất cho
sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia và việc đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, làm cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững
2 Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến yếu tố con người và chăm lo phát triển nguồn nhân lực của cả nước, cũng như nguồn nhân lực của các ngành, các cấp,
từ trung ương cho đến địa phương
Đảng ta đã xác định “nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh”, đặc biệt trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước hiện nay Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, giai đoạn 2011-2020, được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, cũng đã xác định: “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ là một trong ba khâu đột phá phát triển nhanh, bền vững đất nước đến năm 2020”
Trang 11Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã dành cả một chương để nói về quyền con người và quyền công dân, trong đó khẳng định: Ở Việt Nam, “các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” [65]
Theo tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 về chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 và các bộ, ngành, địa phương trong phạm vi cả nước đã tiến hành xây dựng và đi vào thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực của bộ, ngành, địa phương mình, trong đó có chiến lược phát triển nguồn nhân lực của ngành Tài chính nói chung và lĩnh vực Hải quan nói riêng
Mục tiêu chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là:
“Đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới” [84]
3 Khái niệm nguồn nhân lực được hiểu theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau, tùy theo cách tiếp cận và mục tiêu tiếp cận Song, dù cách tiếp cận và mục tiêu tiếp cận như thế nào, thì nguồn nhân lực vẫn là “tổng hòa các yếu tố con người”, tạo ra sức mạnh cho sự phát triển của một quốc gia, của một ngành hay một
tổ chức Trong đó, lực lượng nòng cốt chính là những người lao động - những con người đang trực tiếp tham gia và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, để phát triển xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước là những người lao động, làm việc trong các cơ quan của hệ thống chính trị và các đơn vị sự nghiệp của hệ thống chính, từ trung ương đến địa phương Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước được xem là bộ phận quan trọng đặc biệt của nguồn nhân lực quốc gia Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và xem đó là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, liên quan đến vận mệnh của Đảng, Nhà nước, quốc gia, dân tộc Đảng
ta coi công tác cán bộ là “then chốt”, đề ra chủ trương, đường lối thích hợp với từng thời kỳ để xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức vững mạnh Nhà nước đã ban hành hệ thống pháp luật về xây dựng, quản lý và phát triển cán bộ, công chức, viên chức Từ Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, đến Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010, với hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ để điều chỉnh, quản lý và phát triển đội ngũ này
Đảng và Nhà nước không chỉ ban hành các quy định mang tính pháp lý để điều chỉnh và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức mà còn đầu tư, có
Trang 12những chương trình đào tạo, bồi dưỡng để thường xuyên nâng cao năng lực, trình
độ của đội ngũ, có những cơ chế chính sách hợp lý để động viên và tạo những điều kiện cơ hội tốt để phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; hỗ trợ cán bộ, công chức viên chức phát huy năng lực, sở trường của mình, tự phát triển cá nhân
và đóng góp cho sự phát triển của cơ quan, tổ chức, của ngành, địa phương và sự phát triển của cả nước
Cán bộ, công chức, viên chức nói chung và công chức Hải quan nói riêng mấy năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và địa phương, đặc biệt là của ngành Tài chính, đã từng bước được kiện toàn, trưởng thành về nhiều mặt, hoàn thành tốt các nhiệm vụ quản lý mà Nhà nước giao cho Hải quan Đội ngũ công chức Hải quan ngày càng được tăng cường về số lượng, hoàn thiện về cơ cấu và nâng cao về chất lượng; ngày càng được quan tâm, tạo điều kiện để phát triển, trưởng thành; đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, trong đó, có vai trò quan trọng của đội ngũ lao động quản lý Hải quan ở trung ương
và địa phương
4 Quản lý là một hoạt động có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội hàng ngày và đặc biệt là trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức Maxwell một trong những nhà khoa học hàng đầu thế giới về quản trị cho rằng “mọi việc thành bại đều do quản lý” Một số người khác thì nói rằng “hầu hết mọi sự thành bại đều
có nguyên nhân từ quản lý” Đây là những “cách nói”, thể hiện những quan niệm khác nhau về tầm quan trọng của quản lý Qua đó, các tác giả muốn chuyển đến người nghe một thông điệp, đó là tầm quan trọng đặc biệt của quản lý Do vậy, trong khoa học lao động người ta đặc biệt quan tâm đến lao động quản lý, xem đó
là loại lao động cao nhất, phức tạp nhất và cũng là quan trọng nhất đối với mọi hoạt động của con người xã hội Trong quản lý phát triển nguồn nhân lực hay quản trị nhân sự, người ta đều dành sự quan tâm đặc biệt cho nguồn nhân lực làm công tác quản lý Đặc biệt, trong các quy định của Luật cán bộ, công chức 2008 và Luật viên chức năm 2010 của nước ta, cũng phân định: công chức quản lý và công chức thừa hành; viên chức quản lý và viên chức thừa hành Hơn thế, trong đào tạo, bồi dưỡng người ta cũng hoạch định các chương trình đào tạo, bồi dưỡng dành riêng cho những người làm công tác quản lý: bồi dưỡng theo chức vụ, chức danh quản lý Có thể nói, lao động quản lý là bộ phận không thể thiếu và có vai trò quan trọng, có tính quyết định sự phát triển của quốc gia nói chung và của từng ngành, từng cơ quan, tổ chức nói riêng
Lao động quản lý Hải quan bao gồm nhiều đối tượng khác nhau Theo quy định của pháp luật, lao động quản lý Hải quan ở Tổng cục Hải quan bao gồm các chức danh: Tổng cục trưởng - Phó Tổng cục trưởng, Cục trưởng - Phó Cục trưởng,
Trang 13Vụ trưởng - Phó Vụ trưởng, Trưởng phòng - Phó trưởng phòng và các chức vụ tương đương tại cơ quan Tổng cục Hải quan Lao động quản lý ở Cục Hải quan được thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, gồm có Cục trưởng - Phó Cục trưởng, Trưởng phòng - Phó trưởng phòng, Chi cục trưởng - Phó Chi cục trưởng và các chức vụ tương đương của các Cục Hải quan Lao động quản lý Hải quan nói chung và lực lượng lao động quản lý tại các Cục Hải quan địa phương nói riêng được pháp luật quy định cụ thể về số lượng, cơ cấu và đặc biệt là các yêu cầu
về chất lượng, phù hợp với yêu cầu, đặc điểm hoạt động của lĩnh vực Hải quan ở từng địa phương Đội ngũ lao động quản lý Hải quan ở địa phương mấy năm qua từng bước được kiện toàn, tiêu chuẩn hóa, được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ, năng lực; được quan tâm thực hiện chế độ chính sách đãi ngộ, nên về cơ bản là
đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đóng góp tốt cho việc thu thuế hải quan trên địa bàn tỉnh theo quy định của Nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế, đội ngũ lao động quản lý hải quan địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập: Hạn chế về trình
độ, năng lực; bất cập trước những yêu cầu của việc hoàn thành và hoàn thành tốt công vụ được giao, đặc biệt là sự bất cập so với yêu cầu của sự phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước và yêu cầu của nhiệm vụ quản lý nhà nước
về hải quan trong bối cảnh hội nhập và hiện đại hóa ngành Hải quan Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
5 Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa là một quá trình tất yếu, khách quan trên con đường phát triển, đặc biệt đối với Việt Nam trong giai đoạn mở cửa, hội nhập kinh tế hiện nay Tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội để hội nhập và phát triển, nhưng cũng đặt Việt Nam trước những thách thức vô cùng to lớn, phức tạp, đặc biệt nhất là trong lĩnh vực hải quan Sức ép
về cải cách thủ tục hành chính để phù hợp với các thông lệ quốc tế; sức ép về thời gian thông quan hàng hóa để tạo điều kiện cho phát triển sản xuất theo xu hướng chung của khu vực và thế giới, buộc Hải quan Việt Nam phải nhanh chóng thay đổi, nhanh chóng đi vào hiện đại hóa để thích ứng với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới Hải quan Việt Nam là đơn vị đi đầu trong việc xây dựng “cơ chế một cửa liên thông quốc gia”, đổi mới chế độ thông quan hàng hóa, sử dụng các trang thiết bị hiện đại trong kiểm tra hàng hóa, tất cả đều mới, đều hiện đại Do đó, hiện đại hóa Hải quan đang đặt ra những yêu cầu mới về công tác quản lý hải quan, về đội ngũ công chức hải quan và đặc biệt là các yêu cầu đối với lực lượng lao động quản
lý hải quan, trong đó có lực lượng lao động quản lý hải quan ở địa phương có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ của Hải quan
Một trong những quan điểm cơ bản trong Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 là “Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam phải bảo đảm tính
Trang 14thời đại Trình độ kiến thức, kỹ năng làm việc của nhân lực Việt Nam phải tiếp cận trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực, một số mặt tiếp cận trình độ các nước tiên tiến trên thế giới” Điều đó liên quan đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là ở các khu vực mà có liên quan nhiều đến các nước trong khu vực và trên thế giới như Hải quan
Tóm lại, nguồn nhân lực với tư cách là “tổng hòa các yếu tố con người liên quan đến sự phát triển của quốc gia, ngành, tổ chức”, là nhân tố quan trọng, có vai trò quyết định sự phát triển của quốc gia, ngành, tổ chức, nhất là đối với Việt Nam, một quốc gia từng chịu nhiều khó khăn, vất vả qua những cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ; thêm vào đó là tiềm năng kinh tế
có hạn và tài nguyên thiên nhiên không nhiều Vấn đề phát triển nguồn nhân lực của quốc gia càng trở nên quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, thực hiện chính sách mở cửa sẵn sàng hợp tác, liên doanh liên kết, làm ăn với tất cả các nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài Phát triển nguồn nhân lực quốc gia là kết quả của sự kết hợp đồng bộ và hài hòa các hoạt động phát triển nguồn nhân lực của các ngành, các cấp, trong đó có ngành Tài chính nói chung và Hải quan nói riêng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước; là
sự phối hợp nhịp nhàng sự phát triển nguồn nhân lực làm việc trong hệ thống chính trị và nhân lực của khu vực tư nhân; giữa lực lượng lao động phổ thông và lao động kỹ thuật, giữa đội ngũ những người làm nghề và thừa hành công vụ, đặc biệt là lực lượng lao động quản lý trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước Phát triển đội ngũ lao động quản lý Hải quan nói chung và Hải quan địa phương nói riêng không chỉ có ý nghĩa trong ngành mà quan trọng hơn là sự đóng góp của nguồn nhân sự này vào các nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan của cả nước, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội cả nước
Đó là lý do và cũng là tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu: “Nâng cao chất
lượng lao động quản lý của Hải quan tỉnh, thành phố trong điều kiện hiện đại hóa Hải quan Việt Nam”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về lao động quản lý và chất lượng lao động quản lý; đề tài tập trung điều tra, phân tích, làm rõ thực trạng về chất lượng lao động quản lý hải quan tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của lao động quản
lý hải quan tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 152.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu, thống kê, tổng hợp và đưa ra các nhận xét khái quát về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề chất lượng lao động quản lý
- Thao tác hóa, làm rõ khái niệm lao động quản lý hải quan tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Nghiên cứu, xác định các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Đề tài
- Tiến hành cuộc điều tra xã hội học đối với đối tượng là lao động quản lý hải quan tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để thu thập các thông tin về chất lượng của đội ngũ này
- Tiến hành xử lý số liệu điều tra, phân tích các thông tin thu thập được để
mô tả, phân tích, đánh giá và rút ra những kết luận về chất lượng của lao động quản lý hải quan tỉnh, thành phố
- Tìm hiểu nguyên nhân và những vấn đề đặt ra về chất lượng và việc nâng cao chất lượng lao động quản lý hải quan tỉnh, thành phố qua thực trạng chất lượng của lực lượng lao động này
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của lao động quản lý hải quan tỉnh, thành phố
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
3.1 Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ lao động quản lý hải quan được phân chia thành 3 cấp:
- Lao động quản lý cấp cao (cấp tổng cục): Tổng cục trưởng - Phó Tổng cục trưởng và tương đương;
- Lao động quản lý cấp trung (cấp cục): Vụ trưởng - Phó Vụ trưởng, Cục trưởng - Phó Cục trưởng và tương đương;
- Lao động quản lý cấp thấp (cấp phòng): Trưởng phòng - Phó Trưởng phòng, Chi cục trưởng - Phó Chi cục trưởng và tương đương
Trong đó, khách thể nghiên cứu được xác định là lao động quản lý tại cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm:
- Cục trưởng - Phó cục trưởng cục Hải quan (cấp cục);
Trang 16- Trưởng phòng - Phó trưởng phòng, làm việc tại cục Hải quan và Chi cục trưởng - Phó Chi cục trưởng, làm việc tại chi cục hải quan ở các cửa khẩu (cấp phòng)
Khách thể “lao động quản lý của Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” sau đây, trong đề tài này gọi là “lao động quản lý hải quan địa phương” hay ngắn gọn hơn là “công chức quản lý” Việc đặt tên này bảo đảm phân biệt với lao động quản lý cấp cục tại cơ quan Tổng cục Hải quan Việt Nam; hơn thế, cũng không lẫn với bất kỳ đối tượng nào khác vì ở địa phương, chỉ có một cơ quan hải quan duy nhất là “Cục Hải quan” Do đó trong phạm vi luận án này, “lao động quản lý hải quan địa phương”, hoặc là “công chức quản lý” là đồng nghĩa với “lao động quản lý hải quan cấp cục tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài Luận án là “Chất lượng lao động quản lý tại cục Hải quan tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”
Theo cách đặt tên như trên, có thể nói một cách khác: Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là “Chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương” hay là “chất lượng công chức quản lý”
Cụ thể, đối tượng nghiên cứu của Đề tài Luận án là “Chất lượng lao động
quản lý của đội ngũ Cục trưởng - Phó cục trưởng cục Hải quan (cấp cục); Trưởng phòng - Phó trưởng phòng, làm việc tại cục Hải quan và Chi cục trưởng - Phó Chi cục trưởng, làm việc tại chi cục hải quan ở các cửa khẩu”
Chất lượng lao động quản lý được thể hiện thông qua các tiêu chí đánh giá về năng lực, kỹ năng, và phẩm chất đạo đức của người cán bộ Bên cạnh đó, chất lượng lao động quản lý không chỉ thể hiện thông qua cá nhân một con người mà còn thể hiện thông qua tập thể những nhà quản lý, đó chính là một nguồn lực của tổ chức
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: nghiên cứu sẽ lựa chọn khảo sát tại một số đơn vị Cục Hải quan trọng điểm tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở khu vực phía Bắc, Trung và phía Nam, việc lựa chọn như trên sẽ mang tính đại diện cho đối tượng nghiên cứu mà đề tài đặt ra
- Thời gian: sử dụng thông tin, số liệu trong giai đoạn 2010 – 2014
- Đối tượng khảo sát: Lao động quản lý tại cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 174 Những kết quả chính, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
4.1 Những kết quả chính:
Thứ nhất, tác giả luận án đã thu thập, hệ thống hóa và đưa ra những nhận xét
về các công trình, đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các vấn đề lao động quản lý, chất lượng lao động quản lý nói chung và chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương nói riêng
Thứ hai, tác giả luận án tiếp cận vấn đề chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương, đồng thời từ các góc độ như: Từ góc độ Tổ chức lao động khoa học, góc độ Hành chính học và góc độ Quản lý phát triển nguồn nhân lực Đây là cách tiếp cận có tính liên ngành, cần thiết để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Thứ ba, bên cạnh việc thu thập các thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cung cấp, tác giả đã tiến hành cuộc điều tra xã hội học bằng bảng hỏi nhằm thu thập các thông tin thực tế từ các khách thể trong phạm vi nghiên cứu; làm căn cứ thực tiễn cho việc phân tích, đánh giá chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương
Thứ tư, trên cơ sở các thông tin thu thập được từ các nguồn khác nhau, đặc biệt là từ cuộc điều tra xã hội học do đề tài tiến hành, tác giả đã phân tích, làm rõ được thực trạng về chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương, đánh giá mặt mạnh, mặt hạn chế và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng nói trên
Thứ năm, trên cơ sở xác định các yêu cầu về việc xây dựng và phát triển đội ngũ lao động quản lý trong các cơ quan quản lý nhà nước và căn cứ vào thực trạng
về chất lượng của lao động quản lý hải quan địa phương, luận án đã đề xuất được một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động hải quan địa phương nói riêng và lao động quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước nói chung
4.2 Ý nghĩa lý luận
Với việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận về lao động, lao động quản lý, chất lượng lao động quản lý nói chung và chất lượng lao động quản lý hải quan tại các cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nói riêng, đề tài có những đóng góp và có ý nghĩa nhất định đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về lao động, lao động quản lý và chất lượng lao động quản lý
4.3 Ý nghĩa thực tiễn
Với việc phân tích, làm rõ thực trạng chất lượng lao động quản lý hải quan tại các cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đánh giá mặt mạnh,
Trang 18mặt hạn chế và tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng đó; đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng lao động quản lý hải quan ở địa phương; đặc biệt là việc phân tích các yêu cầu đặt ra đối với lao động quản lý hải quan địa phương trong điều kiện đẩy mạnh hiện đại hóa Hải quan ở nước ta hiện nay, đề tài có những đóng góp và có ý nghĩa nhất định đối với thực tiễn công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực hải quan nói chung và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động quản lý hải quan địa phương nói riêng
Trả lời câu hỏi nghiên cứu một cách rõ ràng Tạo tiền đề cho việc thực hiện công tác xác định vị trí việc làm, mở ra hướng đi mới cho việc đánh giá chất lượng lao động, nhất là trong quản lý cho đội ngũ lao động quản lý được chuẩn xác hơn, khoa học hơn, hổ trợ tốt cho công tác quản lý và thực hiện nhiệm vụ được nâng cao, gắn kết, đạt hiệu lực và hiệu quả
5 Kết cấu luận án
Luận án này được kết cấu bởi các phần mở đầu, 04 chương chính, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục như kết quả điều tra, phiếu khảo sát kèm theo Tổng số trang của luận án là 158, trong đó Chương 1 có 30 trang, Chương 2 có 38 trang, Chương 3 có 34 trang và Chương 4 có 29 trang Các chương của luận án được trình bày theo kết cấu dưới đây:
Chương 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chất lượng lao động quản lý hải quan và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 Những vấn đề lý luận chung về lao động quản lý và chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương
Chương 3 Thực trạng chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương
Chương 4 Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương trong điều kiện hiện đại hóa Hải quan Việt Nam
Bên cạnh đó, trong luận án này cũng sử dụng 14 bảng biểu và 2 sơ đồ để trình bày mô hình nghiên cứu, các số liệu phản ánh thực trạng chất lượng cán bộ quản lý tại các cục hải quan địa phương
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG QUẢN LÝ CỦA HẢI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về nguồn nhân lực
1.1.1.1 Nghiên cứu của nước ngoài
Từ những năm ở thập niên 1990, tại nhiều quốc gia trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực một cách có hệ thống, nhất là Mỹ, Vương quốc Anh, Nhật Bản và nhiều nước phát triển khác
- Kelly D J., trong một nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực của nhóm tác nghiên cứu phát triển thuộc Tổ chức Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (APEC) công bố năm 2001 trên tạp chí Human Resource Development Outlook [138], đã đưa ra những khái niệm về phát triển nguồn nhân lực Theo quan điểm phát triển, nhóm nghiên cứu này cho rằng phát triển nguồn nhân lực là một phạm trù nằm trong tổng thể quá trình thuộc về sự nghiệp phát triển con người
- Các nghiên cứu về phương pháp luận và nội dung phát triển nguồn nhân lực
đã được công bố, trong đó, tiêu biểu là các tác giả như Charles Cowell và cộng sự [115]; Clayton Allen và Richard A Swanson [116] Các nghiên cứu này đều thống nhất cho rằng mô hình đào tạo mang tính hệ thống gồm phân tích, thiết kế, phát triển, thực hiện và đánh giá (ADDIE), đã được sử dụng trên 30 năm qua trên thế giới là những nội dung cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực trong mỗi tổ chức
- Julia Storberg và Walker Claire Gubbins [135] nghiên cứu về mối quan hệ
xã hội của con người với phát triển nguồn nhân lực, đã đưa ra nội dung của phát triển nguồn nhân lực ở các phạm vi khác nhau có tính đến những liên kết, quan hệ đan xen giữa các đơn vị trong tổ chức và giữa tổ chức với xã hội bên ngoài
- Trên tạp chí Human Resource Development International, Kristine Sydhagen
và Peter Cunningham [140], thuộc Đại học Nelson Mandela Metropolitan đã công bố công trình nghiên cứu về khái niệm và nội dung của phát triển nguồn nhân lực
Trang 20- Về khái niệm và phạm vi của phát triển nguồn nhân lực trên khía cạnh học thuật, Greg G Wang và Judy Y Sun [127] đã công bố nghiên cứu nhằm làm rõ ranh giới của phát triển nguồn nhân lực trong tạp chí Human Resource Development International Trong bài viết này, các tác giả đã phân tích sự phân biệt giữa khái niệm phát triển nguồn nhân lực với phát triển vốn nhân lực và phát triển con người ở phương diện xã hội, qua đó có thể ứng dụng để làm rõ về mặt lý luận trong nghiên cứu nguồn nhân lực trong một tổ chức
- Tác giả Abdullsh Haslinda [109] cũng đã tập trung làm rõ khái niệm, mục đích và chức năng của phát triển nguồn nhân lực Trong các nghiên cứu này, các tác giả đã tổng hợp lý thuyết và thực tiễn khái niệm, quan điểm về phát triển nguồn nhân lực ở các phạm vi, góc độ khác nhau từ các nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới
đã được công bố
- Về động lực lao động, Kest [139] khẳng định tạo động lực cho người lao động là giúp cho một tổ chức tồn tại và phát triển Một vài tài liệu đề cập đến hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tạo động lực: nhóm yếu tố thuộc bản thân người lao động và nhóm yếu tố môi trường Nhà nghiên cứu còn chỉ ra cách tiếp cận với tạo động lực theo hai cách khác nhau: các học thuyết về nội dung (của Maslow, Alderfer, McClelland, Herzberg) chỉ ra cách tiếp cận với các nhu cầu của lao động quản lý; nhóm học thuyết về quá trình (của Adams, Vroom, Skinner, E A Locke) tìm hiểu lý
do mà mỗi người thể hiện hành động khác nhau trong công việc
1.1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực hải quan nói riêng, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ở các góc độ khác nhau
- Chương trình khoa học cấp Nhà nước: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội” của GS.TS Nguyễn Mạnh Đường [52] làm chủ nhiệm
- Nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thực hiện năm 2003 với đề tài “Kinh tế tri thức với đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam trong thập niên đầu của thế kỷ XXI”[93], trong đó có nhiều bài viết, tham luận của
Trang 21các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục tập trung chủ yếu vào vấn đề giáo dục và đào tạo của đất nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới: hội nhập
và tiến tới nền kinh tế tri thức
- Tác giả Đoàn Văn Khái [24] công bố nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH, đưa ra những quan điểm, phương hướng và một số giải pháp mang tính vĩ
mô trong phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
- Luận án Tiến sỹ kinh tế của Phan Thủy Chi [60] “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các trường đại học khối kinh tế của Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế” Đây là một nghiên cứu khá hệ thống về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở các trường đại học nhưng giới hạn ở việc khảo sát các tác động thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế
- Đề tài cấp Bộ “Năng lực, hiệu quả, hiệu lực quản lý hành chính nhà nước: thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” của Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ [2], đã tập trung nghiên cứu về hiệu lực quản lý hành chính nhà nước, trong đó đã đặt công chức trong mối quan hệ với nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý hành chính nhà nước
1.1.2 Những nghiên cứu về lao động quản lý
Trong một báo cáo năm 2004, các học giả thuộc Học viện Hành chính Quốc gia Úc [121], cho rằng lao động quản lý là một khái niệm đang được tranh luận hiện nay, và được đề cập đến dưới nhiều góc độ khác nhau; trong đó hầu hết các khái niệm được tiếp cận dưới góc độ học thuật như tâm lý học, quản lý học, xã hội học, chính trị học, hay hành chính học Nghiên cứu này chỉ ra rằng, lao động quản lý được nhìn nhận dưới góc độ cá nhân đặt trong bối cảnh hoạt động của một tổ chức Những thành công hay thất bại của tổ chức đều có sự ảnh hưởng của vai trò cá nhân người lãnh đạo Chất lượng lao động quản lý và vì thế cũng được đề cập đến thông qua khả năng phát hiện vấn đề, hoạch định chiến lược, tổ chức thực hiện chiến lược, cũng như kết nối, thúc đẩy đội ngũ nhân sự trong tổ chức Trong lĩnh vực quản lý công, các học giả đặt lao động quản lý trong một bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, trong đó những thách thức ngày một lớn hơn Đánh giá cao vai trò cá nhân của lao động quản lý, các học giả cũng nhấn mạnh vị thế, bối cảnh của tổ chức mà các
Trang 22cá nhân lao động quản lý đang dẫn dắt
Vì vậy, theo Edwards, Ayres và Howard [121], khái niệm lao động quản lý được hiểu là: ”Những hoạt động của cá nhân và tổ chức nhằm: xác định mục tiêu của tổ chức, xây dựng chiến lược và kế hoạch nhằm tiến tới mục tiêu; đồng thời dẫn dắt tổ chức, thúc đẩy đội ngũ nhân lực trong tổ chức cùng đi đến và đạt được mục tiêu Điều này đòi hỏi cá nhân lao động quản lý phải là người nhiệt huyết, luôn thực hiện đúng các cam kết, có trí tuệ, có khả năng thuyết phục, và có khả năng hiểu cấp trên cũng như biết quy tụ nhân viên cấp dưới trong tổ chức”
Đánh giá vai trò của lao động quản lý, các nhà nghiên cứu cho rằng khái niệm trên cần phải đặt nhà quản lý trong môi trường hoạt động của mỗi tổ chức, đồng thời nhấn mạnh năng lực cá nhân trong việc nhìn nhận và xử lý các vấn đề trong một môi trường quản lý bao quát [121]
- Một nghiên cứu về trường hợp của Trung Quốc, Pittinsky and Zhu [149]
đã đưa ra khái niệm về lao động quản lý là: ”một quá trình năng động, mà theo đó nhà quản lý cùng những thành viên trong tổ chức cùng kết hợp, tương tác lẫn nhau
để đạt được mục tiêu thông qua sự thay đổi” Với vai trò lãnh đạo của mình, nhà quản lý thường đưa ra định hướng cho sự thay đổi hơn là trực tiếp thực hiện sự thay đổi đó; đồng thời họ cũng thực hiện các chức năng khuyến khích, thúc đẩy các thành viên trong tổ chức Theo Zhu [149] và cộng sự, lao động quản lý trong lĩnh vực công cần quan tâm đến ba khía cạnh: (1) lao động quản lý với tư cách là lãnh đạo chính trị; (2) lao động quản lý phải gắn liền với các cơ quan hành chính; và (3) lao động quản lý phải phục vụ lợi ích cộng đồng, phải là người chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ hành chính cho cộng đồng
- Ngoài ra, theo Haq [129], lao động quản lý dẫn dắt các thành viên trong tổ chức hướng đến các mục tiêu đã xác định Đây được xem là một trong những trách nhiệm cơ bản của lao động quản lý để đảm bảo tổ chức vận hành đúng các chức năng
đã định Một cách chung nhất, lao động quản lý là: ”Một quá trình sử dụng các phương tiện, mà theo đó nhà quản lý thuyết phục và hướng dẫn các thành viên trong tổ chức đạt được các mục tiêu đã xác định Các chuẩn mực và giá trị thuộc về nhà lãnh đạo là yếu
tố dẫn dắt các giá trị trong tổ chức trong quá trình tiến tới mục tiêu”
Trang 23Cũng theo Haq [129] , việc tạo hình ảnh nhà quản lý có phẩm chất đạo đức tốt sẽ mang lại những chuẩn mực ứng xử trong một đơn vị hành chính cụ thể Giá trị này góp phần vào thành công của bộ máy hành chính Tuy nhiên, học giả này cũng nhấn mạnh thêm rằng lao động quản lý cần phải hoàn thiện các kỹ năng cơ bản về công nghệ, về nhận thức, về biểu cảm, về khả năng thuyết phục, và kỹ năng xử lý các luồng dư luận xã hội
- Từ các bài báo đăng tải trên tạp chí The Leadership Quarterly’s, Steers, Sanchez-Runde và Nardon , Kellerman và Webster [137], Dionne và cộng sự [120],
đã tổng kết các nghiên cứu về lao động quản lý giai đoạn 25 năm qua Mặc dù khái niệm lao động quản lý được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, các học giả đã khái quát đây là một quá trình huy động và tổ chức sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện được mục tiêu của tổ chức, trong đó cá nhân người lãnh đạo là linh hồn của sự dịch chuyển của tổ chức đó
Một số nhận xét rút ra từ các công trình nghiên cứu trên:
Một là, có thể đưa ra một khái niệm về lao động quản lý trong lĩnh vực quản
lý công như sau: Lao động quản lý là một dạng hoạt động đặc thù do cá nhân những nhà quản lý thực hiện, bao gồm phát hiện ra những cơ hội, đề ra những mục tiêu, hình thành chiến lược và kế hoạch nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực, trong đó có
sự kết nối giữa các thành viên để dẫn dắt tổ chức đạt được mục tiêu đề ra
Hai là, Lao động quản lý không chỉ là thực hiện các hoạt động trên, mà còn
là những người biết kết nối, khích lệ những thành viên trong đơn vị của mình cùng thực hiện các kế hoạch đã đề ra để đạt được các mục tiêu của tổ chức
Ba là, trong khu vực công, lao động quản lý, với vai trò quan trọng trong mỗi
cơ quan công quyền, cũng cho thấy dấu ấn cá nhân phụ thuộc vào phong cách quản
lý, vào đặc thù của hệ thống quản lý hành chính, và yếu tố văn hóa của quốc gia và vùng miền (Nwuneli, 2006, Kest, 2007, Hunter et al., 2007, Dickson et al., 2012, Carter, 2009, Birasnav, 2013) [145] Tuy nhiên, trong đề tài này chúng tôi không theo đuổi các tiêu chí vừa nêu, mà chỉ tìm hiểu và khái quát các yêu cầu đối với lao động quản lý; lấy đó làm tiêu chí để đánh giá chất lượng của loại hình lao động đặc biệt này
Trang 24Mặc dù các nghiên cứu trên đây đã đề cập đến nhiều khía cạnh liên quan đến nguồn nhân lực, chất lượng lao động quản lý, nhưng cách tiếp cận mang đặc thù của nền khoa học phương Tây, trong khi lao động quản lý lại có đặc thù chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa, và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất tại các quốc gia khác nhau Ngoài ra, các nghiên cứu nói trên chỉ đề cập tới một khía cạnh của vấn
đề và cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào mang tính hệ thống và sâu sắc cho phát triển nguồn nhân lực và đặc biệt là liên quan đến chất lượng lao động quản lý cho ngành Hải quan Việt Nam Vì vậy, đây chính là cơ hội để tác giả tiếp cận với một nội dung còn đang bỏ ngỏ
1.1.3 Những nghiên cứu về quản lý, phát triển cán bộ, công chức
- Khái niệm cán bộ quản lý, hay rộng hơn là lao động quản lý, ngày nay vốn
đã tồn tại qua các triều đại phong kiến Việt Nam thông qua thuật ngữ “quan lại” Theo Hoàng Thị Kim Quế [31], dưới triều vua Lê Thánh Tông, quan lại là một khái niệm kép được tạo thành từ hai yếu tố: Quan và Lại Quan là người có chức, giữ một trọng trách trong bộ máy chính quyền, là người có phẩm hàm, có tư cách và có thể có tước Lại (thuộc Lại) là từ dùng để gọi những viên chức cấp dưới ở những nha, môn như đô lại, đề lại, thư lại trong thời phong kiến, là người giúp việc cho các Quan trong các cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở lên Như vậy, trong khái niệm quan lại thì chỉ có bộ phận Quan được xem là tương đồng với cán bộ quản lý trong nền hành chính hiện đại
- Ngày nay, thay vì dùng thuật ngữ quan lại, nền hành chính dưới chế độ xã hội chủ nghĩa sử dụng thuật ngữ cán bộ, mà trong luận án này gọi chung là công chức quản lý Công chức quản lý trong lĩnh vực công được hiểu là những người đảm nhận những vị trí quản lý trong các cơ quan công quyền Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008[64]: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
Trang 25Bên cạnh đó, Luật Cán bộ công chức cũng đề cập đến khái niệm công chức: “là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong
cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn
vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Hiện nay, ở nước ta 3 đối tượng lao động trong cơ quan nhà nước nói riêng
và hệ thống chính trị nói chung, đó là: cán bộ, công chức và viên chức Trong đó, cán bộ đương nhiên là lao động quản lý, vì cán bộ là những người được bầu vào các chức vụ và giữ chức vụ đó theo nhiệm kỳ Còn công chức và viên chức thì không phải là tất cả đều là lao động quản lý Công chức, viên chức quản lý là những công chức, viên chức được bổ nhiệm vào các chức vụ quản lý
- Tác giả Tô Tử Hạ có nhiều công trình nghiên cứu về công chức hành chính nhà nước đã được sử dụng giảng dạy cho đội ngũ công chức nhà nước hiện nay Qua một số công trình nghiên cứu, tác giả đã tập trung phân tích, lý giải làm rõ khái niệm cán bộ, công chức nhà nước; vai trò của cán bộ công chức trong việc xây dựng nền hành chính quốc gia và định hướng trong xây dựng đội ngũ công chức [91], [92], [93]
- Đề tài: "Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" của tác giả Nguyễn Bắc Son [479]đã phân tích, đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam, phân tích những nguyên nhân dẫn tới hạn chế về chất lượng của đội ngũ công chức quản lý nhà nước và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn trước mắt và những năm tiếp theo
1.1.4 Những nghiên cứu về nguồn nhân lực hải quan
Mấy năm gần đây, ở Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu, bài viết nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lĩnh vực nguồn nhân lực hải quan
Trang 26- Năm 1996, tác giả Vũ Ngọc Anh, Luận án tiến sỹ Luật học, với đề tài “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về hải quan ở nước ta hiện nay”, Hà Nội [100] Tác giả nghiên cứu một cách tổng quan, đánh giá thực trạng hoạt động Hải quan, đưa ra những hạn chế cơ bản đó là: hệ thống pháp luật chưa rõ ràng, minh bạch, thủ tục hành chính rườm rà, chính sách thuế bất hợp lý, đội ngũ cán bộ còn yếu kém Trên
cơ sở những hạn chế đó, tác giả kiến nghị giải pháp nhằm đổi mới và hoàn thiện pháp luật phục vụ cho hoạt động hải quan, đặc biệt là việc nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ thừa hành trong điều kiện Luật pháp chưa hoàn chỉnh mà cụ thể là Luật Hải quan Mặc dù vậy, đề tài chưa nêu được cụ thể phải làm thế nào để nâng cao năng lực cán bộ trong điều kiện pháp luật chưa thật hoàn chỉnh
- Luận án tiến sĩ của tác giả Đàm Sơn Toại [16], trường đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội đã nghiên cứu đề tài “Hải quan điện tử tại Việt Nam: một điển hình về chính phủ điện tử tại các nước đang phát triển’ Luận án đi sâu nghiên cứu về Hải quan điện tử đang triển khai thực hiện trong ngành Hải quan, trong đó phân tích mối quan hệ giữa nhận thức của các đối tượng tham gia chương trình bao gồm công chức hải quan và doanh nghiệp về việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử và thái độ của họ đối với việc áp dụng công nghệ thông tin này
- Đàm Sơn Toại và Huỳnh Thanh Bình: “Kinh nghiệm từ quá trình thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam”, tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 168(II), tháng 6 năm 2011 Bài viết khái quát được việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử, một yếu tố quan trọng trong điều kiện hiện đại hoá ngành Từ việc nghiên cứu đưa
ra bài học kinh nghiệm qua việc thí điểm thực hiện thủ tục hải quan điện tử, các yếu
tố động lực, ý chí quyết tâm, đầu tư cho công nghệ Tuy nhiên, hạn chế của bài viết
là chưa trả lời được câu hỏi tại sao nơi này làm tốt hơn nơi khác trong quá trình triển khai thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử trong ngành hải quan
Một số nhận xét rút ra từ các công trình nghiên cứu trên:
Thứ nhất, các nghiên cứu đã đề cập đến những nội dung quan trọng của việc xây dựng nguồn nhân lực nói chung Tuy nhiên, các công trình trên, hoặc chỉ phân tích khía cạnh hoàn thiện về quản lý vĩ mô, hoặc đi sâu vào lĩnh vực nghiệp vụ cụ thể, đồng thời có đề cập đến vấn đề quản lý, sử dụng con người, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu tổng thể và có hệ thống về việc đánh giá thực trạng nguồn nhân
Trang 27lực Hải quan theo phương pháp định lượng mà chủ yếu là định tính và theo phương pháp truyền thống
Thứ hai, cho đến thời điểm hiện tại, mặc dù có một vài nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực, yếu tố con người trong hoạt động của ngành hải quan; nhưng chưa có một công trình khoa học nào được công bố có đề cập đến chất lượng lao động quản lý của hải quan Việt Nam, đặc biệt là lao động quản lý của hải quan địa phương
Do vậy, việc sử dụng kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng nhằm nghiên cứu về chất lượng lao động quản lý của hải quan Việt Nam là một cơ hội cho tác giả thực hiện luận án này Việc thực hiện thành công đề tài cũng góp phần đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tiễn của công tác quản lý nhà nước về hải quan trong bối cảnh toàn ngành đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tin học vào công tác nghiệp
vụ và hiện đại hóa mạnh mẽ và tiến đến cơ chế một cửa quốc gia như hiện nay
1.2 Cách tiếp cận
Trong Chương 1, đề tài cũng đã làm rõ cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài
Đó là cách tiếp cận liên ngành, đồng thời từ các góc độ chất lượng và việc nâng cao chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương, vừa là nội dung cơ bản của tổ chức lao động khoa học, vừa là bộ phận không tách rời chất lượng nguồn nhân lực
cả nước; đồng thời là vấn đề quan trọng của việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức nhà nước vững mạnh, đáp ứng các yêu cầu của tình hình
và nhiệm vụ hiện nay Do vậy, nghiên cứu về chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương cần phải tiếp cận đồng thời từ nhiều góc độ khác nhau: Góc độ Tổ chức lao động khoa học, góc độ lý thuyết vốn con người, góc độ quản lý phát triển nguồn nhân lực và góc độ quản lý nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính nhà nước Việc nghiên cứu, vận dụng và sử dụng các khái niệm, công cụ và phương pháp nghiên cứu từ các góc độ khác nhau nói trên là cần thiết đối với đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề chất lượng và nâng cao chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương
1.2.1 Tiếp cận từ góc độ Tổ chức lao động khoa học
1.2.1.1 Lao động và quá trình lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người, nhằm thoả mãn những
Trang 28nhu cầu về đời sống của con người Lao động là điều kiện tất yếu để tồn tại, và phát triển của xã hội loài người Lao động luôn diễn ra trong một quá trình Quá trình lao động là tổng thể những hành động (hoạt động lao động) của con người để hoàn thành một nhiệm vụ sản xuất nhất định
Quá trình lao động được xét trên 2 mặt: Về mặt vật chất: Quá trình lao động dưới bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào muốn tiến hành được đều phải gồm 3 yếu tố: Bản thân lao động, đối tượng lao động và công cụ lao động Về mặt xã hội: Quá trình lao động được thể hiện ở sự phát sinh các mối quan hệ qua lại giữa những người lao động với nhau trong lao động Các mối quan hệ đó hình thành tính tập thể, tính xã hội của lao động
Dù quá trình lao động diễn ra trong điều kiện kinh tế - xã hội như thế nào, thì cũng phải chịu sự tác động giữa các yếu tố cơ bản của quá trình lao động và các mối quan hệ qua lại giữa những người lao động với nhau, hướng tới việc thực hiện mục đích của quá trình đó, tức là phải tổ chức lao động
1.2.1.2 Tổ chức lao động
Tổ chức lao động được hiểu là tổ chức quá trình hoạt động của con người, trong sự kết hợp giữa 3 yếu tố cơ bản của quá trình lao động và các mối quan hệ qua lại giữa những người lao động với nhau nhằm đạt được mục đích của quá trình lao động đó
Tổ chức lao động gắn liền với lao động sống và việc bảo đảm của sức lao động Thực chất, tổ chức lao động trong phạm vi một tập thể lao động nhất định là một hệ thống các biện pháp bảo đảm sự hoạt động của con người nhằm mục đích nâng cao năng suất lao động và sử dụng có hiệu quả nhất các tư liệu sản xuất
Tổ chức lao động có sự phân biệt với tổ chức sản xuất:
- Tổ chức lao động là một hệ thống các biện pháp để đảm bảo sự hoạt động
có hiệu quả của lao động sống Đối tượng của tổ chức lao động chỉ bảo gồm lao động sống, với tư cách là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất
- Tổ chức sản xuất là tổng thể các biện pháp nhằm sử dụng đầy đủ toàn bộ nguồn lao động và các điều kiện vật chất - kỹ thuật, đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiếp tục ổn định, nhịp nhàng và kinh tế Đối tượng của tổ chức sản xuất là cả
ba yếu tố của quá trình sản xuất
Trang 29- Trong doanh nghiệp, tổ chức lao động là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của tổ chức sản xuất Tổ chức sản xuất theo nghĩa rộng bao gồm các vấn đề: quản lý sản xuất, kế hoạch hoá sản xuất và tổ chức lao động
1.2.1.3 Tổ chức lao động khoa học
Trong thực tế, tổ chức lao động được coi là khoa học, khi “ nó được dựa trên cơ sở của những thành tựu đạt được của khoa học và những kinh nghiệm sản xuất tiến bộ được áp dụng một cách có hệ thống, cho phép kết hợp tốt nhất kỹ thuật với con người trong quá trình sản xuất thống nhất, đảm bảo sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn vật tự lao động, tăng năng suất lao động không ngừng giữ gìn sức khoẻ con người cũng như thúc đẩy sự chuyển hoá dần dần lao động thành nhu cầu bậc nhất của cuộc sống”
Tổ chức lao động khoa học được hiểu là tổ chức lao động dựa trên cơ sở phân tích khoa học các quá trình lao động và điều kiện thực hiện chúng, thông qua việc áp dụng vào thực tiễn những biện pháp được thiết kế dựa trên những thành tựu của khoa học và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến
Tổ chức lao động khoa học khác với tổ chức lao động nói chung không phải
ở nội dung mà ở phương pháp, cách giải quyết và mức độ phân tích khoa học các vấn đề, tổ chức lao động khoa học chính là quá trình đưa vào tổ chức lao động hiện
có những thành tựu đạt được của khoa học và những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến
để làm tăng hiệu suất chung của lao động
Tổ chức lao động khoa học chính là tổ chức lao động ở trình độ cao hơn so với tổ chức lao động hiện hành
Thực chất của lao động và tổ chức lao động khoa học: Trong bất kì hoạt động nào, để nâng cao hiệu quả của nó đều cần quan tâm tới công tác sắp xếp bố trí
cả về con người và những điều kiện vật chất, đặc biệt là những hoạt động diễn ra trong doanh nghiệp Điều đó được xuất phát từ những tiền đề chủ yếu sau:
- Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn là một quá trình phức tạp với nhiều người lao động cùng tham gia được thực hiện trên những đối tượng lao động, công cụ lao động và địa điểm lao động khác nhau Đối với sản xuất giản đơn, hoạt động sản xuất được dựa trên những kinh nghiệm thói quen là chủ yếu
Trang 30- Trong điều kiện sản xuất ngày nay với sự tác động của khoa học kỹ thuật doanh nghiệp ngày càng có nhiều cơ hội để mở rộng hoạt động sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu Quá trình đó liên tục được diễn ra với tính chất ngày càng phức tạp để bắt nhịp với sự biến đổi đó nhằm nâng cao ảnh hưởng của mọi hoạt động do mọi cá nhân và mọi bộ phận thực hiện thì nhất thiết phải phân tích thực trạng công tác quản lý điều hành xây dựng và tổ chức thực hiện những kế hoạch chiến lược kinh doanh từ đó sắp xếp phối hợp giữa những hoạt động một cách nhịp nhàng uyển chuyển có như vậy mới đạt được hiệu suất sử dụng những tiềm lực của doanh nghiệp một cách tối đa
- Lao động là hao phí sức óc, bắp thịt, thần kinh của con người để mang lại kết quả như mong muốn, đó là một quá trình sử dụng sức lao động trong hoạt động sản xuất
- Sức lao động là thể lực và trí lực tồn tại trong mỗi con người, nó là phản ánh khả năng lao động của mỗi cá nhân, điều đó có nghĩa là nếu thể lực và trí lực dồi dào (lao động được đào tạo) từ đó sẽ đem lại kết quả bằng bội số của lao động không được đào tạo
- Việc tổ chức lao động thực chất là việc sắp đặt những con người cụ thể vào những công việc cụ thể để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể và cùng với những điều kiện cụ thể để thực hiện những nhiệm vụ ấy Đồng thời chỉ đạo điều hành những hoạt động sao cho nó được diễn ra theo đúng kế hoạch đã định để tiết kiệm thời gian, chi phí thuận tiện an toàn trong quá trình thực hiện từ đó đạt được mục tiêu cuối cùng là đem lại hiệu quả tối đa Tóm lai, việc tổ chức lao động khoa học có ý nghĩa rất quan trọng, điều đó được thể hiện thông qua những mặt chủ yếu sau:
- Trước khi thực hiện bất kỳ hoạt động nào cũng cần tiến hành xây dựng một
kế hoạch chặt chẽ thống nhất, khoa học có tính thực tiễn cao vì vậy nếu không có hoạt động này quá trình thực hiện công việc sẽ gặp phải những khó khăn nhất định
- Nếu không tổ chức lao động khoa học sẽ không thể thực hiện tốt việc phối hợp trong hoạt động một cách thống nhất do đó có thể sẽ gặp phải những cản trở nhất định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân bộ phận
- Tổ chức lao đông khoa học là cơ sở cho việc khai thác khả năng tiềm lực hiện có và sẽ có trong mỗi doanh nghiệp
Trang 31- Tổ chức lao động khoa học sẽ góp phần tiết kiệm những nguồn lực và từ đó nâng cao hiệu quả của những hoạt động
- Tổ chức lao động khoa học giúp cho những cán bộ quản lý chủ động điều hành chỉ đạo sự hoạt động của toàn bộ cá nhân và bộ phận đã được giao nhiệm vụ
Như vậy chất lượng của công tác tổ chức lao động khoa học cũng được xem như là một trong những tiêu chí để đánh giá trình độ tổ chức sản xuất, tổ chức lao động năng lực quản lý của những cán bộ lãnh đạo cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ của từng lao động cụ thể
1.2.1.4 Nội dung của Tổ chức lao động khoa học
Tổ chức lao động khoa học gồm các nội dung sau:
- Xây dựng các hình thức phân công và hiệp tác lao động hợp lý, tạo điều kiện không ngừng tăng năng suất lao động
- Hoàn thiện tổ chức phục vụ nơi làm việc: trang bị đầy đủ trang bị công nghệ và tổ chức nơi làm việc, bố trí hợp lý nơi làm việc phù hợp với yêu cầu về nhân trắc học, tâm sinh lý lao động, vệ sinh an toàn lao động và thẩm mỹ sản xuất
- Nghiên cứu và phổ biến các phương pháp, thao tác lao động hợp lý nhằm đạt năng suất lao động cao bảo đảm an toàn lao động cho người lao động
- Cải thiện điều kiện lao động, giảm nhẹ sự nặng nhọc của công việc, giữ gìn tăng cường sức khoẻ cho người lao động, tạo ra những điều kiện lao động thuận lợi
- Hoàn thiện định mức lao động
- Tổ chức trả lương phù hợp với số lượng và chất lượng lao động cũng như
sử dụng có hiệu quả chế độ khuyến khích vật chất cho người lao động
- Đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề cho người lao động
- Tổ chức công tác thi đua, khen thưởng và củng cố kỷ luật lao động Tiếp cận từ góc độ tổ chức lao động khoa học là cơ sở khoa học để tiến hành các biện pháp phân công, phối hợp; áp dụng các biện pháp quản lý tăng năng suất lao động; có những chính sách động viên, khuyến khích, tạo các điều kiện lao động thuận lợi; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, nhằm nâng cao chất lượng của lao động quản lý hải quan địa phương
1.2.2 Tiếp cận Lý thuyết vốn con người
Từ lâu các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng sản xuất gồm 3 yếu tố cơ bản là đất đai, cơ sở vật chất và lao động Từ những năm 60 của thế kỷ trước, người ta bắt đầu
Trang 32chú ý nhiều đến yếu tố chất lượng lao động, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục
và đào tạo trong việc hình thành nguồn lực lao động Điều này đã góp phần khai sinh ra khái niệm “vốn con người”
Tác phẩm “Của cải của các quốc gia” (1776) của nhà kinh tế học nổi tiềng Adam Smith đã tạo dựng nền móng cho cái mà sau này được gọi là khoa học về vốn con người Trong 2 thế kỷ sau đó, có thể phân biệt hai trường phái quan điểm khác nhau về lĩnh vực này Trường phái thứ nhất phân biệt rõ ràng giữa những yếu tố có thể coi là “vốn” như tiền bạc, tài sản, đất đai, với yếu tố con người, trong đó, không đánh đồng con người với các yếu tố trên Trường phái thứ hai coi con người cũng là một nguồn vốn
Vốn con người là một khái niệm bắt nguồn từ kinh tế học, dùng để chỉ học vấn, tay nghề, kỹ năng lao động của người lao động Khái niệm này được Adam Smith chỉ ra và được nhắc đến thường xuyên trong các tài liệu kinh tế từ cuối thế kỷ XIX Sự ra đời của khái niệm vốn con người là sự khai sinh ra một lý thuyết mới về vốn, bởi trước đó, nói đến vốn người ta chỉ nói đến vốn tài chính Theo W Schutlz
đã trình bày có hệ thống lần đầu tiên về vốn con người Ông cho rằng “sự thất bại trong sử dụng nguồn vốn con người với tư cách là một loại vốn, một loại phương tiện sản xuất và một sản phẩm của đầu tư được duy trì bằng khái niệm cổ điển về lao động chỉ với tư cách một dạng năng lực mà với nó, theo định nghĩa này, tất cả người lao động đều được trả lương ngang nhau” Tư tưởng của Schutlz đã định hình những nét cơ bản cho lý thuyết về vốn, được bổ sung, phát triển bởi những nhà kinh
tế học khác như Johnson, Becker Vốn con người phản ánh những năng lực, kiến thức, kỹ năng con người có được do bẩm sinh và do quá trình đào tạo Vốn con người không thể quan sát trực tiếp nhưng có thể đo được bằng 2 cách: Một là, đánh giá kiến thức và kỹ năng của cá nhân thông qua các bài thử nghiệm thực tế; hai là, kiểm định tác động của nó đối với năng suất lao động trong quá trình sản xuất
Từ đây có thể nhận xét: Khái niệm vốn con người rất gần với khái niệm chất lượng lao động Chất lượng lao động có thể đo bằng việc đánh giá kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng của các nhân người lao động thông qua các thành tích và trình độ đào tạo của cá nhân; được kiểm tra qua các bài thử nghiệm thực tế và đặc biệt là được đánh giá thông qua kết quả lao động của cá nhân Lý thuyết vốn con người
Trang 33nhấn mạnh vai trò của giáo dục - đào tạo, xem đó là điều kiện cơ bản, có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành vốn con người và là chìa khóa cho sự tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và những biến đổi to lớn, nhanh chóng của đời sống xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới không chỉ các nước phát triển mà cả những nước chưa tiến xa trên con đường CNH-HĐH Có nhiều yếu tố quyết định tính chất và ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đến từng nền kinh
tế như chính sách quản lý, điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ cấu phân phối các nguồn lực, , một trong những yếu tố quan trọng nhất, đó là trình độ của lực lượng lao động bởi đây chính là đội ngũ tiếp thu, áp dụng, cải tiến và phát triển các yếu tố khoa học
- kỹ thuật phục vụ cho đời sống và sản xuất Do vậy, một đòi hỏi cấp bách đối với bất kỳ quốc gia nào muốn duy trì và phát triển chỗ đứng của mình trong nền kinh tế toàn cầu là phải tiến hành đối mới hệ thống giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng của quá trình này nhằm mục tiêu cung cấp cho quốc gia một nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được các đòi hỏi mới của thời đại
Lý thuyết vốn con người nhấn mạnh vai trò của nguồn vốn này (điển hình là công trình khoa học đạt giải Nobel kinh tế của Becker với sự khẳng định rằng đầu
tư cho sự đề cao vốn con người là quan trọng nhất đối với sự phát triển Và, đây cũng chính là nền tảng cho sự đề cao vốn con người trong các lý thuyết về phát triển hiện nay Các lý thuyết hiện đại về sự phát triển đều cho rằng con người là động lực quan trọng nhất của sự phát triển và nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định việc
tổ chức sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác Thực tế cho thấy nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, không giàu về tài nguyên thiên nhiên nhưng do biết huy động và sử dụng tốt nguồn vốn con người nên đã thành công trong sự nghiệp CNH-HĐH và trở thành những nước phát triển vào bậc cao trên thế giới
Nghiên cứu các nước phát triển nhanh trên thế giới, người ta rú ra được kết luận quan trọng: một quốc gia muốn phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững phải hội tụ đủ 5 yếu tố và 3 điều kiện cần thiết Năm yếu tố đó là: con người và nguồn nhân lực; vốn tài chính; khoa học công nghệ; trình độ quản lý và khả năng tiếp thị Ba điều kiện cần thiết là: trí tuệ và đội ngũ trí thức; chăm sóc lợi ích người lao động và tạo mối liên thông, liên kết với các nước trên thế giới Điều này có ý
Trang 34nghĩa rất lớn đối với việc nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng lao động quản lý hải quan Việt Nam
1.2.3 Tiếp cận Lý thuyết Quản lý phát triển nguồn nhân lực
1.2.3.1 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn
Quá trình CNH-HĐH đất nước và ngày nay trong công cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh
1.2.3.2 Khái niệm nguồn nhân lực
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực
- Theo Liên hợp quốc: Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước
- Ngân hàng thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Ở đây, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên
- Theo tổ chức lao động quốc tế: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Ở đây, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do
đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự
Trang 35phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
- Theo Kinh tế phát triển: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng Như vậy theo khái niệm này,
có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị học có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”', một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển Nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu tư có tinh chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững
1.2.3.3 Phát triển nguồn nhân lực
Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực
Trang 36- Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống
- Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của
sự phát triển kinh tế - xã hội
- Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội
Từ những luận điểm trình bày trên, phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực
Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự phát triển kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của một quốc gia
1.2.3.4 Chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu chuẩn phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề)
Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ gắn bó với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là muốn nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia hay của một ngành, trong đó, nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận
Trang 37cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung của một đất nước, của một ngành Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức: chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những con người phát triển
cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội,
về đạo đức, tình cảm trong sáng Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải đi vào thực chất
Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực nói chung và đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó Các lý thuyết tăng trưởng gần đây đã chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính
là những con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” Bởi trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc
về những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư, có môi trường chính trị - xã hội ổn định
1.2.3.5 Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế - xã hội
Trong mối quan hệ giữa nguồn lao động với phát triển kinh tế, trong số các nguồn lực để phát triển kinh tế, nguồn lao động luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế Theo nhà kinh tế người Anh, William Petty cho rằng lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất Còn C.Mác thì cho rằng con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất Trong truyền thống Việt Nam, cũng
Trang 38xác định “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” Nhà tương lai học người Mỹ Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, theo ông: “Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên”.(Power Shift: Thăng trầm quyền lực - Avill Toffer)
- Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực, nguồn lao động là nhân
tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác
và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả Vì vậy, con người với tư cách là nguồn nhân lực là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu hội đủ bốn điều kiện: Có đường lối kinh tế đúng đắn; tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối kinh tế đã đề ra; có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và đông đảo và có các nhà doanh nghiệp tài ba
- Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH-HĐH; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Khi đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH-HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý
Trang 39nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và phát triển bền vững Đảng ta đã xác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
- Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm phát triển bền vững
- Và, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn
1.2.4 Tiếp cận từ góc độ quản lý hành chính nhà nước
Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của Đề tài là chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương, trong đó, khách thể nghiên cứu là đội ngũ công chức quản lý hải quan tại Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hiện diện như
là một bộ phận không tách rời đôi ngũ cán bộ, công chức nhà nước, chịu sự điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức và sự quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền Chất lượng lao động quản lý hải quan địa phương bị chi phối bởi các hoạt động quản lý cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức hải quan nói riêng Do vậy, việc tiếp cận từ góc độ hành chính học, với tư cách là khoa học nghiên cứu về chất lượng lao động quản lý hải quan là cần thiết và là cách tiếp cận quan trọng
Một cách chung nhất, hành chính là khái niệm chỉ những hoạt động, những tiến trình chủ yếu có liên quan đến những biện pháp để thực thi các mục tiêu, nhiệm
vụ đã được xác định trước Theo đó, hành chính là một dạng của quản lý, hiện diện như là một loại hoạt động chung nhất của các nhóm người hợp tác với nhau để hoàn thành các mục tiêu mà họ cùng hướng tới Như vậy, hành chính chính là những biện pháp tổ chức các nhóm người hợp tác trong hoạt động với nhau để thực hiện những mục tiêu mà cả nhóm người đó muốn hướng tới
Đặc biệt, trong khu vực nhà nước, hành chính là những hoạt động quản lý các công việc của nhà nước; xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước
Trang 401.2.4.1 Khoa học hành chính
Hành chính học là một khoa học nghiên cứu các quy luật quản lý có hiệu quả đối với những công việc xã hội của các tổ chức hành chính nhà nước
Đối tượng của khoa học hành chính là việc quản lý toàn bộ đời sống xã hội;
là những quy luật vận hành khách quan trong hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước Ví dụ: quản lý buôn bán tại các cửa khẩu, nếu không quản lý tốt thì hàng hoá
từ bên ngoài vào sẽ tác động vào nền kinh tế trong nước, hơn nữa nếu không quản
lý chặt sẽ gây thất thu thuế cho ngân sách nhà nước, cho nên quản lý nhà nước ở đây phải trên nhiều lĩnh vực
Nội dung cơ bản của hành chính bao gồm những vấn đề chính sau:
- Nghiên cứu về chức năng hành chính nhà nước
- Nghiên cứu về thể chế hành chính nhà nước (các văn bản quy phạm pháp luật về ngành)
- Tổ chức hành chính: tổ chức hành chính liên quan đến hiệu quả quản lý của một nền hành chính nói chung, nếu tổ chức hành chính tốt thì hiệu quả quản lý của
nó sẽ được nâng cao
- Quyết định hành chính với tư cách là cách quản lý của hành chính
- Vấn đề công vụ và công chức
- Quản lý tài chính công: bộ máy hành chính nhà nước được hưởng ngân sách nhà nước cấp theo biên chế và theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn từng cấp
- Nghiên cứu vấn đề liên quan đến hành chính công sở
- Nghiên cứu cải cách hành chính
1.2.4.2 Hành chính nhà nước
Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu, học giả hành chính học thì họ cho rằng, hành chính công bao gồm luật pháp, các quy tắc, quy chế, thiết chế… để điều tiết hoạt động quyền hành pháp Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của tổ chức bộ máy hành chính cũng như mối quan hệ mà trong đó các công chức làm việc Hành chính công còn bao gồm những đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy hành chính công quyền Những người này là người có trách nhiệm thực thi công vụ do nhà nước giao Ba yếu tố trên có mối quan hệ mật thiết với