nâng cao năng lực quản lý và xử lý chất thải rắn tại thị xã Gò Công tỉnh Tiền Giang
Trang 1Chương 1 : KHÁI QUÁT CHUNG
1.1 Tính Cấp Thiết Của Đề Tài
Thị xã Gò Công là một vùng thuộc tỉnh Tiền Giang nằm trong khu vực đồngbằng sông Cửu Long và có đặc thù thuần nông cũng như những địa phương kháctrong tỉnh Tiền Giang và các vùng khác nhưng trong vài năm gần đây đã cónhững bước phát triển kinh tế đáng kể Về công nghiệp bước đầu cũng đã xâydựng cơ sở hạ tầng chuẩn bị cho cụm công nghiệp Long Hưng và định hướng mởrộng ra phía huyện Gò Công Tây, huyện Gò Công Đông
Trong những năm gần đây, thị xã Gò Công là trung tâm giao lưu kinh tế vănhoá xã hội của khu vực phía Đông tỉnh Tiền Giang nên tốc độ phát triển kinh tế -xã hội của thị xã ngày càng được nâng cao, nhu cầu tiêu dùng càng tăng kéo theođó là lượng chất thải phát sinh ngày một gia tăng Bên cạnh lượng rác sinh hoạtvới số lượng đáng kể, rác thải từ phụ phẩm nông nghiệp cũng phát sinh với khốilượng lớn khi vào mùa vụ Và toàn bộ lượng rác thải này có một đặc điểm chunglà chưa được phân loại ngay tại nguồn phát sinh
Việc thực hiện nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp “KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG” nhằm góp
phần giải quyết vấn đề đang trở nên cấp thiết của thị xã Gò Công
1.2 Mục Tiêu Của Đề Tài
Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp nâng cao năng lực quản lývà xử lý CTR phù hợp với tình hình thực tế của địa phương làm giảm thiểu ônhiễm môi trường do CTR gây ra
1.3 Nội Dung Của Đề Tài
Bao gồm các nội dung chính sau:
Trang 2 Thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của thị xã GòCông.
Tổ chức phát phiếu điều tra, khảo sát thực địa về công tác thu gom, vậnchuyển và quản lý chất thải rắn với các đối tượng khác nhau
Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển, phân loại và xử lý CTR tại thịxã Gò Công
Đề xuất biện pháp phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý CTR cho thịxã Gò Công
1.4 Giới Hạn Và Phạm Vi Đề Tài
Vì thời gian có giới hạn nên một phần những nội dung đề ra được thực hiệnthực tế bằng điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực địa; một phần nội dung khác đượcthực hiện bằng cách thu thập tài liệu và số liệu có sẵn để từ đó tính toán theocông thức và dựa trên các tài liệu đã được công bố rộng rãi; và bên cạnh đó, mộtphần nhỏ của đề tài được thực hiện thông qua thu thập các kết quả nghiên cứu đãcông bố để áp dụng và đánh giá vào nghiên cứu này
1.4.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu này gồm:
Chất thải rắn: bao gồm CTRSH (là chất thải sinh ra trong khu vực dân
cư của thị xã Gò Công, tức là các CTR có nguồn gốc sinh hoạt), CTCN (là chấtthải sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp), CTYT(là chất thải từ bệnh viện, các cơ sở và trung tâm y tế);
Công tác QLCTR: bao gồm nguồn phát sinh CTR, số lượng, thực trạngtình hình quản lý, nhân lực, khả năng, hiệu quả, những đánh giá và đề xuất cảithiện cần thiết;
Những đối tượng không thuộc phạm vi nghiên cứu:
- Các CTR liên quan đến phóng xạ;
Trang 3- Các CTR liên quan đến chất nổ;
- Các CTR có nguồn gốc dioxin và PCBs;
- Các CTR công nghiệp và nguy hại có nguồn gốc cụ thể
1.4.2 Nghiên cứu thực tế
Những nội dung nghiên cứu thực tế bao gồm:
Hiện trạng phát sinh CTR tại thị xã Gò Công
Hiện trạng thu gom, vận chuyển CTR
Hiện trạng xử lý
1.4.3 Nghiên cứu trên cơ sở tài liệu và số liệu có sẵn
Những nội dung nghiên cứu được thực hiện bằng cách thu thập tài liệu và sốliệu có sẵn đã được công bố rộng rãi trên thực tế và kế hoạch phát triển kinh tếxã hội của thị xã Gò Công
1.4.4 Tính toán theo công thức dựa trên các tài liệu
Việc tính toán từ các số liệu thu thập được hoặc điều tra được theo công thứcđược áp dụng vào để dự báo diễn biến về số lượng và thành phần CTR của thị xãGò Công đến năm 2020
1.4.5 Phạm vi không gian
Nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến CTR thuộc 05 phường và 04 xãcủa thị xã Gò Công
Các điều tra thực tế được thực hiện tại 05 phường và 04 xã của thị xã GòCông
Tại các điểm điều tra nghiên cứu thực hiện việc phân tích các thành phầnriêng biệt của CTR
Những địa điểm được lựa chọn để nghiên cứu thực tế là các hộ gia đình,các cơ sở sản xuất, bãi rác Long Hưng
Các tài liệu và số liệu có sẵn được thu thập từ:
Trang 4- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang.
- Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tiền Giang
- Công ty Công trình Đô thị thị xã Gò Công
- UBND thị xã Gò Công
- Phòng Tài nguyên Môi trường thị xã Gò Công
- Viện Tài nguyên Môi trường
1.4.6 Giới hạn thời gian
Khảo sát, điều tra được thực hiện từ đầu tháng 7/2007 và kết thúc vào giữatháng 11/2007
1.5 Phương Pháp Nghiên Cứu
1.5.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin
Thu thập, điều tra và phân tích các số liệu về hiện trạng các nguồn CTR, sốlượng và thành phần các loại CTR trong thị xã Gò Công
Xác định tốc độ phát thải và thành phần các CTR của thị x ã Gò Công:
Việc xác định tốc độ thải rác sinh hoạt được thực hiện bằng cách điều trathực tế tại các hộ gia đình, sau đó tính toán bằng phương pháp thống kê với độ tincậy 95%
Dự báo diễn biến về CTR thị xã Gò Công:
Dự báo diễn biến về khối lượng CTR được tính toán trên cơ sở các sốliệu dự báo về gia tăng dân số, qui hoạch tăng trưởng kinh tế, kế hoạch phát triểncông nghiệp và khả năng thu gom, vận chuyển và quản lý của cơ quan chức năng.Việc tính toán và dự báo được thực hiện cho đến năm 2020
Dự báo diễn biến thành phần CTR được thực hiện dựa trên thực tế sảnxuất và tiêu dùng, tập quán tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế và các số liệuthống kê của các khu vực khác
Trang 51.5.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Toàn bộ các số liệu được thực hiện trên các bảng biểu và đồ thị Số liệuđược quản lý và phân tích trên máy tính với phần mềm Microsoft Excel và phầnsoạn thảo văn bản sử dụng phần mềm Microsoft Word
1.5.3 Phương pháp đánh giá nhanh và ước tính lượng chất thải
Sử dụng công thức Euler cải tiến để ước tính lượng dân số gia tăng từ năm
2007 đến năm 2020 (dựa trên số liệu thực của dân số năm 2006) Từ đó tính toánđược lượng CTR phát sinh trong cùng khoảng thời gian
Trên cơ sở tỷ lệ thu gom rác hiện tại và mức tăng trưởng kinh tế, trình độnhận thức xã hội ước tính khả năng thu gom rác qua từng thời điểm (% rác đượcthu gom từ năm 2007 – 2020)
1.5.4 Phương pháp tham khảo các ý kiến chuyên gia
Phỏng vấn, tham khảo ý kiến của các cán bộ, những người trực tiếp làmviệc trong công tác vệ sinh cùng với các cơ quan liên quan (Sở KH&CN, SởTN&MT, phòng TNMT thị xã, Công ty CTĐT, UBND thị xã)
1.5.5 Phương pháp thực địa (điều tra hiện trường và khảo sát thực tế)
Tiến hành khảo sát thực tế trên địa bàn nghiên cứu, các điểm tập kết rác,qui trình thu gom, vận chuyển và bãi rác thị xã Ghi nhận những hình ảnh về hiệntrạng của các hoạt động trên
Điều tra trực tiếp đối với các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất và các côngnhân thu gom bằng bảng các câu hỏi (xem phụ lục) Các bảng câu hỏi đã khảosát về nhận thức môi trường nói chung và vấn đề CTR nói riêng của cộng đồng
1.6 Phương Pháp Luận
Với điều kiện tự nhiên, KT - XH và thực trạng phân loại tại nguồn, thu gom,vận chuyển và xử lý CTR của thị xã thì nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp tíchcực hơn góp phần thúc đẩy việc xã hội hóa trong công tác này, mọi người, mọi
Trang 6nhà, mọi tầng lớp đều góp một tay bảo vệ môi trường, giúp phát triển thị xã mộtcách bền vững Cùng với việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật thì song song đóvấn đề nhận thức của cộng đồng là yếu tố quyết định.
Để đảm bảo tính khả thi, giải pháp đề xuất được xây dựng chủ yếu dựa trên cơsở tổng hợp, phân tích và đánh giá các hiện trạng VSMT của thị xã, dự báo cácdự án đầu tư sắp tới trong tương lai gần Cùng với việc nghiên cứu áp dụng cácqui định, tiêu chuẩn và phân tích có chọn lọc các phương pháp thực hiện của cácđịa phương có điều kiện địa lý, xã hội tương đồng
1.7 Phương Hướng Phát Triển (Hướng Mở Của Đề Tài)
Đề tài “KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG” sẽ cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác
xây dựng kế hoạch Quản lý CTR thị xã Gò Công một cách hiệu quả trong giaiđoạn CNH – HĐH hiện nay, nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững KT -
XH và môi trường của thị xã
Trang 7Hình1 : Bản đồ hành chánh thị xã Gò Công
Trang 8Chương 2 : TỔNG QUAN VỀ THỊ XÃ GÒ CÔNG VÀ
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CỦA ĐỊA BÀN 2.1 Điều Kiện Tự Nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Thị xã Gò Công là một đô thị lớn thứ hai sau thành phố Mỹ Tho nằm về phíaĐông của tỉnh Tiền Giang (vùng ngọt hoá Gò Công) cách trung tâm tỉnh lỵkhoảng 35 km, là cưả ngỏ nối liền thành phố Mỹ Tho với thành phố Hồ Chí Minhqua phà Mỹ Lợi bởi tuyến giao thông quốc lộ 50, đồng thời hướng ra biển Đôngtheo hai ngã Tân Thành và Vàm Láng nên thị xã Gò Công sớm trở thành trungtâm thương mại – văn hoá và được xem như “bản lề chiến lược” của trục độnglực phát triển khu vực phiá Đông của tỉnh, không chỉ có vai trò trọng yếu trongchiến lược phát triển kinh tế mà còn ý nghiã đặc biệt quan trọng về kinh tế và kếthợp quốc phòng an ninh
o Với toạ độ giới hạn là
- Từ 10’33’47’ đến 10’39’37’ vĩ độ Bắc,
- Từ 106’65’56’ đến 106’71’58’ kinh độ Đông
o Về ranh giới hành chính:
- Phía Bắc giáp với xã Thành Công (huyện Gò Công Tây) và xã TânTrung (huyện Gò Công Đông),
- Phiá Nam giáp với xã Bình Tân (huyện Gò Công Đông),
- Phiá Tây giáp với xã Yên Luông (huyện Gò Công Tây),
- Phiá Đông giáp với xã Tân Đông và Bình Nghị (huyện Gò Công Đông),
o Biến động diện tích tự nhiên:
Thị xã Gò Công được thành lập năm 1987 trên cơ sở tách một phần củahuyện Gò Công Tây và Gò Công Đông, với qui mô tổng diện tích tự nhiên là
Trang 93.101,10 ha, dân số 48.168 người; gồm 2 phường và4 xã ven Đến năm 1994 donhu cầu mở rộng nội thị, thị xã Gò Công tăng thêm 3 phường được tách từ các xãLong Hưng và Long Chánh.
Năm 1997 thị xã Gò Công có diện tích tự nhiên 3.209,97 ha chiếm 1,4%diện tích toàn tỉnh, và là một trong chín đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnhTiền Giang
Nhìn chung, địa hình của thị xã Gò Công khá thích hợp với phát triển sảnxuất công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng và các cụm công nghiệp
2.1.3 Thổ nhưỡng
Có bốn nhóm đất chính:
- Nhóm đất phù sa có 1.416 ha, chiếm 46 % diện tích;
- Nhóm đất mặn có 803 ha chiếm 26 % diện tích;
- Nhóm đất cát giồng có 274 ha chiếm 9 % diện tích;
- Nhóm đất liếp có 621 ha chiếm 19% diện tích
Trên toàn địa bàn thị xã gồm các loại đất:
- Đất cát giồng bị phủ (Cp) 430 ha,
- Đất phù sa nhiểm mặn ít (Mi) 86 ha,
- Đất phù sa đã phát triển có tầng loang lổ (Pf)1.943 ha,
- Đất đã lập líp (Vp) 615 ha
Trang 102.1.4 Khí hậu
Thị xã Gò Công là vùng khí hậu ít mưa, lượng mưa hàng năm đạt thấp, mùamưa thường đến muộn và kết thúc sớm, ít bị ngập lũ Tuy nhiên, do vị trí giáp vớibiển Đông nên chịu ảnh hưởng mạnh của gió chướng và xâm thực của biển
Nhiệt độ trung bình hàng năm cao 27,9 0C thuận lợi cho quá trình phân giảichất hữu cơ trong đất
Phần lớn lượng mưa hàng năm đều tập trung trong các tháng mùa mưa từtháng 5 đến tháng 10 nên dễ gây ra xói mòn và rửa trôi dưỡng chất trong đất,nhất là những vùng đất cát giồng của thị xã Trái lại trong mùa khô tháng 11 đếntháng 4 hầu như không mưa nên cây trồng bị thiếu nước, đất đai khô cằn
Lượng bốc hơi hàng năm cao, nhất là trong mùa khô (đạt trung bình 4,5 mm/ngày) làm gia tăng quá trình nhiễm mặn lên bề mặt đất, ảnh hưởng này càngmạnh trên những vùng không có cây che phủ hoặc bỏ hoang vào mùa khô
Khu vực thị xã chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính:
- Gió Tây Nam: thổi vào mùa mưa với tốc độ nhỏ; trung bình từ 2,5 – 3m/s; mát mẻ và thuận lợi cho sản xuất và đời sống
- Gió Đông Bắc: thổi vào mùa khô hay còn gọi là gió chướng, với vận tốclớn, trung bình từ 8 – 9 m/s, làm gia tăng sự bốc thoát nước từ mặt đất và câytrồng thúc đẩy quá trình nhiễm mặn Đặc biệt gió chướng kết hợp với triều cườnggây nên hiện tượng xâm thực biển, làm sạt lở và nhiễm mặn
Trang 11Bảng 1: Các chỉ tiêu khí hậu tại thị xã Gò Công
Độ ẩm trung bình hàng năm cao nhất % 79,2
Độ ẩm trung bình hàng năm thấp nhất % 71
Lượng mưa trung bình trong mùa mưa mm 1.129
Lượng bốc hơi trung bình hàng năm mm 1.427
(Nguồn: Theo tuyển tập khí tượng thuỷ văn Đài KTTV TP Hồ Chí Minh)
Về nguồn nước ngầm: Hiện nay gặp nhiều khó khăn do mạch nước ngầmsâu bị nhiễm mặn không dùng cho sinh hoạt được và qua thực tế cho thấy tỷ lệgiếng tầng nông không sử dụng được chiếm tỷ lệ rất cao (>75%) Kết quả phântích các giếng trên địa bàn:
- Đô sâu khoan: 60 – 70 m;
Trang 122.2 Điều Kiện Kinh Tế Xã Hội
2.2.1 Văn hoá xã hội
2.2.1.1 Về tổ chức hành chánh
Thị xã Gò Công có 9 đơn vị hành chính cấp xã với 5 phường là phường
1, phường 2, phường 3, phường 4, phường 5 và 4 xã là xã Long Hưng, xã LongThuận, xã Long Chánh, xã Long Hoà
2.2.1.2 Về cơ sở hạ tầng
o Về giao thông:
Toàn thị xã Gò Công có 96,75 km đường (đường đô thị, đường cấp xã,đường nông thôn ) với mật độ 3,01 km/ km2
Địa bàn thị xã Gò Công có 7,06 km quốc lộ 50 đi qua; 20 km đườngtỉnh; 12,19 km đường do thị xã quản lý
Nhìn chung hiện trạng giao thông trên địa bàn thị xã Gò Công mangnhững đặc điểm: mật độ đường giao thông cao nhưng mật độ đường chính ở mứcđộ trung bình, tỷ lệ nhựa hoá còn rất thấp 17 % và phần lớn mặt đường còn hẹp
o Hệ thống cấp nước:
Nguồn nước sinh hoạt được cấp từ Bình Phan huyện Chợ Gạo chuyềntải theo kinh Tham Thu với công suất 7000 m3 / ngày
Hệ thống cấp nước gồm đường ống phi 100 – 2500, tổng chiều dài14.530 m Hộ sử dụng nước sạch toàn thị xã là 85 % vào năm 2005 trong đó nướcmáy 57 %, các nguồn nước sạch nông thôn 25 %
o Hệ thống thoát nước:
Tại khu vực trung tâm nội thị trên các trục đường đều có hệ thốngthoát nước phi 500 – 1500 với tổng chiều dài 6.350 m, chiếm 54 % tổng chiều dàiđường trục chính Hệ thống thoát nước cấp 2 chủ yếu là đường ống nhỏ, mươnglộ, xây tự phát
Trang 132.2.1.3 Về văn hóa – xã hội
o Về dân số và lao động :
Tăng chậm từ 48.736 người năm 1995 lên 51.993 người năm 2000,bình quân tăng 1,3 % năm và 54.676 người năm 2005, bình quân tăng 1,01 %năm
Mật độ dân số từ 1.572 người/ km2 năm 1995 lên 1.620 người/ km2năm 2000 và 1.704 người năm 2005 Mật độ tương đối cao so với các huyện trongtỉnh
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thựchiện chính sách kế hoạch hoá gia đình Và tổ chức thẩm định 7 dự án vay vốnvới số tiền 447 tỷ đồng cho 101 hộ vay nguồn vốn quỹ quốc gia giải quyết vịệclàm và mở 3 lớp dạy nghề may công nhân cho 41 lao động nông thôn; và xácnhận ký hợp đồng cho 53 cơ sở sản xuất kinh doanh với 151 lao động
Bảng 2: Tình hình dân số thị xã Gò Công
Trang 14Hình 2 : Diễn biến dân số thị xã Gò Công từ năm 2000 đến năm 2006
o Về giáo dục:
Hoạt động giáo dục được chú trọng nâng cao về chất lượng và hiệuquả đào tạo gắn với cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnhthành tích trong giáo dục” Đội ngũ giáo viên được quan tâm bồi dưỡng nâng caovề chuyên môn và nghiệp vụ Cơ sở trường lớp được đầu tư, nâng cấp và xâydựng theo tiêu chuẩn quốc gia: tiểu học phường 1, phường 2, phường 4 và trunghọc cơ sở phường 1
Hoạt động giáo dục đạt được kết quả khả quan như: tốt nghiệp bậctiểu học đạt 98,55 %; tốt nghiệp bậc trung học cơ sở đạt 99,67 %; tốt nghiệp bổtúc trung học phổ thông đạt 19,64 %
o Về y tế:
Tăng cường thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh chăm sócbảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần hạn chế dịch bệnh xảy ra
Trang 15o Về di tích lịch sử - du lịch:
Thị xã Gò Công có 3 di tích quan trọng được nhà nước xếp hạng là ditích Quốc Gia: Lăng mộ và tượng đài Anh hùng dân tộc Trương Định, LăngHoàng Gia (nơi thờ tự bên ngoại vua Tự Đức) và nhà Đốc Phủ Hải (có kiến trúcđộc đáo)
2.2.2 Về kinh tế
ha cây ăn trái nâng tổng diện tích cây ăn trái hiện có 535,1 ha với sản lượng thuhoạch được 3.520 tấn đạt 52,54 % kế hoạch tăng 0,66 % so với cùng kỳ năm2006
Trang 16cầm; tổ chức kiểm tra, quản lý việc vận chuyển kinh doanh gia súc, gia cầm, cácsản phẩm gia súc, gia cầm trên địa bàn nên tình hình dịch bệnh trên đàn gia cầm,gia súc ổn định không xảy ra dịch bệnh; đã tổ chức thẩm định vị trí mới (ngoàikhu vực nội thị) có 9 cơ sở ấp trứng gia cầm, 7 cơ sở chăn nuôi và cấp giấy kiểmđịnh cho 5 cơ sở đạt tiêu chuẩn Vào thời điểm 1/4/2007 đàn bò được 1.180 contăng 38,82 %; đàn; đàn gia cầm được 596.604 con tăng 72 % và đàn heo có 9.831con giảm 15,3 % so với năm 2006
o Nuôi trồng khai thác thuỷ hải sản:
Toàn thị xã nuôi trồng 108 ha thuỷ sản các loại đạt 100,9 % kế hoạchtrong đó nuôi cá 98,9 ha và tôm các loại 9,7 ha; sản lượng thu hoạch được 283,51tấn đạt 64,63 % kế hoạch tăng 2,52% so với năm 2006 Và mô hình kinh tế hợptác xã đang được quan tâm phát triển, toàn thị xã có 6 hợp tác xã trong đó thànhlập mới một hợp tác xã nuôi thuỷ sản
2.2.2.2 Công nghiệp
Trên toàn địa bàn thị xã Gò Công có tổng cộng 222 cơ sở sản xuất Vớiđiều kiện tự nhiên thuận lợi, thị xã cũng tiến hành đầu tư phát triển ngành côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp với số vốn 25.297 triệu đồng, trong đó khu vựcngoài thị xã đã có 21.957 tỉ đồng đạt 50.48 % kế hoạch như Công ty cổ phần mayCông Tiến chi nhánh Công ty may Việt Tiến đưa vào hoạt động 10 dây chuyềnmay với 560 công nhân; dự án cụm công nghiệp Long Hưng với diện tích 24 hađang tiến hành xây dựng với mục đích di dời các cơ sở sản xuất nhằm bảo đảmtốt công tác bảo vệ môi trường; một số sản phẩm chủ yếu của các cơ sở sản xuấttại thị xã đạt sản lượng tăng so với cùng kỳ năm 2006 như: sản phẩm bánh kẹotăng 14,2 %; mặt hàng thảm của hợp tác xã Bình Minh tăng 61,1 % ; mặt hàngchiếu lá tăng hơn 2,5 lần Tuy nhiên, do bị cạnh tranh, nguồn nhiên liệu, thịtrrường không ổn định nên sản phẩm gặp khó khăn, sản lượng giảm so với cùng
Trang 17kỳ năm 2006 như: chế biến sơ ri giảm 27,6 %; xay xát giảm 39,4 % và may giacông giảm 70,6 %.
o Về phát triển lưới điện:
Cùng với sự đầu tư phát triển công nghiệp, ngành điện lực cũng đượcquan tâm nhiều hơn như xây dựng xong kế hoạch phát triển lưới điện trung thế,hạ thế có 58 tuyến với tổng chiều dài 37 km, trong 6 tháng đầu năm 2007 gắnmới được 699 điện kế chính Với tình hình kinh tế đang phát triển nên nhu cầu sửdụng điện càng gia tăng dẫn đến tình trạng thiếu hụt điện, các cơ quan điện ápdụng những biện pháp nhằm tiết kiệm điện như: duy trì việc điều chỉnh giờ chiếusáng trên các tuyến đường công cộng, đồng thời giao chỉ tiêu cho các cơ quanmức tiêu thụ điện Trong đầu năm đã tiết kiệm điện năng tiêu thụ 10 % so vớinăm 2006
2.2.2.3 Thương mại - dịch vụ
Sự đầu tư phát triển kinh tế cũng làm cho hoạt động thương mại dịch vụtiếp tục ổn định và phát triển về số cơ sở, quy mô mạng lưới kinh doanh, phục vụtốt yêu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt nhân dân Về công tác quản lý và tổchức kinh doanh tại các chợ đạt được nhiều hiệu quả, đảm bảo trật tự, vệ sinh và
an toàn về phòng chống cháy nổ; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụđược 314,5 tỷ đồng đạt 53,7 kế hoạch tăng 31,5% so với năm 2006; các hoạt độngvận tải ổn định đáp ứng được yêu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhândân, khối lượng vận chuyển hàng hoá được 56.860 tấn đạt 52% kế hoạch, luânchuyển 3.150.600 tấn/km đạt 53,49% kế hoạch, khối lượng vận chuyển hànhkhách được 33.500 lượt hành khách đạt 50,01% kế hoạch, luân chuyển được23.450.200 lượt hành khách /km đạt 50,11% kế hoạch; còn về hoạt động bưuchính viễn thông phục vụ tốt các yêu cầu về thông tin liên lạc, đã hoàn chỉnh hệ
Trang 18thống cáp treo ở 4 xã, phát triển mới được 704 máy điện thoại, nâng tổng trị giáxuất khẩu được 194.000 USD đạt 64,67 % kế hoạch tăng 44,93 % so với năm2006.
2.3 Định Hướng Phát Triển Kinh Tế Xã Hội
Thị xã Gò Công sẽ là cửa ngỏ thứ hai tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh.Theo đó, sẽ hình thành khu công nghiệp tập trung làm vệ tinh cho các khu côngnghiệp của thành phố Hồ Chí Minh, khu đô thị thương mại - dịch vụ, khu villa nhàvườn, bến cảng hàng hoá của khu vực… Khởi động chiến lược phát triển, ngaynăm 2007 tỉnh và thị xã xúc tiến đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp, các trungtâm thương mại, giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá du lịch,… Hình thành thêm cáckhu dân cư mới, mở rộng và nâng cấp các vành đai, giao thông nội thị Khu vựcngoại thị sẽ đầu tư để phát triển theo hướng nông nghiệp sinh thái đa dạng trênnền cây lúa đặc sản, rau màu, thực phẩm, trái cây an toàn, chăn nuôi thuỷ sản vàcác dịch vụ khoa học kỹ thuật sản xuất gắn liền với bảo quản, sơ chế, chế biến vàtiêu thụ sản phẩm Cơ cấu kinh tế thị xã sẽ chuyển dịch theo hướng thương mạidịch vụ - công nghiệp
Về thương mại - dịch vụ: mạng lưới chợ sẽ được tiếp tục hình thành đồng bộtừ chợ trung tâm thị xã, chợ khu vực về phía Nam và phía Bắc đến các chợphường, xã Đồng thời hình thành các dịch vụ hậu cần cho du lịch Bên cạnh đó,
ưu tiên qui hoạch và xây dựng siêu thị Gò Công, xây dựng mới chợ vành đai phíaNam, Long Hưng, Long Chánh, chợ Cống đập, phường 4, phường 5 và nâng cấpchợ Long Thuận, chỉnh trang lại chợ cũ Gò Công Doanh số bán ra của ngành sẽtăng lên 5.183 tỷ đồng năm 2010; 19.942 tỷ đồng năm 2015 và 23.395 tỷ đồngnăm 2020
Đối với ngành du lịch, đặt trọng tâm vào hoạt động lữ hành, thu hút khách dulịch vào các khu văn hoá, lịch sử và kiến trúc cổ, khu du lịch sinh thái Bình Xuân
Trang 19và là hậu cần cho du lịch biển Gò Công Phát triển các tuor du lịch liên huyện,tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia hoạt động du lịch,đẩy mạnh xã hội hoá du lịch, đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác Trung tâm tôn tạo,
tu bổ và bảo tồn các điểm di tích lịch sử, các điểm du lịch hiện có, phục hồi nghềtruyền thống; mở thêm các tuyến điểm mới, nâng chất và các sản phẩm du lịch;liên kết với tỉnh và thành phố Hồ Chí Minh xây dựng và phát triển các điểm dulịch vệ tinh; phát huy các sự kiện lịch sử và đặc sản thành lễ hội du lịch Lượngkhách du lịch đạt khoảng 20,7 ngàn người năm 2010, năm 2015 là 31,4 ngànngười, đến năm 2020 đạt 51 ngàn người Doanh thu đạt 17 tỷ đồng năm 2010 vàđến năm 2020 đạt 101 tỷ đồng
Đối với công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và Thị xã xứng đáng làđầu tàu phát triển và công nghiệp hoá Tập trung xây dựng các cụm công nghiệpnhư cụm công nghiệp Long Hưng (20 ha) vào năm 2007 và tiếp tục xây dựng cụmcông nghiệp Long Chánh (5 ha) Tiến đến xây dựng khu công nghiệp Bình Đôngvới 500 ha, thành lập và hoàn chỉnh các hợp tác xã lành nghề trong đó quan trọngnhất là nghề làm mắm tôm chà, đan lát, thảm chiếu hàng mỹ nghệ, tủ thờ GòCông, lạp xưởng tươi, đồ mỹ nghệ,… Lấy công nghiệp chế biến làm trọng tâm chophát triển ngành, nhanh chóng đầu tư thích hợp với trình độ lao động tiến lêncông nghiệp hoá Việc mở rộng thị xã về phía Bắc song song với quốc lộ 50 cũngđược mở rộng và cầu Mỹ Lợi được xây dựng hoàn chỉnh, ngành công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp sẽ có cơ hội phát triển nhanh Trọng tâm là hình thành khucông nghiệp Bình Đông cặp theo sông Vàm Cỏ Tây làm vệ tinh cho các khu côngnghiệp của tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh Qui mô ban đầu khoảng 150 ha, có thểmở rộng lên đến 300 đến 500 ha kéo dài theo trục quốc lộ 50 đến khu lànhnghề Tân Trung và cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Long Hưng Theo đó,năm 2010 giá trị sản xuất công nghiệp sẽ đạt 150,4 tỷ đồng, tăng bình quân 13,3
Trang 20% / năm; đạt 438,5 tỷ đồng ( năm 2015 ) tăng 23,9 % / năm ( từ năm 2011 đếnnăm 2015 ) và đạt 1.343 tỷ đồng (năm 2020), tăng bình quân 25,1 % (từ năm 2016đến năm 2020)…
Với những thuận lợi về vị trí và vị thế, thị xã Gò Công xây dựng chiến lượcphát triển kinh tế thành một thị xã năng động, phát triển nhanh của tỉnh, thực hiện
ba vai trò: trung tâm thương mại, dịch vụ của ba huyện phía Đông; Trung tâm
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiểu vùng; trung tâm giáo dục đào tạo, góp
phần trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
2.4 Hiện Trạng Môi Trường Của Thị Xã
Thị xã Gò Công là một địa bàn nhỏ có mức tập trung dân cư cao gồm 11.923hộ với khoảng 56.000 dân chia thành 5 phường và 4 xã Tình hình hoạt độngthương mại, dịch vụ ở thị xã khá tấp nập vì là trung tâm của cả khu vực 3 huyệnvùng Gò Công Trong nội ô vẫn còn nhiều nhà dân lao động sống trong điều kiệnvệ sinh môi trường kém, không có nước sạch và không có nhà vệ sinh, hệ thốngthoát nước thải không đủ và còn lộ thiên rất nhiều Bãi rác hiện tại đã bắt đầuquá tải, hiện địa phương đã mở rộng thêm diện tích chứa nên tình hình thu gomrác được khả quan hơn, nhưng việc xử lý rác hiện tại chưa có giải pháp thực hiệnchỉ là bãi rác lộ thiên
2.4.1 Môi trường không khí
Bảng3: Kết quả phân tích chất lượng không khí tại các trục giao thông chính,
Trang 21(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Tiền Giang năm 2005)
o Ô nhiễm bụi:
Hàm lượng bụi trong không khí năm 2003, 2004 so với năm 2002 làkhông tăng Tuy nhiên kết quả phân tích hàm lượng bụi cao hơn từ 3 – 10 lần sovới mức cho phép của TCVN 5937 - 1995 là 0,3 mg/ m3 Vào mùa khô thì hàmlượng bụi cao, dao động từ 1 – 3,76 mg/m3, vượt TCVN 3 – 12 lần
o Ô nhiễm khí NO2 :
Khí NO2 dao động trong khoảng 0,001 – 0,01 mg/m3 thấp hơn TCVN
5937 – 1995 (0,4 mg/m3) khoảng 20 – 100 lần Hàm lượng NO2 cao nhất thuộckhu vực thành thị, tập trung giờ cao điểm cao nhất tại trục giao lộ, thấp nhất tạicác xã và cao nhất là tại các phường trong thị xã
o Ô nhiễm khí:
Nồng độ SO2 nằm trong mức TCVN là 0,5 mg/m3 Nồng độ SO2 trongkhông khí cao nhất là tại khu vực đô thị là 0,0033 mg/m3, vào mùa nắng cao hơnmùa khô gấp 2 3 lần Thấp nhất vẫn là khu vực nông thôn vào mùa nắng nồngđộ SO2 0,0021 mg/m3, vào mùa mưa nồng độ SO2 không phát hiện
o Ô nhiễm khí CO:
Nồng độ CO trong không khí dao động trong khoảng 2,7 – 5,8 mg/m3 cònnằm trong mức qui định của TCVN 5937 – 1995 (40 mg/m3)
o Ô nhiễm tiếng ồn:
Tiếng ồn trong năm 2004 không tăng so với năm 2003 Dao động trongkhoảng 70 - 85 dBA vào giờ cao điểm tiếng ồn vượt hơn 85 dBA tại các giaođiểm (TCVN 5937 : 1998, cho phép 70dBA) Riêng tại các khu vực nông thôn củathị xã trung bình giảm so với 2003 dao động từ 58 – 67 dBA
Bảng 4: Kết quả phân tích tiếng ồn trên địa bàn thị xã Gò Công
Trang 22Diễn biến theo
xe tay vào ngõ hẻm và mạng lưới thùng rác công cộng bố trí đầy đủ các nơi cầnthiết Thị xã Gò Công đã thực hiện thí điểm việc phân loại rác tại nguồn để táchriêng phần rác hữu cơ đưa vào chế biến phân rác hữu cơ tại chỗ
o Rác công nghiệp:
Chất thải rắn ở các cơ sở sản xuất được thu gom chủ yếu qua tổ chức vệsinh đô thị và thường là rác sinh hoạt, phế thải hữu cơ hoặc rác khô không độchại Rác này cũng được chuyển về các bãi tập trung qui định Không có loại chấtthải rắn độc hại và phóng xạ
Hiện nay do KCN Long Hưng mới chỉ trong giai đoạn thi công và chỉ cócác cơ sở sản xuất nhỏ và hợp tác xã Bình Minh đang hoạt động nên lượng chấtthải công nghiệp thật sự là không đáng kể Lượng rác này được thu gom do thỏathuận giữa doanh nghiệp và Công ty CTĐT
Trang 23Bảng 5: Thành phần chất thải rắn công nghiệp trên đĩạ bàn thị xã Gò Công
Ngành Thành phần chủ yếu Thành phần khác
Chế biến lương thực Trấu Tạp chất , bụi, dây nylon,
đá vụn
Cơ khí Phôi kim loại Hộp sơn, vải, thực phẩm,
giấyChăn nuôi quy mô lớn Phân Nhựa, thuỷ tinh, giấy, rác
vườnGia công chì lưới Bã chì Tro có chưá 1 số CTRNH
In ấn, gia công giấy Giấy Plastic, kim loại, thữc
phẩmSản xuất y cụ Nhựa, kim loại Giấy, gỗ, thực phẩm
Đông lạnh Phế phẩm Giấy, plastic
Nước chấm Bả bánh dầu, bả mắm Thuỷ tinh, plas tic, giấyCưa xẻ gỗ Gỗ (mạc cưa, dâm bào) Kim loại
Gạch ngói nung Gạch vụn Tro
Phân bón Bao bì nhựa
Giết mỗ Chất hữu cơ (phân, lông)
Thu mua phế liệu bình
Bảng 6: Bảng thống kê về hiện trạng xử lý rác trên địa bàn
Đơn vị Tổng Tự xử lý Hợp đồng thu gom và xử lý
Trang 24Tổng số hộ hợp đồng Dân
lập
Cônglập
Tổng số hộhợp đồng
Tỷ lệ(%)
(Nguồn: Bảng thống kê số liệu sơ lược năm 2006 )
2.4.3 Môi trường nước
o Ô nhiễm hữu cơ:
Trên kênh rạch Thị xã Gò Công: Kết quả phân tích cho thấy vào mùakhô cống đóng để ngăn mặn, nước tù đọng nên mức độ ô nhiễm hữu cơ cao Chỉsố COD là 51 mg/l vượt xa so với tiêu chuẩn nước cấp cho sinh hoạt là 10 mg/lcho nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản là 35 mg/l và BOD5 dao động từ 3 – 16.6mg/l
o Ô nhiễm vi sinh:
Qua kết quả phân tích cho thấy vào mùa khô hàm lượng vi khuẩn tănghơn cùng kỳ năm 2002, hàm lượng vi khuẩn giảm vào mùa mưa
Trang 25Có 1.400.000 Ecoli /100 ml và 3.400.000 Coliform /100 ml nước cao hơnr61t nhiều mức cho phép trong nguồn nước cấp cho sinh hoạt (mức chấp nhận là2.000 Ecoli /100 ml và 5.000 Coliform /100 ml nước)
o Phú dưỡng hóa:
Kết quả phân tích cho thấy vượt TCVN cột A nhưng giảm hơn so vớicùng kỳ 2002 (chỉ tiêu Amoniac và Nitrat)
2.4.4 Môi trường đất
Việc tăng vụ lúa lên tới mức 3vu ï/năm hoặc hơn nữa không có thời gian vàđiều kiện cho đất phục hồi Đối với ruộng lúa nếu không có biện pháp bổ sungmùn và phân bón hữu cơ sẽ có xu thế đất bị xói mòn và chai sạn dần
Việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học liên tục nhiềunăm tạo ra dư lượng chất độc tồn lưu trong đất, làm thay đổi thành phần của đấtvà suy thóai chất lượng đất
2.4.5.Tình hình vệ sinh môi trường đô thị
Tình hình TXGC trong năm qua có nhiều chuyển biến tích cực Việc nângcấp đường phố, lát vỉa hè, thu gom và quản lý rác thải, trồng bổ sung cây xanhlàm cho đường phố ngày càng sạch đẹp và xanh tươi hơn Tuy nhiên, tình trạngVSMT thị xã vẫn còn điều đáng quan tâm
Toàn thị xã có hơn 10.135 hộ sử dụng đồng hồ nước chiếm tỷ lệ 85 % trongtổng số hộ, gần 15% số hộ phải sử dụng nước sinh hoạt từ nguồn khác như giếngđào, nước ao hồ, sông rạch Số lượng cầu tiêu hợp vệ sinh chưa nhiều, có 11.446hộ sử dụng cầu tiêu hợp vệ sinh (chiếm tỷ lệ 96 %) bao gồm luôn cả cầu tiêu mànhìn bề ngoài tưởng như tự hoại song thực chất không có hầm chứa, chỉ có ốngcho phân chảy ra sông (trường hợp xảy ra đối với các hộ sống gần sông) Trênthực tế loại cầu này rất khó phát hiện Hiện chỉ có 16/42 điểm đường có nhà vệsinh, 09 cầu tiêu công cộng, và 1.238 cầu tiêu trên ao cá Việc thực hiện Chỉ thị
Trang 26200/TTg của thị xã còn gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân là vì có khá nhiều bộphận dân nghèo không có khả năng xây cầu tiêu tự hoại, mặc dù đã hỗ trợ kinhphí cho các hộ này vay vốn để xây cầu tiêu hợp vệ sinh, nhưng vì nguồn kinh phícó hạn nên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu trong nhân dân Bên cạnh đó có mộtsố vấn đề liên quan đến thói quen và ngại sửa đổi nên nhiều hộ mặc dù đã xâydựng cầu tiêu hợp vệ sinh vẫn sử dụng cầu tiêu trên ao cá.
2.4.6 Cảnh quan môi trường
Theo số liệu điều tra của UBND TXGC, năm 2006 toàn thị xã có trên 5100cây xanh đường phố trong đó có 650 cây cổ thụ từ 25 tuổi trở lên với 10 chủngloại, trong đó sao, dầu chiếm tỉ lệ cao nhất (80%), có những hàng cây tuổi thọđến hàng trăm năm như me, sao, dầu…
Trong những năm qua UBND thị xã đã đầu tư trồng mới thêm 418 cây ởcác tuyến bao gồm những chủng loại có hoa đẹp như: mai điệp, phượng vĩ, bằnglăng… và những loài có hương thơm như hoa sữa, tràm bông vàng, nhưng chủ yếuvẫn là các loài cây lấy gỗ như lim xẹt, dầu, xà cừ… Như vậy, cộng với số câyđược trồng bổ sung 775 chậu hoa kiểng và cây kiểng ở các công viên thì cây xanhcông cộng ở TXGC bình quân là 0,1 cây/người
2.4.7 Môi trường nông thôn
Vệ sinh môi trường nông thôn các năm qua từng bước được cải thiện rõ từsau khi triển khai Chỉ thị 200/TTg của Thủ Tướng Chính phủ về “Đảm bảo nướcsạch và vệ sinh môi trường nông thôn”
o Hiện trạng hố xí hợp vệ sinh:
Hầu hết ở các vùng nông thôn là xây dựng hố xí chưa hợp vệ sinh Đa sốcác hộ nông dân (trên 90%) sử dụng cầu tiêu ao cá và làm cầu tiêu trực tiếp trênsông rạch, thải một lượng phân người rất lớn vào nước mặt Việc chăn nuôi heotrong dân nông thôn với đàn heo tổng cộng dao động trong khoảng 10.000 con
Trang 27cũng thải ra lượng phân xấp xỉ như lượng phân người kể trên, một phần nhỏ đượctận dụng để hoai làm phân bón ruộng lúa, phần lớn thải thẳng ra môi trường xungquanh và thải vào nguồn nước nếu chuồng trại làm ngay trên hoặc gần sông rạch.
Từ năm 1994 đến nay theo chỉ đạo của UBND Tỉnh và yêu cầu quản lývệ sinh môi trường nông thôn theo Chỉ Thị 200/TTg kết hợp với thực hiện NghịĐịnh 36/CP và Nghị Định 40/CP về bảo đảm an toàn giao thông thủy bộ, các nơitrong thị xã đã dẹp bỏ hầu như hoàn toàn các cầu tiêu trên sông, các chuồng nuôigia súc, gia cầm dội phân gây ô nhiễm nguồn nước đồng thời cũng dẹp những cầutiêu ao cá dọc theo các trục giao thông chính như đường quốc lộ, đường xã, đườngtrong phường và không cho duy trì cầu cá tại các khu dân cư đông cùng sử dụngmà chỉ cho cầu tiêu ao cá trong gia đình và đặt ở nơi khuất sau nhà có xử lý nước
ao cá trước khi chảy vào nguồn nước sông rạch hoặc phải đắp kín hoàn toàn
Cuối năm 2006 ở thị xã Gò Công đạt mức cao nhất trong tỉnh với 96 % hộcó HXHVS Trong năm 2006 thị xã vẫn tiếp tục vận dụng nguồn vốn hỗ trợ vệsinh môi trường của tỉnh cho nhiều hộ gia đình mượn để xây dựng HXHVS rồi thuhồi và xoay vòng cho hộ khác mượn đã giúp làm tăng số hộ có HXHVS nhưngnguồn vốn này chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân nhất là ở các xã chuẩn
bị xin công nhận xã văn hóa vì tiêu chí vệ sinh môi trường yêu cầu xã văn hóaphải có 70% hộ sử dụng HXHVS Có 423 hộ xây mới và 219 hộ sữa chữa lại hốxí
Bảng 7: Thống kê số liệu xây dựng hố xí hợp vệ sinh trên thị xã Gò Công
Đơn vị Tổng số hộ
trên địa bàn
Sử dụng hố xí hợp vệ sinhXây mới Sữa
chữa
Tổng số hộ sửdụng
Tỷ lệ(%)
Trang 28Phường 2 1.564 00 24 1.564 100
(Nguồn: Bảng thống kê số liệu sơ lược năm 2006)
o Hiện trạng rác thải:
Việc thu gom rác chuyển về bãi qui định nên tình trạng đổ rác ra đường,tại dốc cầu hoặc đổ rác xuống sông rạch đã giảm rất đáng kể, chính quyền địaphương ghi bảng cấm đổ rác ở một số nơi cần thiết và nhân dân tự giác thực hiệnkhá tốt Đối với các hộ gia đình ở rải rác thì hướng dẫn họ đào hố chứa rác hợpvệ sinh, không thải rác, xác súc vật và chất phế thải xuống nguồn nước hoặc thảitràn lan ra chung quanh để giữ vệ sinh môi trường nông thôn
o Hiện trạng chuồng trại chăn nuôi gia súc – gia cầm:
Các hộ chăn nuôi qui mô vừa và lớn phải kê khai hoạt động có ảnhhưởng môi trường và thực hiện biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi đảm bảo vệsinh không gây ô nhiễm môi trường Các hộ nuôi gia đình ở qui mô trang trại haydạng nhỏ lẻ vài con heo cũng được hướng dẫn thu gom và xử lý phân hợp vệ sinh.Phương pháp xử lý phân và nước thải chăn nuôi trong thị xã đang khuyến khíchhiện nay là xây dựng hầm biogas để vừa thực hiện vệ sinh chăn nuôi vừa tạo chấtđốt sạch phục vụ cho nhu cầu đun nấu của gia đình, đến nay trong thị xã có hàngngàn túi ủ biogas cỡ 8 – 12 m3 và hàng trăm hầm ủ biogas 20 - 70 m3 Các hộkhông có điều kiện thực hiện hệ thống biogas thì được hướng dẫn thu gom phânđưa đi ủ hoại rồi mới dùng bón cho cây trồng, hoa màu, ruộng lúa và phần nướcthải chăn nuôi từ chuồng heo cho chảy vào hố tự thấm để hạn chế lây lan gây ô
Trang 29nhiễm môi trường Đến nay tình trạng nuôi heo thả rong và thả lan ở các vùngnông thôn đã giảm rõ rệt, tính bình quân trong thị xã có 62% hộ nuôi gia sức giacầm thì riêng hộ nuôi heo đã có được gần 90% là có chuồng trại cố định để có thểthu gom và xử lý phân chăn nuôi hợp vệ sinh Qua vận động, giải thích và hướngdẫn về chăn nuôi và vệ sinh môi trường số hộ này từ từ đã hiểu ra và làm chuồngnuôi, nhờ thế tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn do chăn nuôi được cảithiện ngày thêm tốt đẹp
o Hiện trạng nước sinh hoạt:
Năm 2006 có 85 % hộ dân được cấp nước sạch, 6 tháng đầu năm 2007tăng lên là 87,6 % (nước sạch qui ước của Thị xã) Tại các gia đình có điều kiệnsinh sống ổn định đa số thực hiện được ăn chín, uống sôi để bảo đảm vệ sinh nênchất lượng cuộc sống được cải thiện dần Đặc biệt từ năm 2006 đến nay các xã đãhuy động được nhiều nguồn lực và vốn đầu tư của nhân dân để xây dựng nhiềutrạm cấp nước cho cụm dân cư tập trung với qui mô mỗi giếng khoan hoặc mỗitrạm xử lý nước mặt có khả năng cung cấp cho 100 – 500 hộ dân, người dân nôngthôn nhận thức được tầm quan trọng của nước sạch đối với đời sống và sức khỏenên cố gắng dành dụm tiền tham gia nối mạng nước để có nguồn nước sạch đếntận nhà dùng cho ăn uống và sinh hoạt Chính nhờ đó mà tỉ lệ hộ dân có nướcsạch ở nông thôn tăng nhanh trong các năm qua Trong số hộ sử dụng nước sạchkể trên đã có được 32% hộ dùng nước máy và nước giếng khoan có chất lượng tốtvà ổn định
o Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:
Với số liệu điều tra chỉ riêng thuốc trừ sâu hàng năm bà con nông dân đãsử dụng 600 - 900 ngàn lít /lúa và 80 - 96 ngàn lít /rau và phun xịt sâu ở mật độkhông cần dùng thuốc đã làm lãng phí một lượng thuốc rất lớn, sự dư thừa đó đãtác động gây độc hại cho môi trường thiên nhiên và con người, ngoài việc bà con
Trang 30phải chi phí cho sản xuất số tiền không cần thiết Do đó, năm 1992 thị xã đã đưachương trình phòng trừ dịch hại tổng hợp áp dụng trên cây lúa, đến năm 1993 khicó kinh phí của FAO, chương trình IPM (quản lý dịch hại tổng hợp) được mở vànhân lên rộng rải, nội dung của chương trình là dùng nhiều biện pháp một cáchđồng bộ để quản lý dịch hại một cách hiệu quả nhất trên cơ sở hiểu biết hệ sinhthái Đến năm 1995 nhằm triển khai chương trình IPM một cách nhanh chóng vàcó hiệu quả, tiết kiệm được chi phí, đồng thời cho bà con thấy được việc dùngthuốc sâu ở giai đoạn lúa còn nhỏ là không cần thiết, Cục bảo vệ thực vật đãtriển khai cho Thị xã thực hiện tiếp chương trình FPR (nông dân cùng tham gialàm thí nghiệm) và đến năm 1996 tiếp tục đưa chương trình IPM trên cây rau.
Việc thực hiện các chương trình này lúc đầu cũng có nhiều tranh cải vàhoài nghi trong nông dân, vì nó làm thay đổi tập quán vốn đã có từ lâu, thay đổinhận thức về vấn đề dịch hại, chấp nhận sự hiện diện của các đối tượng gây hạitrên đồng ruộng ở mật độ thấp, không phun thuốc trừ sâu sớm ngoài việc bà concó thể deã dàng chấp nhận như phải trồng những giống có năng suất cao, phẩmchất tốt, kháng sâu bệnh, thích hợp điều kiện khí hậu đất đai tại địa phương phảibảo vệ và lợi dụng các loài thiên địch sẵn có trên đồng ruộng, các biện pháp canhtác phải được áp dụng một cách đồng bộ, hợp lý để tạo cây khỏe v.v nhưng quathời gian thực hiện, ngay vụ đầu tiên đã được bà con đánh giá rất cao, nhiệt tìnhhưởng ứng thực hiện và ngày càng nhân rộng
Những năm gần đây, qua các cuộc điều tra thăm dò về nhận thức của bàcon nông dân qua các chương trình IPM và FPR cho thấy bà con rất ham thích vớichương trình huấn luyện vì thông qua chương trình đã đem lại lợi ích thiết thực vềkinh tế, đồng thời nhận thức của bà con nông dân ngày càng được nhân lên, bàcon đã nhận diện được hầu hết các loại dịch hại quan trọng, biết cách quản lýchúng, biết được vai trò quan trọng của thiên địch và quan trọng hơn đã biết được
Trang 31tác hại của thuốc hóa học nên đã thay đổi tập quán phun thuốc định kỳ, khôngphun thuốc sớm Việc sử dụng giống và phân bón cũng được bà con quan tâmtuyển chọn kỹ càng (dùng giống kháng sâu bệnh, năng suất cao, ổn định, bỏ hẳncác giống địa phương, bón phân cân đối, hợp lý, không gieo sạ quá dầy )
o Chương trình FPR:
Trong chương trình FPR (nông dân cùng tham gia thí nghiệm) qua điềutra trên 01 ha mọi biện pháp canh tác kỹ thuật được áp dụng giống nhau nhưngchỉkhông phun thuốc sâu sớm đều cho năng suất như nhau nhưng ở lộ thử nghiệmkhông dùng thuốc sớm đã tiết được chi phí sản xuất, bình quân năm 1996/ha ápdụng IPR tiết kiệm được 93.680 đồng, năm 1997 - 76.633 đồng, chương trình đãthuyết phục được người dân, kết quả thăm dò cho thấy bình quân một học viên đãhọc chương trình IPR đã lôi kéo hướng dẫn lại cho 2 - 3 nông dân khác cùng làmtheo
Từ những kết quả điều tra trên chúng ta thấy một trong những biện phápquản lý, bảo vệ môi trường theo xu thế phát triển bền vững tại thị xã Gò Côngtrong lãnh vực nông nghiệp thì việc thực hiện chương trình IPM trên cây trồng làmột vấn đề cấp thiết và phải được làm rộng rãi, không phải chỉ riêng trên câylúa, cây rau màu mà trên cây ăn trái cũng cần phải được chú trọng và sau này vớihướng phát triển thị xã Gò Công cần xây dựng các vùng sản xuất rau sạch - tráisạch, vấn đề trước mắt cần mở và nhân rộng chương trình IPM vì mặc dù đã đượcứng dụng từ nhiều năm nay, hiệu quả ai cũng thấy và chấp nhận nhưng nhìn lạichỉ mới một số ít trong hàng trăm ngàn nông dân trong thị xã Gò Công được huấnluyện, nắm được nguyên tắc căn bản của chương trình và thực hiện đúng Vớinguồn kinh phí tỉnh hạn hẹp và nguồn kinh phí FAO tài trợ cho chương trình sắphết không thể tiếp tục mở và huấn luyện hết nông dân trong tỉnh được, do đó cầncó sự tuyên truyền rộng rải trong nông dân, tận dụng mọi phương tiện thông tin
Trang 32đại chúng như báo, đài phát thanh - truyền hình, tài liệu bướm phân phát trực tiếpđến nông dân, dán áp phích nơi công cộng có thể xây dựng các câu chuyệntruyền thanh - truyền hình v.v với các nội dung nhằm khuyến khích nông dâncùng tham gia làm thử nghiệm theo khuyến cáo của chương trình những kết quảđạt được và những điển hình để bà con có thể liên hệ tham khảo sử dụng lựclượng nông dân đã được huấn luyện làm nồng cốt để tuyên truyền cho các nôngdân khác cùng làm theo, với phương pháp này chúng ta có thể thông tin hướngdẫn đến mỗi nông dân ở tận vùng sâu, vùng xa, những nơi mà tiến bộ khoa họckỹ thuật khó chuyển giao nhanh chóng kịp thời.
Nhờ sự hiểu biết về tác hại của việc dùng phân bón và thuốc trừ sâu quáđộ trong sản xuất nông nghiệp sẽ đem lại những hậu quả cho môi trường, nôngdân địa phương đã từ từ điều chỉnh lượng phân và thuốc thích hợp hơn, tiết kiệmhơn trong khi cùng áp dụng chương trình phòng trừ dịch hại tổng hợp đã giúp cho
dư lượng thuốc trừ sâu trong nguồn nước có xu thế giảm dần
Về dư lượng thuốc trừ sâu trên rau cải, hoa màu tuy chưa có khảo nghiệmđể xác định từng lúc nhưng vẫn có ngộ độc thực phẩm do dư lượng thuốc trừ sâutrên rau gây ra Hiện nay xu hướng sản xuất rau sạch đang đặt ra cho cả hai phía,người quản lý và người sản xuất, tuy nhiên cần có chính sách đầu tư và bao tiêucụ thể cần được xác định rõ ràng thì nông dân mới yên tâm đi vào sản xuất
Ngoài ra trong nhân dân đã tự kiểm soát lẫn nhau về thực hiện các vấnđề vệ sinh môi trường mỗi ngày thêm chặt chẽ hơn, ngoài ra còn có các đoàn thểnhư Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Chữ thập đỏ, Đoàn thanh niên làm nòng cốttrong vận động và thực hiện vệ sinh môi truờng nông thôn Chính nhờ như thếtình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn do chất thải sinh hoạt và chăn nuôi đãgiảm thiểu đáng kể, cụ thể như mức nhiễm vi khuẩn trong nguồn nước mặt năm
1998 đã giảm trên 5 lần so với truớc kia, chứng bệnh tả mấy năm gần đây không
Trang 33có dịch, một số vùng thực hiện vệ sinh tốt giảm bệnh thương hàn tới 50% so vớicác năm trước, bệnh phụ khoa cũng giảm hơn….
2.4.8 Nhận định về các diễn biến môi trường
Diễn biến môi trường ở thị xã Gò Công đã có những dấu hiệu suy giảmnhưng không đáng kể Chất lượng nguồn nước tuy vẫn còn bị ô nhiễm nhưng hàmlượng ô nhiễm tăng không đáng kể so với năm 2003 Tình trạng ô nhiễm khôngkhí ở các khu vực dân cư đã từng bước được cải thiện một cách đáng kể Tìnhhình vệ sinh môi trường đô thị và nông thôn cũng đã từng bước khắc phục Ngàynay, với những chương trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nôngnghiệp như “Chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp IPM” đã hạn chế được việcsử dụng nhiều loại thuốc BVTV có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Chất lượngkhông khí ở các đô thị trong thị xã chưa đáng lo ngại như các thành phố lớn trongnước do số lượng phương tiện giao thông chưa nhiều, các cơ sở sản xuất côngnghiệp tập trung chưa triển khai… Phong trào trồng cây phân tán trên các vùng bờđê bao, ven lộ giao thông, trong khuôn viên đất nhà dân… ngày càng phát triểnđáng kể Mỗi năm thị xã đều trồng được 7 – 8 triệu cây phân tán các loại
Tuy nhiên, những dấu hiệu về ô nhiễm và suy thoái môi trường và nhiềuvấn đề đã trở nên bức xúc Tình trạng ô nhiễm nguồn nước vẫn còn ở mức cao;tình trạng khai thác nước ngầm chưa hợp lý đã làm cho mực nước ngầm mỗi nămsụt giảm trung bình 0,3m; tình trạng khai thác cạn kiệt nguồn lợi thủy sản đã ngàycàng làm cho hiệu suất khai thác giảm dần Tình hình ô nhiễm môi trường trongcác cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp gây ra tuy chưa đến mứcđộ nghiêm trọng và diện phân bố còn hẹp nhưng mức độ ô nhiễm lại diễn ra hàngngày, phạm vi cục bộ nhưng lại nằm rãi rác khắp các khu dân cư đông đúc Biệnpháp giảm thiểu và xử lý hầu như chưa thực hiện triệt để, các loại chất thải vẫnthải trực tiếp ra môi trường xung quanh Với tình hình sản xuất công nghiệp và
Trang 34tiểu thủ công nghiệp trong thời gian sắp tới dự báo tình trạng ô nhiễm môi trường
do sản xuất công nghiệp sẽ ngày càng tăng nếu không có những biện pháp giảiquyết đồng bộ, hữu hiệu sẽ đưa đến những hậu quả tiêu cực, tác động trực tiếpđến cuộc sống cũng như cảnh quan môi trường xung quanh
Chương 3 : HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ GÒ CÔNG
3.1 Tình Trạng Chất Thải Rắn Của Thị Xã Gò Công
3.1.1 Nguồn gốc phát sinh
o Khu vực chợ tập trung
Đây là khu vực có lượng rác thải nhiều và thành phần phức tạp bao gồm:rác chợ phát sinh từ việc mua bán nông sản, hoa quả tươi, thực phẩm chế biếnhay thực phẩm tươi sống của quá trình giết mổ tại chợ như gà, vịt; và rác sinhhoạt của các hộ buôn bán hay sống ở chợ
Trang 35o Khu vực tập trung và công sở
Các cơ sở dịch vụ, quán ăn, khu vui chơi giải trí, khu văn hóa, khu vựcUBND, trường học, trạm xá
o Rác thải từ các hộ dân
Phần lớn là rác thải sinh hoạt, thành phần không phức tạp như các khuvực khác
o Rác thải là phụ phẩm nông nghiệp
Chiếm đa số là rơm rạ, cành lá, vỏ cây, cuống của hoa quả Thôngthường theo phong tục tập quán của đồng bằng Nam Bộ, các phần thừa đều để lạingoài đồng, phần lớn là rơm rạ được nông dân đốt bỏ trên ruộng làm phân bón.Bên cạnh đó, rác thải còn phát sinh từ các hoạt động chăn nuôi gia cầm, gia súctại các nông hộ
3.1.2 Khối lượng rác thải
Tổng khối lượng rác từ các nguồn trên địa bàn khoảng 30 – 32 tấn /ngày.Tỷ lệ rác thu gom hiện nay tại thị xã là 70%
Bảng 8: Khối lượng các thành phần chất thải rắn
Nguồn phát sinh Khối lượng CTR thải ra
Khu vực chợ tập trung 5 – 7 kg / ngày / khu chợ
Khu vực tập trung và công sở 7 – 12 kg/ ngày / công sở
Rác thải từ các hộ dân 3 – 5 kg / ngày / hộ
Rác thải từ các cơ sở sản xuất 6 – 10 kg / ngày / cssx
(Nguồn: Công ty CTĐT thị xã Gò Công)
3.1.3 Thành phần chất thải rắn
o Rác thải thực phẩm:
Chất thải thực phẩm là trái cây và rau quả thải ra trong quá trình lưu trữ,phần còn lại của động vật, chế biến và tiêu thụ thực phẩm Chúng có khả năng
Trang 36thối rữa cao và phân hủy rất nhanh, đặc biệt trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩmcao Các chất thải này được thải ra từ các khu vực dân cư và các quán cà phê, nhàhàng, các cơ sở như bệnh viện và chợ.
o Rác từ hộ gia đình:
Rác thải từ các hộ gia đình, công sở, khu vực thương mại, bao gồm phầnđốt được như giấy, carton, plastics, vải, cao su, da, gỗ, và lá cây; và loại khôngđốt được như thủy tinh, da, đồ hộp bằng kim loại, sắt, thép và các kim loại khác,trong đó không chứa các loại chất thải có khả năng thối rữa cao
o Tro và cặn dư:
Là thành phần còn lại sau quá trình đốt củi, than và các chất thải đốtđược trong các hộ gia đình, cửa hàng, các cơ sở công cộng và công nghiệp vớimục đích cấp nhiệt và nấu nướng Thông thường chất thải từ các nhà máy nhiệtđiện không được xếp vào loại tro và cặn dư này Tro và cặn dư thường là xỉ vàbột mịn và một phần nhỏ là các vật liệu đã cháy hoàn toàn hoặc cháy một phần.Trong thành phần cặn dư của các nhà máy đốt rác đô thị người ta cũng tìm thấythủy tinh, miểng sứ và nhiều dạng kim loại
o Chất thải xây dựng:
CTR của quá trình xây dựng và đập phá các công trình xây dựng mà tathường gọi là xà bần bao gồm bụi, đá, bê tông, gạch, gỗ, đường ống, các phụ kiệnđiện… luôn được sinh ra từ quá trình xây dựng nhà ở, các khu dân cư, sữa chữanhà và cao ốc
o Chất thải đặc biệt:
Chất thải đặc biệt được coi là các chất thải thu gom từ rác quét đường,bụi đường phố, bụi từ các thùng chứa công cộng, xà bần từ các hố thu, xác độngvật, xe ô tô phế thải… Vì rất khó dự đoán vị trí có động vật chết và xe ô tô bỏ đinên các chất thải này thường được coi là có nguồn gốc phân tán không đặc trưng
Trang 37o Chất thải nông nghiệp:
Các chất dư thừa thải ra từ các quá trình sản xuất nông nghiệp đa dạngnhư trồng, cấy và thu hoạch các vụ mùa và cây ăn trái, quá trình sản xuất sữa,chất thải từ các lò mổ súc vật
o Chất thải nguy hại:
Các chất thải hóa học, sinh học, chất cháy nổ, chất thải phóng xạ gâynguy hiểm thực sự và tức thời sau một thời gian tiếp xúc với người và sinh vật.Chất thải y tế không được thu gom hoặc thu gom không hoàn toàn và các chai lọchứa đựng thuốc BVTV đã qua sử dụng bị thải bỏ bừa bãi trên các mảnh ruộngcũng là loại chất thải nguy hại đáng kể tại địa phương
Bảng 9: Thành phần chất thải rắn trên địa bàn thị xã Gò Công
Giấy Sách, báo, tạp chí và các vật liệu giấy
khác
3.89
Kim loại Lon sắt, lon nhôm, hợp kim các loại 0.23
Nhựa Chai nhựa, bao nilon, các loại khác 6.37
Chất hữu cơ Thức ăn thừa, rau trái, các chất hữu cơ
khác
77.53
Các chất độc hại Pin, acqui, sơn, bệnh phẩm 0.06
Trang 38(Nguồn: Viện Kỹ T huật Nhiệt Đới và Bảo Vệ Môi Trường)
3.2 Hiện Trạng Quản Lý CTR Tại Thị Xã Gò Công
3.2.1 Đơn vị quản lý
Cơ quan tiến hành thu gom gồm có công lập là công ty Công trình Đô thịvà dân lập là UBND xã, phường
Công ty Công trình Đô thị có chức năng và nhiệm vụ tổ chức thực hiện cácloại hình công cộng và vệ sinh môi trường: thu gom và vận chuyển rác thải hằngngày, xử lý rác thải sinh hoạt, công nghiệp và y tế Toàn công ty có 55 lao độngtrong đó có 40 người là công nhân đội vệ sinh và hằng ngày thu gom rác ở các hộdân và quét rác trên các trục lộ giao thông công cộng khoảng 10 tấn; nạo vét hố
ga, quét cát vỉa hè là 10 người và lái xe chuyển rác lên xe cơ giới là 5 người
Ngoài đội ngũ của Công ty thì trên một số xã, phường như phường 2,phường 4, phường 5, xã Long Chánh, xã Long Thuân, xã Long Hoà đã hình thành
13 tổ thu gom rác dân lập Tổ thu gom rác dân lập sẽ thu gom rác ở những khuvực sâu bên trong khu dân cư hay ở các khu vực dân cư thưa thớt Thu gomkhoảng 5 -7 tấn
3.2.2 Trang thiết bị chuyên dùng
UBNDTXGC đã trang bị các phương tiện cần thiết cho lực lượng thu gom
Bảng 10: Loại, số lượng và dụng cụ lao động được cấp phát
BẢO HỘ LAO ĐỘNG:
Trang 394 Giày 2 đôi / người / năm
7 Áo phản quang 2 cái / người / năm
DỤNG CỤ:
(Nguồn: Công ty CTĐT thị xã Gò Công và khảo sát)
Các phương tiện dùng cho công tác thu gom và xử lý rác thải của Công tyCông trình Đô thị và của 3 phường, 3 xã có đội ngũ thu gom bao gồm:
- 04 xe ép rác trọng tải 5 tấn;
- 50 xe lấy rác loại 660l của công lập và 13 xe lấy rác của dân lập;
- 03 xe ba gác chở cát
Bảng 11: Phương tiện vận chuyển rác trên địa bàn thị xã
Tên Số lượng Tải trọng
(tấn) Biển số
(Nguồn: Công ty CTĐT thị xã và khảo sát)
3.2.3 Hình thức thu gom và vận chuyển
o Hình thức thu gom:
Hiện nay trên toàn thị xã có 11.932 hộ gia đình chỉ có 6.850 hộ hợp đồngthu gom rác ( dân lập thu gom 1.415 hộ còn công lập thu gom 5.435 hộ ) chiếm57,45 % và số hộ còn lại là tự xử lý Đối với rác công nghiệp thì được công nhânthu gom cùng với các hộ gia đình
Được chia làm 3 khu vực tiến hành thu gom:
Trang 40- Khu vực 1: Công ty Công trình Đô thị tổ chức thu gom trên các tuyến
đường trung tâm thị xã, các hộ gia đình ở các mặt tiền đường trên các trục lộchính, các chợ, một số công ty, một số cơ sở sản xuất, bệnh viện Đa khoa GòCông và một số trung tâm y tế, và một số hẻm của các phường gồm phường 1,một phần của phường 2, phường 3, một phần của phường 4 và một phần củaphường 5 và các cơ quan trung tâm thị xã, phương tiện thu gom và vận chuyển là
xe đẩy tay rồi tập kết tại điểm hẹn với khối lượng rác 20 tấn/ngày và hiệu suấtthu gom đạt 70 – 80 %
- Khu vực 2: Bao gồm xã Long Chánh, xã Long Thuận, xã Long Hoà và
phần còn lại của phường 2, phường 4, phường 5 do đội thu gom dân lập do UBNDphường, xã quản lý tiến hành thu gom và tập trung tại điểm tập kết với khốilượng 10 tấn/ ngàyvới hiệu suất thu gom đạt 20 - 30 %
Bảng 12: Đội ngũ công nhân thu gom
Phường Thời gian làm việc Số lượng nhân công
(Nguồn: Công ty CTĐT và khảo sát)
- Khu vực 3: Bao gồm xã Long Hưng và những vùng nằm trong hẻm
sâu, xa khu dân cư nên xe lấy rác vào không được nhưng hầu hết là tự xử lý Vàcó những hộ sống gần bãi rác Long Hưng sẽ tự đem đến đổ ở bãi rác