1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

KHU VỰC CÔNG VÀ TÀI CHÍNH CÔNG MỖI QUAN HỆ GIỮA HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG

95 384 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến thời điểm hiện tại, khu vực công nói chung và chính phủ nói riêng có vai trò như thế nào trong nền kinh tế vẫn là một trong những chủ đề gây ra nhiều tranh luận nhất trong các học thuyết kinh tế cổ điển và hiện đại. Chương này cung cấp một đánh giá tổng quan về lĩnh vực công, tài chính công và giải thích tại sao nó là lĩnh vực nghiên cứu quan trọng. Cụ thể: Khu vực công là gì ? khái niệm, đặc điểm và lý do để khu vực công tồn tại. Tài chính công và vai trò của chính phủ. Sự phát triển của tài chính công. Bản chất và chức năng tài chính công. II. NỘI DUNG CHƯƠNG 1 1.1 Khu vực công 1.1.1 Khái niệm khu vực công Trong đời sống hàng ngày, mỗi chúng ta đều rất cần đến những loại hàng hoá do khu vực công cung cấp như: y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng,… Vậy, khu vực công là gì? Từ khi nhà nước ra đời, nền kinh tế xã hội được chia thành hai khu vực: khu vực tư nhân và khu vực công ( khu vực nhà nước, khu vực chính phủ). Sự khác biệt giữa hai khu vực ở đây là gì? KV công là khu vực phản ánh hoạt động kinh tế chính trị, xã hội do nhà nước quyết định. KV tư là khu vực phản ánh các hoạt động do tư nhân quyết định. Như vậy, sự phân biệt giữa khu vực tư và khu vực công là hoàn toàn dựa vào tính chất sở hữu và quyền lực chính trị. Hiện nay, có 2 khái niệm về khu vực công: Khái niệm 1: khu vực công = khu vực nhà nước: mọi thứ, mọi sự đều được quyết định bởi nhà nước (gắn liền với Việt Nam). Ví dụ: ở Việt Nam các đơn vị thuộc khu vực công như quỹ tín dụng nhân dân, kho bạc nhà nước, ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân,... Khái niệm 2: Theo Joseph E. Stiglitz (nhà Kinh tế học người Mỹ, giáo sư Trường Đại học Columbia), một cơ quan hay đơn vị được xếp vào khu vực công khi có 2 đặc điểm sau: + Phương diện lãnh đạo: trong 1 chế độ dân chủ, những người chịu trách nhiệm lãnh đạo các cơ quan công lập đều được công chúng bầu ra hoặc được chỉ định (trực tiếp hoặc gián tiếp). Ví dụ: Quốc hội do nhân dân bầu ra sau đó Quốc hội lại chỉ định ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng,...  đặc điểm này hàm ý rằng, hoạt động của khu vực công phải phục vụ cho đại đa số lợi ích của cộng đồng tức là khu vực công là khu vực phi lợi nhuận. + Quyền lực hoạt động: các đơn vị trong khu vực công được giao 1 số quyền hạn nhất định có tính chất bắt buộc, cưỡng chế mà các cơ quan tư nhân không thể có được. Chẳng hạn, chính phủ có quyền buộc công chúng phải nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ quân sự,… Theo đó, có thể nêu ra 1 số hoạt động thuộc khu vực công sau đây: Hệ thống các cơ quan công quyền: + Hệ thống các cơ quan quyền lực của nhà nước gồm các cơ quan lập pháp (quốc hội), hành pháp (chính phủ), tư pháp (tòa án và viện kiểm sát). + Hệ thống quốc phòng và các cơ quan an ninh (thực chất đây cũng là 1 bộ phận của chính phủ làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và đảm bảo trật tự xã hội). + Hệ thống các đơn vị cung cấp dịch vụ công ( giáo dục, y tế, thể dục thể thao,…trong đó: giáo dục và y tế là 2 dịch vụ công phổ biến nhất) + Hệ thống các cơ quan cung cấp an sinh xã hội. Hệ thống các đơn vị kinh tế nhà nước: + Các doanh nghiệp nhà nước. + Các định chế tài chính trung gian. + Ngân hàng Nhà nước. + Các đơn vị được nhà nước cấp vốn hoạt động. 1.1.2 Khu vực công và những vấn đề kinh tế cơ bản (lý do tồn tại khu vực công) Chúng ta đã biết đến quy luật khan hiếm như sau: trên thế giới, một số quốc gia may mắn được sở hữu nhiều nguồn tài nguyên như dầu mỏ, kim loại quý hiếm hoặc với trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến mà những quốc gia này giàu có hơn nhiều so với quốc gia khác. Cũng tương tự như vậy đối với các cá nhân, nước nào cũng có người giàu, kẻ nghèo. Tuy nhiên, tất cả các quốc gia, các cá nhân đều nghèo trước nhu cầu của chính họ, đó chính là quy luật khan hiếm. HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI I. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Theo quy luật khan hiếm, nguồn lực của quốc gia là hữu hạn, vì vậy để phân phối có hiệu quả yêu cầu nền kinh tế phải chấp nhận thị trường cạnh tranh. Khi các điều kiện cần thiết không được thị trường đảm bảo thì đó chính là căn cứ để chính phủ can thiệp vào thị trường. Chương này trước hết đi vào nghiên cứu tối đa hoá thoả dụng trong điều kiện giới hạn nguồn lực làm nền tảng cho việc phân bổ nguồn lực và lựa chọn chính sách chi tiêu công; tiếp đến đi vào thảo luận các định lý phúc lợi xã hội làm căn cứ cơ bản cho sự hoạch định chính sách công của chính phủ. Cụ thể: Lựa chọn tối ưu trong điều kiện giới hạn nguồn lực Các định lý về hiệu quả xã hội của kinh tế học phúc lợi Thất bại thị trường trong phân bổ nguồn lực II. NỘI DUNG CHƯƠNG 2 2.1 Lựa chọn tối ưu trong điều kiện giới hạn nguồn lực Đây là vấn đề cơ bản của TCC. Nghiên cứu nó trước hết chúng ta sử dụng các công cụ lý thuyết để qua đó hiểu được cơ chế ra quyết định chính sách công. Đó là các công cụ đồ thị và mô hình toán học (các công cụ đồ thị như là đường cung, đường cầu, đường bàng quan, đường ngân sách,… và các mô hình toán). Sau đó, công cụ thực nghiệm cũng được thực hiện. Đây là những công cụ cho phép chúng ta phân tích dữ liệu và trả lời câu hỏi đặt ra từ phân tích lý thuyết. 2.1.1 Mở đầu: trước hết chúng ta trả lời 2 câu hỏi: Đâu là giá trị của cuộc sống ? (1) Yếu tố kinh tế và yếu tố phi kinh tế ? (2) 2.1.2 Quy luật sở thích Xét 1 người tiêu dùng hợp lý: tức là người tiêu dùng luôn xác định được sở thích của mình, thích nhiều hơn thích ít và sở thích có tính chất bắc cầu (thích A hơn thích B; thích B hơn thích C thì người đó thích A hơn thích C). Giả sử trong 1 xã hội gồm có 2 hàng hoá X (lương thực) và Y (quần áo) thì người tiêu dùng sẽ tiêu dùng 2 hàng hóa X và Y. Họ sẽ cho điểm các giỏ hàng hóa gồm X, Y khác nhau phụ thuộc vào mức độ thỏa mãn mà họ cảm nhận được (điểm càng lớn thì độ thỏa mãn càng cao). Lúc này, hàm thỏa dụng của người tiêu dùng sẽ có dạng: TU = f ( X, Y ) ( Hàm thoả dụng (TU): là 1 hàm số toán học phản ánh tập hợp sở thích của cá nhân; cá nhân thích nhiều hơn thích ít: X, Y tăng thì TU tăng) Hàm số này có đặc điểm sau: giả sử đây là hàm liên tục thì có đạo hàm riêng dTUdX > 0 và dTUdY > 0 Nếu, tất cả các giá trị X và Y làm cho hàm TU const ta có đường bàng quan. Hay đường bàng quan ( IC: indifference curve ) phản ánh tập hợp tất cả các nhóm tiêu dùng hàng hoá mà cá nhân có cùng mức thoả dụng. ( bàng quan: sao cũng được) Đường bàng quan có các tính chất sau: + Đây là các đường dốc xuống + Lồi về góc toạ độ + Đường bàng quan càng xa gốc toạ độ thì mức thoả dụng đạt được càng lớn. + Các đường bàng quan không cắt nhau Thoả dụng biên: (MU: marginal utility) là mức độ thoả mãn tăng thêm khi người ta tăng sử dụng 1 đơn vị hàng hoá. MU = TUQ MUX = TUX = dTUdX > 0 ; MUY = TUY = dTUdY > 0. Tuy nhiên, khi tiêu dùng càng nhiều một loại sản phẩm nào đó thì thoả dụng biên của sản phẩm về sau sẽ nhỏ hơn thoả dụng biên của các sản phẩm trước. Điều này là vì nhu cầu của con người đã được thoả mãn 1 phần do vậy mức độ thoả mãn thêm sẽ không còn như lúc đầu. Đây chính là quy luật thoả dụng biên giảm dần. Hay: dMUX dX2 < 0 ; dMUY dY2 < 0 Độ dốc của đường bàng quan Do đường bàng quan không phải là đường thẳng cho nên độ dốc của đường bàng quan không ổn định. Cho nên người ta tính độ dốc của đường bàng quan trên 1 đoạn AB nào đó (đoạn đủ nhỏ để xem như tuyến tính đường thẳng).

Trang 1

Chương 1 KHU VỰC CÔNG VÀ TÀI CHÍNH CÔNG

I MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Cho đến thời điểm hiện tại, khu vực công nói chung và chính phủ nói riêng có vai trò nhưthế nào trong nền kinh tế vẫn là một trong những chủ đề gây ra nhiều tranh luận nhất trong cáchọc thuyết kinh tế cổ điển và hiện đại Chương này cung cấp một đánh giá tổng quan về lĩnh vựccông, tài chính công và giải thích tại sao nó là lĩnh vực nghiên cứu quan trọng Cụ thể:

- Khu vực công là gì ? khái niệm, đặc điểm và lý do để khu vực công tồn tại

- Tài chính công và vai trò của chính phủ

- Sự phát triển của tài chính công

- Bản chất và chức năng tài chính công

II NỘI DUNG CHƯƠNG 1

1.1 Khu vực công

1.1.1 Khái niệm khu vực công

Trong đời sống hàng ngày, mỗi chúng ta đều rất cần đến những loại hàng hoá do khu vựccông cung cấp như: y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng,… Vậy, khu vực công là gì?

Từ khi nhà nước ra đời, nền kinh tế - xã hội được chia thành hai khu vực: khu vực tư nhân vàkhu vực công ( khu vực nhà nước, khu vực chính phủ)

Sự khác biệt giữa hai khu vực ở đây là gì?

- KV công là khu vực phản ánh hoạt động kinh tế chính trị, xã hội do nhà nước quyết định

- KV tư là khu vực phản ánh các hoạt động do tư nhân quyết định

Như vậy, sự phân biệt giữa khu vực tư và khu vực công là hoàn toàn dựa vào tính chất sở

hữu và quyền lực chính trị

* Hiện nay, có 2 khái niệm về khu vực công:

- Khái niệm 1: khu vực công = khu vực nhà nước: mọi thứ, mọi sự đều được quyết định bởinhà nước (gắn liền với Việt Nam)

Trang 2

Ví dụ: ở Việt Nam các đơn vị thuộc khu vực công như quỹ tín dụng nhân dân, kho bạc nhànước, ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân,

- Khái niệm 2: Theo Joseph E Stiglitz (nhà Kinh tế học người Mỹ, giáo sư Trường Đại họcColumbia), một cơ quan hay đơn vị được xếp vào khu vực công khi có 2 đặc điểm sau:

+ Phương diện lãnh đạo: trong 1 chế độ dân chủ, những người chịu trách nhiệm lãnh đạo các

cơ quan công lập đều được công chúng bầu ra hoặc được chỉ định (trực tiếp hoặc gián tiếp) Vídụ: Quốc hội do nhân dân bầu ra sau đó Quốc hội lại chỉ định ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủtướng,

 đặc điểm này hàm ý rằng, hoạt động của khu vực công phải phục vụ cho đại đa số lợi ích

của cộng đồng tức là khu vực công là khu vực phi lợi nhuận.

+ Quyền lực hoạt động: các đơn vị trong khu vực công được giao 1 số quyền hạn nhất định

có tính chất bắt buộc, cưỡng chế mà các cơ quan tư nhân không thể có được Chẳng hạn, chínhphủ có quyền buộc công chúng phải nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ quân sự,…

Theo đó, có thể nêu ra 1 số hoạt động thuộc khu vực công sau đây:

- Hệ thống các cơ quan công quyền:

+ Hệ thống các cơ quan quyền lực của nhà nước gồm các cơ quan lập pháp (quốc hội), hànhpháp (chính phủ), tư pháp (tòa án và viện kiểm sát)

+ Hệ thống quốc phòng và các cơ quan an ninh (thực chất đây cũng là 1 bộ phận của chínhphủ làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và đảm bảo trật tự xã hội)

+ Hệ thống các đơn vị cung cấp dịch vụ công ( giáo dục, y tế, thể dục thể thao,…trong đó:giáo dục và y tế là 2 dịch vụ công phổ biến nhất)

+ Hệ thống các cơ quan cung cấp an sinh xã hội

- Hệ thống các đơn vị kinh tế nhà nước:

+ Các doanh nghiệp nhà nước.

+ Các định chế tài chính trung gian

+ Ngân hàng Nhà nước

+ Các đơn vị được nhà nước cấp vốn hoạt động

1.1.2 Khu vực công và những vấn đề kinh tế cơ bản (lý do tồn tại khu vực công)

Trang 3

Chúng ta đã biết đến quy luật khan hiếm như sau: trên thế giới, một số quốc gia may mắnđược sở hữu nhiều nguồn tài nguyên như dầu mỏ, kim loại quý hiếm hoặc với trình độ công nghệ

và quản lý tiên tiến mà những quốc gia này giàu có hơn nhiều so với quốc gia khác Cũng tương

tự như vậy đối với các cá nhân, nước nào cũng có người giàu, kẻ nghèo Tuy nhiên, tất cả cácquốc gia, các cá nhân đều "nghèo" trước nhu cầu của chính họ, đó chính là quy luật khan hiếm

Quy luật khan hiếm là mâu thuẫn giữa nhu cầu vô hạn và nguồn lực hữu hạn của mỗi quốc gia, mỗi cá nhân.

Mặc dù sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã nâng cao tính hiệu quả của việc sử dụngnguồn lực lên nhiều lần nhưng quy luật khan hiếm vẫn tồn tại vì nhu cầu mới luôn nảy sinh, haynói cách khác là nhu cầu không có giới hạn và không có điểm dừng

Chính sự luôn tồn tại của quy luật khan hiếm ở mọi quốc gia, mọi chế độ chính trị mà kinh tếhọc đã chỉ ra các vấn đề cơ bản mà nền kinh tế phải giải quyết để phân bổ tối ưu nguồn lực khanhiếm của mình, đó là:

- Sản xuất cái gì ? Với số lượng bao nhiêu ?

- Sản xuất như thế nào ?

- Sản xuất cho ai ?

Như mọi lĩnh vực của kinh tế học, khu vực công cũng liên quan trực tiếp đến việc giải quyếtcác vấn đề cơ bản trên trong quá trình phân bổ nguồn lực công Phân bổ nguồn lực của khu vựccông liên quan đến sự lựa chọn công, vai trò của Chính phủ và cách thức can thiệp của Chính phủvào nền kinh tế Trong khi đó, phân phối của khu vực tư hoàn toàn chịu sự chi phối của cơ chế thịtrường Cơ chế thị trường với quy luật khan hiếm, quy luật cung cầu, quy luật giá trị,…yêu cầu sựphân bổ nguồn lực tối ưu là phải: “ tối đa hoá lợi nhuận” Dù là vậy, cơ chế thị trường cũng khôngthể chi phối hết mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội Có những hoạt động không thể lấy sự tối đahoá lợi nhuận làm mục tiêu phân bổ, chẳng hạn như công bằng và ổn định nền kinh tế Trongtrường hợp này cần phải áp dụng cơ chế phi thị trường để điều tiết cách thức phân bổ, khắc phụcnhững thất bại của thị trường

Như vậy đối với khu vực công khi nghiên cứu giải quyết các vấn đề cơ bản của kinh tế họctrong phân bổ nguồn lực cần chú ý đến các vấn đề cơ bản sau:

- Xác định các hoạt động mà khu vực công có thể tham gia và cách thức tổ chức các hoạtđộng đó

Trang 4

- Dự đoán và tiên liệu các tác động hay hậu quả mà các hoạt động kinh tế của Chính phủ cóthể gây ra cho nền kinh tế và khu vực tư nhân.

- Đánh giá các kịch bản của chính sách công Có thể dựa vào phương pháp thực chứng hayphương pháp chuẩn tắc

1.2 Tài chính công và vai trò của Chính phủ

1.2.1 Khái niệm tài chính công

Khái niệm TCC có quan hệ chặt chẽ với khu vực công và được sử dụng để đối lập với kháiniệm tài chính tư

Thật vậy, nhìn lại lịch sử phát triển của phạm trù Tài chính có thể thấy, khi nhà nước xuấthiện thì đồng thời cũng xuất hiện các khoản chi tiêu về quản lý hành chính, tư pháp, quốc phòngnhằm duy trì quyền lực chính trị của nhà nước và những khoản chi tiêu này được tài trợ từ cácnguồn tài chính đóng góp của xã hội như: thuế, công trái,…Từ đây, phạm trù TCC đã bắt đầu xuấthiện như là 1 khái niệm để phản ánh những hoạt động tài chính gắn liền với chủ thể nhà nước.Theo dòng thời gian, sự tiếp cận khái niệm TCC cũng có sự khác nhau giữa các nhà kinh tế, sở dĩnhư vậy, là vì bối cảnh kinh tế xã hội đã làm thay đổi quan niệm về vai trò của nhà nước

Quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển (Adam Smith: cha đẻ của kinh tế thị trường) cho

rằng: TCC là khoa học nghiên cứu sự tài trợ cho các khoản chi tiêu công.

Trong bối cảnh kinh tế hiện đại, Giáo sư Harvey Rosen cho rằng TCC là “ lĩnh vực kinh tế

học phân tích thuế và chính sách chi tiêu của chính phủ” Với cách tiếp cận này, TCC không

những là khoa học nghiên cứu việc sử dụng các công cụ tài chính để tài trợ chi tiêu công, mà cònphân tích các chính sách thu công, chi tiêu công nhằm mục đích thực hiện vai trò can thiệp củachính phủ vào nền kinh tế (đây là quan điểm tổng quát hơn)

Theo các nhà kinh tế Pháp (Francoi Adam- Oliver ferrand- Rémy Rioux), TCC là lĩnh vựcnghiên cứu quản lý tài chính của các tổ chức công quyền

Như vậy, cho dù có những cách tiếp cận khác nhau, nhưng điểm chung của các nhà kinh tế

khi định nghĩa phạm trù này là: TCC là một nhánh của kinh tế học nghiên cứu vai trò của chính

phủ thông qua phân tích tác động thu, chi ngân sách đến các hoạt động kinh tế xã hội Hay nói

cách khác, TCC cũng được hiểu như kinh tế học của khu vực công hay kinh tế công, chủ yếu đềcập đến các hoạt động thu thuế và chi tiêu của chính phủ và những ảnh hưởng của nó trong việcphân bổ các nguồn lực và phân phối thu nhập

1.2.2 Vai trò của Chính phủ ( phạm vi ảnh hưởng của TCC)

Trang 5

Quá trình phát triển và hoàn thiện chức năng của nhà nước gắn liền với sự phát triển của xãhội từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn, tự do cạnh tranh đến thị trường hiện đại.

Trong nền kinh tế hàng hoá giản đơn và kinh tế thị trường tự do cạnh tranh thì nhà nước chỉ

có chức năng cai trị với những hoạt động cơ bản: quản lý hành chính, trật tự xã hội, an ninh quốcphòng Các hoạt động kinh tế nằm ngoài chức năng của nhà nước Quy mô kinh tế lúc bấy giờ cònnhỏ bé và chịu sự chi phối hoàn toàn bởi cơ chế tự điều tiết của thị trường (đại diện của tư tưởngnày là W Petty, F Quesnay, nổi bật là A Smith với lý thuyết “bàn tay vô hình”)

Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XX tư tưởng tự do hoá kinh tế mất dần chỗ đứng và thay vào đó

là một quan điểm mới: nền kinh tế cần có sự can thiệp của nhà nước, nhà nước phải trở thành 1chủ thể kinh tế và phải có vai trò tích cực hơn Sở dĩ như vậy là do trong thực tiễn, hàng loạt sựkiện cho thấy nền kinh tế tự do cạnh tranh mất dần tính ổn định tự thân của nó: khủng hoảng kinh

tế mang tính chu kỳ, thất nghiệp lạm phát đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực đối với nền kinh tế

tư bản, đặc biệt cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 là dấu hiệu rõ nét cho thấy kinh tếthị trường tự do với cơ chế tự điều chỉnh của nó không còn đủ để duy trì sự phát triển ổn định nềnkinh tế Theo Keynes, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp là do thiếu sự can thiệp của nhà nước.Trong tác phẩm kinh tế học của mình, Samuelson cũng khẳng định nền kinh tế vận hànhtheo cơ chế thị trường nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì giống như chỉ vỗ tay bằng 1bàn tay Nhà nước trong giai đoạn hiện đại có nhiều chức năng với nhiều sứ mệnh khác nhau Lúcnày nhà nước không chỉ là một hệ thống cai trị với các cơ quan quản lý hành chính và an ninh màcòn là một hệ thống phục vụ, một hệ thống điều chỉnh chủ động và có quyền lực tồn tại bên cạnh

cơ chế thị trường để khắc phục những khiếm khuyết của thị trường Đây là mô hình kinh tế hỗnhợp: chính phủ - khu vực công và khu vực tư

* Trong thực tiễn, tuy cùng là mô hình kinh tế hỗn hợp nhưng vai trò của chính phủ ở mỗinền kinh tế trong mỗi giai đoạn có khác nhau Nhìn chung, có thể khái quát sự thay đổi vai trò củachính phủ từ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 cho đến nay như sau:

- Giai đoạn 1950-1970

Từ sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, các nền kinh tế đều cho rằng chính phủ đóng 1 vaitrò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội  thiết lập chính sách phát triển kinh tế theo

mô hình hướng nội.

+ Chính phủ quyết định phân bổ mọi nguồn lực trong xã hội thông qua các chương trình kếhoạch hoá sản xuất kinh doanh

Trang 6

+ Khu vực doanh nghiệp nhà nước ngày càng bành trướng trong hệ thống kinh tế và lấn áthoạt động kinh doanh của khu vực tư.

Liên hệ Việt Nam: trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ba vấn đề cơ bản của tổ chứckinh tế được hoạch định từ một trung tâm chỉ huy thống nhất, đó là ủy ban kế hoạch nhà nước cáccấp Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm gì, số lượng bao nhiêu là theo chỉ tiêu mệnh lệnh từ cấptrên, các yếu tố đầu vào cho sản xuất được cấp phát theo định mức và sản phẩm làm ra phải giaonộp theo địa chỉ xác định Nói cách khác, ba vấn đề cơ bản được giải quyết bởi "bàn tay hữu hình"của chính phủ

Tuy nhiên, xét về kết quả thì mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung không mang lại thànhquả đáng khích lệ, nền kinh tế mất cân đối, thiếu hụt ngoại tệ, công nghiệp què quặt, mà nguyênnhân thất bại là do:

+ Hiệu quả về kinh tế kém do các áp đặt có tính chất chính trị gây ra

+ Thiếu thông tin về thị trường và các tác động của chính sách vĩ mô

+ Năng lực giám sát đối với các phản ứng của khu vực tư…

- Giai đoạn 1970-1990

Từ thực tiễn các cuộc khủng hoảng dầu lửa vào những năm 1972, 1979: giá dầu leo thang đãkhiến thâm hụt thương mại ở các nước đang phát triển ngày càng lớn, họ cần một khoản tiền vaylớn từ bên ngoài để bù đắp, với việc các quốc gia đi vay để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong khigiá dầu ở mức cao đã dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ ở nhiều nước 1982; ngoài ra quan điểm vềvai trò của chính phủ đã có những thay đổi nhất định ở các nền kinh tế thị trường theo hướng:

giảm bớt sự can thiệp của chính phủ, thu hẹp khu vực công, đồng thời đẩy mạnh các chính sách

tự do hoá kinh tế và tài chính phù hợp với xu hướng hội nhập toàn cầu Mô hình này có những

tác động nhất định trong việc khuyến khích khu vực tư phát triển, theo đó các nguồn lực trong nềnkinh tế được khai thác, sử dụng và phân bổ có hiệu quả hơn Thế nhưng, chính sự thu hẹp khu vựccông đã làm giảm sút việc cung cấp các hàng hoá công thiết yếu cho người nghèo, kéo theo là giatăng bất bình đẳng trong xã hội về phân phối thu nhập

- Giai đoạn từ 1990 đến nay

Trong bối cảnh toàn cầu hoá diễn ra với tốc độ nhanh, thêm vào đó là các cuộc khủng hoảngtài chính- tiền tệ liên tiếp xảy ra ở những nền kinh tế mới nổi Châu Á trong các năm giữa thập kỷ

90 đã dấy lên làn sóng chỉ trích sự yếu kém về vai trò điều tiết vĩ mô của chính phủ Nhiều nhàkinh tế cho rằng sự tác động giữa lực lượng thị trường và chính phủ không chỉ đơn thuần là vấn

Trang 7

đề can thiệp và sự tự do của khu vực tư, mà cả 2 khu vực đều có vai trò quan trọng như nhau

trong quá trình phát triển kinh tế Khu vực tư có tính năng động của nó trong cung cấp hàng hoá,dịch vụ cho xã hội, thì chính phủ phải có vai trò khắc phục thất bại của thị trường, tạo điều kiệncho hoạt động kinh doanh của khu vực tư phát triển, đảm bảo tái phân phối và cung cấp nhữngdịch vụ công cần thiết cho người nghèo

1.2.3 Tài chính công - những vấn đề lớn

Liên quan đến vai trò của chính phủ, nghiên cứu TCC phải trả lời 4 câu hỏi lớn sau:

+ Khi thị trường thất bại Ví dụ: hàng ngày bạn đi trên những con đường và không phải trảtiền tư nhân sẽ không làm đường, có cầu và không có cung, thị trường thất bại chính phủ sẽlàm đường

+ Tái phân phối thu nhập: theo nguyên tắc phân bổ nguồn lực từ nhóm người mà xã hội cho

là "quá tốt" đến nhóm người mà xã hội cho là "không đủ tốt" Ví dụ: một người tạo ra thu nhập 20triệu đồng/ tháng và một người tạo ra 500 ngàn đồng/ tháng, chẳng hạn chính phủ lấy đi của người

có thu nhập cao 1 triệu đồng/ tháng (bằng cách đánh thuế) và đem số tiền đó trợ cấp cho người cóthu nhập thấp, lúc này phần lợi ích mà người giàu giảm đi là không đáng kể so với phần lợi ích

mà người nghèo nhận được  điều này khiến xã hội công bằng hơn

- Chính phủ can thiệp như thế nào? (đây là câu hỏi chuẩn tắc) Chính phủ can thiệp vào thị

trường bằng 2 cách:

+ Can thiệp trực tiếp: quy định mức giá cụ thể đối với sản phẩm và dịch vụ độc quyền nhưgiá điện, nước, quy định giá trần (giá tối đa) như giá thuê nhà tối đa, lãi suất tối đa, giá sàn (giátối thiểu) như tiền lương tối thiểu, giá nông sản tối thiểu để bảo hộ sản xuất nông nghiệp,

+ Can thiệp gián tiếp: đánh thuế, trợ giá,

- Tác động của sự can thiệp là gì? Bao gồm tác động trực tiếp và tác động gián tiếp.

Ví dụ: Để hạn chế tình trạng ùn tắc trong điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông nước ta chưaphát triển Chính phủ đánh thuế rất cao vào mặt hàng ôtô Điều này dẫn đến tác động trực tiếp:chính phủ có thêm nguồn thu, giá ôtô cao hơn, người dân ít mua ôtô hơn, tình trạng giao thôngđược cải thiện; tác động gián tiếp là: kìm hãm sự phát triển của công nghiệp sản xuất ôtô trongnước, giảm ô nhiễm môi trường,

- Tại sao lại lựa chọn như vậy ? bản chất chính trị của sự lựa chọn.

Trang 8

Trên thực tế, chính phủ thường gặp phải khó khăn rất lớn trong việc tổng hợp sở thích củacông chúng để ra các quyết định chính sách hợp lý Chính vì thế đã nảy sinh là câu hỏi thứ 4 (đây

là câu hỏi thực chứng), theo đó 1 quyết định được chính phủ đưa ra phải thỏa mãn 2 điều kiện:Chính trị: được lòng dân chúng, tức là phản ánh được nguyện vọng của đại đa số nhân dân; Kinhtế: chi phí tối thiểu

Ví dụ:

Bảo hiểm y tế: Ở Mỹ, chủ yếu do khu vực tư đảm trách, ở Anh cung cấp chăm sóc y tế miễnphí

1.3 Sự phát triển tài chính công

Bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế xã hội, hơn một thế kỷ qua, tài chính công đã có nhiềubiến đổi đáng kể Sự biến đổi này diễn ra trên 2 phương diện: quan điểm và nhận thức về tài chínhcông; cơ chế vận hành của tài chính công Chúng ta có thể chia tiến trình phát triển của tài chínhcông thành 2 giai đoạn:

1.3.1 Tài chính công cổ điển

Đây là thuật ngữ dùng để phản ánh hoạt động của tài chính công gắn liền với bối cảnh kinh

tế - xã hội cuối thế kỷ 19 trở về trước.Trong các nền kinh tế tự cung tự cấp, kinh tế hàng hoá giảnđơn và kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, chức năng cơ bản của nhà nước là thực hiện các nhiệm

vụ truyền thống như: cảnh sát, tư pháp, quốc phòng và ngoại giao Còn các hoạt động kinh tế thì

để mặc cho khu vực tư nhân quyết định, nhà nước không can thiệp hay nói khác đi là nhà nướcđứng ngoài các hoạt động kinh tế

* Những đặc trưng cơ bản của tài chính công cổ điển:

- TCC có tính trung lập: thể hiện

+ TCC không can thiệp, không gây ảnh hưởng đối với các hoạt động kinh tế, không làm thayđổi thực trạng kinh tế Nói khác đi, mọi khoản thu chi của nhà nước không theo đuổi bất kỳ mụcđích kinh tế- xã hội nào

Thuế và các khoản thu công chỉ thực hiện mục đích cơ bản là tạo nguồn thu cho nhà nước.Khi đặt ra 1 sắc thuế thì mối quan tâm hàng đầu của nhà nước là hiệu quả của nó đối với quỹ ngânsách Thuế phải đơn giản, dễ thu để tập trung được nhiều nguồn lực nhất cho nhà nước Chi tiêucông chỉ có 1 đối tượng duy nhất là đáp ứng nhu cầu tài chính của nhà nước, không có mục đíchcan thiệp vào đời sống kinh tế xã hội

Trang 9

+ Tính độc lập của TCC Thật ra thời bấy giờ, lý thuyết kế hoạch hoá nền kinh tế chưa đượchình thành do vậy các nhà hoạch định chính sách TCC không quan tâm đến việc gắn kết giữa kếhoạch ngân sách với kế hoạch kinh tế; giữa kế hoạch ngân sách với chu kỳ kinh kế Hiểu cáchkhác, kế hoạch TCC được lập trong khuôn khổ ngắn hạn 1 năm và hoàn toàn chỉ chú trọng đếnkhía cạnh tài chính chứ không bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế - xã hội

Nguyên tắc quan trọng nhất của tài chính cổ điển là phải thăng bằng thu chi Nguyên tổngthống Pháp, ông G Doumergue, trong bài diễn văn đọc năm 1934 đã nói:" Người đàn bà nội trợ

đi chợ không được tiêu quá số tiền có trong túi Nhà nước cũng trong tình trạng y hệt: không đượcchi tiêu quá số thu" Điều này hàm ý: nhà nước chỉ được phép chi tiêu trong phạm vi số thu thuế

và chỉ được khai thác nguồn thu thuế để trang trải chi tiêu; số thu thuế cũng không được lớn hơn

số chi của NSNN

- Thuế là nguồn thu quan trọng nhất của TCC: để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước,

TCC sử dụng các nguồn thu cơ bản sau:

+ Thu nhập từ việc nhà nước cho khu vực tư thuê công sản ( nhà, đất) Ở thời kỳ đầu củaphương thức sản xuất phong kiến, thu nhập từ cho thuê công sản là nguồn thu quan trọng để nhànước tài trợ cho bộ máy hành chính Trong khi đó, thuế là nguồn thu không ổn định, chỉ để đápứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên của nhà nước Nhưng đến thế kỷ 18, với việc gia tăng chi tiêucông và sự suy giảm về công sản mà nhà nước sở hữu, nên nguồn thu nhập từ cho thuê công sảnngày càng giảm dần trong tổng số thu của nhà nước

Ví dụ: Việt Nam đã cho Nga thuê cảng quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa) từ 1978 với thờihạn thuê là 25 năm Hết 25 năm Việt Nam tiếp tục cho Nga thuê 200 triệu $/ năm  Nga rút đi từnăm 2004 và hiện nay nơi đây được sử dụng làm cơ sở dân sự

+ Nguồn thu từ công trái Nhà nước có thể đi vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu công Họcthuyết về công trái của TCC cổ điển lập luận rằng:

 Công trái là hình thức thu có tính liên thế hệ - khoản thu trong hiện tại nhưng thế hệ tươnglai phải trả Nghĩa là qua việc sử dụng công trái, nhà nước đã chuyển gánh nặng chi tiêu trong thế

hệ hiện tại sang thế hệ tương lai

 Công trái là một khoản thuế thu trước Nhà nước đi vay, tất nhiên là phải trả nợ sau 1 kỳhạn nhất định Nguồn để nhà nước trả lãi cho chủ nợ chủ yếu là lấy từ thuế

Từ lập luận trên, học thuyết kinh tế cổ điển cho rằng, công trái không phải là công cụ lâu dài

để tài trợ các khoản chi tiêu công mà chỉ là công cụ tạm thời

Trang 10

+ Nguồn thu từ thuế Vì những hạn chế của những nguồn thu trên, kinh tế học cổ điển chorằng, thuế là công cụ tài chính chủ yếu để tạo nguồn thu cho nhà nước Thuế là nguồn thu có tínhcưỡng chế và không hoàn lại Bằng quyền lực của mình, nhà nước quy định bắt buộc mọi ngườidân phải có nghĩa vụ nộp thuế.

Nói tóm lại, TCC cổ điển, theo các nhà kinh tế, là môn khoa học nghiên cứu những công cụ

tài chính mà nhà nước sử dụng để tạo lập nguồn lực qua đó tài trợ cho chi tiêu công Công cụ

NSNN được thiết lập là nhằm mục đích ấn định con số chi tiêu công trong 1 năm mà nhà nướcphải tìm kiếm nguồn thu để tài trợ Đồng thời, NSNN đưa ra những nguyên tắc về kế toán để theodõi chi tiết và chặt chẽ các khoản chi tiêu công, tránh được sự phí phạm nguồn lực TCC để saocho chi tiêu công của nhà nước được hợp pháp và có thể được tài trợ bằng những nguồn thu ổnđịnh

1.3.2 Tài chính công hiện đại

TCC hiện đại phát triển gắn liền với bối cảnh kinh tế xã hội:

• Nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường có sự can thiệp của nhà nước

• Hệ thống tiền tệ không ổn định

• Nền kinh tế phát triển theo xu hướng quốc tế hóa

Trong bối cảnh đó, TCC hiện đại có những đặc trưng sau:

- Quy mô TCC có xu hướng ngày càng tăng so với GDP

Nếu như trước những năm 1914, tỷ lệ chi tiêu công ở hầu hết các nước tư bản là vào khoảng10% so với GDP thì sau chiến tranh thế giới thứ 1 tỷ lệ này đã tăng nhanh Ở Pháp, năm 1958 chitiêu công chiếm 33%GDP; Mỹ la 33%; Anh 32%,…

Sự gia tăng quy mô chi tiêu công làm cho chính phủ gặp nhiều khó khăn trong việc kiểmsoát thâm hụt ngân sách Đây là lý do giải thích tại sao chính phủ phải đẩy mạnh chính sách phitập trung hoá tài chính giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương nhằm giảm bớtgánh nặng chi tiêu Theo đó, quyền lực của chính quyền địa phương được lớn dần và có nhiềuquyền hơn trong quyết định ngân sách

-Tính phi trung lập của TCC

Với những vấn đề kinh tế xã hội xảy ra sau cuộc chiến tranh thế giới thứ 1, nhà nước khôngthể đứng ngoài các hoạt động kinh tế mà phải tham gia để khắc phục những khuyết tật của cơ chếthị trường tự do cạnh tranh nhằm bằng phẳng hoá chu kỳ kinh tế, đảm bảo nền kinh tế phát triển

Trang 11

ổn định Sự can thiệp của nhà nước được thực hiện thông qua hệ thống luật pháp và các công cụkinh tế.

Trong bối cảnh đó, TCC không những là công cụ để nhà nước huy động các nguồn lực của

xã hội để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước mà còn là công cụ để nhà nước can thiệp vàocác hoạt động kinh tế xã hội

+ Về phương diện kinh tế, bằng việc thực hiện chính sách thuế có phân biệt ưu đãi đối với

các loại hàng hoá, ngành nghề, các địa phương để điều chỉnh cơ cấu kinh tế, ổn định giá cả thịtrường, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển cân đối Đồng thời, thông qua các khoản chi tiêucông nhà nước tiến hành trợ cấp và chia sẽ rủi ro với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong cáclĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh

+ Về phương diện xã hội, nhà nước thực hiện phối hợp chính sách thuế và chính sách chi

tiêu công để điều tiết và phân phối thu nhập công bằng giữa các đối tượng trong xã hội

+ Về phương diện quản lý, TCC hiện đại không nhất thiết luôn phải có sự cân bằng thu chi,

mà có thể hy sinh sự cân bằng này để góp phần điều chỉnh nền kinh tế vận hành theo định hướngcủa nhà nước Theo đó, khuôn khổ quản lý thu chi ngân sách không bị giới hạn trong 1 năm màphải gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế trung và dài hạn

- TCC sử dụng nhiều công cụ khác nhau để tạo lập nguồn thu cho nhà nước, do quy mô chi

tiêu công ngày càng tăng nên nhà nước sử dụng nhiều công cụ để tạo lập nguồn lực tài chính.Thuế không còn là công cụ duy nhất như trong thời kỳ tài chính cổ điển Bên cạnh thuế nhà nướcthường xuyên sử dụng công cụ công trái

- Cải cách TCC không còn xuất phát từ quan điểm của từng quốc gia riêng rẽ mà phải tính đến những yêu cầu của quá trình toàn cầu hoá Sự hội nhập yêu cầu các quốc gia phải cải cách và

tổ chức lại thể chế TCC ngày càng phải đạt được quy chuẩn của quốc tế về chính sách thuế, chínhsách quản lý nợ quốc gia; chi tiêu công phải hướng đến kết quả - đầu ra nhằm nâng cao hiệu quảcủa khu vực công; kế toán và sự minh bạch thông tin về NSNN Hơn nữa, hội nhập sẽ tạo điềukiện cho nền kinh tế dễ dàng tiếp cận và khai thác các khoản vay trên thị trường tài chính quốc tế,nhưng cũng chính điều này đặt ra cho TCC của quốc gia phải gánh chịu nhiều rủi ro không chỉbao gồm các khoản nợ trực tiếp, rõ ràng mà còn cả các khoản nợ bất thường ngầm định

1.4 Bản chất và chức năng của tài chính công

1.4.1 Bản chất TCC

Trang 12

TCC phản ánh tổng thể mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội trong quá trình phân

phối các nguồn lực tài chính Bản chất kinh tế của TCC bắt nguồn từ sự quan tâm của chính phủ

đến quy mô chiếc bánh kinh tế Hoạt động thu, chi của chính phủ phải hướng đến sao cho tối đahoá hiệu quả của nền kinh tế

Xét về hiện tượng, TCC phản ánh hoạt động thu chi bằng tiền của nhà nước Nhưng đằng

sau hiện tượng đó là ẩn dấu mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa nhà nước với xã hội trong quan hệ phân phối nguồn lực tài chính, biểu hiện là : mâu thuẫn giữa khả năng đóng góp nguồn lực tài

chính của xã hội với nhu cầu chi tiêu của nhà nước Trong 1 nền kinh tế, nguồn lực tài chính luôn

có sự giới hạn nhất định về quy mô và khả năng tạo lập Điều này có nghĩa là, khu vực tư cũngkhông có nhiều khả năng để cung cấp nguồn lực tài chính dồi dào cho nhà nước Bản thân khuvực này luôn cần có nguồn lực tài chính ở quy mô nhất định để trang trải cho các nhu cầu thườngxuyên và đầu tư Vả lại, đây là những nhu cầu rất cần thiết để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế Chính

vì vậy, trong chính sách huy động nguồn lực của mình, nhà nước cần chú trọng sử dụng các công

cụ tài chính công ở chừng mực sao cho tạo lập nguồn lực tài chính với quy mô thích hợp trong sựcân bằng về lợi ích kinh tế với khu vực tư để nhằm tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế phát triển.Nếu vì nhu cầu chi tiêu công ngày càng tăng, nhà nước lại thực hiện chính sách tập trung cao độnguồn lực tài chính của xã hội, thì điều này không những làm triệt tiêu động lực kinh tế của khuvực tư mà còn tăng thêm gánh nặng cho xã hội Cũng cần thấy rằng, việc khu vực tư đóng nộpthuế cho nhà nước thể hiện 1 sự hy sinh 1 phần thu nhập của họ trong tiêu dùng hay đầu tư Vìvậy, chi tiêu công và sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế cần phải tạo ra những lợi ích nhấtđịnh hay ít ra là phải đủ bù đắp lại sự hy sinh của khu vực này

Nguồn gốc xa xưa của TCC đã gắn bó chặt chẽ với quyền lực chính trị của nhà nước Thực

tiễn hệ thống chính trị là yếu tố cơ bản và chi phối toàn bộ hoạt động của TCC TCC không thểvận hành bên ngoài khuôn khổ chính trị, vì không có chính trị thì không thể nào thoã mãn đượccác mục tiêu có tính xã hội Nói khác đi, với quyền lực chính trị của mình giúp cho chính phủ cóđược nguồn lực TCC, qua đó trang trải các nhu cầu chi tiêu công nhằm đảm bảo thực hiện cácmục tiêu xã hội

TCC thuộc sở hữu nhà nước và là công cụ để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội mà nhànước đảm nhận, trong đó tái phân phối và đảm bảo công bằng là nhiệm vụ trọng tâm Trong nềnkinh tế hiện đại, các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của nhà nước trong từng giai đoạn phát triển đượcquyết định bởi cơ quan quyền lực cao nhất đó là quốc hội Quốc hội là chủ thể duy nhất quyếtđịnh chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ các

Trang 13

khoản thu chi của TCC tương ứng với các nhiệm vụ của nhà nước theo chiến lược đã hoạch địnhnhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả nhất các nhiệm vụ đó.

Như vậy, chính trị là nền tảng tổ chức các mặt hoạt động của xã hội, cho nên khi nghiên cứuTCC phải chú trọng mối quan hệ chặt chẽ với toàn bộ hệ thống quyền lực chính trị của quốc gia

1.4.2 Chức năng của TCC

TCC có các chức năng sau đây:

1.4.2.1 Chức năng huy động nguồn lực tài chính

Sự tồn tại khu vực công đòi hỏi cần phải có 1 nguồn lực tài chính tương ứng nhằm trang trảicác nhu cầu chi tiêu và phát triển của khu vực này Do vậy, TCC phải có chức năng tổ chức huyđộng nguồn lực

Thực hiện chức năng này, nhà nước thiết lập hệ thống các công cụ tài chính với nhiều hìnhthức huy động khác nhau: huy động cưỡng chế, huy động tự nguyện,… từ các chủ thể kinh tế - xãhội để tập trung nguồn lực tài chính tài trợ cho nhu cầu chi tiêu công

Huy động nguồn lực của TCC phải đặt trên nền tảng:

- Đánh giá tiềm năng nguồn lực tài chính trong nền kinh tế

- Tính toán nhu cầu chi tiêu công và quan hệ giữa chính sách thu công với các biến số vĩ mô(lạm phát, tăng trưởng kinh tế, việc làm, )

- Lựa chọn công cụ phù hợp (thuế, phí, lệ phí, vay nợ, )

- Đánh giá hiệu quả chính sách huy động nguồn lực

Tuy nhiên, chính sách huy động nguồn lực của TCC có sự giới hạn về quy mô, bởi lẽ: thuếchỉ có thể tăng khi GDP tăng, ngược lại nếu GDP không tăng thuế tăng sẽ làm giảm tăng trưởng,tác động làm lấn áp đầu tư tư nhân

1.4.2.2 Chức năng phân bổ nguồn lực tài chính

Chức năng phân bổ nguồn lực của TCC thể hiện qua việc sắp xếp, lựa chọn và đánh đổi giữacác nhu cầu chi tiêu công của nhà nước trong sự giới hạn của nguồn lực TCC để hướng vào thựchiện theo những ưu tiên chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đã được hoạch định

Về mặt kỹ thuật, chức năng phân bổ nguồn lực của TCC thể hiện qua việc lập kế hoạch vàchiến lược chi tiêu Kế hoạch này gồm 2 phần:

+ Quyết định phân bổ cơ bản ( mục tiêu cơ bản)

Trang 14

Nguồn lực tài chính công

Nguồn lực tài chính của khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình

Các quỹ tiền tệ chuyên dùng của tài chính công

Hàng hoá, dịch vụ công Huy động

Phân bổ

Chi tiêu công

+ Xác lập các khoản mục theo thứ tự ưu tiên trong sự so sánh với các nguồn lực sẵn có

1.4.2.3 Chức năng tái phân phối thu nhập

Chức năng này của TCC được hiểu như sau:

Tái phân phối = phân phối lại thông qua:

(i) thu thuế từ các chủ thể trong xã hội;

(ii) thực hiện phân bổ và chuyển giao nguồn thu này trở lại cho xã hội

Cơ chế chuyển giao:

- Cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cho mọi đối tượng trong xã hội Cơ chế này không phânbiệt đối tượng là có nộp hay không nộp thuế mà mọi đối tượng trong xã hội đều có cơ hội nhưnhau trong việc thụ hưởng những lợi ích từ hàng hoá công do nhà nước cung cấp

- Hỗ trợ để ổn định giá cả của những mặt hàng thiết yếu trong đời sống kinh tế - xã hội

- Hỗ trợ trực tiếp cho 1 số đối tượng được sàng lọc qua các chương trình chi tiêu Ví dụ: cácchương trình tín dụng chỉ định của nhà nước, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em,…

Trang 15

Nhóm người có thu nhập trung bình

Nhóm người có thu nhập thấp và nghèo

Thu thuế Quỹ ngân sách

Nhóm người có thu nhập cao

Chức năng tái phân phối thu nhập của TCC hướng đến mục tiêu là công bằng xã hội Tuyvậy, hiệu ứng của chức năng này có những giới hạn nhất định bởi lẽ:

- Trong 1 xã hội mà dân cư có thu nhập trung bình và thấp chiếm đại bộ phận thì không gây

ra hiệu ứng tái phân phối đối với mục tiêu công bằng

- Hiện tượng trốn thuế, đẩy gánh nặng thuế sang cho người tiêu dùng gánh chịu thông qua cơchế giá cũng làm hạn chế hiệu ứng tái phân phối

- Nền kinh tế lạm phát, giá cả hàng hoá tăng thì sự tái phân phối cũng không làm cải thiệnđời sống hay phúc lợi của những người có thu nhập thấp trong xã hội

- Đánh thuế cao vào khu vực kinh doanh sẽ không khuyến khích các doanh nghiệp tăngcường đầu tư phát triển kinh doanh  kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ítđược cải thiện

1.4.2.4 Chức năng giám sát

Mục đích của chức năng này là để nâng cao hiệu quả hoạt động của TCC qua đó thực hiệntốt chức năng quản lý kinh tế xã hội của nhà nước Chức năng giám sát của TCC được thực hiệnxuyên suốt trong quá trình huy động và phân bổ nguồn lực Nội dung kiểm tra của TCC bao gồm:

- Kiểm tra các hoạt động liên quan đến việc sử dụng nguồn lực TCC, bao gồm kiểm tra tínhtuân thủ/ chấp hành luật pháp và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động

Trang 16

- Cung cấp thông tin cho người quản lý để đưa ra các giải pháp điều chỉnh hoạt động củaTCC.

- Đo lường hành vi phản ứng của thị trường đối với các chính sách can thiệp và tái phân phốicủa chính phủ

Chú ý: - Mọi thứ đều phải quy ra tiền.

- Người chi tiêu và người giám sát là 2 người khác nhau

- Các chương trình chi tiêu của chính phủ đều phải có thời gian

Kết luận: Việc thực hiện các chức năng cơ bản của TCC giúp cho cơ chế quản lý tài chính

đáp ứng đúng mục tiêu và nhiệm vụ của Chính phủ đối với nền kinh tế Đảm bảo được cơ chế minh bạch, chống được sự lãng phí và tham nhũng.

Trang 17

Chương 2 HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

I MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Theo quy luật khan hiếm, nguồn lực của quốc gia là hữu hạn, vì vậy để phân phối có hiệuquả yêu cầu nền kinh tế phải chấp nhận thị trường cạnh tranh Khi các điều kiện cần thiết khôngđược thị trường đảm bảo thì đó chính là căn cứ để chính phủ can thiệp vào thị trường Chươngnày trước hết đi vào nghiên cứu tối đa hoá thoả dụng trong điều kiện giới hạn nguồn lực làm nềntảng cho việc phân bổ nguồn lực và lựa chọn chính sách chi tiêu công; tiếp đến đi vào thảo luậncác định lý phúc lợi xã hội làm căn cứ cơ bản cho sự hoạch định chính sách công của chính phủ

Cụ thể:

- Lựa chọn tối ưu trong điều kiện giới hạn nguồn lực

- Các định lý về hiệu quả xã hội của kinh tế học phúc lợi

- Thất bại thị trường trong phân bổ nguồn lực

II NỘI DUNG CHƯƠNG 2

2.1 Lựa chọn tối ưu trong điều kiện giới hạn nguồn lực

Đây là vấn đề cơ bản của TCC Nghiên cứu nó trước hết chúng ta sử dụng các công cụ lý

thuyết để qua đó hiểu được cơ chế ra quyết định chính sách công Đó là các công cụ đồ thị và mô

hình toán học (các công cụ đồ thị như là đường cung, đường cầu, đường bàng quan, đường ngân

sách,… và các mô hình toán) Sau đó, công cụ thực nghiệm cũng được thực hiện Đây là những

công cụ cho phép chúng ta phân tích dữ liệu và trả lời câu hỏi đặt ra từ phân tích lý thuyết

2.1.1 Mở đầu: trước hết chúng ta trả lời 2 câu hỏi:

- Đâu là giá trị của cuộc sống ? (1)

- Yếu tố kinh tế và yếu tố phi kinh tế ? (2)

2.1.2 Quy luật sở thích

Trang 18

* Xét 1 người tiêu dùng hợp lý: tức là người tiêu dùng luôn xác định được sở thích của mình,thích nhiều hơn thích ít và sở thích có tính chất bắc cầu (thích A hơn thích B; thích B hơn thích Cthì người đó thích A hơn thích C).

Giả sử trong 1 xã hội gồm có 2 hàng hoá X (lương thực) và Y (quần áo) thì người tiêu dùng

sẽ tiêu dùng 2 hàng hóa X và Y Họ sẽ cho điểm các giỏ hàng hóa gồm X, Y khác nhau phụ thuộcvào mức độ thỏa mãn mà họ cảm nhận được (điểm càng lớn thì độ thỏa mãn càng cao) Lúc này,hàm thỏa dụng của người tiêu dùng sẽ có dạng:

* Nếu, tất cả các giá trị X và Y làm cho hàm TU const ta có đường bàng quan Hay đường

bàng quan ( IC: indifference curve ) phản ánh tập hợp tất cả các nhóm tiêu dùng hàng hoá mà cánhân có cùng mức thoả dụng ( bàng quan: sao cũng được)

Đường bàng quan có các tính chất sau:

+ Đây là các đường dốc xuống

+ Lồi về góc toạ độ

+ Đường bàng quan càng xa gốc toạ độ thì mức thoả dụng đạt được càng lớn

+ Các đường bàng quan không cắt nhau

* Thoả dụng biên: (MU: marginal utility) là mức độ thoả mãn tăng thêm khi người ta tăng

sử dụng 1 đơn vị hàng hoá

MU = TU/Q

MUX = TU/X = dTU/dX > 0 ; MUY = TU/Y = dTU/dY > 0

Tuy nhiên, khi tiêu dùng càng nhiều một loại sản phẩm nào đó thì thoả dụng biên của sảnphẩm về sau sẽ nhỏ hơn thoả dụng biên của các sản phẩm trước Điều này là vì nhu cầu của conngười đã được thoả mãn 1 phần do vậy mức độ thoả mãn thêm sẽ không còn như lúc đầu Đây

chính là quy luật thoả dụng biên giảm dần Hay: dMUX/ dX2 < 0 ; dMUY/ dY2 < 0

* Độ dốc của đường bàng quan

Trang 19

Do đường bàng quan không phải là đường thẳng cho nên độ dốc của đường bàng quan không

ổn định Cho nên người ta tính độ dốc của đường bàng quan trên 1 đoạn AB nào đó (đoạn đủ nhỏ

để xem như tuyến tính - đường thẳng)

Y

O X X

Tg α = - Y/ X

Mà MUX = TU/X  X = TU/ MUX

Tương tự : Y = TU/ MUY

tg α = - TU/MUY

TU/MUX

Giả định: 1, TU = f (X,Y )  max

2, Người tiêu dùng đó có thu nhập là I đồng

Giá cả của hàng hoá X là PX và giá cả của hàng hoá Y là PY

Ông ta dùng hết thu nhập của mình chi tiêu cho hàng hoá X và Y

Ta có: I = X PX + Y PY (Phương trình của đường ngân sách)

Trang 20

 Y = I/PY – X PX/ PY = - (PX/PY).X + I/PY ( Phương trình dạng y = ax +b)

 Độ dốc của đường ngân sách là – (P X / P Y )

Ta có: 2 điểm chặn của đường ngân sách

* Kết hợp giữa đường bàng quan và đường ngân sách

Khi kết hợp giữa đường bàng quan và đường giới hạn ngân sách trên 1 hệ trục toạ độ sẽ hìnhthành nên cơ chế lựa chọn sở thích trong điều kiện nguồn lực bị giới hạn Nguồn lực là có hạn nêncâu hỏi đặt ra là : lựa chọn nhóm hàng hoá nào là tối ưu hoá mức thoả dụng? Sở thích nói lên cái

gì chúng ta muốn, còn giới hạn ngân sách nói lên cái mà người tiêu dùng thực tế có thể mua Y

M

IC3 IC2

Trang 21

Trường hợp 3: đường bàng quan và đường ngân sách không có điểm chung Trường hợp này

là trường hợp không đạt được trong tiêu dùng vì vượt quá khả năng ngân sách

Trường hợp 2: đường bàng quan và đường ngân sách tiếp xúc tại 1 điểm duy nhất Do khôngcòn phương án nào tốt hơn nên điểm tiếp xúc là phương án hiệu quả

Điều kiện để đường bàng quan tiếp xúc với đường ngân sách là độ dốc của chúng bằng nhau.Tức là:

- MUX/MUY = - PX/PY Hay: MU X / P X = MU Y /P Y

Phương án tối ưu hoá tiêu dùng sẽ đạt được khi tỷ lệ thay thế biên giữa 2 loại hàng hoá bằng tỷ lệ giá cả giữa chúng hay nói cách khác 1 đồng tiêu thêm cho hàng hoá X và Y đều mang lại độ thoả dụng như nhau.

Có người sẽ hỏi, ngoài điểm tối ưu trên, còn điểm nào khác làm cho ông A tốt hơn hay

lệ giá cả Hay nói cách khác, mức thoả dụng biên của hàng hoá X so với hàng hoá Y cao hơn tỷ lệgiá cả của 2 loại hàng hoá X so với hàng hoá Y Điều này có nghĩa là cá nhân đã từ bỏ Y để đổilấy X nhiều hơn mức mà thị trường yêu cầu Điểm N, ngược lại cá nhân đã từ bỏ Y để đổi lấy X íthơn mức thị trường yêu cầu  không hiệu quả

Ứng dụng vào bài tập: I = X.PX + Y.P Y  X, Y ? (Đây là phương án hiệu quả) MUX / P X = MU Y /P Y

* Tác động của thu nhập.

Thu nhập tăng (I tăng)  I/ PX và I/PY tăng  đường ngân sách dịch chuyển song song ra xagốc toạ độ, độ dốc không đổi Người tiêu dùng có cơ hội đạt được điểm tiếp xúc với đường bàngquan xa gốc toạ độ hơn  độ thoả dụng lớn hơn

Y Y

TU1 TU1

TU2 TU2

Trang 22

O X O X

* Tác động của giá cả

Giá PX giảm, X được tiêu dùng nhiều hơn  I/PX tăng, đường ngân sách thoải hơn về phía

X Điểm tiếp xúc đạt được ở đường bàng quan xa hơn độ thoả dụng lớn hơn

* Trên giác độ nền kinh tế

Mô hình tối ưu hoá tiêu dùng hàm ý hiệu quả kinh tế nếu đường bàng quan là của cả xã hội;

X và Y là hai loại hàng hoá đối lập nhau ( giả sử là hàng xa xỉ và hàng thiết yếu ) Khi đó thịtrường luôn tìm được hiệu quả, luôn xác định được là: sản xuất cái gì, số lượng bao nhiêu, sảnxuất cho ai… Tuy nhiên, điểm tối ưu của thị trường không nhất thiết là điểm tối ưu của xã hội.Chính phủ sẽ can thiệp vào nền kinh tế để đạt được điểm tối ưu như mong muốn

Chẳng hạn: Chính phủ nhận thấy đối với nền kinh tế Việt Nam đang nghèo nàn tức là dânchúng sử dụng nhiều hàng thiết yếu và ít hàng xa xỉ ( điểm A: tối ưu thị trường )

Hàng thiết yếu

TU1 TU2

A B

Lúc này: Khu vực công (hay Chính phủ ) sẽ điều chỉnh sao cho làm cho giá các loại hàng xa

xỉ giảm xuống Theo cơ chế tác động của giá cả thì người tiêu dùng sẽ có cơ hội đạt được độ thoảdụng lớn hơn (điểm B: điểm tiếp xúc giữa đường bàng quan TU2 và đường ngân sách mới), ngườitiêu dùng có thể sử dụng nhiều hàng xa xỉ hơn trong cuộc sống của mình

2.2 Các định lý về hiệu quả xã hội của kinh tế học phúc lợi

2.2.1 Hiệu quả Pareto (Wilfredo Pareto (1848-1923) là một nhà toán học người Ý)

Hiệu quả và công bằng là 2 mặt thuộc đối tượng nghiên cứu của kinh tế học phúc lợi và là

tiêu chí chuẩn tắc.

Ở đây chúng ta phân biệt 2 thuật ngữ: thực chứng và chuẩn tắc

Trang 23

+ Thực chứng hiểu nôm na là kiểm chứng các vấn đề lý luận vào thực tiễn Ví dụ: Dự án cảitạo 1 con đường đất nâng cấp thành đường nhựa thì cư dân trong vùng sẽ được lợi như thế nào khithời gian và chi phí lưu thông giảm đi Tất cả các giả thuyết đều có thể kiểm định lại bằng thựctiễn.

+ Chuẩn tắc là gì? tiêu chí được đưa ra dựa trên nhận định chủ quan cơ bản về điều gì đáng

có hoặc cần làm để đạt được kết quả mong muốn, ví dụ: với dự án mở đường trên thì liệu có còn

phương án nào khác có hiệu quả hơn hay không) Mục đích trọng tâm của kinh tế học phúc lợi là

đưa ra 1 khuôn khổ đánh giá các nhận định mang tính chuẩn tắc về phúc lợi kinh tế Thực tế chothấy, không có 1 chính sách nào được coi là hoàn hảo Điều quan trọng là người hoạch định chínhsách cần phải biết lựa chọn những chuẩn mực rõ ràng để làm cơ sở cho việc ra quyết định chínhsách của họ

Kinh tế học phúc lợi lấy phúc lợi xã hội làm trung tâm nghiên cứu thông qua đánh giá về độ thoả dụng Nhà nước phải quan tâm đến việc nâng cao phúc lợi của người dân; theo đó, mọi

chính sách công của nhà nước phải phản ánh được sự lựa chọn chung của toàn thể công chúng.Hiệu quả là tiêu chí dùng để đánh giá tình trạng sử dụng nguồn lực của các cá nhân Theonghĩa thông thường thì hiệu quả là tạo ra kết quả mong đợi với chi phí thấp nhất

Trong khi, kinh tế học phúc lợi lại sử dụng khái niệm hiệu quả Pareto để xác lập tính hiệu

quả trong phân bổ đạt được khi không còn cách nào tổ chức lại quá trình sản xuất hay tiêu dùng

để có thể tăng thêm độ thoả dụng của người này mà không làm giảm mức độ thoả dụng của người khác Như vậy, 1 phương án được đánh giá là đạt được hiệu quả Pareto khi ngoài phương án đó ra

không có sự phân bổ nguồn lực nào để ít nhất 1 người có lợi hơn mà lại không làm giảm đi lợi íchcủa người khác

Theo quan điểm hiệu quả của Pareto thì:

+ Mỗi cá nhân là người đánh giá tốt nhất độ thoả dụng của mình

+ Xã hội là tổng thoả dụng của các cá nhân trong cộng đồng

+ Nếu xã hội có thể tái phân bổ các nguồn lực để làm tăng độ thoả dụng của một cá nhân màkhông làm giảm độ thoả dụng của các cá nhân còn lại thì phúc lợi xã hội sẽ tăng thêm

Xây dựng mô hình hiệu quả Pareto

Để đơn giản hoá cho việc phân tích, chúng ta giả định nền kinh tế chỉ có 2 người (Adam vàEva), tiêu dùng hai mặt hàng (lương thực và quần áo) với mức cung cố định Chiều dài hộp

Trang 24

Edgeworth (đoạn thẳng Os) thể hiện tổng số lương thực của nền kinh tế; chiều cao Or đo lườngtổng số quần áo Lượng hàng hoá mà người A tiêu thụ được đo bằng các khoảng cách từ điểm O;lượng hàng hoá tiêu thụ của người E được đo bằng khoảng cách O’ Chẳng hạn, ở điểm v, người

A tiêu thụ Ox quần áo và Oy lương thực, còn người E tiêu thụ O’z lương thực và O’w quần áo.Như vậy, bất kỳ điểm nào trong hộp Edgeworth cũng biểu thị cách thức phân phối hàng hoá lươngthực và quần áo giữa người A và người E

Với điểm g trên hình dưới đây - điểm bất kỳ sự phân phối giữa hàng hoá lương thực và quần

áo biểu thị đường đẳng dụng Ag của người A cắt đường đẳng dụng Eg của người E Câu hỏi đặt ralà: liệu có thể phân phối lại hàng hoá lương thực và quần áo giữa người A và người E theo cáchnào khác để sao cho người A tốt hơn mà không làm cho người E bị thiệt đi hay không? Trả lời: là

có thể tìm ra một sự phân phối như thế Thật vậy, xét điểm h, người A sẽ ở trong trạng thái phân

Trang 25

phối tốt hơn bởi vì đường đẳng dụng Ah thể hiện độ thoả dụng cao hơn đường Ag; trong khi người

E cũng không bị thiệt hơn tại điểm h vì đường đẳng dụng gốc hay ban đầu của người E là Eg.Ngoài điểm g, liệu phúc lợi của người A có thể gia tăng được hơn nữa hay không mà không làmtổn hại đến lợi ích của người E? Dễ dàng nhận thấy, nếu như người A di chuyển đường đẳng dụngthêm nữa theo hướng ra xa gốc toạ độ (đông bắc) mà vẫn còn cắt đường Eg thì điều này có thể xảy

ra Cứ lập lại tiến trình này cho đến khi đường đẳng dụng của người A tiếp cận đường đẳng dụng

Eg của người E tại điểm p Cách này sẽ đặt cho người A trên đường đẳng dụng cao hơn và không

di chuyển người E xuống đường đẳng dụng thấp hơn Điểm p chính là điểm đạt hiệu quả Pareto.

Đó là điểm duy nhất để làm cho một người nào đó trở nên có lợi hơn nhưng không làm cho ngườikhác bị thiệt đi Cơ chế tái phân phối nguồn lực miêu tả sự dịch chuyển các điểm phân phối và

theo đó tạo ra sự cải thiện hiệu quả Pareto, cụ thể từ g →h→p Cơ chế này được gọi là sự cải thiện Pareto trong phân phối.

E g

Phân phối đạt hiệu

A g

O lương thực/ năm

Điểm p không phải là điểm phân phối đạt hiệu quả Pareto duy nhất Chúng ta có thể tìm rađiểm phân phối khác làm cho người E tốt hơn mà không làm giảm đi độ thoả dụng của người A.Chúng ta có thể di chuyển người E đến đường đẳng dụng hướng về hướng tây nam sao cho sựphân phối vẫn nằm trên đường Ag Kết quả là ta có được điểm p1: là cách duy nhất để cải thiệnphúc lợi cho người E mà không di chuyển đường đẳng dụng của người A về vị trí thấp hơn

Ep1 Quần Ep2

p1 p áo p2 p

Trang 26

phân phối p1

Lương thực/ năm Lương thực/ năm

Ở trên, chúng ta chỉ xem xét những sự di chuyển đường đẳng dụng sao cho một người nào

đó trở nên tốt hơn nhưng vẫn giữ nguyên mức thoả dụng của người khác Còn trong hình trên (bênphải), từ điểm g (phân phối ban đầu) chúng ta có thể thiết lập cơ chế tái phân phối làm cho cảngười A và E đều tốt hơn Thật vậy, tại điểm p2 ta thấy: (i) đường Ap2 dịch ra xa gốc toạ độ theohướng đông bắc so với đường Ag, ở vị trí này người A tốt hơn so với đường Ag; (ii) người E có vịtrí tốt hơn vì đường EP2 dịch ra xa góc toạ độ theo hướng tây nam so với đường Eg P2 là điểm đạthiệu quả Pareto vì tại điểm đó không có thể làm cho cả 2 đều tốt hơn mà không làm cho ngườikhác bị thiệt đi Nói tóm lại, từ điểm g, chúng ta có thể tìm ra được tập hợp các điểm đạt hiệu quả

Pareto, nhưng câu hỏi đặt ra là mỗi cá nhân sẽ nhận được bao nhiêu điểm phân phối đạt hiệu quả

Pareto trong mỗi cách phân phối nguồn lực như thế.

Chúng ta có thể tìm kiếm các điểm phân phối đạt hiệu quả Pareto trong hộp Edgeworth: bêncạnh điểm p2, nếu điểm k là phân phối ban đầu, có thể tìm ra các phân phối đạt hiệu quả Pareto làđiểm p3 và p4 Bằng cách làm như vậy, chúng ta sẽ xác định được tập hợp các điểm phân phối đạthiệu quả Pareto trong hộp Edgeworth Kết nối tất cả các điểm đạt hiệu quả Pareto ta có được

đường liên kết biểu thị bằng đường mn trong hình dưới đây.

p4 Quần áo/ p p3

Phát biểu: trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, người sản xuất và người tiêu dùng chấp

nhận giá cả giao dịch thị trường, thì phân phối nguồn lực của nền kinh tế đều đạt hiệu quả

Trang 27

Pareto, tức là tối đa hiệu quả xã hội Hay, tối ưu Pareto đạt được khi và chỉ khi tồn tại thị trường

cạnh tranh hoàn hảo

Để đo lường quy mô hiệu quả xã hội, người ta dùng phương pháp thặng dư tiêu dùng và

thặng dư sản xuất.( Xem hình)

Nhắc lại:

- Cầu: là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở cácmức giá khác nhau trong 1 thời gian nhất định Các yếu tố làm dịch chuyển đường cầu: thu nhậpcủa người tiêu dùng, giá cả của các loại hàng hoá liên quan, dân số, thị hiếu, kỳ vọng

- Cung: là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở cácmức giá khác nhau trong 1 thời gian nhất định Các yếu tố làm đường cung dịch chuyển: côngnghệ, giá các yếu tố đầu vào, chính sách thuế, số lượng người sản xuất, các kỳ vọng

Giao điểm của cung và cầu sẽ xác định giá cả và sản lượng cân bằng thị trường

Thặng dư tiêu dùng: trên thị trường, người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn mức giá cân

bằng sẽ mua được hàng hoá và sẽ cảm thấy thoả mãn nhiều hơn  người ta gọi đó là thặng dưtiêu dùng (consummer surplus: CS) CS được giới hạn bởi diện tích tạo bởi đường cầu, đường giá

Trang 28

Vậy, Tổng phúc lợi của nền kinh tế (hiệu quả xã hội hay thặng dư xã hội ) bằng thặng dư

sản xuất cộng thặng dư tiêu dùng Hay

EW (economic Welfare) = CS + PS

* (1) Giả sử chính phủ muốn bảo vệ người tiêu dùng bằng cách quy định giá tối đa được bánthấp hơn mức giá cân bằng Lúc này thì người sản xuất sẽ phản ứng lại bằng cách cắt giảm sảnlượng đến QS  thị trường rơi vào tình trạng thiếu hụt

PS = diện tích KBPmax

CS = diện tích WAIPo + PoIBPmax

 EW= WABK và Tổn thất xã hội là diện tích tam giác ABE (đây chính là sự mất mát vềphúc lợi hay lợi ích kinh tế so với điều kiện cạnh tranh)

Lưu ý rằng, định lý này về cơ bản thể hiện luận điểm “bàn tay vô hình” của Adam Smith Do

vậy, tiêu chuẩn Pareto và định lý 1 của kinh tế học phúc lợi bộc lộ hai hạn chế: (1) nền kinh tế

không phải lúc nào cũng hoạt động trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo.(2) Hiệu quả chỉ là mộttiêu thức phân bổ nguồn lực cụ thể là tốt hay xấu Bản thân tiêu chuẩn hiệu quả Pareto chỉ mang

đặc tính cá nhân chủ nghĩa Nó chỉ quan tâm đến mức lợi ích tuyệt đối của từng cá nhân chứ

không quan tâm đến mức lợi ích tương đối giữa các cá nhân với nhau Nói cách khác, nó khôngquan tâm đến sự bất bình đẳng Một sự thay đổi làm cho người giàu càng giàu thêm nhưng khônggiúp gì cho người nghèo vẫn được coi là hoàn thiện Pareto, tuy nó làm sự bất bình đẳng trong xãhội thêm sâu sắc

Trang 29

2.2.3 Định lý thứ 2 (là định lý nghịch đảo của định lý thứ nhất)

Định lý 2 phát biểu rằng: trong một nền kinh tế tuân thủ các quy luật kinh tế thông thường

và với những quy luật nhất định, Chính phủ có thể đạt tới bất kỳ một cách phân bổ hiệu quả nào bằng cách tiến hành phân phối lại thu nhập ban đầu (bằng các công cụ phân phối lý tưởng, không gây tổn thất cho xã hội), sau đó để nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo tự hướng dẫn nền kinh

tế đi tới điểm mong muốn của nó.

Định lý này cho rằng vấn đề hiệu quả và công bằng có thể giải quyết một cách độc lập Đểchứng minh cho điều này chúng ta sử dụng mô hình đơn giản với giả định tổng lượng mỗi hànghoá là cố định Từ hình dưới đây, trên đường liên kết mn, chúng ta so sánh 2 điểm phân phối: p5 (ởgóc trái của hộp) và điểm q gần trung tâm Câu hỏi đặt ra là liệu phân phối ở điểm p5 có tốt hơn sovới điểm q hay không?

En

mA

Câu trả lời còn tuỳ thuộc vào quan điểm thế nào là tốt hơn Nếu xã hội có thiên hướng lựa

chọn tính công bằng trong phân phối thu nhập làm mục tiêu cho chính sách thì điểm phân phối q(công bằng) có thể được ưa thích hơn p5 (hiệu quả), cho dù q không đạt hiệu quả Pareto Còn nếu

xã hội coi trọng lợi ích người E hơn người A thì p5 sẽ được ưa chuộng hơn

Từ lập luận trên, ta thấy tiêu chuẩn hiệu quả Pareto bản thân nó không đủ để bao quát cáccách thức phân phối nguồn lực Bên cạnh tiêu thức hiệu quả, xã hội còn quan tâm đến tính côngbằng trong phân phối mức thoả dụng Hay nói cách khác, xã hội không chỉ quan tâm thặng dư baonhiêu mà còn quan tâm đến thặng dư đó được phân phối như thế nào trong cộng đồng xã hội, tức

là phúc lợi xã hội Phúc lợi xã hội là khái niệm phản ánh mức độ trạng thái cuộc sống trong xã

hội được quyết định bởi hiệu quả xã hội và phân phối công bằng nguồn lực của xã hội.

Trang 30

 Mục tiêu của tái phân phối là công bằng Vậy công bằng là gì? Công bằng là khái niệmmang tính chuẩn tắc Nó tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi người trong sự so sánh về lợi ích thôngqua đánh giá mức độ thoả dụng của họ về các loại hàng hoá và dịch vụ mà họ nhận được từ sựcung cấp của xã hội Có 2 quan niệm về công bằng:

- Công bằng theo chiều dọc: các chủ thể với điều kiện khác nhau phải được đối xử khác nhau(ví dụ: người giàu phải nộp thuế nhiều hơn người nghèo)

- Công bằng theo chiều ngang: các chủ thể trong điều kiện như nhau phải được đối xử nhưnhau ( ví dụ: trẻ em thành thị và nông thôn thôn đều được uống vacxin miễn phí )

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là như thế nào là các chủ thể có điều kiện như nhau, các chủ thể cóđiều kiện khác nhau? Ta xem xét ví dụ sau:

Xét 2 cá nhân A và B cùng có khả năng kiếm được 50000đ/ ngày Ông A làm việc 5 ngày/ tuần (mỗi tháng thu nhập được 1 triệu) , ông B làm việc 6 ngày/ tuần (mỗi tháng thu nhập được 1,2 triệu) Như vậy 2 cá nhân này được coi là có điều kiện (kinh tế) như nhau hay khác nhau ?

Nếu chỉ nhìn vào thu nhập hàng tháng thì rõ ràng ông B có thu nhập cao hơn nên theonguyên tắc công bằng dọc ông B sẽ nộp nhiều thuế hơn Nhưng phần chênh lệch thu nhập này là

do ông B đã làm việc chăm chỉ hơn, còn khả năng kiếm thu nhập của họ là như nhau Do đó, nếulấy mức lương giờ làm chuẩn thì 2 người này phải được đối xử như nhau theo nguyên tắc côngbằng ngang Những khó khăn đến đây chưa hết, vì mức giờ công chưa phản ánh được gia cảnh,mức độ đầu tư vào vốn con người của các cá nhân, Giả sử, ông A học 2 bằng đại học, nuôi 3con trong khi ông B chỉ tốt nghiệp THPT và sống độc thân thì việc đánh thuế như nhau giữa ông

A và ông B xem ra lại không công bằng ngang  rõ ràng như thế nào là công bằng là một vấn đề

rất mơ hồ.

Nhìn chung, phân biệt công bằng theo quan điểm trên chỉ có ý nghĩa trong nhận thức, khi vận dụng vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề chính sách công là rất khó Bởi lẽ, nó đòi hỏi phải có khối lượng lớn các thông tin để đánh giá chính xác tình trạng của các chủ thể và đối tượng tác động của chính sách công Cho nên, vấn đề công bằng trong chính sách công vẫn là chủ đề gây nhiều tranh cãi

* Quan hệ giữa hiệu quả và công bằng: quan hệ đánh đổi lẫn nhau: nếu chính sách phân

phối đạt được hiệu quả nhiều hơn thì phải chấp nhận một sự mất công bằng nhất định và ngược

lại (Có thể mô tả sự đánh đổi này qua hình dưới đây).

Công bằng

Trang 31

Hiệu quả

2.3 Thất bại thị trường trong phân bổ nguồn lực

Thất bại thị trường là những trường hợp mà thị trường cạnh tranh không thể sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ ở mức hiệu quả xã hội.

Có 2 nguyên nhân cơ bản để giải thích vì sao cơ chế thị trường không thể phân bổ nguồn lực

có hiệu quả, đó là do: độc quyền và sự không tồn tại thị trường.

2.3.1 Độc quyền thị trường

* Độc quyền là gì ? là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất 1 người bán và sản xuất ra sản

phẩm nhưng lại có nhiều người mua (định nghĩa độc quyền bán)

* Nguyên nhân xuất hiện độc quyền ? độc quyền có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân

nhưng chủ yếu tập trung vào những nguyên nhân dưới đây:

- Do được Chính phủ nhượng quyền khai thác thị trường Nhiều hãng trở thành độc quyền là

nhờ được Chính phủ nhượng quyền khai thác một thị trường nào đó Ví dụ các địa phương thườngcho phép một công ty duy nhất cung cấp nước sạch trên địa bàn địa phương mình Ngoài ra, đốivới những ngành được xem là chủ đạo của quốc gia, Chính phủ thường tạo cho nó một cơ chế cóthể tồn tại dưới dạng độc quyền nhà nước Có lẽ không có ai phản đối rằng quốc phòng hay côngnghiệp sản xuất vũ khí nên do Chính phủ nắm giữ, vì nó liên quan đến an ninh của đất nước

- Do chế độ bản quyền đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ Chế độ bản quyền là

một cơ chế bảo vệ quyền lợi của những nhà phát minh, khuyến khích họ đầu tư công sức, thờigian và tiền của vào hoạt động nghiên cứu và triển khai, góp phần nâng cao năng suất lao động vàđời sống tinh thần cho xã hội Nhưng cũng chính những quy định này đã tạo cho người có bảnquyền một vị thế độc quyền lớn, tuy vị thế không phải là vĩnh viễn (vì còn tuỳ thuộc vào thời hạnđược nắm giữ bản quyền của từng nước)

- Do sở hữu được một nguồn lực đặc biệt Việc nắm giữ được một nguồn lực hay một khả

năng đặc biệt nào đó sẽ giúp người sở hữu có được vị thế độc quyền trên thị trường Chẳng hạn, vì

Trang 32

những mỏ kim cương lớn nhất thế giới tập trung tại Nam Phi nên quốc gia này có một lợi thế gầnnhư độc quyền về khai thác và bán kim cương mà các quốc gia khác không thể có.

- Do có khả năng giảm giá thành khi mở rộng sản xuất Do tính chất đặc biệt của ngành có

hiệu suất tăng dần theo quy mô đã khiến việc có nhiều hãng cùng cung cấp một dịch vụ trở nênkhông hiệu quả và hãng nào đã có mặt trong thị trường từ trước thì có thể liên tục giảm giá khi mởrộng sản xuất, biến nó thành một hàng rào hữu hiệu ngăn cản sự xâm nhập thị trường của nhữnghãng Trường hợp này còn được gọi là độc quyền tự nhiên thường xuất hiện trong các ngành dịch

vụ công cộng như điện, nước sạch, đường sắt,…

* Tổn thất lợi ích xã hội do độc quyền.

Các định lý cơ bản của kinh tế học phúc lợi dựa trên giả định là các doanh nghiệp và ngườitiêu dùng đều phải chấp nhận quy luật cạnh tranh của giá cả Nếu 1 doanh nghiệp có khả năng tácđộng đến giá cả thì việc phân bổ nguồn lực thường sẽ không hiệu quả

Giả sử: chi phí biên của hãng độc quyền phản ánh giá trị của tất cả các yếu tố đầu vào được

sử dụng để sản xuất thêm 1 đơn vị đầu ra Ta có, chi phí biên của hãng độc quyền cũng bằng chiphí biên xã hội (MSC) do chỉ có 1 hãng duy nhất sản xuất

Đối với hãng độc quyền thì đường cầu có dạng: P= a+bQ (b<0 do đường cầu dốc xuống).Doanh thu TR = P.Q = Q.( a+b.Q ) = a.Q + b.Q2

(TR)’ = MR = a +2bQ  đường doanh thu biên sẽ có hệ số góc gấp đôi đường cầu (nằmdưới đường cầu )

- Thị trường cạnh tranh: MSC = MSB (D), cân bằng thị trường tại E(Q*, P*)

- Hãng độc quyền: (mục tiêu) Lợi nhuận = TR – TC  max  (cực trị)

tức là (Lợi nhuận)’= (TR-TC)’= 0 TR’ = TC’ hay MR = MC= MSC

do đó hãng độc quyền sẽ quyết định sản xuất tại P0 và Q0

P MSC

Po A

P* E

B

Trang 33

MR MSB(D)

O Q0 Q* Q

Ta thấy: Q0<Q* và P0> P* Như vậy, hãng độc quyền đã sản xuất tại mức sản lượng ít hơnmức xã hội yêu cầu và đặt giá cao hơn mức giá cân bằng thị trường Tổn thất vô ích do độc quyềngây ra là diện tích ABE

2.3.2 Sự không tồn tại một số thị trường

Trong các định lý cơ bản của kinh tế học phúc lợi đều đưa ra giả định là nền kinh tế tồn tạithị trường cho mọi loại hàng hoá Nếu thị trường đối với 1 loại hàng hoá nào đó không tồn tại thì

ta không thể hy vọng vào một sự phân bổ nguồn lực có hiệu quả Tuy vậy nhưng trên thực tế, vẫn

có 1 số thị trường hàng hoá không tồn tại do 1 số nguyên nhân cơ bản sau:

- Thông tin bất cân xứng

Chúng ta xem xét thị trường bảo hiểm

Ngày nay thì bảo hiểm được xem là một hàng hoá có vai trò quan trọng trong 1 xã hội đầyrủi ro.Thị trường bảo hiểm cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ bảo hiểm cho xã hội như BH tàisản, bảo hiểm tiền gửi, bảo hiểm nhân thọ,…thế nhưng có công ty bảo hiểm nào “dám” cung cấpbảo hiểm “nghèo” hay không?

Trả lời: hoàn toàn không Bởi vì:

- Về phía khách hàng, người tham gia bảo hiểm: khi bạn mua loại bảo hiểm này thì bạn sẽkhông có động cơ hay nổ lực làm việc nữa

- Về phía công ty bảo hiểm, để ngăn chặn các hành vi xấu của bạn, công ty bảo hiểm sẽ phảităng cường giám sát mọi hành động của bạn để xem xem việc bạn nghèo là do tai nạn hay là dolười biếng  điều này rất khó và rất tốn kém chi phí không có công ty nào bán loại bảo hiểmnày thị trường bảo hiểm nghèo không tồn tại

Nguyên nhân cơ bản ở đây là do tình trạng thông tin không cân xứng: một bên khi tham gia

giao dịch thì có đầy đủ thông tin trong khi đối tác còn lại thì không có đầy đủ thông tin.

Do tư nhân không cung cấp loại hàng hoá này nên chính phủ phải hình thành thị trường bảohiểm nghèo thông qua chương trình hỗ trợ thu nhập của chính phủ Phí để trang trải cho loại bảohiểm này chính là số tiền thuế mà bạn phải trả khi có thu nhập Khi xảy ra rủi ro nghèo bạn nhậnđược thu nhập dưới hình thức chi trả phúc lợi từ phía chính phủ (Việt Nam sắp tới sẽ áp dụng bởi

đã có Luật thuế Thu nhập cá nhân)

Trang 34

- Ngoại tác :Là hành vi của chủ thể này tác động tốt hay xấu đến chủ thể khác mà chủ thể bị

tác động không nhận được bất kì sự hoàn trả hay bồi thường nào.

Ngoại tác tác động tốt đến chủ thể thì gọi là ngoại tác tích cực, ví dụ: hoạt động tiêm chủng

phòng bệnh: không những người được tiêm chủng được lợi mà những người xung quanh cũngđược lợi, 1 nhà kinh doanh dịch vụ giặt sấy quần áo hoạt động bên cạnh 1 lò mỳ thì hơi nóng toả

ra từ lò mỳ sẽ là giúp quần áo khô nhanh hơn

Ngoại tác tác động xấu đến chủ thể thì gọi là ngoại tác tiêu cực, ví dụ: nuôi cá xả chất thải

xuống sông, (Việt Nam bị Mỹ kiện bán phá giá cá tra, cá basa) 1 người hút thuốc lá và khói thuốcgây ảnh hưởng đến những người xung quanh,…

Vậy ảnh hưởng của ngoại tác như thế nào? Xem hình sau:

MSC=MPC+MEC MSB

MPCMPB

MPC

MEC MEB MB

O Q* Q1 Q O Q1 Q* Q

Tính phi hiệu quả của ngoại tác: sản xuất quá nhiều hay quá ít: hãng sản xuất nhiều hơn

mức sản lượng tối ưu xã hội (ngoại tác tiêu cực) và hãng sản xuất ít hơn mức sản lượng tối ưu xãhội (ngoại tác tích cực)

(Nguyên tắc xuyên suốt: điều kiện đạt hiệu quả Pareto: chi phí biên đồng nghĩa với chi phí

xã hội biên và lợi ích biên đồng nghĩa với lợi ích xã hội biên).

Liên quan chặt chẽ với ngoại tác là tính chất hàng hoá công, là loại hàng hoá không có tính

cạnh tranh trong tiêu dùng ( có nhiều người tiêu dùng hàng hoá này và sự tiêu dùng của người này

là không ảnh hưởng đến sự tiêu dùng của người khác)

Trang 35

Ví dụ: ngọn đèn hải đăng, khi nó thắp sáng thì tất cả các tàu đi lại trên biển đều được thụhưởng lợi ích từ ngọn đèn này (biết đâu là bờ) Dĩ nhiên, ở đây thì mức độ thụ hưởng của mỗi tàu

là khác nhau (những tàu chở hàng hoá có giá trị sẽ đánh giá lợi ích của ngọn hải đăng cao hơn sovới những tàu nhỏ). ngọn hải đăng tạo ra ngoại tác tích cực nhưng không có ai chịu trả tiền cho

sự tiêu dùng của mình không ai chịu bỏ tiền bỏ tiền ra xây dựng ngọn hải đăng thị trường đãthất bại hoàn toàn

Bài đọc thêm: Những cơ sở khác cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế.

Những nguyên nhân trên đây về các dạng thất bại của thị trường cho thấy, bản thân thịtrường có thể đưa đến những kết cụ phi hiệu quả nếu không có sự can thiệp của Chính phủ.Nhưng ngay cả khi nền kinh tế đã vận hành có hiệu quả thì vẫn có những lý do khác nữa để chínhphủ can thiệp vào nền kinh tế:

-Bất ổn định kinh tế: sự vận hành mang tính chất chu kỳ của nền kinh tế khiến lạm phát và

thất nghiệp trở thành những căn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trường và gây ra nhiều tổn thấtcho xã hội Việc chính phủ chủ động sử dụng các chính sách tài khoá và tiền tệ để cố gắng ổnđịnh hoá nền kinh tế chính là những nổ lực để đạt đến trạng thái toàn dụng nhân công Mặc dù cácchính sách ổn định hoá của chính phủ nhiều khi làm tiêu hao nhiều nguồn lực của xã hội nhưng đólại là sự trợ giúp rất đắc lực để giúp thị trường hoạt động hiệu quả hơn

-Phân phối lại thu nhập và cơ hội kinh tế cho mọi người Nhiều người cho rằng, sự không

hoàn hảo của thị trường thường dẫn đến những kết cục thiếu công bằng Chính phủ phải có tráchnhiệm phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giúp cho các đối tượng dễ tổnthương như người già, người nghèo, trẻ em, người tàn tật Thông thường, chính phủ có thể tiếnhành các chương trình trợ cấp trực tiếp cho từng cá nhân để giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo đói.Nhiều khi, các chương trình phân phối lại còn được thực hiện dưới dạng cung cấp các phươngtiện, dịch vụ cho cả cộng đồng như chương trình xây dựng điện, đường, trường, trạm ở nông thôn,góp phần xoá đói giảm nghèo

Tương tự, việc sử dụng quyền lực của chính phủ để tạo ra sự bình đẳng về cơ hội cho mọicông dân, không phân biệt tình trạng cá nhân, có thế làm lợi cho xã hội nói chung vì nó sẽ giúpcác cá nhân có nhiều cơ hội hơn để đặt năng lực của mình vào công việc phù hợp nhất, có năngsuất cao nhất

-Hàng hoá khuyến dụng: Lý do tiếp theo để chính phủ can thiệp vào nền kinh tế có hiệu quả

Pareto nảy sinh từ việc cá nhân có thể không hành động vì mục tiêu tốt nhất của mình Nhiều nhàkinh tế cho rằng, cá nhân nói chung đôi khi khá thiển cận, không nhận thức được đầy đủ lợi ích

Trang 36

hoặc tác hại của việc tiêu dùng một hàng hoá hay dịch vụ nào đó, ngay cả khi họ có đầy đủ thôngtin Chẳng hạn, ai cũng biết hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ nhưng rất nhiều người vẫn tiếp tụchút thuốc Nhiều người biết đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy sẽ giảm bớt nguy cơ tử vong khi

không may gặp tai nạn, nhưng không thiếu người vẫn tiếp tục lái xe đầu trần Vậy, hàng hoá

khuyến dụng là gì? Đây là những hàng hoá hay dịch vụ mà việc tiêu dùng chúng có lợi cho cá nhân và xã hội, nhưng cá nhân không tự nguyện tiêu dùng, khiến chính phủ phải bắt buộc họ sử dụng gọi là hàng hoá khuyến dụng (merit goods).

Cơ sở ủng hộ sự can thiệp của Chính phủ trong trường hợp hàng hoá khuyến dụng bắt nguồn

từ một chức năng được gọi là chức năng phụ quyền của chính phủ Nhiều người cho rằng, vai trò

của chính phủ ở đây giống như vai trò của người cha trong gia đình Khi người cha thấy con cáimình chỉ hành động vì lợi ích trước mắt mà không nghĩ gì đến tương lai lâu dài, thì người chaphải can thiệp để điều chỉnh hành vi của con cái Sự can thiệp này có thể chỉ ở mức độ giáo dục,giải thích, nhưng nếu cần thì có thể biến thành mệnh lệnh bắt buộc

Mặc dù vai trò phụ quyền của chính phủ trong một số trường hợp tỏ ra hoạt động tốt như đốivới thị trường dược phẩm hay giáo dục, nhưng việc lạm dụng chức năng này có thể khiến chínhphủ trở thành độc đoán hoặc vi phạm thô bạo vào quyền tự do cá nhân Vì thế, nhiều nhà kinh tếcho rằng, cần giới hạn phạm vi thực hành vai trò phụ quyền của chính phủ./

Trang 37

Chương 3 HÀNG HOÁ CÔNG VÀ CHI TIÊU CÔNG

I MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta đồng thời phải tiêu dùng 2 loại hàng hoá: hàng hoácông: pháo hoa, an ninh quốc phòng, đường xá, cầu cống, và hàng hoá tư: xe máy, điện thoại,sách, … Vậy câu hỏi đặt ra là: hàng hoá công là gì ? khu vực nào cung cấp hàng hoá công sẽ hiệuquả nhất ?

Trong chương này thì chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các nội dung sau:

- Định nghĩa hàng hoá công

- Xác định mức cung cấp hàng hoá công tối ưu

- Bàn luận vấn đề: là liệu chính phủ có nên tham gia cung cấp hàng hoá công hay không? Vàkhi mà chính phủ tham gia cung cấp hàng hoá công thì quản lý theo phương thức nào?

II NỘI DUNG CHƯƠNG 3

3.1 Hàng hoá công

* Những hàng hoá và dịch vụ (gọi chung là hàng hoá) được sản xuất và cung cấp trong xãhội có thể được chia làm 2 loại chính: hàng hoá công cộng và hàng hoá cá nhân Ta xét 2 ví dụsau đây:

- Hàng hoá cá nhân: ví dụ: xe máy Honda Lead

Trang 38

Xe Lead xuất hiện đầu 2009, số lượng xe cung cấp tại các cửa hàng là có giới hạn trong khinhu cầu mua là rất lớn Giả sử, còn 1 chiếc xe mà có 2 người muốn mua thì  sẽ có 1 ngườikhông mua được xe Rõ ràng, chỉ có 1 người có được lợi ích tăng thêm từ việc có được xe máy.

Vậy, HHCN có tính cạnh tranh trong tiêu dùng.

- Hàng hoá công: ví dụ: dịch vụ an ninh

Một ông cảnh sát khu vực cung cấp dịch vụ bảo vệ an ninh cho 1 khu phố Giả định có 1người đến tạm trú tại khu phố đó thì:

+ Những người trong khu phố không vì thế mà giảm đi mức độ được bảo vệ an ninh

+ Người mới đến cũng được hưởng dịch vụ bảo vệ như những người khác

+ Ông cảnh sát cũng không mất thêm chi phí ( thời gian hay tiền bạc ) để đảm bảo mức độcung cấp an ninh không giảm đi

Vậy, HHCC là những hàng hoá không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng; việc một cá nhân

này đang hưởng thụ lợi ích do hàng hoá đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó

* Đặc tính của hàng hoá công: có 2 đặc tính:

- Tính tiêu dùng chung hay tính không cạnh tranh (ví dụ trên) Tuy nhiên, với mỗi hàng hoá

công nhất định, mỗi người có thể nhận định khác nhau về giá trị của nó: lợi ích nhiều hay ít, tíchcực hay tiêu cực

Ví dụ 1: một con đường quốc lộ được trải nhựa đạt tiêu chuẩn đường đồng bằng cấp 1, đitrên con đường đó:

Người chạy xe SH sẽ có thể chạy với tốc độ lớn hơn, êm ái hơn họ sẽ đánh giá giá trị củacon đường cao

Người đi xe đạp đang chạy: có rất ít sự khác biệt giữa đi trên con đường này với đi trênnhững con đường khác họ sẽ đánh giá thấp hơn về giá trị của con đường

Ví dụ 2: Xét 1 tên lửa mang đầu đạt hạt nhân do bộ quốc phòng chế tạo thì:

Đối với những người xem hệ thống tên lửa như là sự tăng cường an ninh của họ, thì họ chorằng tên lửa có giá trị tích cực Còn đối với những người xem tên lửa làm leo thang cuộc chạy đua

vũ trang, làm giảm đi sự an toàn cho an ninh quốc gia, thì họ xem tên lửa có giá trị tiêu cực (CHDCND Triều Tiên)

Trang 39

- Tính không loại trừ trong tiêu dùng; hoặc chi phí loại trừ rất tốn kém Có nghĩa là, sẽ rất

tốn kém hay hoàn toàn không thực hiện được việc ngăn cản người khác sử dụng hàng hoá côngcộng

Ví dụ 1: các chương trình phát thanh và truyền hình của đài truyền hình: VTV1, VTV2,…khi đã phát thì rất khó có thể ngăn cấm họ không thưởng thức những chương trình đó, không thểcấm được 1 người không được hưởng dịch vụ an ninh,…

Ví dụ 2: Một công viên, để loại trừ những người không trả tiền cần: thuê người bảo vệ,người bán vé, xây dựng tường rào,…tốn kém, mất mỹ quan (tốn kém phi tiền tệ) Vậy nên để sửdụng miễn phí

* Phân loại hàng hoá công: dựa vào tiêu thức phân loại là các thuộc tính của hàng hoá

công, người ta phân hàng hoá công thành 2 loại:

- Hàng hoá công thuần tuý: là nhóm hàng hoá mang đầy đủ hai thuộc tính: tính không cạnhtranh trong tiêu dùng và tính không loại trừ trong tiêu dùng Ví dụ: các chương trình truyền hìnhmiễn phí VTV1, VTV2,3, quốc phòng,…

- Hàng hoá công không thuần tuý: là những hàng hoá mang một trong hai thuộc tính củahàng hoá công Ví dụ: đường đi bộ Nguyễn Đình Chiểu: có tính cạnh tranh (nhiều người cùng đi

sẽ làm giảm đi sự thưởng thức của bạn) nhưng không thể loại trừ, truyền hình cáp Huế HTCkhông có tính cạnh tranh nhưng vẫn có thể có tính loại trừ (HTC có thể từ chối lắp cáp cho bạn vìhết cáp),… 1

Chú ý: -mức 0: hoàn toàn không thể B

Hoàn toàn có thể loại trừ và hoàn toàn không thể tiêu dùng chung

B là hàng hoá tư nhân thuần tuý

Có thể loại trừ với 1 chi phí nào

đó Có thể tiêu dùng chung.

C là HHCC không thuần tuý Không thể loại trừ và hoàn toàn có thể tiêu dùng chung A là hàng hoá công thuần tuý

Trang 40

Trên thực tế, việc phân loại HHC thuần tuý và HHC không thuần tuý không có tính tuyệt đối.

Có những trường hợp hàng hoá công thuần tuý trở thành hàng hoá công không thuần tuý và cónhững trường hợp hàng hoá công sẽ trở thành hàng hoá tư nhân Chẳng hạn:

(1) phòng đọc sách của thư viện tổng hợp quốc gia là một loại hàng hoá công thuần tuý khi

số người đọc sách có mặt vừa đủ trên diện tích của phòng Nhưng khi số lượng người đọc sách

tăng lên thì sẽ gây ra vấn đề tắc nghẽn Điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến những người đọc

sách tại thư viện nên giá trị của nó sẽ giảm  tính không cạnh tranh không còn đúng 1 cách tuyệtđối nữa HHCC không thuần tuý

(2) chương trình truyền hình phát đó là HHCC thuần tuý, nhưng khi truyền hình bằng cáp cóthể dễ dàng buộc những gia đình nào muốn sử dụng dịch vụ này phải trả tiền HHCC khôngthuần tuý

3.2 Cung cấp hàng hoá công tối ưu

Cả hàng hoá công và hàng hoá cá nhân đều được sử dụng để thoả mãn lợi ích của con người.Khi tiêu dùng nó thì cái mà người ta nhận được là lợi ích tăng thêm và cái giá mà người ta sẵnlòng trả để có được hàng hoá phụ thuộc lợi ích tăng thêm mà người ta nhận được Khi khối lượnghàng hoá tăng thêm thì lợi ích tăng thêm của mỗi đơn vị hàng hoá giảm đi, do vậy cái giá mà

người ta sẵn lòng trả cũng giảm đi Điều này lý giải quan hệ nghịch biến giá cả và sản lượng (quy

luật cầu).

* Đường cầu xã hội về hàng hoá công

Đường cầu về hàng hoá công được phân biệt với đường cầu hàng hoá cá nhân như sau:

- Do tính chất phân chia hay cạnh tranh trong tiêu dùng khiến đường cầu đối với hàng hoá cánhân thể hiện số lượng hàng hoá mà thị trường sẵn sàng mua ở mỗi mức giá nhất định Như vậy,đường cầu thị trường đối với hàng hoá cá nhân là tổng hợp các đường cầu cá nhân theo sản lượng

Ví dụ: chẳng hạn, đói muốn ăn bánh bao, anh X ăn 2 cái, anh Y anh 4 cái thì cầu thị trường

Ngày đăng: 08/01/2016, 22:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thể hiện tổng chi tiêu của chính phủ/GDP (đơn vị tính : %) - KHU VỰC CÔNG VÀ TÀI CHÍNH CÔNG MỖI QUAN HỆ GIỮA HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG
Bảng th ể hiện tổng chi tiêu của chính phủ/GDP (đơn vị tính : %) (Trang 49)
Hình thành tài sản - KHU VỰC CÔNG VÀ TÀI CHÍNH CÔNG MỖI QUAN HỆ GIỮA HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG
Hình th ành tài sản (Trang 55)
Hình dưới cho thấy, đối với người có chi phí biên của việc trốn thuế vượt quá lợi ích biên tương ứng với mọi giá trị của R, thì trốn thuế tối ưu nên là 0 (tức là không nên trốn thuế). - KHU VỰC CÔNG VÀ TÀI CHÍNH CÔNG MỖI QUAN HỆ GIỮA HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG
Hình d ưới cho thấy, đối với người có chi phí biên của việc trốn thuế vượt quá lợi ích biên tương ứng với mọi giá trị của R, thì trốn thuế tối ưu nên là 0 (tức là không nên trốn thuế) (Trang 69)
Hình dưới đây, biểu thị tập hợp điểm ưa chuộng nhất của người tiêu dùng K là điểm E 1  trên đường bàng quan IC 1 , ở đó mức tiêu dùng lương thực của ông ta là LT 1  và quần áo Q 1  và số thuế - KHU VỰC CÔNG VÀ TÀI CHÍNH CÔNG MỖI QUAN HỆ GIỮA HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG
Hình d ưới đây, biểu thị tập hợp điểm ưa chuộng nhất của người tiêu dùng K là điểm E 1 trên đường bàng quan IC 1 , ở đó mức tiêu dùng lương thực của ông ta là LT 1 và quần áo Q 1 và số thuế (Trang 87)
Hình dưới đây, đường cầu lương thực là D LT . Để đơn giản trong phân tích, chúng ta giả sử chi phí biên xã hội của lương thực là cố định (P LT ) và vì thế đường cung S LT  là đường nằm ngang - KHU VỰC CÔNG VÀ TÀI CHÍNH CÔNG MỖI QUAN HỆ GIỮA HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG
Hình d ưới đây, đường cầu lương thực là D LT . Để đơn giản trong phân tích, chúng ta giả sử chi phí biên xã hội của lương thực là cố định (P LT ) và vì thế đường cung S LT là đường nằm ngang (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w