Vì marketing không chỉ là một chức năng trong hoạtđộng kinh doanh, nó là một triết lý dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệptrong việc phát hiện ra, đáp ứng và làm thoả mãn cho nhu c
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại ngày nay không một doanh nghiệp nào bắt tay vào kinhdoanh lại không muốn gắn kinh doanh của mình với thị trường Vì trong cơ chếthị trường chỉ có như vậy doanh nghiệp mới có hy vọng tồn tại và phát triểnđược Trong thời kì mở cửa của nền kinh tế hiện nay, đặc biệt là sau khi ViệtNam gia nhập WTO, chúng ta không thể không nhắc đến tầm quan trọng của cácchiến lược marketing giúp các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh được với cácdoanh nghiệp nước ngoài Vì marketing không chỉ là một chức năng trong hoạtđộng kinh doanh, nó là một triết lý dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệptrong việc phát hiện ra, đáp ứng và làm thoả mãn cho nhu cầu của kháchhàng.trong đó bộ mặt của công ty lại thể hiện ở chính sách sản phẩm- Chínhsách không chỉ mang lại cho công ty lượng khách hàng mà còn mang lại uy tín
và lợi nhuận cho công ty Như vậy có thể thấy đây là chính sách rất quan trọng
mà các Doanh nghiệp cần chú trọng
Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông là một công ty luôn sảnxuất đồ gia dụng và bóng điện chiếu sáng nên công ty đã luôn cố gắng nghiêncứu và làm công tác Marketing cho sản phẩm của mình và luôn cố gắng mangnhững sản phẩm của mình gần gũi với người tiêu dùng nhất Hơn nữa công tyRạng Đông luôn phải đứng trước sức ép cạnh tranh của các sản phẩm của TrungQuốc và các sản phẩm của hãng khác, nên chính sách này lại trở nên rất cầnthiết với công ty
Khi nhận thức được tầm quan trọng đó và qua nghiên cứu thực trạng của
công ty Rạng Đông em mạnh dạn chọn cho mình đề tài: ‘ Chính sách sản phẩm của công ty bóng đèn và phích nước của Rạng Đông ‘
Bài viết của em bao gồm các phần sau:
Chương I : Cơ sở lý luận về chính sách sản phẩm.
Chương II : Thực trạng chính sách sản phẩm của công ty bóng đèn
và phích nước Rạng Đông
Trang 2Chương III : Giải pháp phát triển chính sách sản phẩm bóng đèn và phích nước Rạng Đông
Do kiến thức và thời gian còn hạn chế nên bài viết của em chưa được sâu,
và không tránh khỏi những thiếu sót, vậy em kính mong cô, giảng viên:
Ths.Nguyễn Thị Hường cho em ý kiến đóng góp để bài viết được hoàn chỉnh
hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Vũ Thị Huệ
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM
1 Những vấn đề chung về chính sách sản phẩm
1.1 Sản phẩm theo quan niệm của Marketing.
1.1.1 Khái niệm về sản phẩm và đơn vị sản phẩm
Sản phẩm- hàng hoá là tất cả những cái, những yếu tố có thể thoả mãnnhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thuhút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng của khách hàng
Một sản phẩm, hàng hoá doanh nghiệp sản xuất ra không phải để trưngbày mà còn nhằm mục đích chính là:
- Làm công cụ để thoả mãn nhu cầu khách hàng
- Làm phương tiện kinh doanh của doanh nghiệp
Trong thực tế người ta thường trao đổi mua – bán tiếp xúc với sản phẩmqua hình thái đơn vị sản phẩm Vậy yếu tố cấu thành và đặc điểm của chúng rasao chúng ta cùng đi tìm hiếu phần sau:
1.1.2 Cấp độ và các yếu tố cấu thành đơn vị sản phẩm
Các cấp độ các yếu tố cấu thành đơn vị sản phẩm: đơn vị sản phẩm vốn làmột chỉnh thể hoàn chỉnh chứa đựng những yếu tố, đặc tính và thông tin khácnhau về sản phẩm Khi tạo ra một mặt hàng người ta thường xếp các yếu tố đặctính và thông tin theo 3 cấp độ có những chức năng Marketing khác nhau
+Cấp độ 1: Cấp độ sản phẩm theo ý tưởng là sản phẩm theo ý tưởng có
chức năng cơ bản là trả lời câu hỏi về thực chất sản phẩm này thoả mãn nhữngđiểm lợi ích cốt yếu nhất mà khách hàng sẽ theo đuổi là gì? Và đó chính lànhững giá trị mà nhà kinh doanh sẽ bán cho khách hàng
+Cấp độ 2 : Cấp độ sản phẩm hiện thực là những yếu tố phản ánh sự có
mặt trên thực tế của hàng hoá Những yếu tố đó bao gồm các chỉ tiêu phản ánh chấtlượng các đặc tính, bố cục bề ngoài, đặc thù tên nhãn hiệu cụ thể và đặc trưng củabao gói Nhờ thế mà nhà sản xuất kinh doanh có sự hiện diện của mình trên thịtruờng để khách hàng phân biệt hàng hoá của hãng này so với hãng khác
+Cấp độ 3 : Cấp độ sản phẩm bổ sung đó là những yếu tố như tính tiện
lợi cho việc lắp đặt những dịch vụ bổ sung sau khi bán, những điều kiện bảohành Chính nhờ những yếu tố này đã tạo ra sự đánh giá mức độ hoàn chỉnhkhác nhau, trong sự nhận thức của người tiêu dùng về mặt hàng hay nhãn hiệu
cụ thể Vì vậy từ góc độ nhà kinh doanh các yếu tố bổ sung trở thành một trôngnhững vũ khí cạnh tranh của các nhãn hiệu hàng hoá
1.2 Phân loại sản phẩm
Trang 4Sản phẩm trên thị trường và nhu cầu của khách hàng về sản phẩm rấtphong phú và đa dạng.
1.2.1 Phân loại theo thời gian sử dụng
Theo tiêu chí thời gian sử dụng, sản phẩm trên thị trường được chia thành+ Sản phẩm sử dụng lâu dài
+ Sản phẩm sử dụng ngắn hạn
+ Một số các dịch vụ
1.2.2 Phân loại sản phẩm theo thói quen mua hàng
Được chia thành một số loại sa đây
Sản phẩm mua khẩn cấp là những sản phẩm sử dụng hàng ngày, nhưngđược mua, dùng khi xuất hiện nhu cầu cấp bách vì một lý do bất thường nào đó
Thứ hai là: Sản phẩm mua sắm sử dụng có lựa chọn
Đó là những sản phẩm mà việc mua sắm, sử dụng diễn ra lâu hơn, đồngthời khi mua sắm, sử dụng, khách hàng thường lựa chọn, so sánh, cân nhắc vềnhiều phương diện như: công dụng, kiểu dáng, chất lượng, giá cả của chúng
Thứ ba là: Sản phẩm có nhu cầu đặc thù
Đó là những sản phẩm có tính chất đặc biệt mà khi mua người ta sẵn sàng
bỏ thêm sức lực, thời gian để tìm kiếm và lựa chọn chúng
Thứ tư là: Sản phẩm có các nhu cầu thụ động
Đó là những sản phẩm mà người tiêu dùng ít hiểu biết về chúng vàthường không nghĩ đến việc mua, dùng chúng vì chúng không liên quan trựctiếp đến nhu cầu sống hàng ngày
1.2.3 Phân loại theo nhóm các sản phẩm là tư liệu sản xuất
Sản phẩm là tư liệu sản xuất có thể được phân loại trên cơ sở mức độtham gia vào quá trình sản xuất, chế tạo hay hoạt động nào đó của tổ chức và giátrị tương đối của chúng
Thứ nhất là: Các vật tư chi tiết
Đó là những sản phẩm được sử dụng thường xuyên và toàn bộ vào cấuthành sản phẩm được sản xuất ra bởi nhà sản xuất
Thứ hai là: Tài sản cố định
Trang 5Đó là những tư liệu sản xuất tham gia nhiều lần vào quá trình sản xuất vàgiá trị của chúng được dịch chuyển dần, từng phần vào giá trị sản phẩm do tổchức sử dụng chúng tạo ra.
Thứ ba là: Vật tư phụ và dịch vụ
Đó là vật liệu sản xuất không có mặt trong cấu thành của sản phẩm,nhưng không thể thiếu trong hoạt động của các tổ chức, đặc biệt là các tổ chứckinh doanh
1.3 Khái niệm về chính sách sản phẩm.
1.3.1.Khái niệm chính sách sản phẩm.
Chính sách sản phẩm là các quyết định Marketing liên quan đến sản phẩmnhằm đảm bảo sự thành công của tổ chức làm Mảrketing trên thương truờng vàđây là một nghệ thuật kết hợp các nguồn lực của Doanh nghiệp nhằm tạo ra lợithế cạnh tranh dài hạn cho từng sản phẩm trong môi trường biến đổi cạnh tranhnhư hiện nay
1.3.2.Đặc điểm và vai trò của chính sách sản phẩm.
- Vai trò của chính sách sản phẩm không chỉ là chính sách cơ bản củaMarketing mà còn là cơ sở của chính sách Marketing khác, đáp ứng vai trò củamình Chính sách sản phẩm đưa ra các vấn đề cần giải quyết
+ Mục tiêu cần đạt là gì?
+ Đối thủ cạnh tranh là ai?
+ Cạnh tranh như thế nào?
+ Lợi thế của cạnh tranh là gì?
Vị trí và vai trò chính sách sản phẩm của công ty trong chiến lượcMarketing chung của công ty là tạo cho sản phẩm của mình có chỗ đứng vữngchắc trên thị trường trước đối thủ cạnh tranh dựa trên sự phối hợp và điều hoàcủa hệ thống Marketing Chính sách giúp hoàn thiện mục tiêu của công ty Đểhình thành các quyết định trên các nhà quản trị cần phải có đầy đủ những thôngtin cần thiết từ phía khách hàng, thị trường đối thủ cạnh tranh và cân nhắc từphía công ty
2 Nội dung chính sách sản phẩm
2.1.Các quyết định về chính sách nhãn hiệu sản phẩm.
2.1.1.Khái niệm về nhãn hiệu của sản phẩm.
Nhãn hiệu là một tập hợp bao gồm tên, biệt hiệu, biểu tượng, hình vẽ và
sự phối hợp của các yếu tố đó được dùng để xác nhận sản phẩm của một ngườibán hay một nhóm người bán và để phân biệt chúng với các đối thủ cạnh tranh
2.1.2.Bộ phận của nhãn hiệu.
Nhãn hiệu là dấu hiệu đầu tiên để nhận biết sản phẩm nên nó được cấu tạobởi các thành phần sau:
Trang 6-Tên nhãn hiệu: Đó là một bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể đọc được.
- Dấu hiệu của nhãn hiệu: Bao gồm biểu tượng, hình vẽ, màu sắc hay kiểu
chữ đặc thù Đó là một bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể nhận biết đượcnhưng không thể đọc được
- Dấu hiệu hàng hoá: Là toàn bộ nhãn hiệu hay một bộ phận của nó được
đăng ký tại cơ quan quản lý nhãn hiệu và do đó được bảo vệ về mặt pháp lý
- Quyền tác giả: Là độc chiếm tuyệt đối về sao chụp xuất bản và bán nội
dung và hình thức của một tác phẩm văn học, âm nhạc hay nghệ thuật
2.1.3 Các loại nhãn hiệu
- Nhãn hiệu quốc gia hay nhãn hiệu nhà chế tạo
- Nhãn hiệu riêng
- Nhãn hiệu gia đình
2.1.4.Các quyết có liên quan đến nhãn hiệu.
Trước khi thực hiện chiến lược sản phẩm của mình các doanh nghiệp phảiquyết định hàng loạt các vấn đề có liên quan đến nhãn hiệu sản phẩm để đưa ra mộtnhã hiệu của riêng mình Các vấn đề cơ bản họ thường phải quyết định đó là:
+ Có gắn nhãn hiệu cho sản phẩm của mình hay không? Việc gắn nhãnhiệu cho sản phẩm có ưu điểm là thể hiện được lòng tin của người mua đốivới nhà sản xuất khi họ dám khẳng định sự hiện diện của mình trên thị trườngqua nhãn hiệu, làm căn cứ cho việc lựa chọn của người mua và đặc biệt củanước ta hiện nay nó làm cơ sở cho việc quản lý chống làm hàng giả và hàngkém chất lượng
+ Ai là người chủ nhãn hiệu sản phẩm? nhà sản xuất mong muốn chínhmình là chủ đích thực về nhãn hiệu sản phẩm do mình sản xuất ra Nhưng đôikhi vì những lý do khác nhau nhãn hiệu sản phẩm lại không phải nhãn hiệu củanhà sản xuất Nhưng dù lựa chọn cách nào khi đặt tên cho nhãn hiệu sản phẩmcũng phải đảm bảo 4 yêu cầu: nó phải hàm ý về lợi ích của sản phẩm, nó phảihàm ý về chất lượng của sản phẩm, nó phải dễ đọc dễ nhận biết và dễ nhớ, nóphải khác biệt hẳn những tên khác
2.2 Quyết định về chính sách bao bì và dịch vụ sản phẩm.
2.2.1 Chính sách về bao bì sản phẩm.
- Bao bì là các lớp bọc phía ngoài sản phẩm có chức năng cơ bản nhất là bảo vệ,bảo quản sản phẩm Những hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiệnbằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc kết hợp các yếu tố Bao bì thường baogồm các phần sau:
+ Lớp tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm
+ Lớp bảo vệ lớp tiếp xúc
+ Bao bì vận chuyển
Trang 7+ Nhãn hiệu và các thông tin mô tả sản phẩm trên bao gói.
- Ngày nay bao gói trở thành công cụ đắc lực của hoạt động Marketing bởi vì:
Thứ nhất: Bao vì bảo vệ thuộc tính vật chất của sản phẩm.
Thứ hai: Giúp việc sử dụng sản phẩm một cách dễ dàng hơn.
Thứ ba: Bao bì có thể sử dụng nhiều lần.
Thứ tư: Bao bì có tác dụng quảng bá về biểu tượng, hình ảnh của sản phẩm và tổ
chức cung cấp `
Như vậy bao bì cần:
- Đảm bảo cho sản phẩm không bị hư hỏng
- Thích hợp, không quá lệch lạc với sản phẩm bên trong
Nội dung Marketing về bao bì sản phẩm
Marketing về bao bì sản phẩm gồm những quyết định quan trọng.
- Xây dựng quan niệm về vấn đề bao bì sản phẩm
- Quyết định về đặc tính cho từng loại sản phẩm của tổ chức
- Quyết định về thử nghiệm bao bì sản phẩm
2.2.2 Chính sách về các dịch vụ đối với sản phẩm và khách hàng
- Một yếu tố khác cấu thành sản phẩm hoàn chỉnh là dịch vụ khách hàng.Tuỳ vào từng loại hàng hoá sản phẩm mà tầm quan trọng của dịch vụ kháchhàng sẽ khác nhau Các nhà quản trị Marketing phai giải quyết bốn vấn đề liênquan đến việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng:
+ Nội dung hay các yếu tố dịch vụ mà khách hàng đòi hỏi và khả năngcông ty có thể cung cấp là gì? Tầm quan trọng tương đối từng yếu tố dịch vụ đó
+ Chất lượng dịch vụ và công ty phải đảm bảo chất lượng dịch vụ chokhách hàng đến mức độ nào so với các đối thủ cạnh tranh
+ Chi phí dịch vụ, tức là khách hàng được cung cấp dịch vụ miễn phí haytheo mức giá cả nào
+ Lựa chọn hình thức cung cấp dịch vụ: Công ty tự tổ chức lực lượngcung cấp dịch vụ, dịch vụ được cung cấp bởi các nhà trung gian buôn bán, dịch
vụ do tổ chức độc lập bên ngoài công ty cung cấp
2.3 Quyết định về chủng loại sản phẩm.
2.3.1 Khái niệm về chủng loại sản phẩm.
Chủng loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có liên quan chặt chẽ vớinhau do giống nhau về chức năng hay do bán chung cho cùng một nhóm kháchhàng, hay thông qua cùng những kiểu tổ chức thương mại, hay trong khuôn khổcùng một dãy giá
2.3.2.Các quyết định về bề rộng của chủng loại sản phẩm.
Trang 8- Bề rộng của chủng loại sản phẩm là sự phân giải về số lượng các mặthàng thành phần theo một tiêu thức nhất định, như theo kích cỡi, theo côngsuất…
- Mỗi công ty thường có cách thức lựa chọn bề rộng chủng loại sản phẩmkhác nhau Những lựa chọn này tuỳ thuộc vào mục đích mà công ty theo đuổitheo hai cách:
Các tổ chức phát triển sản phẩm theo các xu hướng là”
- Phát triển hướng lên trên
- Phát triển hướng xuống dưới
- Phát triển theo cả hai hướng (Cả lên trên và xuống dưới)
2.3.4 Quyết định về bổ sung chủng loại sản phẩm
Một số nguyên nhân dẫn đến quyết định bổ sung chủng loại sản phẩm củacác tổ chức, thường thấy là: Mong muốn có thêm lợi ích cho tổ chức, mongmuốn thỏa mãn nhucaauf của khách hàng ở những khoảng trống trong chủngloại hiện có; tận dụng năng lực sản xuất dư thừa của tổ chức; Kỳ vọng trở thành
tổ chức chủ chốt dẫn đầu với chủng loại sản phẩm hoàn thiện hơn; Mong muốnxóa bỏ khoảng trống để ngăn chặn nguy cơ dột nhập của đói thủ cạnh tranh
2.3.5 Quyết định về danh mục sản phẩm.
Danh mục sản phẩm là tập hợp các chủng loại sản phẩm và các đơn vị sản phẩm
do một cá nhân, tổ chức cụ thể đem chào ra thi trường
Tập trung chủ yếu vào 4 vấn đề
- Bề rộng danh mục sản phẩm
- Mức độ phong phú của danh mục sản phẩm, hàng hóa trong một tổchức được đo bằng số những mặt hàng mà tổ chức đó dã đưa ra
- Bề sâu của danh mục sản phẩm, hàng hóa ở một tổ chức là các phương
án chào bán từng mặt hàng riêng trong khuôn khổ nhóm chủng loại sảnphẩm, hàng hóa của tổ chức đưa ra chào, bán trên thị trường
- Mức độ hài hòa của danh mục sản phẩm
Danh mục sản phẩm là tập hợp các chủng loại sản phẩm và các đơn vị sảnphẩm do một cá nhân, tổ chức cụ thể đem chào ra thi trường
→Chính sách sản phẩm là một lĩnh vực hoạt động nhiều chiều và phức tạp đòihỏi phải thông qua những quyết định về những đặc điểm cụ thể của danh mục
Trang 9sản phẩm, chủng laoij snr phẩm, sử dụng tên nhãn hiệu, bao gói và dịch vụ sảnphẩm.
2.4 Thiết kế và Marketing sản phẩm mới.
2.4.1 Định nghĩa về sản phẩm mới.
- Theo quan niệm Marketing, sản phẩm mới là những sản phẩm lần đầu
tiên được tạo ra và cung ứng nhằm gợi mở và đáp ứng các nhu cầu mới củakhách hàng, các nhãn hiệu mới, các ý tưởng mới là kết quả của phát minh, sángchế hoặc cải tiến
- Thiết kế sản xuất sản phẩm mới là một việc làm cần thiết nhưng có thể
là mạo hiểm đối với doanh nghiệp
2.4.2 Các giai đoạn thiết kế sản phẩm mới
- Hình thành ý tưởng: việc hình thành lý tưởng phải được tiến hành một
cách có hệ thống và phải căn cứ vào:
- Lựa chọn ý tưởng và thiết kế sản phẩm mới: mục đích của lựa chọn là để
cố gắng phát hiện sàng lọc và thải loại những ý tưởng không phù hợp, kém hấpdẫn nhằm chọn được ý tưởng tốt nhất
Khi lựa chon ý tưởng phải căn cứ vào: bản mô tả thiết kế sản phẩm, thịtrường mục tiêu, tính cạnh tranh, quy mô thị trường, giá cả dự kiến, mức đọ phùhợp với nguồn lực của tổ chức, chiến lược marketing cho sản phẩm mới
- Soạn thảo và thẩm dịnh dự án cho sản phẩm mới: Chiến lược Marketing
cho sản phẩm mới bao gồm 3 phần:
+ Phần thứ nhất mô tả quy mô, cấu trúc thị trường và thái độ khách hàngtrên thị trường mục tiêu
+ Phần thứ hai trình bày quan điểm chung về phân phối sản phẩm và dựđoán chi phí Marketing cho năm đầu
+ Phần thứ ba trình bày những mục tiêu tương lai về các chỉ tiêu: tiêu thụ,lợi nhuận, quan điểm chiến lược lâu dài về các yếu tố Marketing – Mix
- Thiết kế sản phẩm mới: Ở đây bộ phận nghiên cứu thiết kế sản phẩm
mới đưa ra nhiều phương án hay sản phẩm mới…với mẫu mã và kiểu cách mới
Trang 10- Thử nghiệm trong điều kiện thị truờng với đối tượng được thử nghiệm
có thể là khách hàng, các nhà kinh doanh và các chuyên gia có kinh nghiệm
- Triển khai sản xuất hàng loạt và quyết định tung sản phẩm mới
2.5 Chu kỳ sống của sản phẩm và phát triển sản phẩm mới.
2.5.1 Khái niệm về chu kỳ sống của sản phẩm
- Chu kỳ sống của sản phẩm là thuật ngữ mô tả sự biến đổi của doanh sốtiêu thụ kể từ khi sản phẩm được tung ra thị trường cho đến khi nó phải rút luikhỏi thị trường Chu kỳ sống của sản phẩm có thể được xem xét cho từng mặthàng cụ thể, từng nhóm chủng loại thậm chí từng nhãn hiệu sản phẩm
2.5.2 Các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm.
Một sản phẩm khi tồn tại luôn bao gồm các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn tung ra thị trường: Đây là giai đoạn mở đầu của việc đưa ra
sản phẩm ra bán chính thức trên thị trường
+ Giai đoạn phát triển: Ở giai đoạn này mức tiêu thụ bắt đầu tăng mạnh,
trên thị trường bắt đầu xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh mới, lợi nhuận tronggiai đoạn này tăng
+ Giai đoạn bão hoà: Khi nhịp độ tăng mức tiêu thụ bắt đầu chững lại
việc tiêu thụ sản phẩm bước vào giai đoạn chín muồi Về thời gian, giai đoạnnày thường dài hơn các giai đoạn trước và đặt ra những nhiệm vụ phức tạp tronglĩnh vực quản trị Marketing Để tiếp tục tồn tại trên thị trường các nhà quản trịMarketing có thể có các phương án lựa chọn khác
+ Giai đoạn suy thoái: là giai đoạn này xuất hiện khi mức tiêu thụ các
loại sản phẩm hoặc nhãn hiệu sản phẩm giảm sút Khi mức tiêu thụ giảm sút dẫnđến lợi nhuận giảm sút một số công ty rút khỏi thị trường còn lại có thể thu hẹpchủng loại sản phẩm chào bán
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CP
BÓNG ĐÈN VÀ PHÍCH NƯỚC RẠNG ĐÔNG
Trang 111 Giới thiệu về công ty Rạng Đông
Cơ sở 1: 87 - 89 Hạ Đình Thanh xuân Hà nội Cơ sở 2: Khu công nghiệp Quế võ Bắc Ninh
Công ty cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông tiền thân là nhà máybóng đèn phích nước Rạng Đông được khởi công xây dựng năm 1958 là mộttrong 13 nhà máy đầu tiên của Đất nước được thành lập theo quyết định củachính phủ đặt nền móng cho công nghiệp Việt Nam, sau khi chiến tranh kết thúcnăm 1954
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty bao gồm: Sản xuất kinhdoanh sản phẩm nguồn sáng và thiết bị chiếu sáng các loại, phích nước và cácsản phẩm thủy tinh
Ngày 28-4-1964, công ty vinh dự được đón bác Hồ về thăm, Bác căn dặnchú trọng nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng nhu cầu vànguyện vọng của nhân dân Ngày 28/04 đã trở thành ngày hội lớn của công tyhàng năm
Trải qua 50 năm hình thành và phát triển công ty Rạng Đông đã lớn mạnhkhông ngừng với hai cơ sở sản xuất lớn
Cơ sở 1 được xây dựng từ năm 1958 tới nay với tổng diện tích 57000 m2,bao gồm 13 phòng ban trực thuộc, 4 xưởng sản xuất chia làm 15 ngành, với
3000 cán bộ công nhân viên chức, 18 dây truyền sản xuất bóng đèn huỳnh quang
và bóng đèn huỳnh quang compact, 6 dây truyền sản xuất bóng đèn sợi đốt, 3dây truyền sản xuất thiết bị chiếu sáng, 3 dây truyền sản xuất chấn lưu điện tử,chấn lưu điện từ, và nhiều dây truyền sản xuất khác
Cơ sỏ 2 tại khu Công nghiệp Quế Võ Bắc Ninh được xây dựng năm 2006với tổng diện tích trên 62000m2, bao gồm 1 lò thủy tinh Hunggary, 1 lò thủythủy tinh Sodalime công suất 30 tần/ngày, 1 lò thủy tinh không chỉ công suất 19tấn /ngày 4 dây truyền kéo ống ống huỳnh quang, kéo ống compact, 2 dâytruyền thôi thôi vỏ các loại
Trang 12Hiện nay, năng lực sản xuất của công ty đạt 80 triệu bóng đèn các loạimột năm, trên 7 triệu sản phẩm phích nước, hơn 3 triệu sản phẩm thiết bị chiếusáng, 1 triệu sản phẩm đèn bàn các loại…
Công ty có hệ thống thương mại rộng khắp cả nước, bao gồm 5 văn phòngđại diện, 6 chi nhánh tại miền trung và miền Nam, ban Doanh nghiệp và tư vấnchiếu sáng, ban kỹ thuật và Marketing với hơn 500 nhà phân phối, hơn 6000 cửahàng đại lí bán lẻ
Với sự nỗ lực và sức mạnh của mình, Công ty Rạng Đông đã liên tục pháttriển với tố độ cao, ổn định, vững chắc, doanh thu và lợi nhuận năm sau cao hơnnăm trước
Mục tiêu của chúng tôi:
“ Tiên phong trong lĩnh vực nguồn sáng và thiết bị chiếu sáng chất lượng cao- Hiệu suất cao- Tiết kiệm điện- Bảo Vệ môi trường”
Địa chỉ: 87- 89 Hạ Đỉnh, Thanh xuân, Hà Nội
để bài viết sâu hơn em xin giới thiệu sản phẩm phích nước của công ty Công ty
luôn đưa uy tín lên hàng đầu, sản phẩm của công ty luôn được đánh giá là hàngchất lượng cao phù hợp với người tiêu dùng, để làm được điều này công ty có lẽkhông chỉ làm tốt công tác chăm sóc khách hàng mà còn làm tốt chính sách sảnphẩm của mình
2.1 Quyết định về nhãn hiệu
Với tiêu chí hàng đầu là chất lượng vàng hàng hoá dịch vụ hoàn hảo,mang lại sự hài lòng và lợi ích người tiêu dùng Công ty Cổ phần bóng đèn vàphích nước Rạng Đông đã đăng ký nhãn hiệu riêng cho công ty mình Chính vìvậy Công ty được người tiêu dùng biết đến với đa dạng các chủng loại, sảnphẩm chất lượng cao Vì vậy đã từ lâu nhãn hiệu Rạng Đông đã đi vào lòngngười mà khi nhìn trên sản phẩm là họ nhận ngay ra sản phẩm của công tyRạng Đông với nhãn hiệu khác biệt với công ty khác