Thế giới đã bước vào thế kỷ XXI Một thế kỷ của những vấn đề môi trường sinh thái. Nó là mối quan tâm, lo lắng chung của toàn nhân loại, đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố quyết định của môi trường đối với hoạt động kinh tế. Nó cấu thành các nguồn lực vật chất nguyên thuỷ cho hoạt động kinh tế. Dường như khi loài người xuất hiện thì sự tiến hoá của giới tự nhiên đã sẵn sàng những tài nguyên cần thiết để xã hội loài người sinh thành và phát triển. Giới tự nhiên ở tầng vũ trụ là vô hạn nhưng trong phạm trù môi trường thì nó là một hữu hạn. Trong khái niệm tài nguyên thiên nhiên, tức là đối tượng của lao động sản xuất, thì giới tự nhiên cũng có một phạm vi xác định nhỏ bé. Những nguồn vật chất tự nhiên làm thành tài nguyên cho con người sử dụng vào trong sinh hoạt đời sống, vào trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất trước bộ máy công nghiệp lớn mạnh lại càng là một giới hạn chật hẹp. Hơn nữa sự kết hợp các nguyên tố tự nhiên trong quá trình tiến hoá để hình thành nên những tài nguyên cần thiết cho sinh hoạt đời sống và sản xuất là một quá trình lịch sử lâu dài và ở trong những hoàn cảnh nhất định. Thời gian mà con người và xã hội loài người được sinh ra cho tới nay là một khoảnh khắc lịch sử ngắn ngủi so với toàn bộ lịch sử sinh thành của các tài nguyên có trên trái đất hợp thành môi trường sống và phát triển của loài người. Vậy là trong nền sản xuất xã hội, trong sự phát triển kinh tế của nhân loại chứa đựng một mâu thuẫn: một mặt giới tự nhiên giữ một chìa khoá của sự phát triển. Đây là chiếc chìa khoá của các kho vật liệu cho sản xuất của nhân loại, nhưng lại là một cái kho hữu hạn. Mặt khác trong khi theo đuổi các mục tiêu của cuộc sống con người đã tăng sức sản xuất tạo ra bộ máy công nghiệp, con người đã tăng vô hạn sức sản xuất, thì đồng thời con người đã tăng vận tốc trên con đường đi tới những giới hạn của bản thân sản xuất. Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp chậm phát triển sang kinh tế phát triển hiện đại một cách rút ngắn. Quá trình này được thúc đẩy bởi ba làn sóng công nghiệp, nông nghiệp, và làn sóng phát triển hiện đại. Dưới tác động của kinh tế thị trường, công nghiệp mở cửa, hội nhập tiến trình phát triển của thế giới Việt Nam có mức tăng trưởng khá cao. Nhưng sự tăng trưởng này mới chỉ đi đôi với việc tăng cường khai thác các tài nguyên. Hệ kinh tế thị trường đòi hỏi hoạt động kinh tế đạt hiệu quả tối đa trên cơ sở tăng năng suất và tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất. Các nhà sản xuất chạy theo lợi nhuận và ít quan tâm nhiều đến môi trường, tính chưa hợp lý gây ra tổn thương đến môi trường chưa đạt đến mức nghiêm trọng và có cả khả năng khắc phục được. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã xác định đường lối chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta là phải gắn kết phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế bền vững với cân bằng sinh thái và bảo vệ, cải thiện môi trường. Đây là một vấn đề lớn có tính vùng, miền, quốc gia, quốc tế. Để kết hợp được hai mục tiêu tăng trưởng phát triển kinh tế bền vững với mục tiêu cân bằng sinh thái cần có được sự nỗ lực của toàn cộng đồng, của mọi quốc gia. Và đây là vấn đề đặt ra cho thời đại và các thế hệ tương lai. Tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên: Phạm Thành đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành đề án này. Với hạn chế là một sinh viên năm thứ hai nên tôi còn rất nhiều thiếu sót trong nội dung và cách trình bày đề án. Tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến của mọi người về bài viết của tôi. Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Giang
Trang 1A Đặt Vấn đề
Thế giới đã bớc vào thế kỷ XXI - Một thế kỷ của những vấn đề môi ờng sinh thái Nó là mối quan tâm, lo lắng chung của toàn nhân loại, đồng thờicũng là đối tợng nghiên cứu của nhiều khoa học, thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau
tr-Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố quyết định của môi trờng đối vớihoạt động kinh tế Nó cấu thành các nguồn lực vật chất nguyên thuỷ cho hoạt
động kinh tế Dờng nh khi loài ngời xuất hiện thì sự tiến hoá của giới tự nhiên
đã sẵn sàng những tài nguyên cần thiết để xã hội loài ngời sinh thành và pháttriển
Giới tự nhiên ở tầng vũ trụ là vô hạn nhng trong phạm trù môi trờng thì
nó là một hữu hạn Trong khái niệm tài nguyên thiên nhiên, tức là đối tợng củalao động sản xuất, thì giới tự nhiên cũng có một phạm vi xác định nhỏ bé.Những nguồn vật chất tự nhiên làm thành tài nguyên cho con ngời sử dụng vàotrong sinh hoạt đời sống, vào trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất trớc
bộ máy công nghiệp lớn mạnh lại càng là một giới hạn chật hẹp Hơn nữa sựkết hợp các nguyên tố tự nhiên trong quá trình tiến hoá để hình thành nênnhững tài nguyên cần thiết cho sinh hoạt đời sống và sản xuất là một quá trìnhlịch sử lâu dài và ở trong những hoàn cảnh nhất định Thời gian mà con ngời
và xã hội loài ngời đợc sinh ra cho tới nay là một khoảnh khắc lịch sử ngắnngủi so với toàn bộ lịch sử sinh thành của các tài nguyên có trên trái đất hợpthành môi trờng sống và phát triển của loài ngời
Vậy là trong nền sản xuất xã hội, trong sự phát triển kinh tế của nhânloại chứa đựng một mâu thuẫn: một mặt giới tự nhiên giữ một chìa khoá của sựphát triển Đây là chiếc chìa khoá của các kho vật liệu cho sản xuất của nhânloại, nhng lại là một cái kho hữu hạn Mặt khác trong khi theo đuổi các mụctiêu của cuộc sống con ngời đã tăng sức sản xuất tạo ra bộ máy công nghiệp,con ngời đã tăng vô hạn sức sản xuất, thì đồng thời con ngời đã tăng vận tốctrên con đờng đi tới những giới hạn của bản thân sản xuất
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển từ kinh tế nôngnghiệp chậm phát triển sang kinh tế phát triển hiện đại một cách rút ngắn Quátrình này đợc thúc đẩy bởi ba làn sóng công nghiệp, nông nghiệp, và làn sóngphát triển hiện đại Dới tác động của kinh tế thị trờng, công nghiệp mở cửa, hộinhập tiến trình phát triển của thế giới Việt Nam có mức tăng trởng khá cao
Trang 2Nhng sự tăng trởng này mới chỉ đi đôi với việc tăng cờng khai thác các tàinguyên.
Hệ kinh tế thị trờng đòi hỏi hoạt động kinh tế đạt hiệu quả tối đa trên cơ
sở tăng năng suất và tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất Các nhà sản xuất chạytheo lợi nhuận và ít quan tâm nhiều đến môi trờng, tính cha hợp lý gây ra tổnthơng đến môi trờng cha đạt đến mức nghiêm trọng và có cả khả năng khắcphục đợc
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã xác định đờng lốichiến lợc phát triển kinh tế xã hội của nớc ta là phải gắn kết phát triển xã hội,tăng trởng kinh tế bền vững với cân bằng sinh thái và bảo vệ, cải thiện môi tr -ờng
Đây là một vấn đề lớn có tính vùng, miền, quốc gia, quốc tế Để kết hợp
đợc hai mục tiêu tăng trởng phát triển kinh tế bền vững với mục tiêu cân bằngsinh thái cần có đợc sự nỗ lực của toàn cộng đồng, của mọi quốc gia Và đây làvấn đề đặt ra cho thời đại và các thế hệ tơng lai
Tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên: Phạm Thành đã nhiệt tình giúp đỡ,hớng dẫn tôi hoàn thành đề án này Với hạn chế là một sinh viên năm thứ hainên tôi còn rất nhiều thiếu sót trong nội dung và cách trình bày đề án Tôi rấtmong nhận đợc những đóng góp ý kiến của mọi ngời về bài viết của tôi
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Giang
B Nội dung I) Lý luận chung.
1 Những vấn đề lý luận về cân bằng sinh thái và tăng trởng phát triển kinh tế bền vững
1.1 Tìm hiểu khái niệm cân bằng sinh thái:
Môi trờng sinh thái là một khái niệm rộng, nó bao gồm các thành phầnmôi trờng với chức năng cơ bản là nguồn cung cấp tài nguyên cho con ngời, lànơi chứa đựng phế thải, là không gian sống của con ngời và các loài sinh vậtkhác Môi trờng sinh thái hay môi trờng sinh thái hay môi trờng tự nhiên baogồm các nhân tố của tự nhiên tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con ngời
nh không khí, đất đai nguồn nớc, ánh sáng mặt trời, động thực vật…
Trang 3Môi trờng sinh thái là một hệ thống bao gồm nhiều hệ sinh thái Mỗi hệsinh thái lại đợc tạo nên từ nhiều quần thể sinh vật cùng chung sống phát triểnvới nhau trong một môi trờng nhất định có tơng tác với nhau và với môi trờng
đó Các phần tử cơ cấu của môi trờng sinh thái thờng xuyên tác động lẫn nhau,qui định và phụ thuộc lẫn nhau làm cho hệ thống tồn tại, hoạt động và pháttriển Vì vậy mỗi sự thay đổi dù rất nhỏ của mỗi phần tử cơ cấu đều gây ra mộtphản ứng dây chuyền trong toàn hệ, làm suy giảm hoặc gia tăng số lợng vàchất lợng của nó
Cân bắng sinh thái hay còn gọi là cân bằng thiên nhiên (balance ofnature) tức là trạng thái các quần xã sinh vật, các hệ sinh thái ở tình trạng cânbằng khi số lợng tơng đối của các cá thể, các quần thể sinh vật vẫn giữ đợc ởthế ổn định tơng đối Điều đó làm cho tổng lơng toàn hệ có mối liên hệ ổn
định Nói "ổn định tơng đối" là vì trên thực tế cấu tạo của toàn hệ không có sự
ổn định tuyệt đối mà luôn luôn có sự thay đổi, phát triển hoặc chết Các cá thểsinh vật luôn luôn thích ứng với sự tác động của điều kiện môi trờng tự nhiên
nh khí hậu, nhiệt độ, nớc, đất đai… Một khi có sự biến đổi của tổng hoà tất cảcác quần xã sinh vật của môi trờng cha đến mức quá lớn thì toàn bộ hệ sinhthái ở vào thế ổn định gọi là thế cân bằng Đó là thế cân bằng đọng nghĩa làchúng dao động nhng không phá vỡ tính ổn định của toàn hệ
1.2 ý nghĩa của việc giữ cân bằng sinh thái.
Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, cùng với sự phát triển nh vũ bão của khoahọc và công nghệ, sự gia tăng dân số và quá trình đô thị hoá, môi trờng sốngcủa con ngời cũng đã bị tàn phá hết sức nặng nề Hậu quả là thiên tai sầm sậpkéo đến, dịch bệnh hoành hành, bầu không khí, nguồn nớc, mặt đất bị nhiễm
độc, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, nhiều loài sinh vật biến mất… Và khi
ấy con ngời mới bừng tỉnh nhân ra một thực tế đáng sợ là: Nếu không bảo vệtốt môi trờng thì hoạ diệt vong của loài ngời sẽ là điều khó tránh
Theo các nhà nghiên cứu, hàng năm nền công nghiệp thế giới thải vàomôi trờng 200 triệu tấn SO2 ; 150 triệu tấn oxit nitơ; 110 triệu tấn bụi độchại…Do vậy mà trên thế giới có tới 50% dân số thành thị phải sống trong môitrờng có khí SO2 vợt quá tiêu chuẩn, hàng tỷ ngời phải sống trong môi trờngbụi than, bụi phấn quá mức cho phép… Bên cạnh đó lợng khí thải từ sinh hoạtgia đình gây ô nhiễm tầng thấp rất lớn, nhất là tại đô thị ở các nớc đang phát
Trang 4triển nhà ở chật chội, dân c đông đúc, nguồn đun nấu từ than, củi hãy còn làphổ biến khiến cho bầu không khí ngay tại khu dân c rất ngột ngạt.
Ngoài ra khí thải từ các phơng tiện giao thông cũng góp phần làm ônhiễm bầu khí quyển Số lợng xe ôtô có trên 700 triệu, 80%, khí CO2 trongkhông khí là do các phơng tiện giao thông thải ra kèm theo đó là từ 150 đến
200 loại hợp chất sunfua và axit nitơ Các chất thải này tích tụ trên diện rộng
sẽ gây ra hiệu ứng nhà kính, khí hậu biến đổi, gây ra những biến đổi lý hoá cóhại cho môi trờng Các khí độc hại bụi khí ảnh hởng xấu đến quá trình sinh tr-ởng của mọi loài sinh vật một số loài bị tiêu diệt, gây ra nhiều bệnh tật cho conngời nhất là các bệnh về tim mạch, hô hấp và căn bệnh ung th Kết quả phântích về ô nhiễm môi trờng của Trung Quốc cho thấy trong số 20 thành phố cóbầu không khí bị ô nhiễm nặng nề thì mỗi năm có thêm 1,5 triệu ngời bị bệnhviêm phế quản mãn tính, 17,7 vạn ngời mắc bệnh tim phổi và có 2,3 vạn ngời
bị chết do bệnh đờng hô hấp Kéo theo các bệnh dịch đó là gì? - Đó là hàngnăm quốc gia sẽ phải chi một khoản ngân sách nho nhỏ vào y tế để nghiên cứuvác xin phòng dịch, ngay tại các gia đình đôi khi kinh tế cũng trở nên kiệt quệ
Đặc tính đó cần đợc tính đến trong hoạt động t duy và trong tổ chức thực tiễncủa con ngời
Môi trờng dù với quy mô lớn hay nhỏ nh thế nào cũng đều là một hệthống mở Các dòng vật chất, năng lợng và thông tin liên tục "chảy" trongkhông gian và thời gian Vì thế, hệ môi trờng rất nhạy cảm với những thay đổi
từ bên ngoài, điều này lý giải vì sao các vấn đề môi trờng mang tính vùng,tính toàn cầu, tính lâu dài Và nó chỉ đợc giải quyết bằng nỗ lực của toàn thểcộng đồng, bằng sự hợp tác giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới vớimột tầm nhìn xa trông rộng vì lợi ích của thế giới hôm nay và các thế hệ maisau, để giữ lấy sự cân bằng sinh thái
Trang 51.3 Giải pháp đảm bảo cân bằng sinh thái
1.3.1 Sử dụng công nghệ sạch trong hoạt động sản xuất vật chất.
Trong công nghiệp: Đầu t vào máy móc giảm dần dẫn đến xoá bỏ nhữngmáy móc cũ, tốn nguyên nhiên vật liệu, thải chất thải ô nhiễm ra môi trờng,giảm lợng khi SO2, ôxi nitơ, … là các khí độc hại gây ra hiệu ứng nhà kính và
sự nóng lên của vỏ trái đất Giảm lợng chất thải rắn, chất thải lỏng cha qua xử
lý ra môi trờng Chất thải công nghiệp là một trong những chất thrai khó xử lý
và gây tác động lâu dài đến môi trờng sinh thái Nhà nớc cần có những quy
định cụ thể về lợng chất thải của mỗi doanh nghiệp trong các ngành nghề khácnhau, gắn trách nhiệm pháp lý và các hoạt động cố tình gây ô nhiễm, trốnthuế Cần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả và xử lý hành chính các hành vi viphạm
Trong nông nghiệp: Nông nghiệp là một hoạt động trực tiếp diễn ra trênmôi trờng đất nên có tác động trực tiếp đến mặt đất, nguồn nớc và không khí
Do trong nông nghiệp cần sử dụng biến pháp thâm canh đảm bảo cho đất nghỉngoi, khôi phục độ màu mỡ cho đất Nghiên cứu tìm ra các loại cây trồng mới
mà khi thu hoạch để lại chất dinh dỡng cho đất Bón phân vi sinh và các sảnphẩm phân hữu cơ ure vừa tăng năng suất cây trồng vừa tránh nguy cơ làm đấtbạc màu, cằn cỗi Không sử dụng bừa bãi chất hoá học vừa có ảnh hởng đếnsức khoẻ vừa tránh ô nhiễm môi trờng Thực hiện khẩu hiệu "sản xuất sạch"trong nông nghiệp bảo vệ sức khoẻ và bảo vệ môi trờng
1.3.2 Đầu t nghiên cứu sử dụng công nghệ xử lý chất thải tiên tiến trớc khi thải ra môi trờng.
Hiện nay mỗi ngày có hàng ngàn tấn rác thải ra môi trờng cha qua xử lýnhất là ở các khu đô thị hoá dân c đông đúc Đây là nguyên nhân chủ yếu gây
ra ô nhiễm môi trờng ở các dòng sông, các thành phố lớn Các loại rác thảisinh hoạt, rác thải bệnh viện vừa khó xử lý vừa gây tác động nặng nề đến môitrờng Ngoài ra còn nớc thải do quá trình sản xuất công nghiệp cứ thản nhiênchảy ra các dòng sông mà cha đợc xử lý Cần phải đầu t và đa sử dụng hệthống xử lý chất thải có quy mô lớn, có chất lợng cao để hạn chế tới mức tối
đa lợng chất thải cha qua xử lý thải ra môi trờng
1.3.3 Khai thác hiệu quả tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên đi kèm với biện pháp khôi phục và tái sử dụng.
Trang 6Hiện nay tình trạng khai thác TNTN vô cùng bừa bãi nhất là các loạikhoáng sản và tài nguyên rừng Do kỹ thuật kém, trình độ thấp nên hoạt độngkhai thác bừa bãi, không hiệu quả Khai thác, đào bới xong bỏ đi để lại hậuquả lớn cho ngời dân và cho môi trờng Những khoảnh đất rộng bị đào bới,không đợc san lấp lại vừa không sử dụng đợc vừa mất công san lấp Cần phải
có biện pháp quản lý chặt chẽ các mỏ quặng khai thác có kèm theo phục hồinguyên trang thái ban đầu Nhà nớc cần có những biện pháp mạnh mẽ nhằmchặn đứng tình trạng khai thác tự do của ngời dân bản xứ Hiện tợng chặt phárừng bừa bãi làm giảm diện tích rừng che phủ, rừng nguyên sinh hầu nh khôngcòn, các loại gỗ quý và động vật ngày càng hiếm Nhà nớc cần phải có nhữngbiện pháp cứng rắn để bảo vệ các khu rừng quý, có chính sách khai thác hiệuquả đi kèm với trồng lại Khuyến khích các chơng trình, dự án trồng rừng, phủxanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ các khu rừng đầu nguồn tránh tình trạngxói mòn rửa trôi Tăng diện tích rừng lên nhanh chóng để đảm bảo đợc nguồnkhông khí sạch
1.3.4 Giáo dục tuyên truyền nhân dân cùng tham gia bảo vệ môi trờng.
Công tác giáo dục tuyên truyền ý thức của ngời dân tham gia bảo vệ môitrờng rất quan trọng Họ có hiểu đợc thì họ mới làm theo Tăng cờng các ch-
ơng trình vệ sinh chung quanh thành phố, quanh làng xã, thực hiện nếp sốngvăn minh
Trên đây là các biện pháp nhằm đảm bảo cân bằng sinh thái Đây làhoạt động cần thiết không của riêng ai Tất cả mọi ngời cần gắng sức thực hiệnthì mới mong có thể khắc phục đợc tình trạng ô nhiễm môi trờng và đảm bảo
đợc cân bằng sinh thái
2 Tìm hiểu về tăng trởng và phát triển kinh tế bền vững.
2.1 Khái niệm chung:
Ngày nay các quốc gia độc lập, có chủ quyền đều đề ra những mục tiêuphấn đấu cho sự tiến bộ của quốc gia mình Sự tiến bộ trong một giai đoạn nào
đó của một nớc thờng đợc đánh giá trên hai mặt Sự gia tăng kinh tế và sự biến
đổi về mặt xã hội và đợc phản ánh qua hai thuật ngữ tăng trởng và phát triểnkinh tế
Tăng trởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lợng của nền kinh tếtrong một thời kỳ nhất định thờng là 1 năm Đó là kết quả của tất cả các hoạt
Trang 7động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra Để hiểu sự tăng trởng kinh tếngời ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lợng nền kinh tế, của từng thời kỳsau so với thời kỳ trớc Các quốc gia đều cố gắng sử dụng tối đa nguồn lực sẵn
có của mình để tăng trởng kinh tế càng nhanh càng tốt nhằm nâng cao chất ợng cuộc sống Nhng đây chỉ biểu hiện sự gia tăng về số lợng còn về mặt chấtlợng cha đợc phản ánh qua khái niệm tăng trởng mà phản ánh qua khái niệmphát triển kinh tế
l-Phát triển kinh tế là quá trình thăng tiến về mọi mặt của nền kinh tếtrong một thời kỳ nhất định bao gồm sự gia tăng về quy mô sản lợng và sự tiến
bộ về cơ cấu kinh tế
Phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về một sự chuyển biếncủa nền kinh tế từng trạng thái thấp lên trạng thái cao hơn Đây là một quátrình tiến hoá theo thời gian do những nhân tố nội tại của bản thân nền kinh tếquyết định Điều này có nghĩa chính những ngời dân của quốc gia đó phải lànhững thành viên chủ yếu tác động đến sự biến đổi kinh tế của đất nớc Họ lànhững ngời tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế và đợc hởng lợi ích dohoạt động này mang lại Phát triển kinh tế đánh giá cả sự biến đổi về số lợng
và chất lợng của xã hội
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà khônglàm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tơng lại
Khái niệm này nhận mạnh đến khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tàinguyên và bảo vệ môi trờng sống cho con ngời trong thời kỳ phát triển Điềunày có nghĩa thế hệ hiện tại có thể và cần phải khai thác tài nguyên thiênnhiên, sử dụng các điều kiện môi trờng hiện có để thoả mãn một cách tốt nhấtcác nhu cầu cuộc sống của mình Đồng thời thế hệ hiện tại cũng phải có tráchnhiệm bảo vệ và giữ gìn môi trờng và các điều kiện khác cho sự phát triển để
đảm bảo thế hệ tơng lai có thể sống bằng hoặc sống tố hơn thế hệ hiện tại Nhvậy bên cạnh việc khai thác sử dụng tài nguyên môi trờng chúng ta cần đầu tmột cách hợp lý cho việc tạo ra những điều kiện môi trờng mới hữu hiệu hơntrong tơng lai Sự phát triển xã hội loài ngời là quy luật tất yếu thì phát triểnbền vững là quy luật đồng hành tất yếu của sự phát triển xã hội loài ngời Xãhội loài ngời muốn tồn tại và phát triển thì không còn con dờng nào khác làphải lựa chọn sự phát triển của mình theo hớng phát triển bền vững
2.2 Các nhân tố đảm bảo phát triển bền vững.
Trang 8Nội dung của sự phát triển bền vững là sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà vàhợp lý giữa ba mặt của quá trình phát triển đó là phát triển kinh tế, phát triểnxã hội và bảo vệ môi trờng Nh vậy các nhân tố đảm bảo phát triển bền vững
là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trờng
2.2.1 Bền vững về kinh tế.
Bền vững về kinh tế đòi hỏi các quốc gia phải đảm bảo kết hợp hài hoàgiữa mục tiêu tăng trởng ổn định nền kinh tế với các yêu cầu phát triển vănhoá, xã hội, cân đối tốc độ tăng trởng kinh tế với các điều kiện nguồn lực, tàinguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, việc sử dụng hợp lý các nguồn thiênnhiên không tái tạo đợc và sự phát triển công nghệ sạch…Nhu cầu của con ng-
ời rất lớn không chỉ là nhu cầu về vật chất mà nhu cầu về tinh thần ngày càng
đợc chú trọng Bền vững về kinh tế nhằm nâng cao điều kiện sống về vật chất
và tinh thần của con ngời bằng phát triển sản xuất, nâng cao chất lợng hoạt
động văn hoá tinh thần cho ngời dân Sự phát triển kinh tế còn tuỳ thuộc vào
điều kiện của từng nớc về thể chế chính trị, nguồn tài nguyên thiên nhiên vànguồn lực con ngời Kế hoạch phát triển ở tầm vĩ mô của mỗi quốc gia đợc thểhiện ở các chính sách, chiến lợc, các chơng trình và kế hoạchdài hạn về pháttriển kinh tế xã hội, là các dự án phát triển cụ thể về khai thác tài nguyên, sảnxuất hàng hoá, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp các dịch vụ cần thiết cho conngời Hoạt động phát triển kinh tế là điều kiện đầu tiên đrm bảo cho sự pháttriển bền vững vì có hoạt động kinh tế mới giúp con ngời có điều kiện tham giavào các hoạt động khác Nh vậy các quốc gia phải biết tận dụng lợi thế củaquốc gia mình phát triển kinh tế ổn định và hiệu quả
2.2.2 Bền vững về xã hội
Một xã hội bền vững phải là một xã hội mà trong đó phát triển kinh tếphải đi đối với tiến bộ và công bằng xã hội Trong đó giáo dục đào tạo, y tế vàphúc lợi xã hội phải đợc chăm lo phát triển kinh tế phải gắn liên với công tácxoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và bảo vệ các truyền thống, di sản quýgiá của dân tộc Tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng các miền, côngbằng xã hội phải đợc đảm bảo, từ đó con ngời sẽ có động lực lao động và kếtquả sẽ khả quan hơn Hoạt động giáo dục đào tạo, y tế phải đợc đẩy nhanh tạo
điều kiện cho con ngời phát triển toàn diện bình đẳng Phát triển về con ngời
đợc đánh giá bằng chỉ số HDI Chỉ số phát triển con ngời HDI đợc tính theo bachỉ số là tổng sản phẩm trong nớc bình quân đầu ngời tính theo sức mua tơng
Trang 9đơng, trình độ học vấn và tuổi thọ trung bình Đây là chỉ số dùng để phân chiacác nớc theo trình độ phát triển Bền vững xã hội là sự duy trì sự tham giamạnh mẽ của cộng đồng, đợc thể hiện qua cấu trúc xã hội, bản sắc văn hoádân tộc, tính khoan dung, tình bạn và sự vĩnh tổn của luật lệ Một xã hội bềnvững là một xã hội mà con ngời đợc phát huy hết năng lực của mình, đợc tạocơ hội thăng tiến một cách bình đẳng và phúc lợi xã hội đợc đảm bảo.
2.2.3 Bền vững về môi trờng.
Bền vững về môi trờng tức là hệ thống môi trờng phải duy trì đợc trạngthái cân bằng sinh thái, đảm bảo cung cấp cho con ngời điều kiện sống trongsạch và lành mạnh Để làm đợc nh vậy con ngời khai thác hợp lý và sử dụngtiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, xử lý và khắc phục ônhiễm môi trờng, phục hồi và cải thiện chất lợng môi trờng, nâng cao chất l-ợng môi trờng Các nguồn tài nguyên không tái tạo đợc phải sử dụng trongphạm vi khôi phục đợc về số lợng và chất lợng bằng các con đờng tự nhiênhoặc nhân tạo Môi trờng tự nhiên nh không khí, đất, nớc, cảnh quan thiênnhiên và môi trờng xã hội nh sức khoẻ, cuộc sống, lao động và học tập củacon ngời nhìn chung không bị các hoạt động của con ngời làm ô nhiễm, suythoái và tổn hại Các nguồn phế tải từ công nghiệp và sinh hoạt đợc xử lý, táichế kịp thời, vệ sinh môi trờng đợc đảm bảo, con ngời đợc sống trong môi tr-ờng trong sạch Các nguồn năng lợng phải đợc khai thác với tốc độ đủ điềnkiện để đảm bảo cho xã hội có thể chuyển dần sang sử dụng các nguồn nănglợng có thể tái tạo Bền vững về môi trờng là sự duy trì vốn tự nhiên, khả năngcung cấp các nguồn nguyên nhiên vật liệu…cho hoạt động kinh tế và xử lýchất thải, là nguồn cung cấp các dịch vụ vui chơi giản trí, du lịch…phục vụ đờisống con ngời ngày một tốt hơn
Sự phát triển lâu dài và ổn định chỉ có thể đạt đợc dựa trên sự cân bằngnhất định của ba nhân tố nói trên Bất kỳ sự bất ổn nào của một trong ba yếu tốtrên đều không thể tạo ra sự phát triển bền vững Từ sự nhận thức trên con ngời
đã tìm ra cách tiếp cận mới đối với chiến lợc phát triển khi coi các vấn đề tăngtrởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trờng là ba yếu tố cấu thành củaxã hội có quan hệ hữu cơ với nhau, có mối quan hệ phụ thuộc vào nhau, thúc
đẩy lẫn nhau cùng phát triển Phát triển bền vững là một sự lựa chọn có tínhchiến lợc mà tất cả các quốc gia đều phải quan tâm và hớng tới thực hiện
3 Mối quan hệ giữa cân bằng sinh thái và phát triển kinh tế
Trang 10Dới góc độ kinh tế chính trị học và triết học mác - lê nin mối quan hệgiữa cân bằng sinh thái và phát triển kinh tế chính trị là mối quan hệ giữa conngời xã hội và tự nhiên Đây là ma mặt có đặc điêm riêng, cách thể hiệnriêng… nhng đều có một tính chất chung đó là vật chất Giới tự nhiên là vậtchất, con ngời là sản phẩm của tự nhiên, là một bộ phận đặc thù của tự nhiên,xã hội là sản phẩm của sự tác động giữa ngời với nền xã hội chính là bộ phận
đợc tách ra một cách hợp quy luật của tự nhiên Nh vậy tự nhiên, con ngời vàxã hội đều là vật chất, chính tính vật chất đã gắn kết tất cả ba yếu tố thànhmột chủ thể toàn vẹn, một hệ thống tự nhiên - con ngời - xã hội
Thế giới là vật chất luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển trong mốiquan hệ chặt chẽ ràng buộc lẫn nhau giữa các yếu tố Mối quan hệ giữa conngời và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội mà trớc hết làphơng thức sản xuất với t cách là động lực phát triển của xã hội trong đó lựclợng sản xuất giữ vai trò chủ đạo Trong sự phát triển của xã hội đã từng diễn
ra 4 cuộc cách mạng trong lực lợng sản xuất đã đa nhân loại từ mông muộisang văn minh với ba nền văn minh kế tiếp nhau Là văn minh Nhà nớc, vănminh công nghiệp và văn minh trí tuệ Trong quá trình đó mối quan hệ giữacon ngời và tự nhiên cũng diễn ra ở các mức độ khác nhau từ sự mù quáng củacon ngời, phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên hay sự hài hoà tuyệt đối giữa conngời và tự nhiên, tiếp đến con ngời đã bắt đầu phân biệt sự khác nhau với tựnhiên nhng chỉ hạn chế trong Nhà nớc Cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹthuật mâu thuẫn giữa con ngời và tự nhiên đã xuất hiện và ngày càng gay gắt.Chính mâu thuẫn đó là nguồn gốc của thực trạng môi trờng sống hiện nay trênthế giới Lôi cuốn cách mạng khoa học công nghệ mới con ngời sẽ có đợcnhững điều kiện để giải quyết mâu thuẫn giữa xã hội với tự nhiên
Hệ thống "tự nhiên - con ngời - xã hội" là một hệ thống vật chất thốngnhất trong đó con ngời là dạng vật chất có tổ chức cao nhất và cũng là dạng vậtchất duy nhất có ý thức, có t duy Bởi vậy chỉ có con ngời mới có khả nănggiải quyết những mâu thuẫn gay gắt giữa xã hội và tự nhiên Hơn nữa bản thân
tự nhiên về mặt cấu trúc cũng nh chức năng hoàn toàn không có gì mâu thuẫnvới con ngời, với xã hội Mâu thuẫn giữa con ngời và tự nhiên chỉ xuất hiệntrong quá trình hoạt động sống và phát triển xã hội của con ngời mà quantrọng nhất là quá trình sản xuất ra của cải vật chất Để điều khiển một cách có
ý thức mối quan hệ giữa con ngời và tự nhiên nghĩa là phải nắm bắt đợc những
Trang 11quy luật tự nhiên đồng thời phải biết vận dụng những quy luật đó vào hoạt
động thực tiễn của xã hội Với mục đích đa xã hội hoà nhập trở lại với tựnhiên, con ngời trong đó hoạt động thực tiễn của mình phải biết tuân thủ theonguyên tắc tự tổ chức, tự điều chỉnh, tự làm sạch, tự bảo vệ của tự nhiên Để
có thể xây dựng đợc mối quan hệ hài hào thực sự giữa xã hội và tự nhiên, conngời cần phải thay đổi chiến lợc phát triển xã hội từ chỗ chỉ vì lợi ích của xãhội, của con ngời sang vì lợi ích vì sự cùng tồn tại và phát triển của cả hệthống "Tự nhiên - con ngời - xã hội", nghĩa là đợc thực hiện chiến lợc pháttriển bền vững vì sự sống, sự tồn tại không chỉ của thế hệ hôm nay mà còn vì
sự sống và cơ hội phát triển của các thế hệ mai sau
Trên thực tế mối quan hệ giữa cân bằng sinh thái và phát triển kinh tế
đ-ợc thể hiện qua trình độ phát triển của xã hội mà trớc hết là qua các phơngthức sản xuất ở mỗi phơng thức sản xuất khác nhau con ngời sử dụng các cáchkhác nhau để tác động với thiên nhiên Trong thời kỳ công xã nguyên thuỷ,con ngời hoà hợp với toàn bộ thiên nhiên, con ngời săn bắt và hái lợm để kiếmsống, cha có bất kỳ một hành động nào tác động đến thiên nhiên Sang đếnthời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến bắt đầu phân biệt sự khác nhau giữacon ngời với tự nhiên con ngời bắt đầu biết trồng trọt, chăn nuôi nhng chỉ góigọn trong ngành nông nghiệp Thế nên môi trờng sinh thái vẫn đảm bảo đợc sựcân bằng của mình Sang đến phơng thức sản xuất TBCN tăng trởng kinh tế đ-
ợc đặt lên hàng đầu Cùng với cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVII,cách mạng khoa học kỹ thuật kinh tế đợc tập trung phát triển còn vấn đề môitrờng và công bằng xã hội không đợc đề cập đến Điều đó có nghĩa là xã hộichấp nhận sự bất bình đẳng trong xã hội và một sự suy thoái môi trờng nào
đó Chúng ta nghĩ rằng sau khi đạt đợc trình độ phát triển kinh tế cao, lúc đó
sẽ có điều kiện để khắc phục dần dần bất bình đẳng trong xã hội và làm sạchlại môi trờng Nhng nhiều khi cái quý giá phải trả cho sự phát triển nhanh là sựbất bình đẳng về mặt xã hội, là sự nghèo khó của một bộ phận dân c, là sự thấthọc ở một số trẻ em, là sự mở rộng các khu nhà ổ chuột ở các khu vực đô thị,
là tỷ lệ thất nghiệp luôn cao Còn cái giá phải trả về mặt môi trờng là tốc độ ônhiễm môi trờng ngày càng cao, sự cố môi trờng ngày càng gia tăng, hiện th-ợng hoang mạc xuất hiện trên những vùng đất trớc đây là rừng hay các mỏkhoáng sản, là các dòng sông bị ô nhiễm vì nớc thải và bầu trời xám xịt vìkhói công nghiệp
Trang 12Trong thế giới vật chất con ngời là dạng tổ chức vật chất cao nhất, có ýthức, có t duy và có khả năng cải tạo thế giới Trớc hậu quả nặng nề của môitrờng do hoạt động kinh tế phát triển của con ngời gây ra con ngời chợt bừngtỉnh và tìm ra cách tiếp cận mới đối với chiến lợc phát triển Trong đó các vấn
đề tăng trởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trờng là ba yếu tố cấuthành của xã hội, ba yếu tố này có quan hệ hữu cơ với nhau, phụ thuộc lẫnnhau thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển
Nh vậy phát triển kinh tế và cân bằng sinh thái có mối quan hệ hữu cơvới nhau, phụ thuộc lẫn nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển tạo nên sự pháttriển bền vững Điều kiện cho sự phát triển bền vững là tăng trởng kinh tếnhanh ổn định, đảm bảo sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và lu ý bảo
vệ môi trờng, bên cạnh đó cần quan tâm đến việc hoàn thiện cơ cấu kinh tế, cơcấu xã hội đảm bảo công bằng xã hội đợc thực hiện
Trang 134 ví dụ cụ thể Nhật Bản
Hiện nay trên thế giới hầu hết các quốc gia đều lựa chọn chiến lợc pháttriển bền vững Nhật Bản là một nớc nằm trong nhóm nớc phát triển nhất thếgiới Đợc coi là biểu trng cho sự phát triển và hùng mạnh Quá trình phát triểncủa Nhật Bản đã gây nên hậu quả vô cùng to lớn đến môi trờng sinh thái ảnhhởng đến chất lợng cuộc sống của ngời dân
ở Nhật Bản từ cuối thế kỷ XIX đã phát sinh vấn đề độc hại do lợng khóichứa hơi kẽm, lu huỳnh thoát ra từ các nhà máy đặc biệt là từ các khu khaithác mỏ Hoạt động của các ngành công nghiệp hiện nay có quy mô ngày cànglớn Từ đầu thế kỷ XX ở Nhật Bản đã hình thành các trung tâm công nghiệplớn, gắn liền với các khu công nghiệp là các khu tập trung dân c Sự tập trungquá mức của các ngành sản xuất và các khu dân c vào những khu vực địa lýnhất định tự nó đã gây nên tình trạng mất cân bằng sinh thái dẫn đến ô nhiễmmôi trờng Nhật Bản là một nớc đông dân (162,4 triệu) đứng thứ 8 trên thế giớinhng diện tích tơng đối nhỏ (378.000km2) nên mật độ dân số khá cao (336ng-ời/1km2) Đại đa số dân c Nhật Bản sống ở các vùng ven biển, các thành phốlớn với tỷ lệ dân số sống trong các đô thị là trên 70% Tokyo - thủ đô của NhậtBản là thành phố lớn nhất và đông dân nhất, chỉ riêng khu vực nội đô đã là 12triệu ngời Ngoài ra có nhiều thành phố triệu dân nhng cũng có các vùng núikhông có ngời sinh sống Tình trạng phân bố dân c không đều giữa các vùng
và mức độ tập trung cao ở một số đô thị, tự thân nó đã tiềm ẩn nguy cơ bùngphát về mức độ ô nhiễm
Trong những thập niên 50, 70 của thế kỷ XX, thời gian mà nền kinh tếNhật Bản phát triển thần kỳ đa Nhật Bản trở thành một nớc phát triển trên thếgiới Nhng đây cũng là thời kỳ mà xã hội Nhật Bản phải đối mặt với nhữngtình trạng ô nhiễm trầm trọng nhất là ở các vùng trung tâm và đô thị lớn Dochiến lợc phát triển kinh tế của Nhật Bản là tập trung phát triển công nghiệpnặng nh là hoá chất, hoá dầu, luyện kim…với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận,vấn đề môi trờng bị xem nhẹ Do vậy cuối những năm 50 đã xuất hiện cácbệnh phát sinh do ô nhiễm nh nhiễm độc nguồn nớc, bệnh do lợng hoá chấtcủa các nhà máy luyện kim, hoá chất thải ra Khi vấn đề ô nhiễm môi trờng đãtrở thành mối đe doạ thực sự đến cuộc sống của con ngời thì vấn có không ítngời tiếp tục suy nghĩ theo lối cũ đó là cứ cho nó trôi theo dòng nớc Thóiquen xả rác xuống sông hồ vẫn thờng xuyên diễn ra Hơn nữa ngời dân sống
Trang 14trong vùng bị ô nhiễm cũng không ý thức đợc đầy đủ mức độ nguy hiểm màmình phải gánh chịu, ngời bị hại vẫn chỉ dừng lại ở mức độ đấu tranh hoà bìnhvới các cơ sở sản xuất Bên cạnh đó giới chủ Công ty cũng thờng xử lý vấn đề
ô nhiễm bằng chế độ quà biếu rất điển hình theo kiểu xã hội truyền thống
Đây là cách thông dụng nhất để giải quyết các bất đồng trong xã hội Nhiềukhi có đến kháng nghị lên chính quyền nhng toà án phán quyết ở mức độ giảipháp bồi thờng và mức độ bồi thờng luôn thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu củaphía bị hại
Trong thập kỷ 60, kinh tế Nhật Bản tăng trởng rất mau lẹ nhng tìnhtrạng ô nhiễm cũng ngày càng trở nên nặng nề Các chất thải công nghiệpvùng với quá trình đô thị hoá, tập trung hoá dân c với mức độ cao ở thành thị
và các trung tâm công nghiệp đã gây nên trình trạng ô nhiễm môi trờng sống.Tình trạng ô nhiễm nguồn nớc, ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng động, ônhiễm thực phẩm, do việc sử dụng sai quy cách hoá chất tăng trởng và thuốctrừ sâu…trở thành vấn đề nan giải của xã hội Nếu nh trớc những năm 50mức độ ô nhiễm chỉ tập trung ở một số ngành công nghiệp và khu vực nhất
định thì sau một thập kỷ tình trạng ô nhiễm đã lan rộng và trở nên nghiêmtrọng ở hầu khắp lãnh thổ Nhật Bản Nhật Bản đợc ví nh "quần đảo bị ônhiễm" Hầu hết các con sông của Nhật Bản nhất là các con sông chảy qua cácthành phố lớn nh Tokyo đều bị ô nhiễm nặng Những dòng nớc đen, đặc sánh
đầy xú khí đã hoàn toàn xoá đi hình ảnh về các con sông trong sạch, thơmộng xa kia, nhiều con sông đã bị biến thành cống thoát nớc thải cho thànhphố
Nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó không chỉ do sự "lãng quên" củacác nhà t bản, tinh thần thiếu trách nhiệm của chính quyền các cấp mà còn do
ý thức về môi trờng từ phía dân chúng Do những tổn thất nặng nề của chiếntranh, Nhật Bản luôn nung nấu ý chí bằng mọi giá phải trở thành một cờngquốc kinh tế hàng đầu và chấp nhận hy sinh trên một số phơng diện Hơn nữalúc đó vấn đề môi trờng cha đáng báo động Mãi đến đầuthập kỷ 70 chínhquyền cùng các nhà hoạch định mới bắt đầu giảm bớt sự tập trung bằng mọigiá cho sự phát triển kinh tế đồng thời ban hành những đạo luật, giải phápchống ô nhiễm, bảo vệ môi trờng thiên nhiên và làm sạch thành phố
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá mạnh mẽ, sức hút củacác thành thị và khu công nghiệp cũng gây nên tình trạng thiếu hụt nguồn
Trang 15cung cấp lao động ở nhiều địa phơng Trớc tình hình đó chính phủ Nhật Bản đãthông qua kế hoạch "kế hoạch mới phát triển toàn diện trên quy mô toàn quốc"gồm những dự án phát triển quy mô lớn bao gồm cả việc xây dựng cơ sơ hạtầng nh phát triển hệ thống giao thông và thông tin Để thúc đẩy mạnh mẽcong cuộc hiện đại hoá nông thôn tháng 6 - 1971 Nghị viện Nhật Bản đã thôngqua "luật về xúc tiến đa công nghiệp và các khu vực nông nghiệp" gồm ba nộidung: chuyển dịch các cơ sở công nghiệp về nông thôn, chuyển một bộ phậnnông dân sang sản xuất công nghiệp và xúc tiến cải cách cơ cấu nông nghiệp.
Kế hoạch này đợc triển khai tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tếxã hội của các địa phơng Tuy nhiên chính sách hiện đại hoá, công nghiệphoá nông thôn cũng vô hình chung mở rộng phạm vi gây ô nhiễm môi trờng vàgây nên nguy cơ huỷ hoại môi trờng trên toàn lãnh thổ nớc Nhật
Nh vậy ô nhiễm đã trở thành vấn đề xã hội lớn nhng vì mục tiêu tăng ởng nhanh chính phủ Nhật Bản không những không chủ trọng đầu t cải thiệnmôi trờng mà ở mức độ nào đó còn dung túng các tổ chức độc quyền tiếp tụchuỷ hoại môi trờng nhiều nhà máy của t bản độc quyền đã ngang nhiên xâmphạm vào cả khu dân sinh thậm chí là các di tích lịch sử Nạn ô nhiễm môi tr-ờng ở các trung tâm công nghiệp đã ở mức trầm trọng nhất thế giới Khói xả
tr-từ các nhà máy và xe ô tô đã gây ô nhiễm đến mức ở một số nơi ngời ta phảibáo động mỗi khi không khí bị nhiễm độc quá nặng có thể gây tử thơng Và
nh vậy, trên thực tế cách thức lựa chọn con đờng phát triển đó đã làm mất đinhững lý tởng cao đẹp của cuộc sống và làm cho cuộc sống trở nên vô nghĩa
Từ cuối thập kỷ 60, trớc cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của nhiềutầng lớp xã hội, giới chủ t bản đã bắt đầu thực thi một cách nghiêm chỉnhnhững biện pháp kiểm soát ô nhiễm Đến năm 1967 Luật chống ô nhiễm môitrờng đã đợc thông qua với nguyên tắc cơ bản là ngời gây ô nhiễm phải chịubồi thờng những tổ thất cho ngời bị hại Hàng loạt tiêu chuẩn đợc đặt ra vớitừng loại chất thải đồng thời đề ra quy chế kiểm soát các chất thải côngnghiệp Việc thành lập "cục môi trờng" vào 1971 cho thấy sự chuyển biếntrong chính sách Từ chỗ chỉ nhấn mạnh tăng trởng kinh tế sang hớng trọngtâm đến bảo vệ môi trờng Tại các địa phơng cơ quan bảo vệ môi trờng cũngthiết lập và hoạt động dới sự chỉ đạo của cục môi trờng với phơng châm: sửdụng tiềm lực kinh tế ngày càng to lớn do đạt tốc độ tăng trởng cao để ngănchặn nạn ô nhiễm và cải thiện điều kiện môi trờng
Trang 16Trong những năm 70 nền kinh tế Nhật Bản đã thể hiện mạnh mẽ đặctính phát triển của nó và đại đa số dân chúng tầm quan trong của môi trờngcũng nh thực hiện phơng châm giải quyết các vấn đề môi trờng gắn liền với sựtăng trởng Năm 1973 "Luật đền bù cho sự thiệt hại về sức khoẻ do o nhiễm"
đợc ban hành Theo đó ngời gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm trớc pháp luật,các cơ sở sản xuất kinh doanh phải thực thi nghiêm túc các biện pháp cải tiến
kỹ thuật để ngăn chặn ô nhiễm trong quá trình sản xuất
Nhật Bản đã động viên nhân dân tích cực tham gia vào các hoạt độngphòng chống môi trờng Chính nhờ điều này các biện pháp phòng chống ônhiễm chiến lợc phát triển của Nhật Bản là rất hiệu quả Bên cạnh những biệnpháp phòng chống ô nhiễm và các nguồn tài nguyên đồng thời không ngừngnâng cao hàm lợng trí tuệ trong sản xuất, tập trung phát triển những ngànhcông nghệ cao và công nghệ tái chế kết hợp với nghiên cứu tìm ra nhữngnguồn năng lợng mới nh năng lợng mặt trời, sức gió, thuỷ triều
Nh vậy một nguyên tắc luôn đợc đặt ra là các dự án sản xuất và pháttriển tổng thể luôn phải có phần đánh giá môi trờng, giải pháp xử lý bảo vệmôi trờng Bởi vì việc bảo vệ môi trờng chính là nhằm bảo vệ con ngời, sứclao động và trí sáng tạo của họ trong công cuộc phát triển đất nớc
Nhờ những chính sách đồng bộ nêu trên mà điều kiện môi trờng ở NhậtBản đến cuối những năm 80 đã đợc cải thiện Do hoạt động kinh tế của NhậtBản diễn ra ở khắp các nớc trên thế giới nên nhiều quốc gia đã đặt yêu cầuNhật Bản phải có những đóng góp thoả đáng cho hoạt động phòng ngừa và xử
lý ô nhiễm Với t cách là một cờng quốc kinh tế thế giới Nhật Bản đã thực hiệnviệc bảo vệ môi trờng không chỉ trong quốc gia mình mà còn mở rộng ra nhiềuquốc gia khác Nhật Bản là nớc có những hành động tích cực trong việc cungcấp tài chính và thiết bị kỹ thuật bảo vệ môi trrờng và phòng chống ô nhiễm.Năm 1999 Nhật Bản đã xếp thứ 4 trong 5 nớc đứng đầu về chỉ số phát triểncon ngời HDI Ngày nay Nhật Bản đã và đang thực hiện chiến lợc phát triểnbền vững với tầm trí tuệ cao hơn, giàu tính nhân bản hơn để tạo nên một sự hoàhợp màu sắc giữa con ngời với thế giới tự nhiên và môi trờng sống của mình
Trang 17II ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu đối với nớc ta.
1 Thực trạng về môi trờng sinh thái và phát triển bền vững ở nớc ta.
1.1 Thực trạng về môi trờng sinh thái ở nớc ta.
Đối với nớc ta, khi xem xét hiện trạng của môi trờng sinh thái cần phảixuất phát từ việc phân tích mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình tác động qua lạigiữa con ngời và tự nhiên, trong điều kiện của một nớc còn chậm phát triểnnhng lại đang chịu ảnh hởng mạnh mẽ của các yếu tố hiện đại nh kỹ thuật,công nghệ, cơ chế thị trờng và cả những yếu tố truyền thống dân tộc nh quanniệm của con ngời về tự nhiên, về mối quan hệ của con ngời với tự nhiên.Chính các quan niệm đó là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nênnhững mâu thuẫn giữa con ngời và tự nhiên trong các quá trình khai thác và
sử dụng thiên nhiên trong điều kiện hiện nay của nớc ta Những mâu thuẫntrong nền kinh tế, trong đời sống xã hội đã trực tiếp quy định những mâuthuẫn giữa con ngời và tự nhiên và ngợc lại những mâu thuẫn giữa con ngời và
tự nhiên cũng ảnh hởng nhất định đến việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xãhội và chính trị
Hiện trạng môi trờng sinh thái ở Việt Nam vô cùng phức tạp và đa dạng
Sự phức tạp và đa dạng này bị quy định bởi tính phức tạp và đa dạng của trình
độ phát triển xã hội nớc ta hiện nay Trong giai đoạn phát triển hiện nay ởViệt Nam đang đồng thời tồn tại các nền văn minh trớc nông nghiệp, Nhà nớc,công nghiệp và thậm chí là hậu công nghiệp Về hình thái kinh tế - xã hộichúng ta đã có một kiến trúc thợng tầng và một ý thức xã hội khó nhng cơ sởhạ tầng và tồn tại xã hội đang còn ở trình độ thấp, có một chế độ chính trị ởmức tiên tiến, nhng điều kiện kinh tế - xã hội còn kém phát triển Tất cảnhững điều đó đợc phản ánh một cách rõ nét qua hiện trạng của môi trờng sinhthái
Việt Nam là một thành viên của ngôi nhà chung trái đất, tuy có nhữngnét đặc thù riêng nhng vấn đề môi trờng sinh thái ở nớc ta không nằm ngoàinhững vấn đề môi trờng sinh thái của trái đất Hiện trạng môi trờng sinh tháiViệt Nam gồm cả những vấn đề về sự khan hiếm và cạn kiệt các nguồn tàinguyên thiên nhiên, lẫn những vấn đề về sự ô nhiễm môi trờng sống Nếu nh ởcác nớc phát triển hậu hoạ sinh thái là do sự phát triển của kỹ thuật, côngnghệ do sự phát triển tự phát của nền văn minh công nghiệp thì ở Việt Nam
Trang 18hậu hoạ sinh thái lại do sự kết hợp giữa phát triển và lạc hậu, do ảnh hởngnặng nề của lối sống sản xuất nhỏ và sản xuất công nghiệp, cha hoàn thiện Cóthể nói hiện trạng môi trờng sống ở Việt Nam là biểu hiện sự hội tụ đan xencủa những vấn đề môi trờng sinh thái điển hình của thời đại: vấn đề môi trờngsinh thái của giai đoạn trớc nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp.
1.1.1 Thực trạng về tài nguyên thiên nhiên
Nớc ta có nhiều u thế về tài nguyên thiên nhiên và những điều kiện địa
lý tự nhiên đặc biệt là nguồn tài nguyên tái tạo (rừng, đất đai, động thực vật),một số loại tài nguyên khoáng sản (dầu mỏ, than đá, bô xít, vật liệu xâydựng…) khí hậu nhiệt đới gío mùa nóng, ẩm, mặt trời chiếu sáng quanhnăm… là nguồn cung cấp năng lợng sống cho con ngời và mọi sinh vật Ngoài
ra, tài nguyên phong cảnh đang mở ra triển vọng cho ngành dịch vụ tham quan
du lịch, nghỉ ngơi, giải trí Nớc ta là một nớc đang phát triển, khoa học, kỹthuật và công nghệ còn nhỏ bé và yếu kém nên nguồn tài nguyên thiên nhiênvẫn còn là nguồn lực, tiềm năng rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế Song
do quá trình khai thác và sử dụng của chúng ta cha hợp lý, tiết kiệm dẫn đến sựnghèo nàn và cạn kiệt số tài nguyên đó và còn gây ra ô nhiễm môi trờng sinhthái
Tài nguyên rừng ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng với diện tích chephủ lên đến 48% Rừng ở nớc ta không chỉ nhiều mà còn đa dạng về chủngloại với nhiều kiểu rừng khác nhau nh rừng lá rộng, rừng lá kim, rừng ngậpmặn…Trong rừng có đến 12.000 loài thực vật trong đó có nhiều loại quý hiếm
nh đinh, lim, sến, táu, giáng hơng, gụ, mật, lát hoa Về động vật có khoảng
1000 loài chim, 300 loài thú, hơn 3000 loài bò sát lỡng thể Trong đó có nhiềuloài quý nh tê giác, sao la, hơu sao, voọc…
Ngày nay rừng Việt Nam đã và đang bị phá hoại nặng nề, rừng nguyênsinh gần nh không còn, diện tích rừng che phủ giảm xuống còn dới 20%(1990) Nguyên nhân của sự sa sút nghiêm trọng đó một phần là do hậu quảchiến tranh để lại còn phần lớn là do lối suy nghĩ thiển cận và sự hiểu biết kémcỏi của ngời sản xuất nhỏ Trong điều kiện dân số tăng nhanh và sự tấn côngcủa cơ chế thị trờng và cuộc sống con ngời Chiến tranh hoá học của Mỹ đã đểlại di hại rất lớn: Hàng triệu ha đất rừng trớc đây bị tác hại của chiến tranhhoá học vẫn tiếp tục bị suy thoái Mức độ mất rừng của nớc ta quá lớn khoảng200.000 ha một năm trong đó 60.000 ha bị chặt phá không theo quy hoạch,