1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái

95 397 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loan 2008, Xây dựng mô hình làng nghề, khu du lịch sinh thái gắn liền với phát triển nông thôn bền vững tại các xã vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, hay

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRÁI ĐẤT

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Viết Khanh

Thái Nguyên, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng Kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Phúc Lộc

Xác nhận của trưởng khoa chuyên môn

PGS.TS Nguyễn Thị Hồng

Xác nhận của Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS Trần Viết Khanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Viết Khanh đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Ban chủ nhiệm khoa Địa lí, các thầy giáo, cô giáo khoa Địa lí trường Đại Học Sư Phạm – Đại học Thái Nguyên Tôi xin cảm ơn các giáo sư, tiến sĩ của Viện Địa lí thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Thái Nguyên; UBND huyện Đại Từ, và các cơ quan, cá nhân đã giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, những người thân và bạn bè luôn động viên, ủng hộ, giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015

Học viên

Nguyễn Phúc Lộc

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

MỤC LỤC ….iii

DANH MỤC VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 5

6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5

6.1 Quan điểm nghiên cứu 5

6.1.1 Quan điểm tổng hợp 5

6.1.2 Quan điểm lịch sử 5

6.1.3 Quan điểm hê ̣ thống 6

6.1.4 Quan điểm pha ́ t triển bền vững 6

6.2 Phương pha ́ p nghiên cứu 6

6.2.1 Phương pháp thực địa 6

6.2.2 Phương pha ́ p thu thập và tổng hợp tài liệu 6

6.2.3 Phương pha ́ p xử lí số liê ̣u thống kê 6

6.2.4 Phương pháp phân tích tổng hợp 7

6.2.5 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí 7

6.2.6 Phương pháp nghiên cứu địa lí tự nhiên ứng dụng 8

6.2.7 Phương pháp phân tích dự báo 8

Trang 6

7 Đóng góp của luận văn 8

8 Cấu trúc của luận văn 8

NỘI DUNG 9

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ CƠ SỞ ĐỊA LÍ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI 9

1.1 Tổng quan về du lịch sinh thái 9

1.1.1 Các khái niệm 9

1.1.1.1 Khái niệm du lịch 9

1.1.1.2 Khái niệm du lịch sinh thái 10

1.1.2 Nhiệm vụ và phân loại du lịch sinh thái 12

1.1.2.1 Nhiệm vụ 12

1.1.2.2 Phân loại 13

1.1.3 Yêu cầu phát triển DLST 13

1.1.4 Đặc điểm của các đối tượng tham gia hoạt động DLST 17

1.2 Cơ sở địa lí để phát triển du lịch sinh thái 18

1.2.1 Điều kiện phát triển du lịch sinh thái 18

1.2.1.1 Quan điểm 18

1.2.1.2 Tài nguyên du lịch sinh thái 18

1.2.1.3 Phân loại tài nguyên du lịch sinh thái chính 21

1.2.1.4 Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái 25

1.2.2 Phương pháp đánh giá 27

1.2.2.1 Phương pháp đánh giá theo từng dạng tài nguyên du lich 27

1.2.2.2 Phương pháp đánh giá tổng hợp 29

Tiểu kết chương 1 32

Chương 2: CƠ SỞ ĐỊA LÍ HUYỆN ĐẠI TỪ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI 33

2.1 Cơ sở địa lí huyện Đại Từ 33

2.1.1 Vị trí địa lí và lãnh thổ 33

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 35

2.1.2.1 Đặc điểm địa chất - khoáng sản 35

Trang 7

2.1.2.2 Địa hình và tài nguyên địa hình 38

2.1.2.3 Điều kiện khí hậu 42

2.1.2.4 Thủy văn 45

2.1.2.5 Lớp phủ thổ nhưỡng 46

2.1.2.6 Thảm thực vật 47

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 50

2.1.3.1 Dân cư và nguồn lao động 50

2.1.3.2 Tình hình kinh tế 50

2.1.3.3 Cơ sở hạ tầng 51

2.2 Đánh giá tổng hợp điều kiện địa lí để phát triển du lịch sinh thái 52

2.2.1 Hiện trạng du lịch huyện Đại Từ 52

2.2.1.1 Ưu điểm 52

2.2.1.2 Hạn chế 52

2.2.2 Lựa chọn đối tượng đánh giá 53

2.2.3 Xây dựng thang đánh giá 54

2.2.3.1 Chọn các tiêu chí đánh giá 54

2.2.3.2 Xác định chỉ tiêu và điểm của các cấp 55

2.2.3.3 Xác định hệ số của các tiêu chí 56

2.2.4 Đánh giá các điểm DLST huyện Đại Từ 56

2.2.5 Đánh giá kết quả 59

Tiểu kết chương 2 60

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 61

DU LỊCH SINH THÁI HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN 61

3.1 Tổ chức lãnh thổ DLST 61

3.1.1 Vị trí của huyện Đại Từ trong chiến lược phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên 61

3.1.2 Một số điểm DLST tiêu biểu 62

3.1.2.1 Khu du lịch quốc gia Hồ Núi Cốc 62

3.1.2.2 Suối Tiên Sa 63

3.1.2.3 Vườn quốc gia Tam Đảo 64

Trang 8

3.1.2.5 Khu di tích quốc gia 27/7 65

3.1.3 Mô hình không gian phát triển DLST huyện Đại Từ 66

3.1.3.1 Các tuyến DLST trên địa bàn huyện 66

3.1.3.2 Các tuyến DLST liên huyện 67

3.2 Định hướng và giải pháp phát triển DLST huyện Đại Từ 70

3.2.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển 71

3.2.1.1 Quan điểm phát triển 71

3.2.22 Mục tiêu phát triển 71

3.2.2 Định hướng phát triển DLST huyện Đại Từ 72

3.2.2.1 Định hướng phát triển các loại hình du lịch 72

3.2.2.2 Định hướng phát triển du lịch theo lãnh thổ 72

3.2.2.3 Định hướng sản phẩm du lịch 73

3.2.2.4 Định hướng về quy hoạch và giám sát các hoạt động kinh tế 74

3.2.3 Giải pháp phát triển DLST huyện Đại Từ 75

3.2.3.1 Giải pháp về cơ chế, chính sách 75

3.2.3.2 Giải pháp về đào tạo cán bộ quản lí và hướng dẫn viên du lịch 76

3.2.3.3 Giải pháp liên kết với cộng đồng 77

3.2.3.4 Giải pháp xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật 77

3.2.3.5 Giải pháp về bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học 78

Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN82 TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Mức độ đánh giá điều kiện phát triển DLST huyện Đại Từ 32

Bảng 2.1 Diện tích theo cấp độ cao tuyệt đối và độ dốc [25] 38

Bảng 2.2: Tần suất gió mùa đông trạm Đại Từ (đơn vị: %) 42

Bảng 2.3: Tần suất gió mùa hè trạm Đại Từ (đơn vị: %) 42

Bảng 2.4: Nhiệt độ trung bình tháng, năm ở trạm Đại Từ (đơn vị: 0 C) 43

Bảng 2.5: Lƣợng mƣa trung bình tháng và năm ở một số trạm của huyện Đại Từ (đơn vị: mm) 44

Bảng 2.6 Mức độ đánh giá điều kiện phát triển DLST huyện Đại Từ 56

Bảng 2.7 Đánh giá các điểm DLST huyện Đại Từ 58

Bảng 2.8 Đánh giá mức độ thuận lợi để phát triển DLST tại các điểm DLST tiêu biểu ở huyện Đại Từ 59 Bảng 3.1 So sánh một số chỉ tiêu của huyện Đại Từ so với tỉnh Thái Nguyên 61

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Hành chính huyện Đại Từ 34

Hình 2.2: Địa hình huyện Đại Từ 41

Hình 2.3: Thảm thực vật năm 2011 huyện Đại Từ 49

Hình 3.1: Bản đồ không gian du lịch sinh thái huyện Đại Từ 70

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Du lịch là một trong những hoạt động KT-XH xuất hiện sớm trên thế giới Ngành này còn được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói” và có vai trò ngày càng quan trọng với đời sống con người Du lịch đã và đang phát triển mạnh

mẽ, mang lại hiệu quả kinh tế cao nên được nhiều quốc gia chú trọng đầu tư phát triển để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều quan tâm tới việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển du lịch gắn bảo đảm sự phát triển bền vững Các quốc gia và các địa phương đang cố gắng tìm ra những giải pháp về quy hoạch và quản lý du lịch sao cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên không những không bị suy thoái cạn kiệt mà còn được bảo tồn như là một nguồn lực cơ bản để tiếp tục khai thác

sử dụng trong hiện tại và tương lai

Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, vấn đề phát triển

du lịch sao cho xứng với vị trí và vai trò của ngành kinh tế mũi nhọn lại càng trở nên cần thiết Những năm gần đây, hoạt động du lịch của nước ta diễn ra hết sức sôi động

và có nhiều đóng góp tích cực vào sự phát triển KT-XH của đất nước, góp phần tích cực vào quá trình thực hiện chính sách đổi mới về đối ngoại và kinh tế đối ngoại

Đại Từ là một huyện miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên, là huyện có nhiều tiềm năng về đất đai, khí hậu, tài nguyên, có nhiều điều kiện phát triển toàn diện các ngành kinh tế đặc biệt là phát triển nông, lâm nghiệp và du lịch Đặc biệt khí hậu và đất đai

đã tạo ra những điều kiện để huyện phát triển đa dạng các loại hình du lịch nói chung

và du lịch sinh thái nói riêng

Mặc dù huyện Đại từ có nhiều tiềm năng, nhưng công tác khai thác, sử dụng các nguồn lực còn thiếu tính lâu dài và đồng bộ trên toàn khu vực Để có quy hoạch phát triển kinh tế bền vững , phát huy được thế mạnh của huyện , cần có những nghiên cứu đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và KT-XH nhằm xây dựng cơ sở khoa học

Trang 13

cho việc đi ̣nh hướng phát triển, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm du lịch, đặc biệt

là trong các hoạt động DLST nhằm đảm bảo phát triển bền vững KT-XH của huyện

Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát

triển du lịch sinh thái” nhằm góp phần khai thác tốt các tiềm năng tự nhiên và nhân

văn phục vụ chiến lược phát triển KT-XH và bảo vệ môi trường khu vực nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Trên thế giới

Từ khi khẳng định được vai trò và tầm quan trọng của mình, DLST và ngành địa lý du lịch đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới dưới nhiều góc độ và mức độ khác nhau

Các chương trình nghiên cứu về DLST đã trở lên rất phổ biến trong những năm gần đây Công trình nghiên cứu loại hình du lịch sinh thái của Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (1979), Hội du lịch sinh thái (1992), Tổ chức du lịch Thế giới (WTO 1994) Đặc biệt năm 2002 là năm du lịch sinh thái quốc tế với Hội nghị thượng đỉnh thế giới về DLST được tổ chức tại thành phố Quebec của Canada.Hội nghị này là sáng kiến của WTO và Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu về cơ sở lí luận phát triển DLST của Wright (1993), Glaser (1996), Holden (1999)

Những nghiên cứu về DLST nói trên là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá, khai thác, quản lí và định hướng phát triển DLST

2.2 Ở Việt Nam

Lịch sử ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960, trong đó phần lớn tập trung vào các vấn đề về tổ chức không gian du lịch, cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu du lịch Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực này đã được thực hiện như: Đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì (1991); “Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam” do Nguyễn Trần Cầu và Lê Thông chủ trì (1993); “Quy hoạch quốc gia và vùng , phương pháp luận và phương pháp nghiên

Trang 14

cứu” do Vũ Tuấn Cảnh và Lê Thông thực hiện (1994); sách Địa lý du lịch (1996) và Địa lý du lịch Việt Nam (2010) do Nguyễn Minh Tuệ chủ biên…

DLST là một khái niệm còn mới mẻ nhưng đã được chú ý Trong những năm gần đây, có rất nhiều khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam với mục đích về với tự nhiên Năm 1995 Viện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam đã thực hiện đề tài

“Hiện trạng và định hướng cho công tác quy hoạch phát triển du lịch vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long” Năm 1998, công trình nghiên cứu của PGS–TS Phan Huy Xu

và ThS Trần Văn Thành: “Đánh giá Tài Nguyên Du Lịch tự nhiên và định hướng khai thác DLST của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long” Năm 2002, PGS–TS Phạm Trung Lương với công trình nghiên cứu “DLST những vấn đề về lí luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam” “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm bền vững” của Phạm Lê Thảo năm 2006…

Đối với tỉnh Thái Nguyên nhìn chung các đề tài có liên quan đến vấn đề đánh giá tổng hợp điều kiện phục vụ phát triển du lịch hầu như chỉ đáp ứng phần nào phục

vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh Tiêu biểu là các công trình “Địa

lý tỉnh Thái Nguyên” của nhà giáo nhân dân Trịnh Trúc Lâm (1998) hay luận án của

TS Nguyễn Thị Hồng (2002), “Nghiên cứu hiện trạng và dự báo biến động môi

trường tự nhiên do một số hoạt động kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2010”

hoặc luận văn ThS Địa lý học của Nguyễn Thanh Mai (2003), Phát triển du lịch ở

lưu vực Sông Công tỉnh Thái Nguyên, luận văn ThS Địa lý học của Hoàng Thị Trà

My (2009), Phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên trong thời kì hội nhập , Đặc biệt, năm

2009, cuốn “ Địa chí Thái Nguyên” được xuất bản, tạo tiền đề quan trọng cho công tác

đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của tỉnh Năm 2012, luận văn thạc

sĩ của tác giả Dương Nghĩa Ân tổng hợp thành tựu phát triển du lịch của tỉnh thông qua

công trình “Phát triển du lịch Thái Nguyên trở thành ngành kinh tế quan trọng”

Huyện Đại Từ tuy là một huyện giàu tiềm năng song công tác nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế lại rất hạn chế Phần lớn các đề tài đi sâu vào việc tìm hiều một số tiềm năng chính của huyện như luận văn thạc sĩ địa lí tự nhiên của tác giả

Phạm Thu Thủy (2007), Khai thác các điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển du lịch tại

khu du lịch Hồ Núi Cốc, tỉnh thái Nguyên ; luận văn thạc sĩ Kinh tế của Nguyễn Thị

Trang 15

Loan (2008), Xây dựng mô hình làng nghề, khu du lịch sinh thái gắn liền với phát

triển nông thôn bền vững tại các xã vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, hay đề tài “Tìm hiểu về khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng một số giống chè nhập nội và biện pháp bón phân qua lá cho giống chè có triển vọng tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Tá,

Th.S Đặng Thị Thu Thúy (2013); luận văn thạc sĩ Nghiên cứu ngành sản xuất chè trên

địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Nghiên cứu biến động sử dụng đất của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2010, của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà

(2013) Gần nhất là công trình Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên huyện Đại Từ -

tỉnh Thái Nguyên phục vụ phát triển nông - lâm nghiệp của tác giả Nguyễn Thu

Giang (2014)

Đây chủ yếu là các nghiên cứu chuyên ngành phục vụ cho một số mục đích cụ thể, đã phát huy tác dụng một cách đắc lực cho sự phát triển một số ngành kinh tế của huyện Tuy nhiên, để sử dụng một cách hợp lý, phát huy hết thế mạnh (nông - lâm nghiệp và du lịch) của địa phương và quan trọng hơn là sự phát triển phải song hành bảo

vệ môi trường, rất cần có một nghiên cứu theo hướng đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho phát triển một số lĩnh vực kinh tế nông - lâm nghiệp và

du lịch của huyện

Mặc dù đã có công trình nghiên cứu liên quan đến việc khai thác và đánh giá các điều kiện tự nhiên, nhưng chưa có nghiên cứu nào đề câ ̣p mô ̣t cách toàn diê ̣n đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, KT-XH phục vụ phát triển DLST huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên

3 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá tổng hợp các điều kiện của huyện Đại Từ, trên cơ sở đó xác định những yếu tố thuận lợi cho phát triển DLST huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu đề ra, luâ ̣n văn tâ ̣p trung vào các nhiê ̣m vu ̣ sau:

- Tổng quan cơ sở lý luận về đánh giá các điều kiện tự nhiên – KT-XH phục vụ

Trang 16

- Thu thập số liệu, phân tích đánh giá các tài nguyên DLST

- Tiến hành xây dựng bản đồ định hướng quy hoạch đối với DLST cho huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên

- Kiến nghị sử dụng hợp lý lãnh thổ trong phát triển du lịch trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

5 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian nghiên cứu: huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên

- Về mặt thời gian: sử dụng các số liệu từ năm 2000 đến nay

- Đối tượng là các nhân tố điều kiện ảnh hưởng tới sự phát triển và hoạt động

DLST huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên

6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

6.1 Quan điểm nghiên cứu

6.1.1 Quan điểm tổng hơ ̣p

̣a trên cơ sở nhìn nhâ ̣n, đánh giá các sự vâ ̣t hiê ̣n tượng trên mô ̣t lãnh thổ cu ̣ thể

có tính toàn diện, không bỏ sót yếu tố nào Quan điểm tổng hợp được vâ ̣n du ̣ng trong đánh giá tổng hợp các yếu tố thành phần của tự nhiên và nhân văn, trên cơ sở đó nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động DLST của huyện Đại

Từ Sử du ̣ng quan điểm này giúp tác giả tránh được cách nhìn nhâ ̣n có tính phiến diê ̣n

6.1.2 Quan điểm lịch sử

Mỗi thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên đều có quá trình phát sinh, phát triển và biến đổi không ngừng theo thời gian Mỗi đơn vị tự nhiên phải mất một thời gian dài để hình thành Do vậy, các số liệu thống kê từng đối tượng đều gắn với một giai đoạn phát triển nhất định

Muốn xác định đúng nguồn gốc phát sinh, động lực phát triển, nguyên nhân biến đổi hiện tại và dự báo xu thế phát triển tương lai của các điều kiện tự nhiên, không thể không vận dụng quan điểm lịch sử Đây cũng là cơ sở để đưa ra định hướng cho

sử dụng hợp lý tài nguyên và không gian lãnh thổ

Trang 17

6.1.3 Quan điểm hê ̣ thống

Quan điểm này cho phép nhìn nhâ ̣n , phân tích, đánh giá theo mô ̣t trình tự các mối quan hê ̣ ràng buô ̣c lẫn nhau , theo mô ̣t chuỗi các liên kết , mô ̣t chu trình phát triển trên mô ̣t lãnh thổ cu ̣ thể Nó được vận dụng vào việc nghiên cứu đánh giá các điều kiện phát triển và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả DLST huyện Đại Từ

6.1.4 Quan điểm pha ́ t triển bền vững

Quan điểm phát triển bền vững đang là một trong những quan điểm bao trùm đối với sự phát triển KT - XH trên thế giới và ở nước ta Vâ ̣n du ̣ng vào luâ ̣n văn, đi ̣nh hướng phát triển DLST phải dựa trên cơ sở đảm bảo khả năng hoạt động du lịch ổn

đi ̣nh, chất lượng sản phẩm ngày càng gia tăng , số lượng, chất lượng tài nguyên không

bị suy giảm theo thời gian và không ảnh hưởng tới sức khỏe con người và giới sinh

vâ ̣t, hạn chế tối đa những mặt trái của cơ chế thị t rường tất yếu phát sinh làm ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái trong quá trình hoạt động DLST

6.2 Phương pha ́ p nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp thực địa

Khảo sát, tìm hiểu hiện trạng, đối chiếu các tài liệu tự nhiên và KT-XH đã thu thập tại khu vực nghiên cứu Quá trình nghiên cứu thực địa được tiến hành dựa trên phương pháp khảo sát theo tuyến và theo điểm Trong quá trình khảo sát, tác giả phối hợp điều tra phỏng vấn, nhằm thu thập thông tin của người dân địa phương, trong việc phát hiện những mâu thuẫn nảy sinh trong sử dụng tài nguyên DLST

6.2.2 Phương pha ́ p thu thập và tổng hợp tài liệu

Thu thập, kế thừa các tư liệu, số liệu phân tích, các bản đồ về các điều kiện tự nhiên có liên quan đến đề tài; các tài liệu thuộc các chương trình, dự án phát triển KT-XH miền núi Tất cả các nguồn số liệu, tài liệu có liên quan đến đối tượng và lãnh thổ nghiên cứu đã được tác giả kế thừa, tiếp cận và vận dụng trong đề tài

6.2.3 Phương pha ́ p xử lí số liê ̣u thống kê

Phương pháp này được sử du ̣ng nhằm xử lí số liê ̣u điều tra , kết quả phân tích

Trang 18

- Đối với thông tin thứ cấp : sau khi thu thập đươ ̣c các thông tin thứ cấp , tác giả tiến hành phân loa ̣i, sắp xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về đô ̣ quan tro ̣ng của thông tin Đối với các thông tin là số liệu thì tiến hành lập các bảng, biểu

- Đối với các thông tin sơ cấp : sau khi điều tra số liệu thông qua phỏng vấn , phiếu điều tra đươ ̣c kiểm tra về đô ̣ chính xác, sau đó được nhâ ̣p vào máy tính và tiến hành tổng hợp, xử lí thông qua phần mềm Micosoft Excel

Nguồn dữ liê ̣u thống kê về điều kiê ̣n tự nhiên , KT-XH của huyện nghiên cứu cũng như các kết quả nghiên cứu được kế thừa là những thông tin cơ sở quan tro ̣ng cho viê ̣c thực hiê ̣n đề tài Các nguồn dữ liệu thống kê bao gồm : Dữ liê ̣u từ các tài liê ̣u, báo cáo, niên giám thống kê qua các năm

6.2.4 Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp này được áp dụng khi đánh giá tài nguyên du lịch, mối quan hệ giữa các tài nguyên trên lãnh thổ, nhằm xác định tính ổn định và tính biến động của chúng Đánh giá tổng hợp giá trị kinh tế của tổng thể lãnh thổ, mô hình hóa các hoạt động giữa tự nhiên với KT-XH, phục vụ việc dự báo cho sự biến đổi môi trường, điều chỉnh các tác động của con người, xây dựng cơ sở cho việc quản lý tài nguyên và bảo

vệ môi trường

6.2.5 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí

Được sử dụng để xác định những đặc điểm của những hợp phần tự nhiên cùng những quy luật quan hệ tương tác giữa các hợp phần tham gia vào thành tạo và phân hóa lãnh thổ thành các đơn vị phân hóa trong từng lãnh thổ của các lưu vực

Đề tài đã tiến hành xây dựng mới các bản đồ DLST dựa trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch không gian phát triển KT-XH Các bản đồ này được xây dựng trên cơ sở

sử dụng hệ thống thông tin địa lí GIS Cùng với đó là các biểu đồ, sơ đồ, bảng biểu có liên quan đến nội dung nghiên cứu

Trong đề tài đã vận dụng phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí để phân tích tiềm năng tự nhiên và nhân văn của huyện Đại Từ, trên cơ sở đó so sánh, đối chiếu, đánh giá và lựa chọn loại hình phát triển DLST cho phù hợp

Trang 19

6.2.6 Phương pháp nghiên cứu địa lí tự nhiên ứng dụng

Phương pháp được áp dụng trong việc lựa chọn xây dựng các chỉ tiêu đánh giá

và phân hạng các đơn vị lãnh thổ phục vụ cho mục đích sản phát triển DLST của huyện Đại Từ Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này, tác giả đã ứng dụng các phần mềm, và công cụ hỗ trợ như: Mapinfo, Microsoft Excel,…

6.2.7 Phương pháp phân tích dự báo

Được sử dụng để phân tích, đánh giá các thông tin về thị trường làm căn cứ để quy hoạch phát triển DLST

7 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa, vận dụng có chọn lọc cơ sở lý luận, đánh giá tổng hợp cơ sở địa

lí phục vụ phát triển DLST vào điều kiện cụ thể của huyện Đại Từ

- Trên cơ sở quan điểm địa lí ứng dụng, đề tài đã xây dựng bản đồ tổng hợp phục

vụ cho việc đánh giá tiềm năng và phân bố các tuyến, điểm DLST huyện Đại Từ

- Đánh giá được tiềm năng thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái bằng một hệ thống chỉ tiêu tổng hợp

- Là tà i liệu tham khảo cho các học viên, sinh viên, chuyên ngành và cho các hướng nghiên cứu có liên quan

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ CƠ SỞ ĐỊA LÍ PHỤC

VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

Chương 2: ĐÁNH GIÁ CƠ SỞ ĐỊA LÍ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI HUYỆN ĐẠI TỪ

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH SINH THÁI HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN

Trang 20

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ CƠ SỞ ĐỊA LÍ PHỤC VỤ

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

1.1 Tổng quan về du lịch sinh thái

1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm du lịch

Từ xa xưa, trong lịch sử phát triển của nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một

sở thích, một hoạt động tích cực của con người Theo thời gian, du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa – xã hội của các nước Đôi khi, du lịch còn được xem như là thước đo của sự nâng cao chất lượng cuộc sống người dân

Ngày nay, thuật ngữ “du lịch” đã trở nên rất thông dụng Do hoàn cảnh (thời gian và khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có cách hiểu khác

nhau về du lịch Đúng như một chuyên gia về du lịch đã nhận định: đối với du lịch có bao

nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa

Trong số những tác giả đã đưa ra định nghĩa về du lịch, đáng chú ý nhất là định

nghĩa của nhà Địa lí Belarus - Pirojnik, ông đã định nghĩa về du lịch như sau: “ Du

lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi, có liên quan đến sự di

cư và lưu trú tạm thời, ngoài nơi ở thường xuyên nhằm mục đích phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc hoạt động thể thao kèm theo việc tiêu thụ về giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ” [8]

Ở Việt Nam, khái niệm này được định nghĩa chính thức trong Điều 4 chương 1

Luật Du lịch (năm 2005) như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú

thường xuyên của mình, nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [11]

Trang 21

Như vậy du lịch là một ngành liên quan đến rất nhiều thành phần: khách du lịch, phương tiện giao thông, đoàn đón khách trong đó diễn ra các hoạt động du lịch cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội khác có liên quan đến du lịch

1.1.1.2 Khái niệm du lịch sinh thái

Hector Ceballos-Lascurain, định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như

sau: “DLST là du lịch vào những khu vực tự nhiên hầu như không bị ô nhiễm hoặc ít

bị xáo trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, thưởng ngoạn, trân trọng phong cảnh, muông thú hoang dã và các biểu thị văn hóa được khám phá trong khu vực này”

Mặc dù cũng lấy các hệ sinh thái tự nhiên làm đối tượng nhưng DLST không hoàn toàn đồng nghĩa với du lịch tự nhiên hay du lịch xanh Nói đến du lịch thiên nhiên hay du lịch xanh mới chỉ nói đến đối tượng du lịch, cũng như người ta nói về

du lịch văn hóa, du lịch lễ hội hay du lịch biển… Các loại du lịch có thể tiến hành theo phương thức bền vững hoặc không bền vững Nhưng loại hình du lịch thiên nhiên hay du lịch xanh tiến hành trong các hệ sinh thái còn khá nguyên vẹn, theo phương thức của du lịch bền vững là dạng cơ bản của DLST

Theo Phạm Trung Lương và Nguyễn Tài Cung: “DLST là một hình thức du lịch

thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường, có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường, văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”.[13]

Có thể thấy DLST là một bộ phận đặc biệt của du lịch bền vững Đây là khái niệm mới xuất hiện vào giữa thập kỉ 90 (1996) Theo Hội đồng du lịch và lữ hành

quốc tế (WTTC), năm 1996 thì: “Du lịch bền vững là du lịch khai thác cái tài nguyên

thiên nhiên vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội nhưng vẫn bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa, các quá trình sinh thái cơ bản và đa dạng sinh học theo hướng phát triển bền vững.” [3]

Theo đó nó tuân thủ những nguyên tắc của du lịch bền vững, đó là:

+ Sử dụng tài nguyên một cách bền vững

Trang 22

+ Duy trì tính đa dạng, duy trì và phát triển tính đa dạng tự nhiên – xã hội và văn hóa là quan trọng nhằm tạo ra sức bật cho ngành du lịch

+ Lồng ghép du lịch vào trong quy hoạch phát triển địa phương và quốc gia + Hỗ trợ kinh tế địa phương

+ Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương

+ Đào tạo cán bộ kinh doanh du lịch nhằm thực thi các sáng kiến và giải pháp

du lịch bền vững, nhằm cải thiện sản phẩm du lịch

+ Triển khai các nghiên cứu nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề mang lợi ích cho khu du lịch, cho nhà kinh doanh du lịch và cho du khách

Tuy nhiên, với đặc thù lấy đối tượng du lịch là hệ tự nhiên còn hoang sơ nên DLST còn đòi hỏi thêm một số nguyên tắc cơ bản của nó, cụ thể như sau:

+ Có hoạt động giáo dục nâng cao hiểu biết về môi trường qua đó có ý thức

tham gia vào nỗ lực bảo tồn Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt

động DLST, tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa DLST với các loại hình du lịch dựa vào

tự nhiên khác Du khách có sự hiểu biết sâu sắc về các giá trị môi trường tự nhiên, đặc điểm sinh thái và văn hóa bản địa để từ đó có thái độ cư sử đúng, đóng góp cho hoạt động bảo tồn và giữ gìn văn hóa bản địa

+ Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái: Đây là một trong những nguyên tắc

cần được tuân thủ bởi đó là mục tiêu của DLST Mục tiêu hàng đầu của du khách đến với du lịch hoang xơ là quan sát , chiêm ngưỡng, nghiên cứu các kì thú của giới tự nhiên Muốn vậy, mọi sự can thiệp thô bạo đều là điều cấm kị (như săn bắt, giết chóc, chặt hạ, đốt phá…) Sự hòa nhập vào hệ sinh thái đòi hỏi một tác phong cẩn trọng, hòa bình, tôn trọng tự nhiên và lặng lẽ “ngoài dấu chân không để lại dấu vết gì” có lẽ

là yêu cầu hàng đầu đối với du khách DLST lấy bảo tồn là hàng đầu, du lịch chỉ là thứ yếu, hỗ trợ cho bảo tồn

+ Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa: Được xem là một trong những nguyên

tắc quan trọng đối với hoạt động DLST, vì các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường của hệ sinh thái một khu vực cụ thể

Trang 23

+ Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương: Vừa là

nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của DLST vì DLST sẽ dành một phần lợi nhuận đáng kể của mình để đóng góp cho địa phương

Ngoài ra DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương như đảm nhiệm vai trò hướng dẫn du lịch, đáp ứng chỗ nghỉ cho du khách, cung ứng nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho du khách… Thông qua

đó, tạo cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương Từ đó họ ít phụ thuộc vào tự nhiên, nỗ lực bảo tồn và phát huy văn hóa bản địa Bởi người dân ý thức được sự gắn kết hữu cơ giữa việc bảo tồn và cuộc sống của họ, chính họ là người làm chủ thực sự, người bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên và giá trị văn hóa nơi diễn

ra các hoạt động du lịch

Có thể nói rằng những nguyên tắc của du lịch bền vững và các nguyên tắc đặc thù của DLST khiến cho phát triển DLST là một lĩnh vực khó khăn, tốn kém Điều đó cùng với nhu cầu cao của du khách đã biến du lịch sinh thái thành loại du lịch trí thức, loại du lịch này cũng kén khách du lịch của riêng nó

1.1.2 Đặc điểm, nội dung và phân loại du lịch sinh thái

1.1.2.1 Đặc điểm và nội dung của DLST

DLST thực chất là loại hình có quy mô không lớn do tác động hòa nhập môi trường tự nhiên với điểm du lịch, khu du lịch và nền văn hóa đó Chính loại hình du lịch này cũng là loại hình du lịch bền vững mà hiện nay Tổ chức du lịch thế giới đã khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm vừa đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách cùng người dân ở vùng có du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng… đồng thời chú trọng tới việc bảo tồn, tôn tạo nhằm bảo vệ các nguồn tài nguyên du lịch để có điều kiện phát triển hoạt động du lịch trong tương lai

Loại hình DLST có các nội dung chính là:

- Bảo tồn tài nguyên của môi trường tự nhiên

- Bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên mà họ đang chiêm ngưỡng

Trang 24

- Thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng địa phương, người dân bản địa trong việc quản lí và bảo vệ, phát triển du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm

du lịch, khu du lịch…

Qua các yêu cầu, nhiệm vụ nói trên có thể thấy loại hình du lịch sinh thái vừa đảm bảo sự hài lòng đối với du khách ở mức độ cao để tạo lập sự hấp dẫn đối với họ đồng thời qua du khách quảng bá uy tín của điểm du lịch, khu du lịch Từ đó ngành

du lịch có điều kiện bảo đảm và nâng cao hiệu quả của hoạt động du lịch và cũng là

cơ hội tăng thu nhập cho người dân thông qua hoạt động du lịch, cũng tức là có điều kiện thuận lợi về xã hội hóa giáo dục

1.1.2.2 Phân loại

Cho đến nay vẫn chưa có một sự xác định hoàn hảo về các loại hình du lịch sinh thái Loại hình này vẫn còn khá mới mẻ, mặc dù những năm 1997 – 1998 Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc đã nêu một số quan điểm, phân loại các loại hình du lịch sinh thái sao cho phù hợp với sự phát triển của thế giới

Về cơ bản thì các loại hình du lịch sinh thái bao gồm:

- Du lịch xanh, du lịch dã ngoại

- Du lịch nghỉ dưỡng, du thuyền trên sông, hồ, biển

- Du lịch tham quan, nghiên cứu, thăm quan miệt vườn, làng bản…

- Du lịch thám hiểm hang động, lặn biển…

Có thể thấy DLST là loại hình du lịch dựa vào những hình thức sẵn có nhưng có

sự hòa nhập vào môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa DLST là loại hình du lịch đặc biệt tổng hợp các mối quan tâm đến môi trường tự nhiên và tìm đến các vùng tự nhiên có nhiều tiềm năng để cải thiện sức khỏe, tinh thần và thể trạng, khám phá những cái mới, tìm tòi những cái đẹp, tạo ra sự hòa đồng giữa con người với môi trường tự nhiên đó là mục đích của DLST

1.1.3 Yêu cầu phát triển DLST

Để phát triển DLST phải dựa trên nền tảng của những yêu cầu cơ bản sau:

Trang 25

(1) Các hệ sinh thái tự nhiên, điển hình với tính đa dạng sinh thái cao Sinh thái

tự nhiên được hiểu là cộng sinh giữa điều kiện địa lý, khí hậu, động thực vật bao gồm: sinh thái tự nhiên, sinh thái thực vật, sinh thái nông nghiệp, sinh thái động vật, sinh thái khí hậu, sinh thái nhân văn

Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng bậc cao của đa dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như : đất, nước, địa hình, khí hậu đó là các hệ sinh thái (eco-systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại Hộ nghị thượng đỉnh Rio de Jannero về môi trường)

Như vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển

ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung Điều này giải thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt ở các vườn quốc gia, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình DLST phát triển ở những vùng nông thôn hoặc các trang trại điển hình

(2) Am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động

du lịch sinh thái, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể

tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên.Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một người phiên dịch giỏi

Hoạt động DLST đòi hỏi phải có được người điều hành có nguyên tắc Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận hoặc không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo

Trang 26

cho khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hóa trước khi những cơ hội này mất đi Ngược lại các nhà điều hành DLST phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao hiểu biết chung giữa người dân địa phương và

du khách

(3) Hạn chế tới mức tối đa các tác động của DLST đến tự nhiên và môi trường Theo đó DLST cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa” được hiểu theo bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội Cần xác định đúng

“khả năng tải sinh thái” và có biện pháp điều tiết khách phù hợp

+ Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa khách du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về không gian đối với mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của họ

+ Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá-xã hội, kinh tế-xã hội của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập

+ Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu du lịch có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giói hạn này thì năng lực quản

lý (lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý ) của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường và xã hội

Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, vì vậy khó có thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ

có chỉ số sức chứa khác nhau Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm

Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là “quan ni ệm” về

sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau (ví dụ giữa các nước Châu Á và châu Âu, giữa các nước

Trang 27

phát triển và đang phát triển ) Rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó mà có các quyết định

về quản lý Điều này cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng khách/thị trường khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ DLST không thể đáp ứng được các nhu cầu của tất cả cũng như mọi loại khách

(4) Thỏa mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của du khách Việc thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của khách DLST về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hóa bản địa thường là rất khó khăn song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành Vì vậy những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm Từ những yêu cầu trên đây của DLST ta rút ra những nguyên tắc cơ bản để phát triển DLST:

Phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trường tự nhiên

Không được làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài (tự nhiên và văn hoá) nhằm thu hút khách mà còn bên trong của nó

Tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị bên ngoài và thúc đẩy sự công nhận các giá trị này

Các nguyên tắc về môi trường và sinh thái cần phải đặt lên hàng đầu do đó mỗi người khách DLST sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân

Phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và đối với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội hay khoa học)

Phải đưa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc với môi trường tự nhiên,

đó là những kinh nghiệm được hoà đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi tìm cái lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng cơ thể

Ở đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả người hướng dẫn và các thành viên tham gia

Trang 28

Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban nghành chức năng: địa phương, chính quyền, tổ chức, hãng lữ hành và các du khách (trước, trong và sau chuyến đi)

Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiểu biết và sự phối hợp với các ban ngành chức năng

Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng sử và nguyên tắc thực hiện là rất quan trọng Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động

Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn khổ quốc

tế cho ngành

1.1.4 Đặc điểm của các đối tượng tham gia hoạt động DLST

Hoạt động DLST không chỉ có một đối tượng là hệ sinh thái tự nhiên mà có sự tham gia của rất nhiều đối tượng Các đối tượng này có những đặc điểm riêng biệt đồng thời lại có mối quan hệ tương tác chặt chẽ Cụ thể như sau:

* Các nhà hoạch định chính sách

Thường là các nhà khoa học làm công tác quy hoạch xây dựng các chính sách phát triển DLST trong các viện nghiên cứu, các cơ quan nhà nước Họ nghiên cứu để xác định hướng phát triển phù hợp với tiềm năng và điều kiện thực tế, đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm bảo đảm cho việc thực hiện các chính sách đó

* Các nhà quản lí lãnh thổ

Đối với các KBTTN và VQG, nơi có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển DLST hiện tồn tại hai hệ thống quản lí:

- Quản lí theo ngành (cục Kiểm lâm - Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn)

- Quản lí theo ngành dọc (chính quyền địa phương)

* Các nhà điều hành du lịch

- Là người có hiểu biết toàn diện về các tổ chức kinh doanh song phải luôn tôn trọng các nguyên tắc của DLST

Trang 29

- Trách nhiệm của các nhà điều hành là rất lớn bởi họ vừa đảm bảo lợi ích của tổ chức kinh doanh du lịch vừa phải đảm bảo các nguyên tắc bảo tồn và phát triển bền vững Do đó, phải phối hợp chặt chẽ với các nhà quản lí nhà nước, các nhà hoạch định, quản lí lãnh thổ và người dân địa phương

- Là người trưởng thành, có thu nhập cao, có giáo dục và quan tâm đến môi trường

- Là những người thích hoạt động từ thiên nhiên, có thời gian du lịch dài ngày

- Cơ sở vật chất mà họ sử dụng ít ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên

1.2 Cơ sở địa lí để phát triển du lịch sinh thái

1.2.1 Điều kiện phát triển du lịch sinh thái

1.2.1.1 Quan điểm

Căn cứ vào “khái niêm” về DLST và “điều kiện cơ bản” để phát triển DLST như

đã nêu, sinh thái tự nhiên (nature ecology) và sinh thái nhân văn (human ecology) được xem như là điều kiện quan trọng nhất để phát triển DLST Các yếu tố này, chính

là các “tài nguyên DLST” Như vậy, có thể cho rằng điều kiện tự nhiên chính là tài nguyên DLST đóng vai trò chủ đạo Yếu tố về sinh thái nhân văn trong tài nguyên DLST là một bộ phận có vai trò gắn kết các đặc điểm/điều kiện được khai thác để phục vụ phát triển DLST

1.2.1.2 Tài nguyên du lịch sinh thái

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch

Du lịch phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, vì vậy, tài nguyên

Trang 30

nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó Tuy nhiên, không phải mọi giá trị

tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là tài nguyên DLST mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái

cụ thể được khai thác và sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST nói riêng, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung mới được xem là tài nguyên DLST

Tài nguyên DLST bao gồm các tài nguyên đang khai thác và các tài nguyên chưa khai thác Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên DLST phụ thuộc vào:

- Khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn đang tiềm ẩn;

- Yêu cầu phát triển các sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và

đa dạng của DLST;

- Trình độ quản lý đối với việc khai thác các tài nguyên DLST, đặc biệt là ở những nới có các hệ sinh thái nhạy cảm;

- Khả năng tiếp cận để khai thác các tiềm năng tài nguyên

Tài nguyên DLST rất đa dạng tuy nhiên, một số loại tài nguyên DLST chủ yếu thường được nghiên cứu khai thác để phát triển các sản phẩm, đáp ứng các nhu cầu của du khách bao gồm:

- Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm (như các VQG, KBTTN, khu dự trữ sinh quyển…)

- Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn quả, trang trại, làng hoa, cây cảnh, nhà vườn…)

"Hệ sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trong một môi trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó" Như

vậy, thuật ngữ “hệ sinh thái” được hiểu là hệ cân bằng tự nhiên với tất cả các đặc thù riêng của nó

“Đa dạng sinh học” (biodiversity) được định nghĩa trong Công ước Đa dạng

sinh học là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh

Trang 31

thái trên cạn, sinh thái trong đại dươngvà các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần trong đó Thuật ngữ đa dạng sinh học này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái khác nhau Đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ:

(i)Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất,

từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm

(ii) Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể

(iii) Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong

đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau

Có ý kiến cho rằng, đa dạng sinh học còn bao gồm cả đa dạng văn hóa, là sự thể hiện của con người, một thành viên của thế giới sinh vật, đồng thời là nhân tố quan trọng thuộc hệ sinh thái

Theo toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa của UNESCO “Văn hóa là một tập

hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”

Văn hóa bản địa là các giá trị về vật chất và tinh thần được hình thành trong quá trình phát triển của một cộng đồng dân cư, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa thế giới

tự nhiên với con người trong một không gian sinh thái tự nhiên cụ thể như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với các truyền thuyết của cộng đồng… Văn hóa bản địa là một bộ phận đặc biệt của đa dạng văn hóa – một cấu thành quan trọng của đa dạng sinh học, góp phần tạo nên nền văn hóa nói chung của một cộng đồng, một quốc gia

Bản sắc dân tộc của văn hoá là các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh của mỗi nền văn hoá Đối với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tập trung ở lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường, tinh

Trang 32

thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…

1.2.1.3 Phân loại tài nguyên du lịch sinh thái chính

Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15 độ

vĩ tuyến với 3/4 là địa hình đồi núi và cao nguyên, với hơn 3200 km đường bờ biển, hàng ngàn hòn đảo…, trên lãnh thổ đó là nơi sinh sống của cộng đồng nhiều dân tộc với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, đấu tranh giữ nước với nhiều truyền thống có những nét đặc trưng riêng, nhiều di tích văn hóa lịch sử nên Việt Nam có tài nguyên DLST rất đa dạng và phong phú mà tiêu biểu là một số loại sau:

a Tài nguyên DLST tự nhiên

- Địa hình

Đối với du lịch, địa hình còn tạo nên phong cảnh… Địa hình miền núi có không khí trong lành, có nhiều đối tượng hoạt động du lịch như suối, thác, hang động, sinh vật và các dân tộc ít người Ở nước ta gồm các dạng và kiểu địa hình sau:

Các vùng núi có phong cảnh đẹp: Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì…

Các hang động: Phong Nha, Hương Tích, Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình), các hang động của Vịnh Hạ Long…

Các di tích tự nhiên như: núi Vọng Phu, Hòn Trống Mái, hòn Đá Chông, giếng Giải Oan, hồ Ba Bể, hồ Tơ Nưng…

- Khí hậu

+ Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người Khí hậu là sự thay đổi thao chu kỳ của thời tiết Tài nguyên khí hậu phục vụ du lịch là tổng hợp các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, gió, ánh nắng mặt trời thích hợp nhất đối với sức khoẻ con người Ảnh hưởng của khi hậu đối với du lịch được thể hiện: người sống ở nơi khi hậu khắc nghiệt thường thích đi du lịch ở nơi có khí hậu thích hợp hơn; các nước phương bắc thường thích đi du lịch xuống phương nam; khách ở các đới xứ nóng muốn đi nghỉ biển hoặc ở nơi núi cao

Trang 33

+ Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng

+ Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các loại hình du lịch thể thao, giải trí Các loại hình du lịch thể thao vui chơi giải trí như nhảy dù, tàu lượn, khinh khí cầu, thả diều, thuyền buồn… rất cần có các điều kiện khí hậu thích hợp như hướng gió, tốc độ gió, quang mây, không có sương mù

+ Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các hoạt động du lịch: mùa du lịch cả năm đối với loại hình du lịch chữa bệnh suối khoáng; mùa du lịch vào mùa đông như du lịch trượt tuyết trên núi, du lịch tham quan các tài nguyên du lịch nhân văn; mùa du lịch vào mùa hè như du lịch leo núi, du lịch tắm biển và các loại hình du lịch ngoài trời

Tóm lại, tài nguyên khí hậu tác động lớn đến sức khoẻ con người, đến loại hình

du lịch phục vụ chữa bệnh an dưỡng và việc triển khai các loại hình du lịch

- Thuỷ văn

+ Các bãi biển hoặc bãi ven hồ sử dụng để tắm mát, dạo chơi, hoạt động thể thao như bơi lội, du thuyền, lướt ván

+ Là mặt thoáng tạo nên phong cảnh đẹp yên bình

+ Các dòng song lớn cùng với núi non, rừng cây, mây trời, ánh nắng, công trình kiến trúc soi bóng nước là những phong cảnh hữu tình

+ Các điểm nước khoáng, suối nước nóng phục vụ loại hình du lịch tắm nước nóng, đắp bùn,chữa bệnh Công dụng: chữa bệnh ngoài da, thần kinh, phụ khoa: mỏ Quang Hanh (thị xã Cẩm Phả - Quảng Ninh) và Tiên Lãng (Hải Phòng)

- Các hệ sinh thái tự nhiên điển hình và đa dạng sinh học

Trong các kiểu hệ sinh thái trên cạn thì rừng có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật hoang dã và

vi sinh vật có giá trị kinh tế và khoa học Các kiểu hệ sinh thái tự nhiên khác có thành phần loài nghèo hơn Kiểu hệ sinh thái nông nghiệp và khu đô thị là những kiểu hệ sinh thái nhân tạo, thành phần loài sinh vật nghèo nàn

Trang 34

+ Xét theo tính chất cơ bản là thảm thực vật bao phủ đặc trưng cho rừng mưa nhiệt đới ở Việt Nam, có thể thấy các kiểu rừng tiêu biểu: rừng kín vùng thấp, rừng thưa, trảng truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh vùng cao Trong đó, các kiểu và kiểu phụ thảm thực vật sau đây có tính ĐDSH cao hơn và đáng chú ý hơn cả: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới; kiểu rừng kín cây lá rộng, ẩm á nhiệt đới núi thấp; kiểu phụ rừng trên núi đá vôi + Hệ sinh thái đất ngập nước

Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả những vùng nước biển

có độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp" [20]

Đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về loại hình và hệ sinh thái, thuộc 2 nhóm ĐNN: ĐNN nội địa, ĐNN ven biển Trong đó một số kiểu có tính ĐDSH cao: rừng ngập mặn ven biển; đầm lầy than bùn, đầm phá; rạn san hô, cỏ biển; vùng biển quanh các đảo ven bờ

+ Hệ sinh thái biển: Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2 với nguồn tài nguyên sinh vật biển khá phong phú Trong vùng biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng ĐDSH biển khác nhau

+ Các dạng tài nguyên DLST đặc thù

Miệt vườn: là một dạng đặc biệt của hệ sinh thái nông nghiệp Miệt vườn là các

khu chuyên canh trồng cây ăn quả, trồng hoa, cây cảnh… có sức hấp dẫn đối với khách du lịch Tính cách sinh hoạt của cộng đồng người dân nơi đây pha trộn giữa tính cách người nông dân với người tiểu thương Đặc điểm này đã hình thành nên những giá trị văn hóa bản địa riêng biệt được gọi là “văn minh miệt vườn” Chính điều này cùng với cảnh quan miệt vườn đã tạo thành một tài nguyên DLST độc đáo Đồng bằng sông Cửu Long là quê hương của “văn minh miệt vườn” Trong công cuộc khai phá và xây dựng miền đất mới của cư dân người Việt ở Nam bộ, dưới tác động của thiên nhiên, con người càng có ý thức cải tạo thiên nhiên Lập vườn là công

Trang 35

việc lao động đầy sáng tạo của những người mở đất Khác với vườn ở đồng bằng sông Hồng, vườn ở đồng bằng Cửu Long rộng lớn, ở từng nơi vườn thường tập trung lại với nhau thành những không gian rộng lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Sân chim: là một hệ sinh thái đặc biệt ở những vùng đất rộng từ vài chục đến

vài trăm ha với hệ thực vật tương đối phát triển, khí hậu thích hợp với điệu kiện sống hoặc di cư theo mùa của của một số loài chim Đây cùng là nơi cư trú hoặc di cư của nhiều loài chim đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng Vì thế các sân chim cũng thường được xem là một dạng tài nguyên DLST đặc thù có sức hấp dẫn lớn

Các khu rừng di tích văn hoá lịch sử Việt nam có 34 khu rừng văn hoá lịch

sử Trong đó nổi bật là Hương Sơn (Hà Tây); Côn Sơn (Kiếp Bạc - Hải Dương); Đền Hùng; Hoa Lư (Ninh Bình); Sầm Sơn (Thanh Hoá); Rừng Thông (Đà Lạt); Núi Bà Đen (Tây – Ninh)

Các điểm tham quan sinh vật: Các vườn thú, vườn bách thảo; Công viên vui

chơi, giải trí; Viện bảo tàng sinh vật (Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang); Cơ sở thuần dưỡng voi (Buôn Đôn – Đăk Lăk); Cơ sở nuôi khỉ (đảo Rều - Quảng Ninh); Nuôi trăn, rắn cá sấu ở đồng bằng song Cửu Long…

b Văn hóa bản địa

Ở nước ta, cùng với sự phát triển của một đất nước với 54 dân tộc, từ lâu đã hình thành những địa vực cư trú truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác với các vùng sinh thái khác nhau trải qua các quá trình: thích nghi – tồn tại – phát triển với những kiến thức, văn hóa bản địa đặc trưng Các giá trị văn hóa bản địa này thể hiện

rõ đặc trưng sinh thái nơi cộng đồng cư trú Việc đưa các giá trị văn hóa bản địa vào các chương trình DLST ở từng vùng không lẫn với du lịch văn hóa, càng không thể tách rời với DLST

Các giá trị văn hóa bản địa thường được khai thác với tư cách là tài nguyên DLST bao gồm:

- Kiến thức canh tác, khai thác, bảo tồn và sử dụng các loài sinh vật phục vụ cuộc sống cộng đồng;

Trang 36

- Đặc điểm sinh hoạt văn hóa với các lễ hội truyền thống gắn vơi tự nhiên Lễ hội là một hình thức văn hoá đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của một dân tộc Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả, hoặc là một dịp mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân Do vậy, lệ hội có tính chất cao đối với du khách Việt Nam;

- Kiến trúc dân gian, công trình gắn với truyền thuyết, đặc điểm tự nhiên của khu vực;

- Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống được sản xuất từ các nguyên liệu tự nhiên gắn với đời sống cộng đồng tại địa bàn cư trú thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao động và những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người;

- Các di tích lịch sử - văn hóa, khảo cổ gắn liền với lịch sử phát triển, tín ngưỡng của cộng đồng

1.2.1.4 Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái

Tài nguyên DLST có những đặc điểm chính bao gồm:

- Tài nguyên DLST phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc

và có sức hấp dẫn lớn

Là một bộ phận quan trọng cảu của tài nguyên du lịch, chủ yếu được hình thành

từ tự nhiên, bản thân tự nhiên lại rất đa dạng và phong phú, vì thế tài nguyên DLST cũng có đặc điểm này Có nhiều hệ sinh thái đặc biệt, nơi sinh trưởng, tồn tại và phát triển nhiều loài sinh vật đặc hữu quý hiếm, có những loài tưởng chừng đã bị diệt chủng, được xem là những tài nguyên DLST đặc sắc, có sức hấp dẫn với du khách

- Tài nguyên DLST thường rất nhạy cảm với các tác động

So với nhiều dạng tài nguyên du lịch khác như các bãi biển, thác nước…, tài nguyên DLST thường rất nhạy cảm đối với những tác động của con người Sự thay đổi tính chất của một hợp phần tự nhiên hoặc sự suy giảm hay mất đi của một số loài sinh vật cấu thành nên hệ sinh thái nào đó dưới tác động của con người sẽ là nguyên

Trang 37

nhân làm thay đổi hoặc mất đi hệ sinh thái và kết quả là tài nguyên DLST bị ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau

- Tài nguyên DLST có thời gian khai thác khác nhau

Trong số các loại tài nguyên DLST, có loại có thể khai thác được quanh năm, song có loại ít nhiều việc khai thác mang tính mùa vụ Sự phụ thuộc này chủ yếu do quy luật của khí hậu, mùa di cư, chu kì sinh trưởng và phát triển của các loài động, thực vật Như vậy, để khai thác có hiệu quả tài nguyên DLST, các nhà quản lý, cá nhân, tổ chức cần có những nghiên cứu cụ thể về tính mùa vụ của các loại tài nguyên làm căn cứ đưa ra các giải pháp quy hoạch và phát triển phù hợp

- Tài nguyên DLST thường nằm xa các khu dân cư và được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch

Tài nguyên DLST sẽ bị suy giảm, biến đổi, thậm chí không còn nữa do tác động trực tiếp của con người như săn bắn, chặt cây… nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống và hoạt động kinh tế Do đó nằm xa các khu dân cư là đặc điểm có tính đặc trưng của tài nguyên DLST Điều này giải thích tại sao phần lớn tài nguyên DLST nằm trong phạm vi các VQG, KBTTN là những nơi có sự quản lí và bảo vệ chặt chẽ trước các tác động tiêu cực của con người tới môi trường tự nhiên

Khác với nhiều loại tài nguyên, sau khi khai thác có thể vận chuyển khỏi địa điểm ban đầu để chế biến rồi lại được đưa đến nơi tiêu thụ, tài nguyên du lịch nói chung, tài nguyên DLST nói riêng thường được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách Trong thực tế, một số vườn thực vật, công viên được tạo ra bằng cách du nhập nhiều loài động, thực vật đặc hữu để du khách tham quan Tuy nhiên, nó không phải là các sản phẩm DLST đích thực mà chỉ

là mô phỏng của tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu cảu du lịch đại chúng ở những đô thị lớn, cách xa các khu DLST tự nhiên

- Tài nguyên DLST có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài

Phần lớn các tài nguyên du lịch, trong đó có tài nguyên DLST được xếp vào nhóm tài nguyên tái tạo, có khả năng sử dụng bền vững Điều này có được nhờ khả

Trang 38

năng mất đi do tai biến thiên nhiên hoặc do các hoạt động của con người Do đó cần nắm được các quy luật của tự nhiên, lường trước các tác động của con ngời đối với tự nhiên nói chung và với tài nguyên DLST nói riêng nhằm khai thác hợp lí, đi đôi với bảo vệ, tôn tạo và phát triển Đây cũng là yêu cầu sống còn đối với du lịch nói chung, DLST nói riêng

1.2.2 Phương pháp đánh giá

1.2.2.1 Phương pháp đánh giá theo từng dạng tài nguyên du lich

Đánh giá tài nguyên DLST có nhiệm vụ là phân loại tài nguyên du lịch theo mức độ thuận lợi của chúng cho các hoạt động DLST Đánh giá tài nguyên DLST cũng chính là đánh giá tổng thể tự nhiên, điều kiện KT-XH có khả năng khai thác cho DLST

Theo Đặng Kim Nhung [17], Có hai phương pháp chính để đánh giá tài nguyên DLST là đánh giá theo từng dạng tài nguyên và đánh giá tổng hợp các tài nguyên

a Tài nguyên du lich tự nhiên

Đối với tài nguyên du lịch tự nhiên, các dạng tài nguyên địa hình – địa chất, khí hậu, thủy văn, sinh vật du lịch đều đã được xác định trên một số tiêu chuẩn nhất định Tài nguyên địa hình được đánh giá bằng sự thống kê mô tả về đặc điểm hình thái, trắc lượng hình thái của các dạng địa hình và các kiểu địa hình đặc biệt hoặc đánh giá mức độ tương phản của các kiểu địa hình (dựa theo các chỉ tiêu tâm lí – thẩm mỹ)

Tài nguyên khí hậu được đánh giá bằng các chỉ tiêu về điều kiện thích hợp với sức khỏe con người và các điều kiện thích hợp nhất với sức khỏe con người và các điều kiện thích hợp nhất với các hoạt động du lịch hay với từng loại hình du lịch Tài nguyên thủy văn dựa vào tiêu chuẩn chất lượng nước dùng cho sinh hoạt để đánh giá mức độ sử dụng nước phục vụ cho các loại hình tắm mát, thể thao dưới nước; các tiêu chuẩn về sóng, thủy triều, dòng biển để phục vụ cho các loại hình thể thao, vui chơi giải trí trên biển; sự phân loại chỉ tiêu về nước khoáng để phục vụ cho

Trang 39

việc chữa bệnh, làm nước uống, giải khát; các tiêu chuẩn về mặt thoáng, bờ biển phục

vụ cho việc bài trí phong cảnh, tắm mát, dạo chơi, các hoạt động thể thao nước… Tài nguyên sinh vật được đánh giá dựa vào các quy định đối với các vườn quốc gia, các rừng bảo tồn thiên nhiên, các rừng di tích lịch sử văn hóa, môi trường hoặc dựa vào các tiêu chí cụ thể phục vụ cho từng loại hình du lịch

b Tài nguyên du lịch nhân văn

Đánh giá tài nguyên DLST nhân văn được xác định bằng việc kiểm kê, đánh giá các giá trị (số lượng, chất lượng) của từng loại tài nguyên sau đó mới đánh giá chung Các dạng tài nguyên DLST nhân văn bao gồm: các di tích lịch sử - văn hóa; Các lễ hội; Nghề và làng nghề thủ công truyền thống; Văn hóa nghệ thuật; Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học Việc kiểm kê đánh giá các dạng tài nguyên DLST nhân văn phải được tiến hành kiểm kê đánh giá về mặt số lượng (số lượng cụ thể của từng loại, mật độ), chất lượng của từng thành tố di tích và cấp bậc xếp hạng (quốc tế, quốc gia

và địa phương…)

Phương pháp đánh giá cho từng di tích, các dạng tài nguyên DLST nhân văn phi vật thể sẽ là cơ sở đánh giá cho từng loại tài nguyên và là cơ sở cho việc đánh giá tổng thể tài nguyên phát triển DLST của vùng, địa phương Các dạng tài nguyên DLST nhân văn vật thể có thể đánh giá theo phương pháp xây dựng thang điểm để đánh giá mức độ thuận lợi cho phát triển DLST và thực trạng bảo vệ, phát huy giá trị của từng di tích cũng như các di tích Thang điểm đánh giá có thể chia làm 4 bậc: rất tốt, tốt, khá, trung bình tương ứng với 4, 3, 2 và 1 điểm

Cùng với việc đánh giá chi tiết còn cần phải đánh giá tổng hợp các di tích của vùng hoặc địa phương có thuận lợi cho phát triển DLST hay không Cần khẳng định mức độ thuận lợi, sức hấp dẫn của tài nguyên có khả năng đáp ứng cho việc phát triển DLST, những tài nguyên cần được đầu tư khai thác, bảo vệ và tôn tạo Đây là cơ sở cho việc xây dựng và phát triển các hệ thống lãnh thổ du lịch

Việc đánh giá tài nguyên du lịch cũng cần xác định rõ những hạn chế về mặt số lượng, chất lượng của cá loại tài nguyên, cũng như cần chỉ rõ những tác động tích cực

Trang 40

1.2.2.2 Phương pháp đánh giá tổng hợp

Căn cứ vào mục đích, nội dung và yêu cầu đánh giá thì phương pháp đánh giá tổng hợp có điều kiện và khả năng đáp ứng tốt và đầy đủ hơn cả Tuy nhiên, việc đánh giá tổng hợp cũng rất phức tạp

Mục đích của việc đánh giá là nhằm xác định mức độ thuận lợi (tốt, trung bình, kém) của tài nguyên với toàn bộ hoạt động DLST hay với từng loại hình

Việc đánh giá tổng hợp tài nguyên DLST được tiến hành theo ba bước: xây dựng thang đánh giá, tiến hành đánh giá và đánh giá kết quả

a Xây dựng thang đánh giá

Đây là bước quan trọng và quyết định nhất tới kết quả đánh giá Việc xây dựng thang đánh giá bao gồm việc chọn các yếu tố đánh giá, xác định bậc của từng yếu tố, xác định chỉ tiêu của mỗi bậc, cho điểm mỗi bậc, xác định hệ số tính điểm cho các yếu tố

- Chọn các yếu tố đánh giá:

Các yếu tố để đánh giá tài nguyên DLST bao gồm các thành phần chính của môi trường tự nhiên như địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật với hàng loạt các yếu tố tự nhiên khác như: vẻ đẹp của phong cảnh, sự thích hợp của khí hậu, sự đặc sắc và độc đáo của tài nguyên du lịch tự nhiên, số lượng và chất lượng tài nguyên, khả năng đáp ứng được nhiều loại hình du lịch Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn cũng đóng một vai trò quan trọng trong đánh giá tổng hợp tài nguyên DLST

Điều kiện KT-XH và môi trường của khu vực cũng cần được nghiên cứu kĩ lưỡng Thành phần dân cư, cơ sở hạ tầng, hiện trạng nền kinh tế và hiện trạng môi trường là những yếu tố được lựa chọn để đánh giá tài nguyên DLST

- Xác đinh bậc của từng yếu tố: Mỗi yếu tố được đánh giá theo từng bậc, có thể

là bốn bậc: rất thuận lợi, thuận lợi, tương đối thuận lợi, ít thuận lợi

- Xác định chỉ tiêu của mỗi bậc: Việc xác định chỉ tiêu của mỗi bậc cần có tính chất định lượng để có thể so sánh các kết quả dánh giá với nhau, và cần dựa trên các

cơ sở điều tra, tính toán, thực nghiệm hoặc ý kiến chuyên gia

Ngày đăng: 08/01/2016, 14:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Mức độ đánh giá điều kiện phát triển DLST - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Bảng 1.1. Mức độ đánh giá điều kiện phát triển DLST (Trang 43)
Hình 2.1: Hành chính huyện Đại Từ - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Hình 2.1 Hành chính huyện Đại Từ (Trang 45)
Bảng 2.1. Diện tích theo cấp độ cao tuyệt đối và độ dốc - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Bảng 2.1. Diện tích theo cấp độ cao tuyệt đối và độ dốc (Trang 49)
Hình 2.2: Địa hình huyện Đại Từ - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Hình 2.2 Địa hình huyện Đại Từ (Trang 52)
Bảng 2.2: Tần suất gió mùa đông trạm Đại Từ (đơn vị: %) - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Bảng 2.2 Tần suất gió mùa đông trạm Đại Từ (đơn vị: %) (Trang 53)
Bảng 2.3: Tần suất gió mùa hè trạm Đại Từ (đơn vị: %) - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Bảng 2.3 Tần suất gió mùa hè trạm Đại Từ (đơn vị: %) (Trang 53)
Bảng 2.4: Nhiệt độ trung bình tháng, năm ở trạm Đại Từ (đơn vị:  0 C) - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Bảng 2.4 Nhiệt độ trung bình tháng, năm ở trạm Đại Từ (đơn vị: 0 C) (Trang 54)
Hình 2.3: Thảm thực vật năm 2011 huyện Đại Từ - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Hình 2.3 Thảm thực vật năm 2011 huyện Đại Từ (Trang 60)
Bảng 2.6. Mức độ đánh giá điều kiện phát triển DLST huyện Đại Từ - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Bảng 2.6. Mức độ đánh giá điều kiện phát triển DLST huyện Đại Từ (Trang 67)
Bảng 2.7. Đánh giá các điểm DLST huyện Đại Từ - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Bảng 2.7. Đánh giá các điểm DLST huyện Đại Từ (Trang 69)
Bảng 2.8. Đánh giá mức độ thuận lợi để phát triển DLST tại các điểm DLST tiêu - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Bảng 2.8. Đánh giá mức độ thuận lợi để phát triển DLST tại các điểm DLST tiêu (Trang 70)
Bảng 3.1. So sánh một số chỉ tiêu của huyện Đại Từ so với tỉnh Thái Nguyên - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Bảng 3.1. So sánh một số chỉ tiêu của huyện Đại Từ so với tỉnh Thái Nguyên (Trang 72)
Hình 3.1 Bản đồ không gian du lịch sinh thái huyện Đại Từ - Cơ sở địa lí huyện Đại Từ phục vụ phát triển du lịch sinh thái
Hình 3.1 Bản đồ không gian du lịch sinh thái huyện Đại Từ (Trang 81)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w