Từ truyện cười trong văn học dân gian, thơ văn trào phúng thời trung đại cho đến sáng tác hiện đại, dù ở thời kì nào những sáng tác này cũng đều phát huy được sức mạnh và ưu thế vốn có c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––
NGUYỄN LONG HƯNG
NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG TRONG SÁNG TÁC CỦA VŨ BÃO SAU NĂM 1986
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học: “Nghệ thuật trào phúng trong sáng tác của Vũ Bão sau năm 1986 ” với các số liệu, kết quả nghiên
cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác, hoàn toàn là công trình nghiên cứu của tôi
Tác giả luận văn
Nguyễn Long Hưng
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn :
- Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên
- Các thầy, cô giáo ở Viện Văn học, Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt khoá học
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Bích Thu người đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình viết luận văn Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
Nguyễn Long Hưng
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan……… i
Lời cảm ơn……… ii
Mục lục……… iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1 VĂN HỌC TRÀO PHÚNG VÀ SÁNG TÁC CỦA VŨ BÃO SAU NĂM 1986 9
1.1 Vài nét về văn học trào phúng Việt Nam 9
1.1.1 Giới thuyết một số khái niệm 9
1.1.2 Những tiền đề lịch sử, xã hội chủ yếu làm hồi sinh văn học trào phúng Việt Nam sau 1986 11
1.1.3 Văn học trào phúng trong văn học Việt Nam sau 1986 14
1.2 Hiện thực cuộc sống và con người trong sáng tác của Vũ Bão sau năm 1986.18 1.2.1 Hiện thực xã hội và con người trong và sau chiến tranh 19
1.2.2 Hiện thực xã hội và con người trong cuộc sống đời thường 26
1.2.3 Hiện thực xã hội và con người qua thế giới tâm linh, hoang đường 40
Chương 2 NHÂN VẬT, TÌNH HUỐNG VÀ CỐT TRUYỆN MANG TÍNH TRÀO PHÚNG TRONG SÁNG TÁC CỦA VŨ BÃO SAU NĂM 1986 44
Trang 52.1 Nhân vật trào phúng 44
2.1.1 Cách đặt tên nhân vật 45
2.1.2 Khai thác những yếu tố trái tự nhiên: chân dung, hành động, ngôn ngữ, 48
2.2 Tình huống truyện 52
2.2.1 Tình huống ngẫu nhiên 53
2.2.2 Tình huống nghịch lí, ngược đời 55
2.2.3 Tình huống lật tẩy tính chất vô nghĩa lý của hiện tượng, nhân vật 59
2.3 Cốt truyện 63
2.3.1 Cốt truyện đối lập - tương phản 63
2.3.2 Cốt truyện tăng cấp và kết thúc bất ngờ 67
2.3.3 Cốt truyện phân mảnh 70
Chương 3 GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT MANG TÍNH TRÀO PHÚNG TRONG SÁNG TÁC CỦA VŨ BÃO SAU NĂM 1986 74
3.1 Giọng điệu trào phúng 74
3.1.1 Giọng trào phúng - phê phán 74
3.1.2 Giọng trào phúng - xót xa, phẫn uất 77
3.1.3 Giọng trào phúng - giễu nhại 82
3.1.4 Giọng trào phúng - triết lý 84
3.2 Ngôn ngữ trào phúng 87
3.2.1 Lạ hóa 87
3.2.2 Các thủ thuật ngôn ngữ 89
PHẦN KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong lịch sử hình thành và phát triển của văn học Việt Nam, tuy chưa bao giờ là một chủ lưu, nhưng văn học trào phúng Việt Nam vẫn bám rễ và tồn tại qua nhiều thời kì, và trong những thời đại nhất định đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng Từ truyện cười trong văn học dân gian, thơ văn trào phúng thời trung đại cho đến sáng tác hiện đại, dù ở thời kì nào những sáng tác này cũng đều phát huy được sức mạnh và ưu thế vốn có của nó, nói như C.Mác là dùng tiếng cười để giã từ quá khứ một cách vui vẻ Cho nên, nghiên cứu sáng tác trào phúng là nghiên cứu một cách tiếp cận và phản ánh hiện thực độc đáo
Từ khi thống nhất đất nước năm 1975, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, xã hội Việt Nam đã có những bước chuyển biến lớn lao
ở nhiều phương diện, cả kinh tế - xã hội lẫn tư duy của con người Hòa trong dòng chảy chung đó, văn học cũng có những vận động, đổi mới mà đáng kể nhất là sự trỗi dậy của ý thức cá nhân Ý thức ấy đã thôi thúc các nhà văn tìm tòi, đổi mới về đề tài cũng như tư tưởng nghệ thuật và cách viết Giã từ cảm hứng sử thi với giọng điệu ngợi ca của văn học thời chiến, các tác giả đã đi sâu vào khám phá đời sống và con người với nhiều biểu hiện phong phú và phức tạp của nó Nhiều cảm hứng, giọng điệu vốn tạm thời lắng xuống ở thời
kì trước nay được hồi sinh mạnh mẽ, trong đó không thể không kể đến cảm hứng trào lộng với giọng điệu hài hước, giễu nhại Văn học trào phúng lại tiếp tục dòng chảy và sứ mệnh của nó
Trong quá trình đổi mới ấy, nhiều cây bút đã dùng tiếng cười như một phương tiện chủ yếu để phản ánh hiện thực Có thể kể ra đây như Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng với giọng châm biếm nhẹ nhàng mà chua cay; Tạ Duy Anh với giọng trào lộng, châm chích; Chu Lai, Lê Lựu với giọng tự trào; Hồ
Trang 7Anh Thái, Thuận với giọng giễu nhại, Cùng đứng trong hàng ngũ của các
nhà văn trào phúng, Vũ Bão đã định danh mình với cái nhìn biết cười vào
cuộc đời Hành trình sáng tác của ông tạo nên một dòng cười: dòng cười Vũ
Bão Vũ Bão có một lối văn châm biếm đặc biệt Nhiều truyện của ông không những nổi tiếng ở trong nước mà còn được dịch ra tiếng nước ngoài và được bạn bè quốc tế đón nhận nồng nhiệt Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có những công trình nghiên cứu có quy mô về văn chương nói chung và về nghệ thuật trào phúng nói riêng trong hệ thống sáng tác của Vũ Bão Đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật trào phúng trong sáng tác của Vũ Bão, chúng tôi mong muốn góp phần khai phá thêm văn học trào phúng Việt Nam, đồng thời khẳng định vị trí và tài năng của nhà văn này trong văn học Việt Nam hiện đại
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nhìn chung, cho đến nay lịch sử nghiên cứu về con người và văn chương Vũ Bão còn rất sơ sài Chưa có những công trình nghiên cứu dày dặn, chuyên sâu mà chủ yếu là những bài phê bình, bài giới thiệu tác phẩm hoặc những bài phỏng vấn nhà văn đăng trên một số báo in và trang mạng Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi thấy những bài viết này đã bước đầu đã khắc họa được chân dung con người cũng như nét độc đáo trong sáng tác của Vũ Bão Có thể chia những bài viết này thành hai nhóm: nhóm bài viết, bài phỏng vấn Vũ Bão và nhóm bài phê bình, giới thiệu về sáng tác của nhà văn
Ở nhóm bài thứ nhất, các tác giả tập trung khắc họa chân dung con người Vũ Bão - yếu tố có ảnh hưởng lớn đến sáng tác Ngoài đời, Vũ Bão
trước sau luôn được bạn bè, đồng nghiệp coi là một cây cười: Khi nhắc đến
Vũ Bão, người ta nhớ nhất cách nói chuyện hóm hỉnh, cách pha trò có duyên
và tiếng cười luôn nổ giòn như pháo [14] Tiếng cười như là thứ duyên nợ
truyền kiếp và trở thành một dấu hiệu nhận biết con người ông: Vũ Bão là
người sinh ra để cười Mỗi tế bào trong người anh đều muốn được cười Cười trong tác phẩm Cười trong cuộc đời Cười như một đứa trẻ Và cười như một
Trang 8ông lão lõi đời giễu tất cả [51] Với khiếu khôi hài bẩm sinh [63] và cái
“tạng” của một nhà văn có khiếu trào phúng [40], dường như tiếng cười đã
trở thành một thứ căn cước định danh Vũ Bão trong làng văn Việt Nam Nhà
văn Hồ Anh Thái, một cây bút trào phúng nổi tiếng cũng từng nói: Sinh thời,
dường như lúc nào nhà văn Vũ Bão cũng tìm ra chuyện để cười [45]
Tiếng cười của Vũ Bão là tiếng cười vỡ ra từ hiện thực, quan trọng hơn,
nó gắn liền với sự thật, với một con người bản lĩnh Trong hành trình đi tìm
sự thật biết cười, khi trả lời phỏng vấn báo điện tử Vietnamnet ngày 10/02/2004, nhà văn quan niệm: Cuộc đời người cầm bút, - theo ông - thở
bằng lá phổi của mình, đi bằng đôi chân của mình, nhìn đời bằng đôi mắt của mình, suy nghĩ lẽ đời bằng cái đầu của mình và không bao giờ chịu viết bằng ngòi bút đã bị bẻ cong [28] Cuộc sống có bao cái đáng cười, nhưng có cái
đáng cười lại thuộc về những “vùng nhạy cảm” mà không phải nhà văn nào cũng dám phóng bút Nói về sự cười trong văn chương, Vũ Bão tâm sự:
Người đời cười những chuyện vô lý mà có thật trong cuộc đời, cười những chuyện nhảm nhí, nhố nhăng của thiên hạ Những chuyện đó diễn ra hằng ngày, nhưng quan trọng là có ai dám phê phán nó hay không, và tôi đã thẳng thắn viết ra những điều đó.( ) Tôi thấy cuộc đời có nhiều chuyện đáng cười,
có khi còn hay hơn những chuyện cười đã in trên báo hay viết thành sách Tôi vui miệng kể cho bạn bè nghe những câu chuyện tự sáng tác, họ cười, tôi thử viết truyện ngắn, bạn đọc cười [68] Phát hiện sự nhạy cảm với cái hài của Vũ
Bão, nhà nghiên cứu Hoài Nam đã nhận định: Dường như ở bất cứ lĩnh vực
nào của đời sống, ở bất cứ nơi nào có sự trái khoáy của việc lẫn lộn giữa cái thật và cái giả, cái đẹp và cái xấu, cái tử tế và cái nhem nhếch, cái hợp lý và cái phi lý là Vũ Bão đều xuất hiện và cất tiếng cười ( ) Tác giả bài viết
cũng nhận thấy tiếng cười hài hước của Vũ Bão là tiếng cười gắn chặt với đời
sống, phản ảnh trực tiếp đời sống, mang đậm hơi thở đời sống [41] Với ông,
tiếng cười trong văn chương không phải là để thể hiện thái độ hằn học, ác ý
Trang 9hay chửi đổng [41], mà tiếng cười cất lên là để châm biếm những thói tật tràn lan trong xã hội, không phân biệt tầng lớp, địa vị, ngành nghề, vùng đất [69],
để bảo vệ cái thiện, cái chân, chống lại cái ác, cái nguỵ [68] Ào ào như thế (như cái tên Vũ Bão - người viết), ông cuốn ta đi cùng các câu chuyện của
mình, sôi nổi, rất nhiều hài hước, giàu tình cảm, và không ngại ngùng [13]
Xuất phát từ đời sống, tiếng cười của Vũ Bão lại trở về với đời sống để thanh lọc tâm hồn con người, giúp họ sống tốt hơn, sống đẹp hơn Tóm lại, từ những
ý kiến đánh giá của các tác giả và lời phát biểu của nhà văn nói trên, có thể thấy Vũ Bão không chỉ là một con người hài hước, tôn trọng sự thật, mà còn
là người biết đi tìm sự thật biết cười [41]
Trong nhóm bài viết thứ hai, các tác giả chủ yếu tập trung đánh giá sự ảnh hưởng, những nét độc đáo, bước đầu ghi nhận những thành công và vị trí của Vũ Bão trong nền văn học Việt Nam nói chung và văn học trào phúng nói riêng
Nhận xét về mối quan hệ của truyện ngắn Vũ Bão với văn học dân gian, Bùi Việt Thắng khẳng định sự ảnh hưởng của truyện tiếu lâm dân gian
đối với tác phẩm của ông: Thi pháp truyện ngắn hiện đại cho chúng ta nhận
biết về tính chất phong phú của hình thức thể loại “nhỏ” trong sự tiếp biến truyện kể dân gian: truyện tiếu lâm có chỗ đứng đặc biệt trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Vũ Bão [58] Có tác giả còn cho rằng, Vũ Bão có một lối văn châm biếm đặc biệt, được xem như là hậu duệ của nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan [28]
Ở bài viết đánh giá về đội ngũ nhà văn Việt Nam viết truyện ngắn đương
đại, Lê Dục Tú đã khẳng định: Với sự kết hợp tư duy sắc sảo nhanh nhạy của
một nhà báo và sự mẫn cảm, tinh tế của một nhà văn, truyện của Vũ Bão vẫn tiếp tục chinh phục bạn đọc ở giọng điệu giễu nhại, tự trào của lối văn trào lộng với tiếng cười nhân bản, hồn hậu, ở khả năng sử dụng đắc địa ngôn ngữ dân dã, đời thường và cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên [52] Các tác phẩm
Trang 10của Vũ Bão mang đậm nét hoạt kê, giọng điệu trào phúng, giễu cợt [69] Vũ
Thị Thường cũng nhận định: Vũ Bão là một cây bút trào lộng, lối viết dí dỏm,
súc tích ( ) lôi cuốn người đọc từ đầu chí cuối [63] Ở khía cạnh khác, Hoàng
Định còn cho rằng, tiếng cười trong tác phẩm của Vũ Bão không đơn thuần để
giải trí: Vũ Bão có lối viết hóm hỉnh, dễ đọc, nhưng đằng sau câu chữ là những
tầng ý sâu sắc [18] Đó là những tác phẩm giản dị, gần gũi, hài hước, dí dỏm song lại ẩn chứa nhiều tầng lớp ý nghĩa sâu xa, khó quên [32]
Một số tác giả khác lại chỉ ra nét riêng trong sáng tác của nhà văn Khi dịch tác phẩm của Vũ Bão, dịch giả người Nhật Kato Sakae nhận định:
Truyện của ông ấy có cách viết rất trẻ, lại mới lạ [43] Trong các tác phẩm
của ông, tinh thần hài hước lúc nào cũng vượt trội, và tinh thần hài hước này
lúc nào cũng tràn đầy trong tác phẩm của Vũ Bão “Người vãi linh hồn”,
“Người chưa có chiến công”, “Người không có tên trong từ điển” là những tập sách khiến Vũ Bão không lẫn vào ai [40] Tác giả Hoài Nam, trong bài
viết Vũ Bão và tiếng cười triết luận cũng có nhận xét tương tự: Tiếng cười
hài hước của Vũ Bão là thứ tiếng cười rất đặc biệt, thậm chí không giống ai
Nó là tiếng cười “xả láng” Nó là tiếng cười phanh phui, quất roi vào cái giả cái xấu cái đáng ghét trong đời sống Nó là tiếng cười có ý nghĩa điều chỉnh
xã hội v.v Trên cơ sở đó, người viết còn chỉ ra chất trí tuệ, tầm vóc tiếng
cười trong truyện ngắn trào phúng của Vũ Bão: ở một số trường hợp, tiếng
cười hài hước của Vũ Bão đã chạm tới những vấn đề triết luận, và mang tầm của triết luận [41] Đó không còn là tiếng cười để giễu cợt, phê phán Cao
hơn thế, nó khiến người ta nghĩ về những vấn đề rộng lớn hơn, mang tính qui luật của đời sống Đặc biệt hơn, tác giả Bùi Ngọc Tấn còn phát hiện hành trình văn chương của Vũ Bão như một dòng chảy lạ mà không nhiều cây bút
có được: Một mình anh làm nên một dòng riêng Anh ra đi, bè bạn mất một
tiếng cười, văn học mất một dòng cười Dòng cười Vũ Bão [51] Những cái
Trang 11nhìn như thế đã vẽ được bức tranh toàn cảnh về văn chương cũng như bước đầu tiếp cận phong cách của nhà văn quê lúa Thái Bình
Trong khi hầu hết các bài viết cho rằng giọng điệu trong sáng tác của
Vũ Bão là giọng trào lộng, hài hước thì một số tác giả khác lại phát hiện ra rằng phía bên kia của giọng trào lộng lại là giọng buồn xót xa: văn của ông
rất hoạt, đọc rất gây cười, rất lôi cuốn, chuyện như đùa, như giỡn, như chơi,
để đọc xong rồi, cười rồi thì thấy thấm cùng nhà văn một nỗi buồn trầm lặng
[44] Nhiều tác phẩm của ông khi dí dỏm, lúc sảng khoái, lúc giễu nhại,
nhưng dư vị để lại thật chua xót, tiếc nuối [67] Đồng tình với ý kiến trên, tác
giả Trần Thị Hạnh trong bài viết Tiếng cười trong “Utopi - một miếng để đời” của Vũ Bão cho rằng: Chất humour thấm đẫm từng trang sách, từng câu
chuyện, cái cười của Vũ Bão trong tiểu thuyết này khi dí dỏm, lúc sảng khoái, lúc giễu nhại nhưng đằng sau đó chất chứa một sự suy ngẫm, có cả tiếng thở dài trước những ngổn ngang bề bộn chưa được dọn dẹp trên thế giới này
[23] Mặt khác, có tác giả còn phát hiện rằng ngay cả cái hài trong sáng tác
của ông cũng không hề đơn điệu mà rất đa dạng, nhiều cung bậc: Ông dí dỏm
trong tiểu thuyết “Sắp cưới”, “Thời gian không đợi”, “Gọi ai lần cuối” Ông cười sảng khoái và cả chua chát trong truyện ngắn “Người vãi linh hồn”, “Người chưa có chiến công”, “Người không có tên trong từ điển”,
“Phó tiến sĩ không hữu nghị” Ông trào phúng sắc bén trong những thiên phóng sự và hóm hỉnh trong những kịch bản phim “Phút thứ 89”, “Những ngôi sao nhỏ”…[32]
Tóm lại, các tác giả bài viết không chỉ phác họa chân dung “người cười” Vũ Bão mà còn khẳng định tính chất hài hước, trào lộng là một đặc điểm nổi bật, bao trùm trong các sáng tác của ông Những đánh giá này đồng thời cũng chỉ ra những nét độc đáo trong văn chương Vũ Bão: đó là những sáng tác trào lộng giàu ý nghĩa, giọng hài hước đa thanh, đa sắc thái Tuy nhiên, những ý kiến trên đây mới chỉ dừng lại ở mức khái quát những nét lớn
Trang 12Tiếng cười trong tác phẩm Vũ Bão cũng chưa được các tác giả tìm hiểu một cách hệ thống, có chiều sâu; đồng thời chưa chỉ ra được ý nghĩa xã hội và thẩm mỹ của nó Bên cạnh đó, các phương tiện, bút pháp thể hiện tiếng cười trong tác phẩm của ông như nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật, giọng điệu, ngôn ngữ… cũng chưa được chú ý khai thác Chính vì thế, một công trình có tính chất tổng kết, đánh giá trên cơ sở phân tích các tác phẩm cụ thể để có những kết luận về nghệ thuật trào phúng trong các sáng tác của Vũ Bão là một việc làm cần thiết đối với người nghiên cứu văn chương
Vũ Bão nói riêng và văn học sau 1986 nói chung
Từ những đánh giá, nhận xét mang tính gợi mở và định hướng trên đây,
chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài Nghệ thuật trào phúng trong sáng tác của Vũ Bão sau năm 1986 với mong muốn đánh giá một cách toàn diện và
có hệ thống đặc điểm nói trên ở sáng tác Vũ Bão
3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Nghệ thuật trào phúng trong sáng tác của Vũ Bão sau năm 1986
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Tập Truyện ngắn chọn lọc Vũ Bão - Nxb Hội nhà văn, 2007
- Tiểu thuyết Utopi - một miếng để đời - Nxb Hội nhà văn, 2007
- Hồi kí Rễ bèo chân sóng - Nxb Hà Nội, 2010
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
4.1 Mục đích của đề tài:
- Qua việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu tiếng cười
và nghệ thuật trào phúng trong sáng tác của Vũ Bão sau năm 1986 Chất trào phúng ấy được thể hiện qua cách nhìn hiện thực đời sống và con người cũng như qua các phương tiện nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn
- Nghiên cứu nghệ thuật trào phúng trong sáng tác của Vũ Bão, luận văn khẳng định những đóng góp của nhà văn trong việc khám phá và miêu tả
Trang 13hiện thực đời sống xã hội và con người cũng như những đổi mới về tư duy, bút pháp của nhà văn trong văn học Việt Nam hiện đại
4.2 Nhiệm vụ của đề tài
- Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết về trào phúng trong văn học
- Đặt sáng tác của Vũ Bão vào xu hướng hồi sinh và phát triển văn học trào phúng Việt Nam từ sau 1986
- Tìm hiểu sự thể hiện cụ thể của tiếng cười trong cái nhìn hiện thực và con người ở sáng tác của Vũ Bão và các phương thức nghệ thuật đặc trưng của tác giả để thể hiện tiếng cười ấy
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Đề tài hoàn thành góp phần làm sáng tỏ thêm bức tranh chung về văn học trào phúng trong văn học Việt Nam hiện đại sau 1986
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận Trong
đó, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Văn học trào phúng và sáng tác của Vũ Bão sau năm 1986 Chương 2: Nhân vật, tình huống và cốt truyện trong sáng tác của Vũ
Bão sau năm 1986
Chương 3: Giọng điệu và ngôn ngữ trong sáng tác của Vũ Bão sau
năm 1986
Sau cùng là phần Thư mục tham khảo
Trang 14Chương 1
VĂN HỌC TRÀO PHÚNG
VÀ SÁNG TÁC CỦA VŨ BÃO SAU NĂM 1986
1.1 VÀI NÉT VỀ VĂN HỌC TRÀO PHÚNG VIỆT NAM
1.1.1 Giới thuyết một số khái niệm
Trào phúng là sự khái quát chung cho những tác phẩm nghệ thuật
(không cứ gì văn chương) lấy tiếng cười làm phương tiện để biểu hiện thái độ
gì đó, nhằm vào một đối tượng nhất định Nhìn từ phương diện văn học, Từ
điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ
biên định nghĩa: “Trào phúng là một loại đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước… được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội” [22, tr.306] Trào phúng bao gồm nhiều dạng như khôi hài, châm biếm, đả kích mà sự phân biệt các dạng này là ở mức độ và tính chất cùng với phương thức thể hiện Theo nghĩa từ nguyên, trào phúng là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác, song trong lĩnh vực văn học, trào phúng gắn liền với cái hài
Cái hài là một kiểu nhận thức gắn với tiếng cười khi phát hiện ra những
mâu thuẫn nào đó của sự vật hiện tượng ở góc độ thẩm mỹ Cái hài bao hàm một ý nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng định lý tưởng thẩm mỹ cao cả Nó là
sự phê phán mang tính cảm xúc sáng tạo tích cực và có sức công phá mãnh liệt đối với những cái xấu xa, lỗi thời Sức mạnh phê phán của nó vừa có tính phủ định lại vừa mang ý nghĩa khẳng định Ghécxen đã cho rằng cái cười có ý nghĩa thẩm mỹ là một công cụ Ông viết: “Tiếng cười là một công cụ phá hoại hùng mạnh nhất Nó đánh và thiêu cháy như sét Do tiếng cười mà những thần tượng bị sụp đổ” Vì lẽ đó, cái hài “là vũ khí trong đấu tranh xã hội, giải quyết
Trang 15những xung đột, những mâu thuẫn luôn hướng con người đến với cái tốt, cái đẹp với niềm tin và khát vọng sống một cuộc sống tốt hơn, đẹp hơn” [57] Hai yếu tố tạo nên cái hài là đối tượng trào phúng - bản chất mang tính hài của đối tượng; và chủ thể trào phúng - người phát hiện mâu thuẫn của đối tượng và sử dụng các phương tiện, phương thức phản ánh độc đáo để tăng hiệu quả của tiếng cười
Như vậy, cái hài là yếu tố hàng đầu không thể vắng mặt trong văn học trào phúng Nếu như truyện cười nghiêng về mua vui, giải trí thì truyện trào phúng đồng thời còn là một thứ vũ khí mạnh mẽ Tiếng cười trong văn học trào phúng nhằm lật tung và đưa ra ánh sáng bản chất của đối tượng: đó là những cái tiêu cực, giả dối, lệch chuẩn, làm tha hóa con người và cản trở sự tiến bộ của xã hội Nó là tiếng cười của chân lý, chính nghĩa; tiếng cười giúp con người tự hoàn thiện mình, như Secnưxepxki nói: “Khi cười cái xấu, chúng ta trở nên cao hơn nó” [34, tr.9]
Tuy nhiên, việc xác định đối tượng trào phúng cũng là một yêu cầu quan trọng thể hiện tầm tư tưởng, nhân cách, sự nhạy cảm và cả bản lĩnh của nhà văn Một tác phẩm trào phúng thực sự trở thành văn trào phúng và đạt được mục đích của nó thì nó phải hoàn toàn nhận thức một cách rõ ràng đối tượng mà mình chĩa mũi nhọn vào Không đạt được điều này, tiếng cười dễ trở nên rẻ rúng, lạc lõng, thậm chí còn là độc ác “Nghệ thuật chân chính không dạy người ta cười cái mũi bị vẹo mà dạy người ta cười một tâm hồn lệch lạc” [34, tr.9] Một nhà văn chân chính bao giờ cũng đứng về phía lẽ phải
và tiến bộ; nhận thức được chân, thiện, mĩ để từ đó tấn công vào cái xấu Đó
là những cái xấu về đạo đức, nhân cách, lối sống, là những cái xấu mà không biết mình xấu, là cái xấu đội lốt cái đẹp, nhân danh cái đẹp
Liên quan đến trào phúng còn có các thuật ngữ gần gũi như giễu nhại,
trào lộng Giễu nhại là sự nhắc lại, mô phỏng, một lời nói, một cử chỉ hay nét
phong cách, giọng điệu của đối tượng nhại nhằm làm bật lên cái đáng cười,
Trang 16cái tầm thường, xấu xa, kệch cỡm đáng phê phán của chúng Đặc điểm nổi bật của giễu nhại là luôn có sự bắt chước một cách cố ý các đặc điểm của đối tượng giễu nhại nhằm tạo ra sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng, nội dung
và hình thức, bên trong và bên ngoài… hướng người đọc đến nhận thức cái khiếm khuyết, cái lỗi thời, lạc hậu, phản tiến bộ của đời sống xã hội và trong bản thân con người để cùng nhau nhận thức lại, hoàn thiện bản thân và thúc đẩy tiến bộ xã hội
Trào lộng, theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh là cười nhạo cợt
chơi Trào lộng là cười có tính chất hài hước để đùa cợt, chế giễu Xét về mức
độ thì trào lộng thường nhẹ nhàng hơn châm biếm, phê phán Tuy nhiên, ở một số trường hợp, trào lộng vẫn có thể mang ý nghĩa của châm biếm, phê phán
1.1.2 Những tiền đề lịch sử, xã hội chủ yếu làm hồi sinh văn học trào phúng Việt Nam sau 1986
Một cách khái quát, có thể nói văn học trào phúng Việt Nam với tiếng cười trào lộng, châm biếm đã trở thành truyền thống và luôn song hành với sự
ra đời, vận động và phát triển của văn học dân tộc và trở thành nguồn cảm hứng không bao giờ tắt trong trường kì lịch sử Trong văn học truyền miệng, tiếng cười cất lên ở nhiều thể loại như truyện cười dân gian, ca dao hài hước, chèo, tuồng cổ, chủ yếu nhằm chế giễu, châm biếm những thói hư tật xấu, phê phán bộ máy thống trị và thể hiện tinh thần lạc quan của quần chúng nhân dân Trong văn học viết, từ thời trung đại cho đến hiện đại, yếu tố trào phúng, tuy có những thăng trầm do hoàn cảnh lịch sử, vẫn hòa vào dòng chảy văn chương nước nhà Có thể kể ra đây như: Nguyễn Sĩ Cố (thế kỉ XIII) người
được cho là khởi nguồn văn học viết trào phúng với hai tác phẩm Tụng giá
Tây Yết ở đền Tản Viên và Tụng giá Tây chinh Yết Uy Hiển Vương từ hài
hước, đùa cợt thần linh Đó là Nguyễn Biểu, Lê Thánh Tông (thế kỉ XIV - XV), là Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỉ XVI - XVII), là Hồ Xuân Hương,
Trang 17Nguyễn Công Trứ (thế kỉ XVIII - nửa đầu XIX), là Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương (nửa cuối thế kỉ XIX), là Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan (nửa đầu thế kỉ XX) Đặc biệt, sau năm 1975 văn học trào phúng bắt đầu phát triển mạnh mẽ, tạo nên dấu ấn đậm nét và trở thành một trong những giọng điệu chủ đạo của văn học giai đoạn này Tiếng cười và nghệ thuật trào phúng đã trở thành phương thức phản ánh của nhiều nhà văn: Nguyễn Khắc Trường với
Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Bắc Sơn với Luật đời và cha con; Võ
Văn Trực với Vết sẹo và cái đầu hói; Tô Hoài với Ba người khác; Hồ Anh Thái với Tự sự 265 ngày và Mười lẻ một đêm; Vũ Bão với Utopi - một miếng
để đời và nhiều truyện ngắn; Có thể nói, tiếng cười trào phúng đã trở thành
truyền thống có tính bền vững trong văn học Việt Nam Sự xuất hiện của văn học trào phúng trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1986 là sự tiếp nối tất yếu của truyền thống ấy
Ở phương diện lịch sử - xã hội, chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975 đưa lịch sử dân tộc chuyển sang một trang mới Sau những năm tháng chiến tranh ác liệt, cả dân tộc bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước Nhưng những hậu quả của chiến tranh và mô hình bao cấp không còn phù hợp đã đặt
ra nhu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết, đó là nhu cầu đổi mới Trước yêu cầu lịch sử đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã xác định: “Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn, phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng
ta mới có thể vượt qua khó khăn…” [65, tr.64] Sự biến chuyển đó của lịch sử
và kéo theo là sự thay đổi của hoàn cảnh lịch sử - xã hội dần dần làm thay đổi diện mạo đời sống cũng như tâm lí, tư duy của con người Chính sách mở cửa cùng với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, sự hội nhập kinh tế quốc tế, sự giao lưu văn hoá trong khu vực và trên thế giới từng ngày làm đất nước thay da đổi thịt Nhưng cũng chính từ đó, bên cạnh việc đem đến những
cơ hội, hoàn cảnh mới cũng làm nảy sinh nhiều thách thức Những quan hệ xã
Trang 18hội mới xuất hiện; sự va chạm giữa cái cũ và cái mới, tiến bộ và lạc hậu, giữa giá trị truyền thống và hiện đại; sự suy thoái về đạo đức lối sống; những biểu hiện mới của tính cách con người tạo nên một bức tranh đa sắc màu Khác hẳn thời kì trước 1975, khi mà xã hội và tâm lí con người còn tương đối thuần nhất, thì đến bây giờ cuộc sống mới, bên cạnh nhiều giá trị tốt đẹp cũng natr sinh không ít điều tồi tệ, xấu xa: sự giả dối, rởm đời, lừa lọc, phản trắc; những suy đồi, tha hóa về đạo đức, nhân tâm, Ngay trong mỗi con người, cái thiện
và cái ác, cái cao cả và thấp hèn, cái tốt và cái xấu, cái bi và cái hài, cùng đan xen, tồn tại Tất cả những biểu hiện phong phú, phức tạp đó của đời sống
đã trở thành chất liệu sáng tạo cho nền văn học mới nói chung và văn học trào phúng nói riêng
Mặt khác, từ sau 1986 quan điểm chỉ đạo văn nghệ thông thoáng và cởi
mở của Đảng “đã thổi một luồng gió lớn vào đời sống văn học nghệ thuật nước nhà, mở ra một thời kỳ đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật” [36, tr.11] Tiền đề đó làm cho ý thức cá nhân, vốn xuất hiện từ những năm 30 của thế kỉ XX, tạm ẩn mình trong những năm tháng chiến tranh, lại có dịp hồi sinh Ý thức ấy cùng với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật cho phép con người thể hiện chính kiến, quan điểm của mình về mọi vấn đề trong đời sống xã hội một cách thẳng thắn, trung thực; giúp nhà văn dám xông xáo vào mọi ngõ ngách của đời sống, khắc họa một cách chân thực, sinh động bản chất của con người và xã hội
Bên cạnh đó, khi văn học khám phá con người ở muôn mặt cuộc sống đời thường thì những giá trị tinh thần, khát vọng cá nhân luôn được đề cao Nhu cầu thể hiện cá tính, vai trò của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể; nhu cầu được thư giãn, được giải toả và được đánh giá, bình phẩm về các hiện tượng đời sống mà văn học phản ánh cũng trở nên bức thiết hơn Những yếu
tố trên đã mở đường cho tiếng cười đi vào những trang sách
Trang 19Trong bối cảnh như thế, nhiều cảm hứng, giọng điệu vốn trước đây bị coi nhẹ nay đã sống lại trên những trang viết, trong đó phải kể đến bộ phận văn học trào phúng với cảm hứng trào lộng, phê phán, đúng như T.S Nguyễn Thị Bình đã nhận định: “Trong công cuộc đổi mới đất nước sau chiến tranh, ý thức cá nhân được giải phóng, ý thức cá tính được đề cao trong văn chương
đã là cơ sở cho tiếng cười nở rộ” [12, tr.29]
1.1.3 Văn học trào phúng trong văn học Việt Nam sau 1986
Kể từ sau năm 1975 đến trước 1986, đặc biệt là từ sau năm 1986, sự chuyển mình của lịch sử - xã hội đã kéo theo sự hồi sinh của văn học trào phúng Việt Nam Nhiều cây bút đã tìm thấy ở tiếng cười một cách thức, một phương tiện phản ánh thực tại đầy tiềm năng và có sức hấp dẫn lớn đối với độc giả Thay vì những vấn đề lớn lao, trọng đại của dân tộc, đất nước như giai đoạn trước, văn học nói chung và văn học trào phúng nói riêng đi sâu khám phá muôn mặt đời thường của con người cá nhân Nhiều vấn đề của đời sống được đưa lên trang giấy Trong thế hệ những nhà văn đàn anh, Nguyễn Minh Châu được coi là “người mở đường tinh anh và tài năng” Mỗi truyện ngắn của ông luôn ẩn giấu những suy tư, trăn trở về cuộc đời, về nhân tình thế thái Đó có thể
là giọng cười đùa hóm hỉnh, là cái “cười ra nước mắt”, cũng có khi lại là giọng châm biếm phẫn nộ Trong một số tác phẩm, Nguyễn Minh Châu đi vào những căn bệnh trầm kha của xã hội mà biểu hiện rõ nhất là những sự phi lý cứ ngang
nhiên tồn tại trong cuộc sống Ở Phiên chợ Giát, đó là cuộc đối thoại ngầm của
lão Khúng và người lãnh đạo huyện chỉ chăm chăm “cách cái mạng” của người dân quê muôn đời nghèo khổ Khúng “nín lặng nghe một cách cung kính” ông chủ tịch giảng giải về “hai con đường” mà chỉ chực thốt lên: “tôi gần mười đứa con, vào hợp tác xã để mà chết đói à?” Ông chủ tịch là nhà cách mạng luôn thường trực bầu máu nóng “lúc nào cũng như cái chảo nước đang sôi, hễ thích làm gì là làm, bất chấp tất cả” nhưng với lão Khúng thì: “công trường với chả công triếc… toàn là một lũ ăn cắp”
Trang 20Trong Thời xa vắng in năm 1986, Lê Lựu đã dẫn người đọc trở về với
một thời đầy bi hài Cái làng Hạ Vị của Giang Minh Sài dẫu đã lên đến hợp tác xã cấp cao, trải qua những cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, có đủ
cả bộ máy đảng, chính quyền nhưng vẫn chỉ là một hình ảnh thu nhỏ của một vương quốc “rất ngố”, “rất nhắng” Sự ấu trĩ của những người nắm quyền lực, nắm sinh mạng kẻ khác đã giết chết con người cá nhân, những mơ ước khát vọng và tài năng của không ít người trong đó có Giang Minh Sài Tiếng cười xen lẫn dư vị chua cay mà tác phẩm tạo ra được khai thác ở những “chuyện thật như đùa” ngay trong hiện thực đời sống đất nước sau chiến tranh, vốn trước nay “vẫn bị dồn nén, che giấu cẩn thận”
Với Lê Minh Khuê, một cây bút nữ khá nổi bật thì cảm hứng trào lộng chỉ thấp thoáng trong một số tác phẩm ban đầu, càng về sau càng trở nên mạnh
mẽ và đậm nét Bằng cảm quan của mình, tác giả đã tập trung giễu nhại sự tha hoá và lối sống thực dụng của con người thời hiện đại, những bất ổn của cơ chế
xã hội, những quan niệm lệch lạc, ấu trĩ của con người Tất cả được nhà văn trình bày bằng một giọng văn hài hước, châm biếm theo kiểu: đường về làng trồng nhiều cây bạch đàn, con mương thẳng theo hàng cây Hai cái quán karaokê đứng cạnh mấy đống rơm… bố mẹ Na cũng xây cái hộp vuông như cái
bánh chưng, bên trên nhọn hoắt những tháp của người Ả rập (Làng xi măng)
Nhà văn giễu sự mù quáng của con người trước đồng tiền đến mức tự biến
mình thành một kiểu con vật - người (Anh lính Tony.D); giễu chủ nghĩa bình quân, chủ nghĩa lý lịch, chủ nghĩa thành phần (Ga xép) và cũng chẳng ngại ngần châm biếm loại người “cỗ máy”, công cụ (Thân phận cu li)
Đến Nguyễn Huy Thiệp, dường như tiếng cười trào phúng trở thành nét
nổi bật trong các sáng tác của nhà văn Hàng loạt truyện ngắn như Tướng về
hưu, Những người thợ xẻ, Sang sông, Không có vua… được tác giả viết bằng
cảm hứng giễu nhại Trong Tướng về hưu, tác giả đã sử dụng nhại để “giải
thiêng” những quan niệm anh hùng, thi vị hoá cuộc sống Chẳng hạn, tác giả
Trang 21dẫn vào trong truyện cuộc đối thoại ngắn giữa đứa cháu thơ ngây và ông nội
để làm bật lên cái hiện thực trớ trêu của vị tướng giữa đời thường: “Cái Mi
hỏi: Ông đi ra trận hả ông? Cha tôi bảo: Ừ! Cái Vi hỏi: Đường ra trận mùa
này đẹp lắm có phải không ông? Cha tôi chửi: Mẹ mày! Láo!” [61, tr.34] Ở
đoạn khác, nhà văn lấy suy nghĩ của những đứa trẻ để giễu nhại và xót xa về lối sống thực dụng đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi con người: “Cái Mi hỏi: Sao chết đi qua đò cũng phải trả tiền? Sao lại cho tiền vào miệng bà? Cái Vi hỏi: Đấy có phải ngậm miệng ăn tiền không bố? Tôi khóc: Các con không hiểu đâu Bố cũng không hiểu, đấy là mê tín Cái Vi bảo: Con hiểu đấy Đời người cần không biết bao nhiêu là tiền Chết cũng cần” [61, tr.29] Trong truyện
ngắn Sang sông, dường như ngòi bút giễu nhại của tác giả đã hướng về những
vấn đề đạo đức, niềm tin tôn giáo khi cho người đọc chứng kiến hành động đập vỡ chiếc bình quý của hai tên buôn đồ cổ để cứu đứa bé bị kẹt tay trong miệng bình Chính ông giáo, một biểu tượng sống của văn hoá, đạo đức phải thốt lên: “Trời! Anh ấy dám đập vỡ bình! Thật đúng là một anh hùng! Một nhà cách mạng! Một nhà cải cách! Chị lái đò giấu nụ cười thầm Chị biết, vô phúc cho ai một mình gặp hắn trong đêm” [61, tr.235] Kẻ cướp có thể trở thành anh hùng, thậm chí thành Phật nếu chúng ta đối sánh với nhà sư - người
từ đầu đến cuối không hề biểu lộ một lời nói hay hành động nào
Cùng với Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái nổi lên như là cây bút trào
phúng có những thể nghiệm mới Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế
viết về cõi người như một sa mạc mênh mông, hoang vắng của cái ác, dục vọng và lòng ích kỷ Tưởng chừng sự trỗi dậy của cái ác mạnh đến nỗi mà tác
giả phải hốt hoảng rung lên hồi chuông cảnh tỉnh Tập truyện ngắn Tự sự 265
ngày ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn năm 2001 đã gây được sự chú ý của
người đọc về nhiệt tình tìm tòi, tự đổi mới mình không ngừng nghỉ của tác giả Qua tác phẩm, người đọc chứng kiến sự thật trong đời sống của tầng lớp được coi là ưu tú của xã hội Từ quan chức đến chuyên viên, phục vụ; đủ học
Trang 22vị, học vấn, thành phần giới chức: Nhà khoa học, nghiên cứu viên, nhà văn,
sử học, võ sư, nghệ sĩ, Có thể nói, những nhân vật trong Tự sự 265 ngày
được xây dựng như là những mẫu hình đại diện cho một loại trí thức, công chức “rởm” và sự nhạt nhẽo, vô nghĩa trong việc làm và lối sinh hoạt của họ
Rất nhiều thói hư, tật xấu, sự bất tài vô tướng của giới công chức trong Tự sự
265 ngày được chỉ ra dù Hồ Anh Thái không có ý bôi đen cuộc sống Việc
nhận ra và nói thẳng bằng thái độ giễu cợt, trào lộng những thói tật của một
bộ phận người đang có nguy cơ phổ biến trong xã hội là một trong những đóng góp quan trọng của tác giả ở tập truyện này Tư tưởng và cách thể
nghiệm này được nhà văn tiếp tục phát huy trong tập truyện ngắn Bốn lối vào
nhà cười và một số truyện ngắn trong tập truyện ngắn Sắp đặt và diễn
Từ sau năm 1986, sự thay đổi trong quan niệm, cách tiếp cận đời sống
và con người của các nhà văn đã dẫn đến những cách tân về hình thức nghệ thuật, trong đó có văn xuôi trào phúng Tiếng cười xuất hiện với nhiều cung bậc đa dạng, phong phú Có khi đó là tiếng cười nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng cũng có khi là tiếng cười châm biếm, đốp chát sâu cay Ở phương diện xây dựng cốt truyện, do hướng về đời sống thế sự với con người cá nhân trong sinh hoạt hàng ngày nên hầu hết nhà văn trào phúng không chú trọng xây dựng những cốt truyện trong đó chứa đựng những xung đột, mâu thuẫn gay gắt Có thể thấy trong nhiều tác phẩm của Tạ Duy Anh, Nguyễn Huy Thiệp,
Hồ Anh Thái, Vũ Bão, không phải cốt truyện nào cũng có những tình huống gay cấn với những xung đột quyết liệt, mà chủ yếu là những câu chuyện về những cái bình thường, nhỏ nhặt diễn ra trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày Nếu có xung đột thì chủ yếu là xung đột bên trong của cá nhân Thậm chí ngay cả khi nhà văn đề cập đến chiến tranh trong quá khứ, cũng không thấy có xung đột một mất một còn giữa ta và địch, mà chỉ đơn giản là những mỗi quan hệ, chuyện công bằng, chuyện sinh hoạt hàng ngày giữa những người lính Ở phía cạnh khác, kết cấu tác phẩm cũng được tổ chức rất linh
Trang 23hoạt Sự kiện ít khi được đặt trên một trục tuyến tính mà được tháo gỡ, sắp đặt thành nhiều dạng thức mới như kiểu cốt truyện theo hành trình số phận, đan xen giữa quá khứ và hiện tại; lối xây dựng các biểu tượng với các thủ pháp nghệ thuật mới mẻ như thủ pháp đồng hiện, cắt dán, lồng ghép, liên văn bản,
Do đổi mới trong quan niệm về con người nên ở phương diện nhân vật, các nhà văn trào phúng sau năm 1986 không chú trọng xây dựng các nhân vật điển hình hoặc kiểu nhân vật lí tưởng, mẫu mực, đơn phiến Nhân vật trong các sáng tác của họ chỉ là những con người bình thường, đặt trong sinh hoạt đời thường với tất cả biểu hiện tự nhiên của nó Thậm chí có những tác phẩm,
dù viết về người lính và chiến tranh, thì con người ở đây vẫn chủ yếu được nhìn nhận và đánh giá trong những sinh hoạt thường ngày, trong mối quan hệ với người khác, chứ không phải trong quan hệ với kẻ thù
Dù chưa điểm hết những tác giả, tác phẩm trào phúng song có thể thấy
sự phát triển mạnh mẽ của văn học trào phúng là một thực tế không thể phủ nhận Với cái nhìn thẳng vào sự thật, khám phá hiện thực ở nhiều chiều kích khác nhau, bằng tiếng cười, các tác giả đã đem đến cho văn học một diện mạo mới, sắc thái mới Qua đó, có thể khẳng định văn học trào phúng là một bộ phận khá nổi bật trong văn xuôi nước nhà sau 1986
1.2 HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG SÁNG TÁC CỦA VŨ BÃO SAU NĂM 1986
Sinh thời, nhà văn Vũ Bão hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau Từng là người lính trong thời chiến, rồi trở về làm văn nghệ trong thời bình nên “vùng thẩm mĩ” trong sáng tác của nhà văn cũng tương đối rộng lớn Mặt khác, với tài năng của một người cầm bút, Vũ Bão đã thể hiện những vấn đề của hiện thực đời sống và con người bằng bút pháp đa dạng, trong đó phải kể đến những tác phẩm phản ánh trực tiếp đời sống thế tục và những tác phẩm mang xu hướng tâm linh, hoang đường Xuất phát từ đặc điểm trên, chúng tôi
Trang 24tiến hành tìm hiểu hiện thực xã hội và con người trong trong truyện ngắn Vũ
Bão sau năm 1986 ở ba phạm vi sau: hiện thực xã hội và con người trong và
sau chiến tranh; hiện thực xã hội và con người trong cuộc sống đời thường; hiện thực xã hội và con người trong thế giới tâm linh, hoang đường
1.2.1 Hiện thực xã hội và con người trong và sau chiến tranh
Cái hài, xét về mặt ý nghĩa luôn đối lập với cái bi Tiếng cười đối lập với nỗi buồn và nước mắt Nhưng trong thực tế sáng tác và biểu hiện, cảm hứng về cái hài dường như gắn liền với cái bi, tạo thành cái gọi là “umua đen” như các nhà phê bình văn học phương Tây hiện đại đã quan niệm Đó là kiểu tiếng cười mang sắc thái bi đát Tiếng cười trong truyện ngắn Vũ Bão viết về hiện thực xã hội và con người trong và sau chiến tranh cũng mang sắc thái như thế Không giống như cách tiếp cận thường thấy ở những tác phẩm viết
về chiến tranh trước đây - thiên về ngợi ca, về chiến thắng, vinh quang - các truyện ngắn của Vũ Bão lại chủ yếu xem xét, miêu tả hiện thực và con người trong những đối cực với cái nhìn đa diện, nhiều chiều trên tinh thần dân chủ, tôn trọng sự thật Trong phạm vi hiện thực này, nhân vật của nhà văn thường
là những người lính hoặc những những công dân đặt trong hoàn cảnh chiến tranh Nhìn vào những tác phẩm của nhà văn, có thể khái quát thế giới hiện thực và con người trong và sau chiến tranh ở ba cặp đối lập sau: dũng cảm và hèn nhát, công bằng và bất công, vinh quang và cay đắng
* Dũng cảm và hèn nhát:
Khi tổ quốc lâm nguy, không có gì được trân trọng và ngợi ca bằng lòng yêu nước, bằng tinh thần dám hi sinh vì đồng bào, vì dân tộc Sáng tác của Vũ Bão cũng vậy, từ ông già Vân Kiều kiên cường trước đòn chặt tay chặt chân của kẻ thù cho đến những người lính xả thân nơi chiến trường, tất
cả đều bừng lên một lòng căm thù, một tinh thần, một tư thế tiến công đến
giọt máu và hơi thở cuối cùng Khe Tre là một truyện ngắn đầy cảm xúc về sự
tàn bạo của kẻ thù, về lòng dũng cảm và niềm tin lớn lao của ông già bản T về
Trang 25“ba mươi mốt triệu bà con mình đang vùng lên giành một Tổ quốc nguyên vẹn” [5, tr.64] Truyền thống tốt đẹp ấy được người con dũng sĩ Vân Kiều tiếp nối trong trận đánh thù: “Chiếc cán cờ khai sinh từ Khe Tre đã đứng hiên ngang giữa những ánh chớp nhằng nhằng Cán cờ đã cắm đúng yếu hầu bọn giặc Lửa đạn và những trận bão thép đã tưới tắm cho đoạn tre thân thương ấy bám chặt lấy khoảnh đất vừa giành được trong tay quân thù” [5, tr.68] Đó
còn là Người không có tên trong từ điển Trần Trọng Chình đã vượt lên
những mua chuộc của kẻ thù, tự nguyện hi sinh để bảo vệ đồng đội Dũng cảm là phẩm chất cần có của mỗi công dân nói chung và người lính nói riêng khi đất nước bị xâm lăng Nhưng phải chăng, ai ra trận cũng có được phẩm
chất ấy? Trong truyện Người vãi linh hồn, nhà văn Vũ Bão thể hiện cái nhìn
đời thường về những người lính khi xung trận Dũng cảm có, hèn nhát có Trong làn đạn xối xả của kẻ thù, chính trị viên và cả tiểu đội băng lên nhưng Vĩnh, một chiến sĩ trong tiểu đội của nhân vật “tôi”, lại hèn nhát nằm bẹp lại Trận đánh kết thúc, Vĩnh sợ đến nỗi “vãi linh hồn tóe ra quần”! Trong cái nhìn đa diện, chân thực như thế, con người trong hiện thực chiến tranh hiện lên đúng như bản chất của nó, phức tạp và chứa đựng trong nó những đối cực gay gắt Và với Vũ Bão, có lẽ đó mới chính là cuộc sống
* Công bằng và bất công:
Trong khi văn học viết về chiến tranh thường chủ yếu khắc họa cuộc đấu tranh giữa ta và địch, những hình tượng anh hùng trong quan hệ với kẻ thù thì Vũ Bão lại chủ yếu nhìn người lính trong các quan hệ với đồng đội Nhà văn “không cốt tả thân phận mà thiên về những mối quan hệ của con người” [8] Cho nên, hiện thực chiến tranh trong sáng tác của Vũ Bão thường
ít được sử dụng như là hoàn cảnh để thể hiện phẩm chất, lí tưởng cách mạng của người lính, mà chủ yếu để khắc họa cái tốt, cái xấu của mỗi nhân vật trong quan hệ với đồng đội của mình Ở mỗi quan hệ đó, không chỉ đề cao
Trang 26phẩm chất anh hùng của những người lính, nhà văn tập trung phê phán cái sai, cái tiêu cực, cái phi lí
Vũ Bão đặc biệt nhạy cảm với vấn đề công bằng trong quan hệ, ứng xử giữa những người lính, đặc biệt là quan hệ giữa người chỉ huy với những người lính, giữa cấp trên với cấp dưới Những người chỉ huy trong sáng tác của nhà văn có thể vẫn yêu quí những người lính dưới quyền của mình, nhưng nhiều lúc lại trở thành những cấp trên quan liêu, cậy quyền để áp đặt mệnh lệnh một cách vô lí Dù thế, kết thúc câu chuyện bao giờ những người lính vẫn thuyết phục được cấp trên bằng lí lẽ đúng đắn của họ “Anh lính của tôi đại diện cho cái gì hồn nhiên đáng yêu, biết quên mình vì đồng đội, biết làm cách nào để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ chiến đấu, không màng danh lợi gì ngoài việc giữ cho đúng, giữ cho vững bản ngã con người mình, dù chỉ là cái tên cha mẹ đặt hay một lối cảm nghĩ riêng Anh ta có cái lý của mình.” [8]
Có khi vấn đề công bằng nằm trong câu chuyện đòi lại một cái tên Mở
đầu Người chưa có chiến công là những cuộc đối thoại để giành lại cái tên
của mình của những người lính trước những người chỉ huy Tương tự, trong
truyện Người không có tên trong từ điển, Vũ Bão lật mặt tệ quan liêu khi kể
chuyện người ta chỉ nhăm nhăm sửa cái tên của anh lính Chình thành Trình
cho có nghĩa, mà quên bẵng việc phải đối xử công bằng với người luôn đấu tranh vì lẽ công bằng Cũng có khi câu chuyện công bằng liên quan đến quyền lợi của mỗi người lính khi ra trận Biết rằng mỗi người lính khi ra trận được nhận 38 mặt hàng, nên Chình yêu cầu tiểu đội trưởng phải phát đủ cho anh
em, vì “tiêu chuẩn của mình thì phải đòi, không có các bố hậu cần lại bốc hơi tuồn cho con phe ngoài chợ trời ( ) Cái gì cũng phải công bằng” [5, tr.172]
Không chỉ thế, viên chỉ huy trong truyện Người chưa có chiến công
còn có cách tuyên dương binh sĩ hết sức phi lí Trong khi Rãng trả phép đúng hạn, yêu thương lo lắng cho anh em thì không được khen, người được khen là Bành, một anh lính vi phạm kỉ luật trả phép muộn Vì mải chơi nên bị nhỡ
Trang 27tàu, sợ bị đơn vị kỉ luật, Bành đã phải đi bộ suốt đêm, nhịn đói nhịn khát lần theo dấu vết trung đoàn, bám hết đại đội này sang đại đội khác để tìm về đơn vị Công bằng thì anh ta phải bị kỉ luật, nhưng người chỉ huy đã tôn vinh hành động ấy như là tấm gương về “ý thức chấp hành kỉ luật”, “tinh thần khắc phục khó khăn”! Chất hài hước được đẩy lên cao hơn nữa ở tình huống chiến đấu Bành chẳng làm gì mà nghiễm nhiên anh ta lại được khen vì có “tinh thần tiến công cách mạng” Với những “thành tích” của người khác như thế, Bành được kết nạp Đảng Còn Rãnh, vì là “người chưa có chiến công” nên còn phải tiếp tục phấn đấu!
Trong truyện ngắn của Vũ Bão, vấn đề công bằng và bất công bằng được đề cập đến ở nhiều cấp độ, không chỉ trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, mà hơn thế, trong quan hệ giữa cá nhân với lịch sử Mà suy cho cùng,
lịch sử cũng là do con người tạo ra Ở Người vãi linh hồn, trong một trận
đánh quyết định, Vĩnh - một chiến sĩ trong tiểu đội của nhân vật “tôi”, lại hèn nhát nằm bẹp lại, bỏ quên cả lá cờ của đơn vị Nếu truyện chỉ dừng lại ở đó thì thôi chỉ coi như ôn lại kỉ niệm vừa giận, vừa tếu táo của mấy anh lính trẻ Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu của câu chuyện Một đoàn làm phim về ghi lại chiến công và cảnh cắm cờ trên đồn Bốt Chè Tới đây, một loạt tình huống hài hước xuất hiện Vĩnh được cử là người cắm cờ chiến thắng lên nóc đồn địch Rồi cuốn phim được phổ biến cho toàn thế giới biết; cảnh cắm cờ được in thành lịch, được in trên những con tem Hai mươi năm sau, một đạo diễn nước ngoài đến Việt Nam để phỏng vấn những người lính xuất hiện trong cuốn phim đó Sự giả tạo được đẩy lên tột đỉnh khi lại một lần nữa, “người vãi linh hồn” lại được cử đi trả lời phỏng vấn về trận chiến oai hùng năm xưa Chỉ có điều, chuyện anh chàng “vãi ra quần” thì không nói đến Và cái quần trong phim cũng không ướt sũng như cái quần năm xưa Với chuỗi tình huống trong “Người vãi linh hồn”, Vũ Bão đã cho thấy một sự kiện “bị bẻ queo” Sự thực lịch sử đã bị chà đạp từ từ một cách thô bạo Những người lập công
Trang 28không bao giờ được biết đến Những kẻ hèn nhát lại được tôn vinh như những anh hùng!
Một cách khái quát nhất, vấn đề công bằng và bất công là một trong những vấn đề trở đi trở lại trong nhiều sáng tác của Vũ Bão Với con mắt tinh tường, nhà văn phát hiện và lôi nó ra ánh sáng, bắt nó hiện hình ở nhiều dáng
vẻ, dù là tinh vi nhất Những trang viết của nhà văn không chỉ góp phần giúp con người nhận ra những biểu hiện, những trạng thái phi lí, lố bịch, ti tiện, mà còn làm thức tỉnh cả nỗi hổ thẹn lẫn tinh thần dũng cảm của con người, giúp họ dám đấu tranh với chính bản thân, với cái xấu còn tồn tại trong xã hội
* Vinh quang và cay đắng:
Trong khi khám phá hiện thực cuộc sống và con người trong chiến tranh, Vũ Bão không chỉ nhìn thấy những đau thương, mất mát nơi tiền tuyến
mà nhà văn còn phát hiện và đồng cảm với nỗi đau của những số phận nơi hậu phương Đó không phải là nỗi đau thân xác mà là nỗi đau tinh thần dai
dẳng của những số phận bất hạnh Bố con là đàn bà là một truyện ngắn “lạ”
của Vũ Bão Truyện kể về bốn cô gái trẻ trong khu gia đình của một nhà máy
Ai cũng mang trong lòng một nỗi đau, nhưng có lẽ Ngoan mới chính là hiện thân của bi kịch đau đớn, thiệt thòi nhất Ngoan là “điển hình”, là “nhân tố mới” để bồi dưỡng thành anh hùng Chị đã đạt được những thành công chính trị mà không phải ai cũng có thể làm được Nhưng cũng chính vì thế chuyện Ngoan yêu ai, Đảng ủy nhà máy đều “tận tình góp ý kiến” để chị khỏi mất tác dụng con chim đầu đàn Giống như một tượng đài chỉ có có thể đứng từ xa chiêm ngưỡng, không một ai xứng đáng kết hôn với Ngoan Mọi ngả đường
đi về phía hạnh phúc đã bị đóng chặt với một cô gái “điển hình tiên tiến” như thế Nhưng bi kịch không dừng lại ở đó Đảng ủy trung đoàn kết nghĩa giới thiệu cho Ngoan một Đảng viên, chiến sĩ quyết thắng Nhưng hai người vừa được phép tìm hiểu thì anh ta lên đường đi B Từ đó Ngoan sống trong cô đơn, âm thầm ôm nỗi đau không nói nên lời Chị không dám lấy ai vì phải giữ
Trang 29uy tín của tổ trưởng tổ lao động xã hội chủ nghĩa ba đảm đang có người yêu
đi đánh Mĩ Sinh mệnh chính trị đã đem đến cho Ngoan niềm hạnh phúc và vinh quang mà không phải ai cũng có được Nhưng những lần cần tuyên truyền cho chính sách hậu phương quân đội, các nhà báo về nhà máy chụp ảnh Ngoan thì “vinh quang đến với Ngoan lúc ban ngày thì ban đêm Ngoan đành cắn răng chịu một cái đau không kêu với ai được Mà năm tháng cứ thế trôi đi” [5, tr.48] Những trang viết như thế của Vũ Bão đã đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa con người cá nhân và con người công dân trong thời đại đó Đành rằng trách nhiệm của công dân là chiến đấu, là hi sinh bản thân cho Tổ quốc Nhưng bi kịch của Ngoan quả là khó lí giải, bởi chị cũng đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp, và sự cống hiến đó chẵng lẽ phải trả bằng cái “giá” đắt đến như thế? Với Ngoan hạnh phúc, vinh quang thì trừu tượng, hư ảo, còn khổ đau là có thật Qua bi kịch của nhân vật, Vũ Bão đã tái hiện một thời kì
ấu trĩ trong tư duy của con người, khi mà chính quyền can thiệp quá sâu vào cuộc sống riêng tư của mỗi cá nhân Chính những điều tưởng là đem lại hạnh phúc cho người khác có khi lại trở thành nỗi bất hạnh cho cuộc đời họ
Chiến tranh luôn mang đến đau thương, mất mát cho con người Nhưng với Vũ Bão, dường như phụ nữ mới là những người gánh chịu nhiều thiệt thòi
nhất Khác với Ngoan, nhân vật Ngân trong Nợ đời phải trả là lời phản đối
chiến tranh mạnh mẽ nhất Ngân tham gia cách mạng, làm công tác địch vận Trớ trêu thay, Ngân lại yêu đúng kẻ mà đáng lẽ cần phải vận động về với cách mạng Hạnh phúc trong tình yêu, không hề phản bội cách mạng nhưng Ngân lại phải sống trong cay đắng, bẽ bàng vì cách đối xử của cấp trên, của đồng đội đối với mình Trong quan niệm của Vũ Bão, dường như chiến tranh không
có chỗ cho tình yêu
Sau chiến tranh là hòa bình Cuộc chiến đi qua mang lại cho bao người niềm vinh quang, hạnh phúc Cuộc sống hòa bình dù đã tới, nhưng với ai đó, vẫn mang đến những nỗi đau không thể nói thành lời Cầm súng ra trận, rồi bị
Trang 30thương, lạc đơn vị, vợ con đã nhận giấy báo tử, đến hôm nay khi trở về cố
hương, Châu Nhì bỗng thấy mình trở thành một Bóng ma thiếu quê hương
Sự xuất hiện của ông trở thành một nỗi sợ hãi cho tất cả mọi người Mọi người từ chối nhận ông vì sự xuất hiện của một người đã chết sẽ gây bao xáo trộn cho chính quyền, cho vợ con ông Không ai muốn thay đổi, kể cả những người thân của ông Bởi nếu Châu Nhì còn sống, các ông Đảng ủy, Ủy ban nói thế nào với dân về đồng tiền bát gạo của bà con chi ra để tìm mộ Bùi Hữu Châu mà lại mang về nắm xương người xa lạ? Thằng Nam con ông sẽ bị gọi
từ Hàn Quốc về Cái nhà tình nghĩa cũng bị đòi lại Tiền tuất bao năm cũng sẽ
bị truy thu! Châu Nhì bỗng trở nên lạc lõng ngay trên chính mảnh đất quê hương mình Ông ra đi để được tiếp tục “chết”, để yên thân người còn sống
Với cái nhìn đổi mới, giàu chất nhân văn, Vũ Bão và nhiều nhà văn sau này đã viết về chiến tranh và số phận người lính như là sự thống nhất không thể tách rời giữa vinh quang và cay đắng, hạnh phúc và khổ đau, anh hùng và
đời thường Trong Trời có mắt, bốn người lính xe tăng sau khoảnh khắc vinh
quang và niềm vui chiến thắng, lại trở về với cuộc sống đời thường với bao bộn bề, phức tạp Đó là Tập thợ cày chuyên đi mua phân đạm của bọn “mích” (buôn lậu), hàng ngày thồ cà chua, bắp cải ra chợ bán lấy tiền đong bò gạo nuôi vợ con Đó là Toàn, anh lính lái tăng làm bánh đa, làm đậu phụ, làm miến nuôi gia đình Đó là Phượng, một ông thợ cắt tóc, nuôi vịt Là Nguyên làm nghề bốc xếp, chạy xe lam Cả bốn con người ấy đều biết rằng “chiến tích năm xưa chỉ là nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc” Nhưng nỗi oan về sự lừa dối, nhận vơ chiến tích của người khác khiến họ thấy nhục nhã suốt hai mươi năm ròng Dường như cả xã hội không ai biết hay cố tình không biết nỗi đau
âm thầm nhưng nhức nhối ấy Không ai lên tiếng, và vì thế cái giả dối cứ mãi còn đó, dưới ánh sáng mặt trời, trên mảnh đất màu mỡ của sự im lặng: im lặng vì cố tình, và sau đó là im lặng vì tưởng điều giả dối kia là sự thật, vì không biết
Trang 31Từ quan niệm và cách nhìn trên, có thể nói nhà văn Vũ Bão đã dựng lại một cách sinh động hiện thực về cuộc sống và con người trong và sau chiến tranh Đó là một hiện thực đa chiều mà ở đó luôn tồn tại những mặt đối lập, những vấn đề nhạy cảm không dễ tiếp cận và phản ánh Đặt vào bối cảnh từ sau 1986, những trang viết của nhà văn không những thể hiện một tư duy, một cách tiếp cận trên tinh thần tự do, dân chủ, mà còn bộc lộ được tinh thần tôn trọng sự thật và bản lĩnh của người cầm bút trong thời đại mới, như có lần Vũ Bão từng tâm sự: “Thở bằng lá phổi của mình, nhìn đời bằng đôi mắt của mình, suy nghĩ về lẽ đời bằng cái đầu của mình, đi bằng đôi chân của mình và không bao giờ viết bằng ngòi bút đã bị bẻ cong” [28]
1.2.2 Hiện thực xã hội và con người trong cuộc sống đời thường
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, nước ta bước vào thời kì đổi mới và chuyển từ mô hình quản lí quan liêu bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường Đời sống xã hội và tư duy con người có những thay đổi cơ bản Cái xấu, cái tiêu cực xuất hiện đồng hành cùng cái tốt, cái tích cực Dường như ở bất cứ lĩnh vực nào của đời sống, ở bất cứ nơi nào có sự trái khoáy, bất thường, có sự lẫn lộn giữa cái thật và cái giả, cái đẹp và cái xấu, cái tử tế và cái nhem nhếch, cái hợp lý và cái phi lý là Vũ Bão đều xuất hiện và cất tiếng cười
* Đời sống vật chất và tư tưởng thời hậu bao cấp
Có thể khẳng định rằng, cơ chế quản lí bao cấp có một vai trò vô cùng quan trọng, hội tụ được sức mạnh tinh thần cũng như vật chất của cả dân tộc trong những năm kháng chiến chống ngoại xâm Chiến tranh đi qua, cơ chế ấy
đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó nhưng thực tế nó vẫn tồn tại suốt một thời gian dài Sự tồn tại của cơ chế lạc hậu ấy tất yếu dẫn đến những hậu quả
ở nhiều mặt mà tiêu biểu là đời sống vật chất thì hết sức khó khăn; xuất hiện những mâu thuẫn, xung đột về quan điểm, tư tưởng Sống ở thời đại đó, Vũ
Trang 32Bão bám sát hiện thực, dùng tiếng cười để đả phá thành trì của những cái cũ, cái phản tiến bộ
Trong Chương cuối của một mối tình, Vũ Bão đã phơi bày thực trạng
cuộc sống sinh hoạt chật vật của một bộ phận công chức quèn thời bao cấp và hậu bao cấp Đồng lương ít ỏi, giá nhà thì cao khiến nhiều gia đình phải chui rúc trong một căn hộ chỉ “đủ diện tích cho vợ chồng con cái nằm” Có nhà con cái lớn lên, bố phải nằm giường gấp, hai đứa con trai ngủ một giường, còn hai đứa con gái ngủ chung với mẹ Có nhà không dám kê giường, phải rải chiếu mới đủ chỗ cho cả nhà Có nhà “chỉ kê được cái giường chín tác dụng: gậm giường là nhà kho cất bếp dầu, thùng gạo, nồi, xoong; trên giường vừa là
“sân bay Nội Bài” đón tiếp khách quí, vừa là “khách sạn Thắng Lợi” chiêu đãi ông anh bà chị trong những ngày giỗ Tết, vừa là “câu lạc bộ Ba Đình” cho mấy ông hàng xóm đánh cờ, bàn chuyện thời sự quốc tế, đồng thời là câu lạc
bộ thiếu nhi cho lũ trẻ chơi tú-lơ-khơ, chơi cá ngựa Thứ không gian tưởng như không thể nhỏ hơn nữa ấy khiến cho “mỗi lần về đến nhà, Lộc ghê sợ như nhìn thấy nhà giam kiểu chuồng cọp Côn Đảo” [5, tr.161-162] Cách trào tếu, hài hước của Vũ Bão không chỉ khiến người đọc bật cười, mà còn khiến người ta nhói lên nỗi xót xa: làm sao có thể xoay xở, sinh sống, làm việc trong không gian như thế?
Hoàn cảnh lịch sử - xã hội đã chuyển biến thì tư duy, cách nghĩ của con
người cũng có những thay đổi Với tinh thần tôn trọng sự thật, tác phẩm của
Vũ Bão bám sát hiện thực đó, dũng cảm đề cập đến những xung đột trong quan điểm giữa cái cũ với cái mới, giữa cái hợp lí và phi lí, giữa lí thuyết và
thực tiễn Chương cuối của một mối tình là truyện ngắn tiêu biểu cho cuộc
đấu tranh giữa hai quan niệm sống đối lập Mượn sự mâu thuẫn trong sinh hoạt của gia đình vợ chồng Lộc, nhà văn chẳng những đã chỉ ra những bất đồng có thực trong cuộc sống, mà còn gián tiếp bộc lộ quan điểm của mình:
có những cái trước đây rất tốt, rất phù hợp nhưng giờ đã trở nên lạc hậu, phản
Trang 33tiến bộ, không phù hợp với hoàn cảnh thì cần phải thay đổi Những mâu thuẫn đầy hài hước của hai vợ chồng diễn ra hết sức gay gắt đến nỗi họ đưa nhau ra
tòa li dị, đi đến chương cuối của một cuộc tình Có thể nói, xung đột của vợ
chồng Lộc bắt nguồn từ sự lệch pha giữa hai quan điểm, hai cách nghĩ đã xuất hiện trong đời sống những năm sau đổi mới Vợ Lộc tiêu biểu cho thứ tư duy
cũ đơn phiến, một chiều, duy ý chí Ngược lại, tư duy của Lộc đại diện cho cách nhìn đa chiều và có tinh thần cởi mở, thông thoáng hơn Đặt trong xu thế đổi mới và hòa nhập quốc tế của đất nước khi đó thì quan điểm của Lộc là quan điểm tiến bộ Để có thể hòa nhập, người ta phải biết gỡ mình ra khỏi những trói buộc vô lí, lạc hậu Có thể đến nay, vấn đề mà Vũ Bão đã đề cập không còn mới Nhưng phải nói rằng, ở thời kì sau đổi mới, không thể viết được như thế nếu người cầm bút thiếu đi một chút bản lĩnh, một chút tâm huyết với cuộc đời Bởi vì với Vũ Bão, phía sau tiếng cười luôn là sự tiến bộ
Cũng cùng một kiểu tư duy phiến diện như vợ Lộc là ông chủ tịch công đoàn Đó là một con người đại diện mẫu mực cho tư tưởng “ta tốt, địch xấu” Khi Lộc đã chán ngấy người vợ bất đồng quan điểm, muốn xin li hôn thì vị lãnh đạo lại tìm cách ngăn chặn vì hành động đó làm ảnh hưởng đến tập thể Hành động đó chỉ nhất nhất đề cao cái tập thể mà hoàn toàn thủ tiêu đời sống, nguyện vọng của cá nhân Cũng trong truyện này, xem xét đoạn đối thoại của Lộc với ông chủ tịch công đoàn, người đọc không chỉ buồn cười vì những lời ông nói giống y như đài, mà còn dễ dàng thấy được sự quan liêu, xa cách quần chúng của một số người lãnh đạo đương thời Tất cả mọi vấn đề từ vĩ
mô đến vi mô đều được soi chiếu dưới ánh sáng ý thức hệ Họ nghĩ và làm theo nếp nghĩ cũ, theo thời thế, lịch sử: Tất cả những gì thuộc về phe địch đều cần phải tẩy chay, phải diệt trừ tận gốc
Tuy nhiên, ở đây cần có cái nhìn khách quan theo quan điểm lịch sử để thấy được rằng, cho đến thời điểm đó - thời điểm đất nước đã hòa bình và đang bước vào công cuộc đổi mới mạnh mẽ, những gì mà Vũ Bão châm biếm
Trang 34đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó và trở nên lạc hậu trước xu thế đi lên của lịch sử Với nhà văn, những gì đã lỗi thời rơi rớt lại mà còn nhân danh tiến bộ thì cần phải dùng tiếng cười để tống tiễn chúng Có thế, cái tốt, cái tích cực mới có đất sống
* Những góc tối trong giới công chức
Sau chiến tranh, Vũ Bão từng làm việc ở nhiều cơ quan nhà nước khác nhau Trong quá trình đó, nhà văn được tiếp xúc thường xuyên với những người trí thức, công chức Như một lẽ tự nhiên, kiểu người đó đi vào trang văn của ông với muôn hình muôn vẻ Tiếng cười của Vũ Bão như những mũi
dùi chĩa vào những góc tối của giới trí thức, công chức khiến bao cái tiêu cực,
cái phi lí, xấu xa bị dồn ra ngoài ánh sáng
Hiện diện nhiều nhất, nổi bật nhất trong truyện ngắn Vũ Bão có lẽ chính là những vị tiến sĩ, phó tiến sĩ Ở cái thời mới hòa bình, tiến sĩ, phó tiến
sĩ là những danh xưng khiến người ta ngưỡng mộ, trọng vọng Nhưng trong truyện ngắn của Vũ Bão, nhiều bức tranh hài hước được vẽ ra khiến người đọc vừa cười, vừa ngao ngán, chán ghét Có lẽ chưa bao giờ chân dung của một bộ phận những vị phó tiến sĩ thời bao cấp lại hiện lên sắc nét như trong
một số truyện ngắn của Vũ Bão, tiêu biểu là Phó tiến sĩ không hữu nghị
Ông phó tiến sĩ Chu Hữu Bằng từ hồi đi học đã khiến cả lớp cười bò vì tài văn chương của mình khi tả chiếc máy bay của địch bị bắn rơi: “Thằng Con Ma trúng một phát cao xạ hộc một tràng khói ra đằng đít lao phọt xuống cánh đồng” [5, tr.134] “Tài năng” ấy tiếp tục lớn lên, như Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng, luôn gặp “số đỏ” để rồi trở thành vô số cái gọi là phó tiến sĩ: phó tiến sĩ làm chủ tập thể, phó tiến sĩ bóng đá, phó tiến sĩ học lỏm, phó tiến
sĩ cưa sừng làm nghé, phó tiến sĩ Danh xưng phó tiến sĩ vốn dành cho những người học rộng, tài cao, nhưng đi với Chu Hữu Bằng thì học vị ấy lại lôi tuột ông ta xuống hàng bất tài
Trang 35Sự bất tài của mấy vị tiến sĩ, giáo sư còn được nhà văn trào lộng sâu
cay trong truyện ngắn Bút bi hết mực Được cho một túi hến, vì không có vợ
ở nhà nên nhân vật “tôi” đi hỏi cách chế biến Đầu tiên là anh bạn phó tiến sĩ sinh vật học, rồi đến tay cấp dưỡng đại đội giờ làm phó giám đốc khách sạn Anh Cả Đỏ, ông giáo sư chuyên về làng xã cổ Cuối cùng, túi hến bốc mùi vì không ai biết chế biến Kể chuyện nấu nướng, nhưng Vũ Bão thực ra đang đề cập đến một thực trạng phổ biến đương thời Đó là những người có vẻ tài cao nhưng thực tế lại không biết làm những công việc dường như là đơn giản nhất Những khi gặp khó khăn, họ đùn đẩy trách nhiệm cho nhau Với truyện ngắn này, Vũ Bão đặt vấn đề về khả năng thực của một bộ phận những người được gọi là tiến sĩ, giáo sư và cách vận hành ở đâu đó của bộ máy công quyền Trong cái nhìn của nhà văn, họ dường như chỉ là những cái “bút bi hết mực” - những công chức kém tài, chỉ giỏi lí thuyết mà không biết thực hành
Không chỉ có mấy ông tiến sĩ, giáo sư, Vũ Bão còn bàn về “tài năng”
của lớp công chức cấp cao Trong truyện Ông khóc tôi cũng khóc, nhà văn
châm biếm một loạt những ông Bí thư tỉnh ủy “thương dân” Nấp sau danh nghĩa vì dân, mỗi ông đều tìm mọi cách bòn rút, vun vén cá nhân Nói cách khác một số kẻ có quyền lực, bề ngoài tỏ ra vì dân, vì nước luôn hô hào làm những việc to tát phục vụ lợi ích nhân dân nhưng thực chất là những kẻ phá hoại, tham ô
Viết về sự bất tài của một bộ phận công chức đương thời, đồng thời Vũ Bão cũng dường như muốn lí giải nguyên nhân của hiện tượng đó Trước hết
là kiểu đào tạo “hữu nghị” giữa các quốc gia chung hệ thống đã giúp một thiểu số người có được “bằng cấp cho”, “danh hiệu xin” Với bằng cấp, danh hiệu ấy cộng thêm lòng “nhiệt tình”, họ đẻ ra khối chuyện dở khóc dở cười
(Phó tiến sĩ không hữu nghị)
Tiếp đó là nạn “chạy chọt” Dưới ngòi bút Vũ Bão, dường như chạy chọt là vấn nạn diễn ra phổ biến trong xã hội đương thời với nhiều dạng,
Trang 36nhiều vẻ khác nhau Con đường học hành thời phổ thông của tiến sĩ Bằng
trong Phó tiến sĩ không hữu nghị quả là luôn được “quí nhân phù trợ” Nhờ
“chiến thuật phong bì”, thằng Bằng vẫn lên mỗi năm một lớp” [5, tr.135] Còn
bé thì chạy điểm lên lớp Lớn lên thì chạy tuổi Khi Bằng học lớp sơ đẳng, rồi
bị rớt lớp trung đẳng, khai sinh của Bằng tụt xuống hai tuổi Khi cách mạng thành công, để đi học lớp cốt cán, giấy khai sinh của Bằng lại kéo tuột cái tuổi vượt khung của ông ta xuống lứa tuổi bẻ gãy sừng trâu Khi đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài, cấp trên lại “hóa phép” cho ông già 50 thành gã trung niên
35 đúng phom của nước bạn đề ra [5, tr.118-119]
Cái sự “chạy” còn biểu hiện muôn hình vạn trạng trong Lẽ đời Một ông
đang làm chức Phó phòng giáo dục một quận, cứ ngày Tết, “người đến biếu xén
cứ đông nghìn nghịt” Người muốn xin về, kẻ muốn xin đi, người muốn xin học trái tuyến, kẻ đang bị kiện cáo muốn di tản, sinh viên mới tốt nghiệp đến xin việc, kẻ có con mới đi học sư phạm nhưng đã đến để “giữ chỗ,
Trong tiểu thuyết Utopi - một miếng để đời, đi khám bệnh bệnh nhân
muốn nhanh, muốn không đau phải biết “nhét cái phong bì tiền vào túi áo blouse của cô y tá ”; tham gia giao thông mà phạm lỗi thì phải “làm luật” với cảnh sát giao thông [6, tr.90] Dường như ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ lĩnh vực nào cứ bắt tay vào làm việc gì, người ta nghĩ luôn đến “chạy”! Với Vũ Bão, đó không phải là một hiện tượng cá biệt mà dường như đã trở thành qui luật, trở thành “lẽ đời” Có thể khẳng định rằng, đồng tiền đang làm tha hóa, mục ruỗng nhân cách con người Mối nguy ấy còn lớn hơn khi những kẻ đại diện cho bộ máy nhà nước lại hàng ngày bóp méo những luật lệ, qui tắc đã đề
ra
Nhưng con đường tạo nên những công chức kém cỏi, bất tài không chỉ
là hệ quả của chạy chọt mà còn do cơ chế đào tạo, bổ nhiệm công chức Trong tập truyện, Vũ Bão không dưới một lần nói về những “công thức” bí ẩn nhưng lại có rất nhiều người hiểu Đó là công thức “COCC” - Con Ông Cháu Cha [5,
Trang 37tr.262], là công thức “5C” - Con Cháu Các Cụ Cả [5, tr.135] Một tệ nạn mà được đặt thành công thức thì có nghĩa là nó đã trở thành một thứ luật bất thành văn Mà là “luật” thì người ta phải tuân theo, phải chấp nhận cho dù nó phi lí, bất công, cản trở sự tiến bộ của xã hội Có lẽ chưa khi nào, nạn cậy quyền cậy thế và cách bổ nhiệm con người trong cơ quan nhà nước lại trở nên
hài hước một cách xót xa như trong truyện Nhà trẻ không có bô của Vũ Bão
Để khỏi lạc lõng với bước tiến vọt của thế giới trong thời đại công nghệ thông tin, Viện nghiên cứu sao Hỏa thành lập Trung tâm thông tin Nhân vật “tôi”,
vì am hiểu ngoại ngữ nên được cử làm giám đốc Nhưng hỡi ôi, những cán bộ
có khả năng lại không được bổ nhiệm mà thay vào đó toàn là những COCC dốt nát, giỏi chơi mà biếng làm, thậm chí còn cậy thế cha ông mình lừa cả giám đốc Rồi trung tâm bị yêu cầu tinh giản 10% biên chế Không một COCC nào phải ra đi, chỉ có hai công nhân từ chính thức bị chuyển sang làm hợp đồng cho Viện! Bao nhiêu chuyện dở khóc dở cười diễn ra giữa ông giám đốc và đám nhân viên rồi để cuối cùng, vị lãnh đạo ấy nghiệm ra một điều rằng: Các ông bà ấy bận đại sự quốc gia nên mới phải giao các cô các cậu cho ông canh giữ Hóa ra nhà nước có nhà trẻ có bô, giờ lại có cả “nhà trẻ không
có bô”!
Những chỗ tốt, các ông cốp giữ cho con cháu, nơi vất vả họ tìm cách
đẩy người lao động nghèo vào Sáu anh công nhân làng Chè trong Utopi - một miếng để đời, xin đi làm công nhân Được đưa đón rất chu đáo, nhưng cuối
cùng, họ ngã ngửa người ra vì hầu hết cán bộ, kể cả kĩ sư, cán bộ trung cấp và công nhân đều đi tác nghiệp trên rừng Chứ nếu như ngon ăn thì các ông ở viện đã đưa con em cháu chắt của mình vào rồi, làm gì đến lượt mấy anh trai làng này? Câu chuyện của nhà văn đã phơi bày một thực trạng tồi tệ nhưng rất phổ biến, thậm chí cho đến cả ngày nay Đó là nạn những kẻ có quyền chức cậy thế để nhồi nhét con cháu mình vào cơ quan nhà nước, bất chấp chúng có
Trang 38đủ năng lực hay không Và như thế, những kẻ bất tài cứ ung dung bước vào
cơ quan nhà nước, còn những người thấp cổ bé họng thì bấp bênh, điêu đứng
Cũng là vấn đề nhân sự, con người trong bộ máy cơ quan nhà nước, nhưng ở một góc nhìn khác Vũ Bão hướng đến một bộ phận công chức đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng tham quyền cố vị, tư lợi cá nhân nên cứ khư khư giữ ghế, tìm mọi cách để được ở lại Đó là tiến sĩ Chu Hữu Bằng “sức yếu tuổi già” được cụ vụ trưởng “tuổi già sức yếu” cất nhắc khi đã quá tuổi nghỉ hưu mấy năm Đó là những kẻ cố trì hoãn về hưu để chờ đứa con sắp ra trường thế
chân Chúng là những cỗ máy bị Hao mòn vô hình và đã quá thời gian vận
hành Nhưng “nhiều kẻ hám chức hám quyền không bao giờ nhìn thấy hoặc
cứ vờ như không nhìn thấy.” [5, tr.131]
Lách sâu vào mảng tối của giới công chức, ngòi bút Vũ Bão còn lôi ra ánh sáng căn bệnh trầm kha của bộ máy cơ quan nhà nước Đó là bệnh chạy theo thành tích, bệnh hình thức Nhà văn dành nhiều trang viết, thậm chí còn
dành cả một truyện ngắn để quất roi tệ nạn này Trong Ông khóc tôi cũng khóc, ông bí thư huyện ủy Sông Ninh vì thương dân cứ phải lên Hà Nội ăn
nhờ ở đậu chờ xem bóng đá, vì muốn đội bóng huyện nhà thăng hạng A1, vì muốn “làm bằng được một việc hữu ích ghi dấu ấn trong lòng nhân dân” trước khi về hưu, nên bao mưu ma chước quỉ, bao trò nhảm nhí được tung ra
để thực hiện bằng được “nhiệm vụ chính trị”! Rốt cuộc, đội bóng Sông Ninh cũng lên hạng A1 sau khi ông ta đổ ra bao tiền của để mua chuộc, chạy chọt trọng tài và các đội bóng khác Và thành tích ấy trước tiên là thành tích của ông bí thư, sau là thành tích của tỉnh nhà! Bóc đi lớp vỏ của hiện tượng, Vũ Bão đã chỉ ra rằng, không có thành tích của một tập thể chung chung, về bản chất đó vẫn là thành tích của một vài cá nhân chóp bu mà thôi Để có được thành tích ấy cho mình, một bộ phận những kẻ biến chất đã tiêu phí tiền của, công sức của nhân dân, của đất nước Tỉnh táo để nhìn nhận thì đó vẫn là một kiểu tư lợi, “tham ô”, nhưng là kiểu tham ô công khai dưới danh nghĩa tập thể
Trang 39Trong Chương cuối của một mối tình, Vũ Bão còn cho thấy bệnh
thành tích không chỉ xuất hiện ở tầng trên tỉnh, ở cấp cao và những người lãnh đạo, quản lí mà nó còn hiện diện ở ngay những đơn vị hành chính nhỏ nhất như phố, phường Một gia đình vợ chồng bất hòa, đòi li hôn mà vẫn được nhận danh hiệu Gia đình văn hóa Nói cách khác, từ cao xuống thấp nơi đâu cũng có thể nhận ra những triệu chứng của căn bệnh
Cũng trong truyện ngắn Ông khóc tôi cũng khóc, không chỉ lật tẩy
bệnh thành tích mà nhiều lần nhà văn còn miêu tả một cách hài hước biểu hiện của cái gọi là bệnh hình thức, máy móc, thụ động của cấp dưới và quyền lực của lãnh đạo cấp trên Trong đại hội Đảng bộ, ông bí thư trịnh trọng đọc báo cáo, ở dưới “Bốn trăm đại biểu ( ) cùng đồng loạt lật sang trang khác Bốn trăm trang giấy đồng loạt kêu roạt một tiếng như tiếng súng AK lên đạn” Các đại biểu còn đang ngỡ ngàng chưa hiểu sao ông bí thư lại đưa cả chuyện bóng đá vào báo cáo chính trị thì ông ta đã tự vỗ tay hưởng ứng chính mình
“Thế là cả bốn trăm đại biểu vội vàng vỗ tay bôm bốp” [5, tr.86] Điều đáng cười là người ta đang vỗ tay về một điều mà mình chưa hiểu Không chỉ thế, bản báo cáo của ông giám đốc sở thể dục thể thao Sông Ninh, trong suốt bốn
kì Đại hội phần phương hướng nhiệm vụ đều có đúng sáu mươi tư chữ: “Ông thầm tin rằng từ nay đến ngày kết thúc thời kì quá độ, phần phương hướng nhiệm vụ trong các bản báo cáo chính trị chỉ cần sáu mươi bốn chữ ấy là quá
đủ rồi” [5, tr.84] Vũ Bão đã phơi bày góc tối của của hoạt động báo cáo, tổng kết trong hệ thống cơ quan nhà nước Đó là con đẻ của chủ nghĩa hình thức, thói làm ăn gian dối, vô trách nhiệm Tính chất hình thức, thụ động và cách sinh hoạt thiếu dân chủ ấy không chỉ đúng với thời của Vũ Bão mà dường như vẫn còn hiện diện đâu đó trong xã hội hiện nay
Trong nhiều truyện ngắn khác, Vũ Bão còn thường xuyên đề cập đến đến cơ chế xin - cho và những hệ lụy của nó Cơ chế xin - cho là một trong những tàn dư còn sót lại của thời kỳ bao cấp Nét đặc trưng quan trọng nhất
Trang 40của cơ chế này là quyền tự do ý chí to lớn của người cho và vị thế thấp kém
của người xin, một vị thế bắt ở trần phải ở trần; cho may-ô mới được phần
may-ô Công bằng mà nói, cơ chế xin - cho, cũng như mọi loại cơ chế, đều có
hoàn cảnh lịch sử riêng của nó Với một hoàn cảnh lịch sử nhất định, xin - cho, cũng như bao cấp, đều là cần thiết và đúng đắn Vấn đề chỉ là: nó “đúng đắn” quá lâu, và trong điều kiện mới, khi những ràng buộc chặt chẽ về pháp
lý, về tư tưởng và đạo đức không còn, cơ chế xin - cho đang là một thứ máy
cái đẻ ra tiêu cực Một tay bút có bút danh là Anh Hiên (Nợ đời) có bố vợ là
giám đốc sở Tài chính, chuyên xét duyệt kinh phí cho các cơ quan trong tỉnh Anh ta “mót” vào hội nhà văn Việt Nam quá liền viết như bổ củi rồi quẳng vào báo nhà Dù chỉ là những tác phẩm tầm cỡ “èng èng” nhưng tòa soạn buộc phải in bởi vì nếu không, “nó chỉ máy bố vợ nó một tiếng là từ hội Văn nghệ đến cả Tòa soạn báo Văn nghệ đừng hòng có tiền mở trại sáng tác, họp hội nghị các văn nghệ sĩ trẻ, mở lớp bồi dưỡng sáng tác nữa” [5, tr.75] Sau
đó Anh Hiên còn nhờ bố vợ duyệt “kinh phí hỗ trợ nhà văn trẻ” để in bằng
được tập truyện ngắn Mối tình đầu Cái hài hước được đẩy đến đỉnh điểm khi
tác phẩm của anh ta được chuyển thể thành phim! Một nhà văn chẳng có tài cán gì nhưng cuối cùng lại được “lăng-xê” một cách nhiệt tình, được tỉnh cho xuất bản tác phẩm chỉ vì anh ta có bố vợ làm to!
Cơ chế xin - cho ấy còn tạo ra một kiểu tâm lí, một kiểu làm việc “độc đáo” cho công chức, cơ quan nhà nước Khi ông giám đốc Trung tâm thông
tin của Viện nghiên cứu vũ trụ (Nhà trẻ không có bô) yêu cầu con một “ông
cốp” phải viết kiểm điểm vì gian dối trong công việc thì bị ông Viện trưởng gọi lên làm công tác tư tưởng: “Cậu thẳng thắn như thế là đúng nhưng trong cuộc sống nhiều khi chúng ta phải uyển chuyển Cậu chỉ biết đến công việc Điều quan trọng đó cũng tốt thôi nhưng cậu phải biết thêm bố nó trực tiếp phụ trách vụ đối ngoại của ủy ban chinh phục vũ trụ Mỗi suất đi Tây của anh em
ta đều phải qua tay bố nó kí ruồi vào góc tờ trình” (…) Mẹ nó phụ trách ngân