TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠKHOA THỦY SẢN LÊ QUỐC VIỆT NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN LÊN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÔI SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG ĐẾN 30 NGÀY TUỔI CỦA CÁ RÔ ĐỒNG Anabas testusdin
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ QUỐC VIỆT
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN LÊN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÔI
SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG ĐẾN 30 NGÀY
TUỔI CỦA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testusdineus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ QUỐC VIỆT
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN LÊN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÔI
SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG ĐẾN 30 NGÀY
TUỔI CỦA CÁ RÔ ĐỒNG (Anabas testusdineus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts NGUYỄN VĂN KIỂM
2009
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô thuộc khoa Thủy Sản cũng
như các khoa khác trường Đại học Cần Thơ đã tận tình dạy dỗ và giúp đỡtôi trong 4 năm học tại trường, các thầy đã truyền đạt nhiều kiến thức cơ
sở cũng như chuyên nghành và nhiều kinh nghiệm quý báo khác để tôi cóthể vận dụng vào thực tập luận văn cuối khóa và cho cuộc sống tương lai.Bên cạnh đó tôi cũng cảm ơn đến các bạn cùng lớp cũng như các bạn sinhviên của trường trong thời gian qua đã giúp đỡ tôi trong việc học cũng nhưtrong cuộc sống của một sinh viên xa nhà
Nhân dịp con cũng xin chân thành cảm ơn gia đình đã tạo điều kiệncho con học hết đại học để trở thành một con người có ít cho xã hội
Trong thời gian thực tập tại trại cá khoa Thủy Sản, tôi cũng nhận
được nhiều sự yêu mến của mọi người và sự tận tình giúp đỡ của thầyĐua, thầy Tâm, anh Thắng,…trong công việc thực hành Nhân dịp này tôi
cũng xin bài tỏ lòng cảm ơn rất nhiều các thầy và tất cả các anh em trongtrại cá
Xin chân thầy cảm ơn T.s Nguyễn Văn Kiểm một người thầy cũng
như người cha đã tận tình giúp đỡ và chỉ dạy tôi trong quá trình học tập
cũng như khoảng thời gian thực tập
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên quá trình phát
triển phôi, sinh trưởng và tỷ lệ sống đến 30 ngày tuổi của cá rô đồng
(Anabas testudineus) ” được thực hiện tại trại cá khoa Thủy sản – trường
Đại học Cần Thơ kết quả thu được:
Với thí nghiệm tăng dần độ mặn của môi trường thì ảnh hưởng không rõràng tới sự phát triển phôi cá rô đồng Tỷ lệ thụ tinh của trứng cá rô đồngkhông có sự khác biệt (p>=0.05) khi độ mặn tăng dần đến 19‰; thời gian
nở tăng dần theo độ mặn, tỷ lệ nở giảm, tỷ lệ dị hình tăng khi độ mặn tăngdần nhưng khi độ mặn cao hơn 13‰ thì cá bột rô đồng không thể tồn tạisau 48h Một số chỉ tiêu phát triển phôi ở thí nghiệm gây sock độ mặn kếtquả thu được tương đương với thí nghiệm tăng dần độ mặn Nhưng có thểcoi 11‰ là giới hạn độ mặn cao đối với sự phát triển phôi vì có tới 33.2%
cá bột rô đồng chết sau khi nở 48 giờ
Mức tăng trưởng về chiều dài/ngày của cá thay đổi theo giai đoạnphát triển của cơ thể và thay đổi theo độ mặn của môi trường Mức tăng
trưởng về chiều dài tăng dần khi độ mặn tăng đến đến 7‰ và sau đó giảm
dần Tỷ lệ sống của cá cao nhất ở nghiệm thức 3‰ và tương đương với
đối chứng (52.7%), tỷ lệ sống thấp nhất ở độ mặn 17‰ Cá bột rô đồng
chỉ chịu đựng được độ mặn 11‰ khi tiến hành gây sock Vượt qua độ mặnnày cá bột rô đồng sẽ chết hoàn toàn sau 12 giờ thí nghiệm Mức tăng
trưởng về chiều dài tăng dần khi độ mặn tăng đến đến 9‰ và sau đó giảm
dần ở độ mặn cao hơn Nhìn chung nếu ương nuôi cá bột rô đồng thì độmặn của môi trường nước không quá 5-7‰
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách bảng vi
Danh sách hình vii
Danh sách Các từ viết tắt x
Danh sách các đơn vị viết tắt x
CHƯƠNG 1:GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Một số đặc điểm sinh học 3
2.1.1 Đặc điểm phân loại và hình thái 3
2.1.2 Đặc điểm phân bố 5
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 6
2.1.5 Đặc điểm sinh sản 6
2.1.6 Sơ lược một số kết quả sản xuất giống cá rô đồng 7
2.2 Sơ lược về một số yếu tố môi trường ảnh hưởng tới hoạt động sống của thủy sinh vật 7
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 Thời gian và địa điểm 12
Trang 63.2 Vật liệu nghiên cứu 12
3.2.1 Các dụng cụ phục vụ trong nghiên cứu 12
3.2.2 Nguồn nước sử dụng 13
3.2.3 Thức ăn 13
3.3 Phương pháp nghiên cứu 14
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 14
3.3.2 Phương pháp quản lý và chăn sóc thí nghiệm 18
3.3.3 Phương pháp đo môi trường và thu thập số liệu 18
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 20
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Kết quả thí nghiệm 1 21
4.1.1 Nhận xét 23
4.1.2 Tỷ lệ thụ tinh của phôi 23
4.1.3 Tỷ lệ nở của phôi 23
4.1.4 Thời gian nở của phôi 24
4.1.5 Tỷ lệ dị hình 25
4.1.6 Tỷ lệ sống cá bột sau 48h 26
4.2 Kết quả thí nghiệm 2 26
4.2.1 Nhận xét 26
4.2.2 Tỷ lệ thụ tinh 27
4.2.3 Tỷ lệ nở 28
4.2.4 Thời gian nở 29
Trang 74.2.5 Tỷ lệ dị hình 29
4.2.6 Tỷ lệ sống cá bột sau 48h 30
4.3 Kết quả thí nghiệm 3 30
4.3.1 Tăng trưởng về chiều dài của cá từ ngày thả đến 10 ngày tuổi 32
4.3.2 Tăng trưởng về chiều dài của cá từ 11- 20 ngày ương 33
4.3.3 Tăng trưởng về chiều dài của cá từ 21- 30 ngày tuổi 34
4.3.4 Tỷ lệ sống 36
4.4 Kết quả thí nghiệm 4 37
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Đề Xuất 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 44
Phụ lục 1: Kết quả thí nghiệm 1 44
Phụ lục 2: Kết quả thí nghiệm 2 45
Phụ lục 3: Kết quả thí nghiệm 3 46
Phụ lục 4: Kết quả thí nghiệm 4 56
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1: Các chỉ tiêu môi trường nước ấp trong thí nghiệm 1 và 2
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của tăng dần độ mặn đến sự phát triển phôi của cá rô
Bảng 4.6: Ảnh hưởng gây sock độ mặn lên sinh trưởng và phát triển cá bột
rô đồng đến 30 ngày tuổi
Bảng 4.7: Tốc độ tăng trưởng bình quân/ngày (mm/ngày) của cá ở thínghiệm 4
Bảng 4.8 So sánh chiều của cá bột theo ngày tuổi giữa thí nghiệm 4 và thínghiệm 3
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Hình thái ngoài cá rô đồng
Hình 3.1: tets đo môi trường và kính hiển vi
Hình 3.2: Thức ăn sử dụng ương cá bột rô đồng sữa cá, moia, trùng chỉHình 3.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1
Hình 3.4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2
Hình 3.5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3
Hình 3.6: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 4
Hình 4.1: Hệ thống thí nghiệm 1 và 2
Hình 4.2: So sánh tương quan giữa tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở
Hình 4.3:So sánh tương quan giữa thời gian nở và tỷ lệ nở
Hình 4.4: So sánh tương quan giữa tỷ lệ dị hình và thời gian nở
Trang 10Hình 4.12: Tăng trưởng chiều dài cá bột rô đồng từ 11- 20 ngày tuổi
Hình 4.13: Tăng trưởng chiều dài/ngày (mm/ngày) từ 11-20 ngày tuổiHình 4.14: Tăng trưởng chiều dài cá bột rô đồng từ 21- 30 ngày tuổi
Hình 4.15: Tăng trưởng bình quân (mm/ngày) từ 21- 30 ngày tuổi
Hình 4.16: So sánh tương quan về tăng trưởng sau 20 và 30 ngày giữa cácnghiệm thức
Hình 4.17: Tỷ lệ sống sau 30 ngày ương
Hình 4.18: So sánh tương quan giữa các chỉ tiêu chiều dài, trọng lượng và
tỷ lệ sống sau 30 ngày ương
Trang 11DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
DANH SÁCH CÁC ĐƠN VỊ VIẾT TẮT
Trang 14CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Cá rô đồng (Anabas testudineus Bloch, 1792) là loài cá sống trong
môi trường nước ngọt Cá hiện diện trong các thủy vực như ao đìa, đầm
lầy, mương vườn và ruộng lúa ở Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam(Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Tuy là loài cá có kích
thước nhỏ (thường gặp 50 – 100 g) nhưng khả năng khôi phục quần đàn
nhanh nên có sản lượng cao trong các thủy vực tự nhiên Với chất lượngthịt thơm ngon, không có xương dăm và có giá trị thương phẩm cao Cá rô
đồng được xem là đặc sản của vùng Đồng bằng sông Cửu Long Đây là
loài cá dễ nuôi có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau từ mùn bã hữu
cơ, thực vật, động vật phù du cho đến xác động vật cũng như các phế phẩm
nông nghiệp,…Cá cũng chịu đựng được tốt với những điều kiện bất lợi của
môi trường sống như: mức nước thấp, nhiệt độ cao, độ trong thấp, oxy hòa
tan thấp,…do có cơ quan hô hấp phụ và đặc biệt cá có thể sống được ởnhững vùng nhiễm phèn có pH rất thấp
Trước đây, người dân Đồng bằng sông Cửu Long thường đánh bắt
cá rô đồng tự nhiên để làm thực phẩm.Tuy nhiên trong những năm gần đây
do khai thác quá mức nên nguồn lợi này cạn kiệt nhanh chóng Việcnghiên cứu bảo vệ và phát triển loài cá này là hết sức cần thiết Từ năm
1995 cá rô đồng đã được nghiên cứu kích thích sinh sản nhân tạo Đến năm
1998 con giống nhân tạo cá rô đồng đã sản xuất chủ động và nuôi trong ao,ruộng với năng suất 2.1-7.15 tấn/ha trong thời gian 190 ngày nuôi Năngsuất cá ruộng cấy 2 vụ lúa là 75-120.4 kg/ha, cá ruộng cấy 1 vụ lúa dao
động từ 120-208 kg/ha (Phạm Văn Khánh và ctv, 2002 Được trích bởi Hồ
Mỹ Hạnh, 2003)
Các nghiên cứu về cá rô đồng tiếp tục được đưa ra: tiếp tục nghiêncứu sinh sản nhân tạo, nuôi thâm canh, nuôi kết hợp, phòng và trị bệnh,nhu cầu thành phần dinh dưỡng, tập tính ăn,….(Nguyễn Ngọc Phúc(2000); Nguyễn Thanh Hồ (2005); Trần Văn Bùi (2005); Ngô San Hà(2002); Bùi Thanh Hiệp (2004); Hồ Mỹ Hạnh (2003)) Các kết quả trên đãgóp phần hoàn thiện các thông tin khoa học về cá rô đồng
Khi trưởng thành cá rô đồng là loài có khả năng chịu đựng tốt trongđiều kiện môi trường bất lợi như: nhiệt độ cao, pH thấp, oxy hòa tan
thấp,… nhưng điều đó không có nghĩa là ở những điều kiện như vậy thì cá
rô đồng có thể sinh sản tốt và phát triển bình thường Tại sao những vùng
nhiễm phèn, nhiễm mặn thì không sản xuất giống được hoặc nếu có thì
Trang 15như vậy đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên quá trình phát
triển phôi, sinh trưởng và tỷ lệ sống đến 30 ngày tuổi của cá rô đồng
(Anabas testudineus) ” được thực hiện.
Mục tiêu của đề tài
Xác định ảnh hưởng của độ mặn lên sự phát triển phôi và sinhtrưởng của cá rô đồng ở giai đoạn từ cá bột đến 30 ngày tuổi
Nội dung của đề tài
So sánh một số chỉ tiêu ấp trứng ở độ mặn khác nhau
So sánh một số chỉ tiêu ương nuôi cá rô đồng (từ sau khi nở đến 30ngày tuổi) ở các độ mặn khác nhau
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số đặc điểm sinh học
2.1.1 Đặc điểm phân loại và hình thái
2.1.1.1 Đặc điểm phân loại
Theo Mai Đình Yên và ctv (1992, dẫn bởi Hồ Mỹ Hạnh, 2003), cá rô đồng
Loài : Anabas testudineus (Bloch, 1792)
Tên địa phương : Cá rô đồng
2.1.1.2 Hình thái cấu tạo
Theo Mai Đình Yên (1983) đã mô tả hình thái cá rô đồng ở các thủyvực ao, hồ, ruộng như sau:
Trang 17Hình 2.1 Hình thái ngoài cá rô đồng
Vây lưng XVI-XVIII/8-11 Vây hậu môn VIII-X-19-22 Vảy trênđường bên 15-19/10-14 Thân cá kéo dài dẹp bên về phía sau Chiều dài cá
rô không kể đuôi gấp 3-4 lần chiều cao thân Đầu rộng, chiều dài đầu bằngchiều cao thân Mõm ngắn, đầu mõm tròn Miệng ở tận cùng, nghiêng chẻ
sâu Răng hàm xếp thành hàm rộng, ngắn và nhọn Các mắt lớn Đỉnh vàhai bên đầu có vảy Cạnh của nắp mang khía răng cưa Đường bên thànhhai hàng Vây lưng và vây hậu môn dài, có những gai khỏe Vây đuôi ít
nhiều tròn Cỡ vừa năng 0.2 kg, dài 15 cm Cá có màu nâu, mặt bụng sáng
hơn Hai bên thân có các chấm đen xếp thành hàng ngang đều hoặc khôngđều Có một chấm đen lớn, tròn ở gốc vây đuôi Vây lưng, vây hậu môn vàvây đuôi màu nâu, các vây khác màu nhạt
Cơ qua hô hấp phụ của cá ở cung mang thứ nhất còn gọi là mê lộ
(Jayaram, 1981 dẫn bởi Hồ Mỹ Hạnh, 2003) Cơ quan hô hấp này giúp cá
trao đổi oxy với khí trời, và cũng nhờ cơ quan này mà cá có thể chịu đựngđược thời gian dài ở điều kiện thiếu nước Với hoạt động của nắp mang,
các vây và cuốn đuôi cá có thể di chuyển một khoảng cách xa để tìm nơithích hợp
Trang 182.1.2 Đặc điểm phân bố
Cá rô đồng là loài cá nước ngọt, chúng phân bố khá rộng trên thế
giới, nhưng chủ yếu ở vùng nhiệt đới (Nguyễn Văn Kiểm, 2004) từ namTrung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ,Phi Luật Tân, các quần đảo giữa Ấn Độ và Úc Châu (Mai Đình Yên, 1983)
và nhiều nước Đông nam Á khác như Malayxia, Philippines và Châu Phi
Ở Việt Nam, cá phân bố rộng các địa phương, ở các loại hình mặt nướcnhư ao, hồ, kênh, mương, ruộng lúa, đầm lầy, ruộng trũng,…(Phạm Văn
Khánh và Lý Thị Thanh Loan, 2004)
Cá rô đồng thường thích sống ở những nơi có mức nước tương đối
nông (0.5-1.5 m) và tĩnh, nhiều cây cỏ thủy sinh và chất đáy giàu mùn bãhữu cơ Ở Đồng bằng sông Cửu Long cá rô phân bố nhiều ở khu vực trũng,
nước ngập quanh năm như nông trường Phương Ninh (Cần Thơ), rừng U
Minh Hạ (Cà Mau), rừng U Minh Thượng (Kiên Giang) hoặc vùng tứ giácLong Xuyên (Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cũng như nhiều loài cá khác, ở thời kỳ đầu sau khi nỡ cá dinh
dưỡng bằng noãn hoàng, sau khi noãn hoàng tiêu biến cá chuyển sang ăn
thức ăn bên ngoài (Lê Hoàng Bảo, 1999) Lúc còn nhỏ (dưới 30 ngày tuổi)thức ăn ưa thích của cá là những giống loài động vật phù du cỡ nhỏ trong
ao như bọ giáp xác, thậm chí chúng cũng ăn cả ấu trùng tôm cá (NguyễnVăn Kiểm, 2004)
Khi trưởng thành phổ thức ăn của cá rộng hơn thức ăn của chúng làcác loài động vật không xương sống ở nước, hay các loài côn trùng baytrên không khí, các loài rong Spyrogyra, Characeae,…(Trần Thủ Khoa và
Trần Thị Thu Hương, 1993 trích từ Lý Hồng Nga, 2003) Đồng thời ăn cảthức ăn có kích thước lớn như nhóm thực vật có hạt, lúa, mầm, hạt cỏ, lá
bèo, lá rong, nhóm động vật có tép, giun, trứng cá, cá con, trứng ếch, nòng
nọc, giáp xác thấp, cào cào, sâu bướm,…Chúng ăn cả thức ăn nổi trên mặt
nước, trôi nỗi trong các tầng nước và cả dưới đáy ao (Phạm Văn Khánh và
Lý Thị Thanh Loan, 2004) nhưng thức ăn ưa thích của cá là động vật đáy
như giun tơ, ấu trùng côn trùng, mầm non thủy thực vật Ngoài ra, cá rô
cũng có khả năng sử dụng thức ăn chế biến, phụ phẩm nông nghiệp rất tốt(Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
Trong xoang miệng cá rô có rất nhiều răng nhỏ, do đó cá có thểnghiền nhiều loại thức ăn có vỏ cứng (Trần Thủ Khoa và Trần Thị Thu
Trang 19Khảo sát cá tự nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy độ mỡcủa cá rô đồng cao nhất vào các tháng 8-12, là thời kỳ sau sinh sản, đạt 3-5.8%, so với 1.2-2.4% ở các tháng còn lại Ball mỡ 4-5 chiếm 87% số cátrong các tháng 8-12 (Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan, 2004).
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá rô đồng là loài có kích thước nhỏ, tốc độ tăng trưởng chậm (khốilượng lớn cá lớn nhất bắt gặp ở U Minh Thượng là 432 g) Khối lượng
trung bình của cá khai thác ở ĐBSCL dao động từ 60-120 g/con (Nguyễn
Văn Kiểm, 2004) Cá tự nhiên 1 năm tuổi đạt 50-80 g ở cá cái và 50-60 g ở
cá đực (Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan, 2004)
Ở ĐBSCL nếu ương cá rô đồng trong ao đất theo phương pháp bón
phân gây màu và cho thêm thức ăn bổ sung như bột đậu nành, bột cámmịn, lòng đỏ trứng,….mật độ ương 1,000 cá bột/m2 Sau 40-45 ngày cá đạtkích cỡ khoảng 500-700 con/kg; và nuôi cỡ 5.2 g với mật độ 30 con/m2 ,
cho ăn cám trộn với bột cá tỉ lệ 1:3 khẩu phần 5-7% trọng lượng thân
cá/ngày Sau 6 tháng nuôi cá đạt 68-75 g/con tương đương 21.3 tấn/ha
(Dương Nhựt Long, 2004)
Cá rô đồng giống với trọng lượng khoảng 300-500 con/kg, mật độ
thả 25-40 con/m2, sử dụng thức ăn công nghiệp dạng nổi hoặc thức ăn tựchế biến cho cá ăn Sau 6-7 tháng nuôi cá có thể đạt trọng lượng khoảng70-100 g/con, năng suất có thể đạt từ 10-15 tấn/ha (Bayer Việt Nam Ltd)
2.1.5 Đặc điểm sinh Sản
Theo Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan (2004), cá rô đồngthành thục lần đầu sau 10 tháng tuổi (cỡ trung bình 50-60 g trở lên) Khi cáphát dục có thể phân biệt cá đực, cá cái Cá đực có gai sinh dục nhỏ vànhọn, cá cái gai sinh dục lớn hơn, không nhọn đầu và hơi lồi, đỏ mọng.Mùa vụ sinh sản của cá rô đồng trong tự nhiên tập trung vào các tháng đầu
và giữa mùa mưa, cao nhất là tháng 6-7 dương lịch Các tháng 11-1 là thời
kỳ tuyến sinh dục đã đẻ xong hoặc trứng thoái hóa trở về giai đoạn II,chuẩn bị cho mùa sinh sản mới
Khi đẻ cá thường tìm đến những nơi có nguồn nước mát, chảy
chậm, chính dòng nước là yếu tố kích thích quá trình hưng phấn và đẻtrứng của cá rô đồng, mực nước thích hợp cho quá trình sinh sản của cákhoảng 0.3-0.4 m Sức sinh sản của cá rô đồng khá cao đạt khoảng300,000-700,000 trứng/kg cá cái Trứng cá rô thành thục thường có màutrắng ngà hoặc màu trắng hơi vàng, đường kính trứng sau khi trương nước
Trang 20từ 1.2-1.3 mm Trứng cá rô thuộc loại trứng nổi (Nguyễn Văn Kiểm,2004).
2.1.6 Sơ lược một số kết quả sản xuất giống cá rô đồng
Cá rô đồng ở nước ta được nghiên cứu từ năm 1978, chủ yếu là các
nghiên cứu về hình thái để phân loại cá rô đồng (Trương Thủ Khoa vàTrần Thị Thu Hương, 1993) Đến năm 1998 thì nghiên cứu về sinh học vàsinh sản nhân tạo cá rô đồng được thực hiện bởi Nguyễn Thành Trung, đến
năm 2000 thì sinh sản nhân tạo cá rô đồng đã thành công (Trần Văn Bùi,
2005) Cá bột rô đồng bắt đầu ăn thực vật và động vật phù du kể từ ngàythứ 3 sau khi nở, thức ăn ưa thích nhất là moia (Doolgindachapaporn, 1994dẫn bởi Hồ Mỹ Hạnh, 2003) Tuy nhiên trong sản xuất giống nhân tạo thì
người ta đã thành công trong việc sử dụng thức ăn chế biến để nuôi cá rôđồng Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Mỹ Hạnh (2003) ương cá rô đồng
trong bể xi măng bằng thức ăn chế biến với thức ăn là lòng đỏ trứng và bột
đậu nành, sau đó là thức ăn của tôm càng xanh dạng mảnh có hàm lượngđạm 36% thì tỷ lệ sống là: 31.47% ( mật độ ương 500 con/m2), 11.4% (mật
độ ương 1,000 con/m2), 9.47% (mật độ ương 1,500 con/m2)
Tương tự theo nghiên cứu của Dương Nhựt Long và ctv (2006) khiương cá bột trong ao đất (mật độ 1,000 cá bột/m2) bằng thức ăn lòng đỏ
trứng và bột đậu nành trong tuần lễ đầu, sau đó thức ăn Cagill có hàm
lượng đạm 28-36% sau 35 ngày ương thì cá đạt tỷ lệ sống từ 3.38-13.64%
trung bình 7.96% Và cũng theo kết quả nghiên cứu của Đặng Khánh Hồng
và ctv (2006) thì cá rô đồng bằng thức ăn công nghiệp thì tỷ lệ sống thu
được sau 4 tuần ương là 4.95%
Theo Đoàn Khắc Độ (2008) thì trứng cá rô đồng có thể được ấp
trong trong bể xi măng hoặc trong thau nhựa, mực nước sâu khoảng 25-30
cm Mật độ ấp là 40,000-50,000 trứng/m2 Trong quá trình ấp không cầnsục khí, nhiệt độ nước là 28-30°C thời gian trứng nở là khoảng 18-20 giờ
Cá bột sau khi nở có thể ương trong bể xi măng hoặc trong ao đất với mật
độ 400-600 con/m2 Thức ăn sử dụng là lòng đỏ trứng vịt + bột đậu nành
trong 10 ngày đầu, cám + bột đậu nành và bột cá cho ngày 11-20, cám và
bột cá cho ăn từ ngày 21 đến ngày thứ 30
2.2 Sơ lược về một số yếu tố môi trường ảnh hưởng tới hoạt động sống của thủy sinh vật.
i) Yếu tố nhiệt độ
Trang 21Nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đối với các phản ứng hóa học Người
ta biết rằng khi nhiệt độ tăng lên 10°C thì thời gian của phản ứng hóa họcrút ngắn còn một nữa Cá là động vật biến nhiệt, nhiệt độ môi trường quyết
định sự hoạt động chung và nhất là dinh dưỡng của cá Ở nhiệt độ thấp quá
hoặc cao quá, cá không còn bắt mồi được mà dự trữ mỡ cạn kiệt thì tuyếtsinh dục là nguồn dự trữ để duy trì sự sống của cá Trong trường hợp nàytuyến sinh dục ngừng phát triển và bị tiêu biến, sinh sản bi ảnh hưởng xấu
Đối với mỗi loài cá có khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển sinh
dục và sinh sản Ngoài khoảng nhiệt độ ấy, cá có thể sống nhưng khôngthể thành thục và sinh sản được (Nguễn Tường Anh, 1999 dẫn bởi Lê PhúKhởi, 2009)
Theo Lê Hoàng Bảo (1999, Trích từ Nguyễn Văn Bé, 1995) nhiệt
độ thích hợp đa số cho các loài cá nuôi từ 20-30°C, giới hạn cho phép là
10-40°C Nguyễn Văn Kiểm (2000) mỗi loài cá có khoảng nhiệt độ thích
ứng nhất định và mỗi giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục yêu cầu nhiệt
độ khác nhau Tuy nhiên nhiệt độ cao cũng có tác dụng thúc đẩy sự thoái
hóa tế bào trứng nhanh chóng Sau khi đạt tới độ chính muồi sinh dục, tếbào trứng sẽ thoái hóa trong vòng 15-20 ngày khi nhiệt độ gần với ngưỡngtrên của nhiệt độ sinh sản của loài
Cá rô đồng phân bố rộng trong các thủy vực nướt ngọt có thể chịuđựng được tốt với những điều kiện bất lợi của môi trường như: mức nước
thấp, nhiệt độ cao, độ trong thấp, pH thấp, do có cơ quan hô hấp khítrời,….Nhiệt độ trung bình thích hợp cho sự sinh trưởng từ 22 - 30°C Đốivới ảnh hưởng của nhiệt độ lên chỉ tiêu phôi Trứng sau khi thụ tinhkhoảng 15-19 giờ sẽ bắt đầu nở thành cá bột Thời gian nở phụ thuộc vàonhiệt độ: nhiệt độ từ 22 - 27°C phôi cá sẽ chết hoặc trứng nở sau 24h.Nhiệt độ từ 28 - 30°C: trứng sẽ nở hoàn toàn từ 15 - 22 giờ Nhiệt độ
>30°C, phôi sẽ chết hoặc cá bột nở ra sẽ bị dị hình Cá bột sau khi nởkhoảng 12 giờ có thể tự tìm mồi trong thủy vực
(Osphronemid.http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1_r%C3%B4)
Theo Lý Hồng Nga (2003, tích từ Nguyễn Thành Trung, 1998)trứng cá rô đồng sau khi thụ tinh được tiến hành ấp với nhiệt độ từ 26.5-28°C hì sau 17,30 giờ trứng sẽ nở Thời gian ấp trứng tỉ lệ nghich với nhiệt
độ, nhiệt độ càng cao thì tác động đến tốc độ phát triển phôi càng lớn, thời
gian ấp trứng ngắn Đối với giai đoạn còn nhỏ (giống) theo Nguyễn VănKiểm (2005) thì nhiệt độ thích hợp là khoảng 26-30°C, nhưng biên độ giao
động phải nhỏ, nếu biên độ giao động lớn hơn hoặc bằng 2 thì sẽ ảnhhưởng đến quá trình phát triển của phôi Ngoài ra nhiệt độ tăng cao nó
không những tác động trực tiếp lên quá trình trao đổi chất của thủy sinh
Trang 22vật, mà còn có ảnh hưởng gián tiếp làm tăng tính độc tố của khí NH3 trong
nước
ii) Yếu tố pH
PH là một trong những yếu tố của môi trường ảnh hưởng rất lớn
đến đời sống của thủy sinh vật pH của máu tấc cả các động vật đều gần
bằng 7 Do đó, khi pH của môi trường quá cao hay quá thấp đều làm thay
đổi áp suất thẩm thấu của màng tế bào làm rối loạn quá trình trao đổi muốinước giữa cơ thể với môi trường bên ngoài Do đó pH là trong những yếu
tố quyết định giới hạn phân bố của các loài thủy sinh vật PH có ảnh hưởngrất lớn đến sự phát triển phôi, quá trình dinh dưỡng, sinh trưởng và sinhsản của cá Cá sống trong môi trường pH thấp sẽ chậm phát dục, nếu pH
thấp cá sẽ không đẻ hoặc đẻ rất ít (Trương Quốc Phú và ctv, 2006).
Theo Lê Hoàng Bảo (1999 Trích từ Swingle, 1969) thì sự ảnh
hưởng của pH đến cá nuôi như sau:
Hầu hết các loại trứng cá điều không có khả năng phát triển trong
môi trường có pH quá cao hoặc quá thấp (5> pH >8) Nhưng điều quan
trọng hơn cả là pH phải ổn định, bất kỳ một thay đổi nào dù rất nhỏ về pHcũng làm cho trứng ngừng phát triển Do vậy nguồn nước cung cấp choquá trình ấp trứng cần được xử lý và điều chỉnh cho thích hợp với sự pháttriển của phôi cá (Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
Trang 23Ngoài các ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống thủy sinh vật pH còn cótác dụng gián tiếp làm tăng độc tính của một số khí hòa tan trong môi
trường nước là NH3, H2S Khi pH tăng thì làm tăng tính độc của NH3, khi
pH giảm thì làm tăng tính độc của H2S (Trương Quốc Phú, 2006)
iii) Yếu tố Oxy
Nguồn cung cấp oxy cho thủy vực là do sự quang hợp của các thựcvật thủy sinh và sự khuyếch tán từ không khí, nhưng quá trình làm mất oxytrong thủy vực do sự phân hủy của hợp chất hữu cơ và sự hô hấp của thủysinh vật Do vậy lượng oxy hòa tan có liên quan rất nhiều yếu tố cùng tồntại với nó trong nước
Mỗi loài cá và mỗi giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục điều cónhu cầu oxy khác nhau Hàm lượng oxy hòa tan tối thiểu trong nước để
đảm bảo cho hoạt động bình thường của cá phải từ 3-4 mgO2/lít Nếu thấp
hơn 2 mgO2/lít cá có hiện tượng nổi đầu nhẹ Oxy hòa tan thấp từ 0.5-1mgO2/lít cá nổi đầu nặng và từ 0.1-0.5 mgO2/lít cá có thể chết hàng loạt.Tuy nhiên một số loài cá do có cơ quan hô hấp phụ hoặc có khả năng hôhấp toàn thân có khả năng sống trong môi trường oxy hòa tan rất thấphoặcbằng không (Nguyễn Văn Kiểm, 2000) Ngoài ra ngưỡng oxy cao hay thấpphụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển, ví dụ ở giai đoạn phôi thì hàm
lượng oxy tối phải từ 3-4 ppm (Nguyễn Văn Kiểm, 2005) Đối với cá rôđồng ở giai đoạn cá giống thì hàm lượng oxy trong các bể ương dao động
từ 2.39-5.28 ppm Mặc dù hàm lượng oxy hòa tan thấp nhưng cá rô đồng
có cơ quan hô hấp phụ được hình thành từ ngày thứ 12-13 nên cá vẫn sốngđược trong điều kiện oxy thấp (Hồ Mỹ Hạnh, 2003)
iv) Ảnh hưởng của độ mặn
Độ mặn là tổng hàm lượng các muối hòa tan trong môi trường nước
(chủ yếu là NaCl), hàm lượng này thông thường được biểu diễn dưới dạngphần nghìn (ppt) Các động vật có khả năng sinh sống trong môi trường
nước mặn đòi hỏi phải có các cơ chế điều chỉnh đặc biệt, chẳng hạn các
tuyến bài tiết muối hay gia tăng năng lực bài tiết của thận (theo Bách khoa
toàn thư mở Wikipedia) Do đó các loài sống trong môi trường nước ngọtkhi vào môi trường nước lợ cần phải có quá trình điều hòa áp xuất thẩm
thấu của cơ thể để thích ứng Độ mặn thích hợp cho mỗi loài thủy sinh vậtkhác nhau tùy loài, nếu vượt ra khỏi khoảng thích hợp sinh vật sẽ tốn mộtphần năng lượng để điều hòa áp xuất thẩm thấu Điều này sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển và tăng trưởng của thủy sinh vật
Trang 24Có rất nhiều loài cá nước ngọt có thể sống trong môi trường nước
lợ, và có thể sinh sản và phát triển tốt ở vùng có độ mặn khoảng 4-5‰
Đặc biệt một số loài cá nước ngọt có thể sống được cả vùng nước lợ và
mặn, tuy nhiên nếu độ mặn vượt quá 20‰ thì cá sinh trưởng và phát triển
kém (Lê Văn Các và ctv, 2006) Khả năng chịu đựng nồng độ muối khác
nhau theo từng loài và tùy vào từng giai đoạn phát triển: ở cá Rô hu giai
đoạn cá bột, cá giống và cá thịt có ngưỡng độ mặn lần lượt là 14.1-15‰;
15.2-16.9‰; 15.7-17.1‰ Trong khi đó ở cá Mrigal thì giai đoạn giống là16-17‰ và cá thịt lên đến 23.4‰ (Phạm Mạnh Tưởng, 1990 dẫn bởi LêPhú Khởi, 2009)
(Trương Quốc Phú, 2006) Các nguyên tố kim loại nặng như: sắt, đồng,
nhôm, chì, thủy ngân khi tồn tại ở hàm lượng cao điều tác hại đến quá trìnhphát triển của thủy sinh vật Đặc biệt là quá trình phát triển của phôi.Chúng có thể tăng hay giảm tỷ lệ dị hình, tỷ lệ chết của phôi trước khi nở(Nguyễn Văn Kiểm, 2005)
Trang 25CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 12/2008 – 6/2009
Địa điểm: Đề tài được thực hiện tại trại cá Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Cần Thơ
-3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Các dụng cụ phục vụ trong nghiên cứu
Thùng nhựa cho cá bố mẹ sinh sản thể tích 60 lít
Cân điện tử (d=0.01) dùng cân cá
Kính hiển vi, thước kẻ vạch (mm), bàn đo cá
Nhiệt kế
Ống xi phong
Đĩa Petri, lam, vợt, muỗng, sổ ghi chép
Các bộ tets đo môi trường: PH, NO2, NH3
Khúc xạ kế
Trang 26Hình 3.1: Tets đo môi trường và kính hiển vi
3.2.2 Nguồn nước sử dụng
Nguồn nước ngọt được lấy từ sông Rạch Ngỗng, cho qua ao lắngtrồng lục bình bao phủ bề mặt nước, bơm qua bể chứa và dẫn vào hệ thốngcung cấp nước của trại cá
Nguồn nước ót được lấy từ trại nước lợ, mua ở Bạc Liêu và trữ lạitrong bể xi măng để sử dụng
Nguồn nước lợ được pha từ nước ngọt và nước ót nói trên để đượccác giá trị độ mặn như mong muốn để thực hiện thí nghiệm
3.2.3 Thức ăn
Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm ương cá bột rô đồng là sữa cá trộnsẵn, moia và trùng chỉ
Trang 273.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
3.3.1.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của tăng dần độ mặn đến sự phát triển
phôi của cá rô đồng
Hình 3.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1
Phương pháp bố trí
Lấy 900 trứng cá rô đồng vừa được sinh sản bán tự nhiên trong xônhựa làm thí nghiệm về ảnh hưởng của tăng dần độ mặn lên các chỉ tiêu ấptrứng của phôi Độ mặn ấp trong thí nghiệm là: nước ngọt đối chứng, 3‰,
5‰, 7‰, 9‰, 11‰, 13‰, 15‰, 17‰, 19‰ được bố trí ngẫu nhiên thành
10 nghiệm thức tương ứng
Tăng dần độ mặn
10 nghiệm thức trên được bố trí hoàn toàn nước ngọt, ổ định 1 giờ,
sau đó chọn ngẫu nhiên 1 nghiệm thức làm nghiệm thức đối chứng, dùngnước ót pha loãng để nâng 9 nghiệm thức còn lại lên 3‰ trong 1 giờ và ổnđịnh trong 1 giờ, chọn ngẫu nhiên 1 nghiệm thức trong 9 nghiệm thức đó
làm nghiệm thức 3‰, nâng 8 nghiệm thức còn lại lên 5‰ trong 1 giờ và
- Đánh giá tỷ lệ thụ tinh của phôi
- Xác định thời gian nở và tỷ lệ nở của phôi
- Đánh giá tỷ lệ dị hình và tỷ lệ sống của cá bột đến 2
ngày tuổi
Trang 28ổn định 1 giờ rồi chọn ngẫu nhiên … đến khi nghiệm thức thứ 10 đạt giá
trị 19‰ thì kết thúc Mỗi nghiệm thức của từng giá trị độ mặn được thựchiện lập lại 3 lần Trứng cá được chứa trong chén nhựa với số lượng 30trứng/chén cùng điều kiện không sục khí (Oxy hòa tan =4 mg/L) trong thínghiệm 1
Các chỉ tiêu theo dõi
Tỷ lệ thụ tinh của phôi (được tính sau 6- 8 giờ từ khi thu trứng bốtrí thí nghiệm), thời gian nở, tỷ lệ nở, tỷ lệ dị hình của cá bột được quan sát
và ghi nhận trong suốt quá trình thực hiện đến khi trứng nở hoàn toàn Tỷ
lệ sống của cá bột được tính sau khi trứng nở hoàn toàn đến 48 giờ
3.3.1.2 Thí nghiệm 2 Ảnh hưởng của gây sock độ mặn đến sự phát triển
phôi của cá rô đồng
Hình 3.4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2
Phương pháp bố trí
Lấy 540 trứng cá rô đồng (cùng nguồn trứng ở thí nghiệm 1) vừa
được sinh sản bán tự nhiên trong xô nhựa làm thí nghiệm về ảnh hưởng
của độ mặn lên các chỉ tiêu ấp trứng của phôi Dãy độ mặn ấp trong thínghiệm là: nước ngọt đối chứng, 3‰, 5‰, 7‰, 9‰, 11‰ được bố trí ngẫunhiên thành 6 nghiệm thức tương ứng Mỗi nghiệm thức của từng giá trị độmặn được thực hiện lập lại 3 lần Trứng cá được chứa trong chén nhựa với
số lượng 30 trứng/chén cùng điều kiện không sục khí (Oxy hòa tan =4mg/L) cho tấc cả các nghiệm thức trong thí nghiệm 2
- Đánh giá tỷ lệ thụ tinh của phôi
- Xác định thời gian nở và tỷ lệ nở của phôi
- Đánh giá tỷ lệ dị hình
- So sánh kết quả thí nghiệm 1
Trang 29Các chỉ tiêu theo dõi tương tự thí nghiệm 1
3.3.1.3 Thí nghiệm 3 Ảnh hưởng của tăng dần độ mặn lên sinh trưởng và
tỷ lệ sống của cá bột rô đồng đến 30 ngày tuổi
Hình 3.5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3
Phương pháp bố trí
Lấy 1350 cá bột rô đồng sau khi nở 48 giờ thực hiện thí nghiệm.Thí nghiệm được thực hiện trong thùng xốp thể tích 30 lít Mỗi nghiệmthức được lập lại 3 lần trong cùng 1 thùng xốp ngăn làm 3 (đảm bảo điềukiện môi trường giữa các lần lập lại như nhau) Thí nghiệm được bố trí
theo sơ đồ (Hình 3.5) hoàn toàn ngẫu nhiên với 9 nghiệm thức cùng mật độ
5 con/lít Tấc cả các nghiệm thức ương cùng điều kiện sục khí
Tăng dần độ mặn
9 nghiệm thức trên được bố trí hoàn toàn nước ngọt, ổ định 24 giờ,chọn ngẫu nhiên 1 nghiệm thức là nghiệm thức đối chứng, dùng nước ótpha loãng để nâng các nghiệm thức còn lại lên 3‰ trong 12 giờ và ổn địnhtrong 12 giờ, chọn ngẫu nhiên 1 nghiệm thức là nghiệm thức 3‰, nâng cácnghiệm thức còn lại lên 5‰ trong 12 giờ và ổn định 12 giờ rồi chọn ngẫu
nhiên … nâng đến nghiệm thức cuối lên 17‰ Mỗi nghiệm thức của từng
độ mặn được thực hiện lập lại 3 lần trong 1 thùng xốp cùng điều kiện sục
Trang 30Các chỉ tiêu theo dõi
Tốc độ tăng trưởng: khi bố trí đo ngẫu nhiên 10 mẫu cá thể cá bột
rô đồng, cứ sau 10 ngày thu ngẫu nhiên 10 mẫu cá thể cá bột rô đồng đo
chiều dài, ở mỗi lần lập lại của mỗi nghiệm thức Ngày thứ 30 thu mẫu đochiều dài và cân trọng lượng toàn bộ cá thí nghiệm
Tỷ lệ sống: kết thúc thí nghiệm đếm số cá còn lại sau thí nghiệm
3.3.1.4 Thí nghiệm 4 Ảnh hưởng của gây sock độ mặn lên sinh trưởng và
tỷ lệ sống của cá bột rô đồng đến 30 ngày tuổi
Hình 3.6: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 4
Phương pháp bố trí
Tương tự như thí nghiệm 3 theo sơ đồ (Hình 3.6) với 900 cá bột rôđồng
Các chỉ tiêu theo dõi
Tương tự như thí nghiệm 3
Trang 313.3.2 Phương pháp quản lý và chăm sóc thí nghiệm
3.3.2.1 Chế độ cho ăn
Trong thí nghiệm 3 và 4 cá được cho ăn sữa cá 4 lần/ngày Sau 5ngày cho ăn moia 3 lần/ngày Sau 17 ngày cho ăn trùng chỉ 3 lần/ngày đếnthu mẫu kết thúc thí nghiệm
3.3.2.2 Chế độ thay nước
Chỉ thay nước ở thí nghiệm 3 và 4 Trước khi cho ăn xi phong đáy
bể 1 lần, sau 5 ngày thay 30 % nước trong bể, sau ngày thứ 10, 14, 17, 20,
23, 26, 29 đều thay 40 % nước trong bể
3.3.3 Phương pháp đo môi trường và thu thập số liệu
3.3.3.1 Phương pháp đo môi trường
Trong từng thí nghiệm các chỉ tiêu môi trường nước được đo và ghi
chép trước khi bố trí thí nghiệm, trong thí nghiệm đến kết thúc thí nghiệm
Nhiệt độ nước(ºC)
Được đo bằng nhiệt kế, ngâm nhiệt kết vào nước khoảng 10 phút
lấy ra và ghi nhận kết quả
PH nước
Rửa ly nhựa nhiều lần bằng nước cần đo,lấy nước vào đến vạch 5
ml, nhỏ 1 giọt thuốc thử vào, đậy nắp lắc đều để sau 5 phút so màu vớibảng so màu pH để ghi nhận kết quả
Oxy hòa tan (mg/l)
Rửa dụng cụ đo như đo pH, lấy nước vào đầy ly, lần lượt cho vào 6giọt thuốc thử 1 và 2 Đậy kính nắp lắc đều để khoảng 10 phút, so màu vớibảng so màu Oxy để ghi nhận kết quả
Trang 32NH3 (mg/L)
Rửa sạch nhiều lần và cho vào lọ 5 ml nước cần đo Cho vào 3 giọtthuốc thử 1, 2 và 3, lắc đều sau mỗi lọ sau 10 phút đem so màu với bảngmàu mẫu kèm theo và ghi nhận kết quả
3.3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Tỷ sống của cá bột sau 48 giờ
Sau 48 giờ tiến hành đếm số cá bột còn sống , ghi nhận tính toán:
Số cá bột sống sau 48 giờ
Số cá bột khi nở
Trang 33Tỷ lệ dị hình
Sau khi trứng nở hoàn toàn quan sát và ghi nhận số cá bột bị quẹo
đuôi, dị hình, tính toán:
Tỷ lệ dị hình (%) = (Số cá dị hình / Số cá nở) * 100
Tốc độ tăng trưởng của cá theo từng giai đoạn
Xác định độ tăng trưởng của cá theo từng giai đoạn phát triển của
cơ thể, đo chiều dài của cá 10 ngày 1 lần Số mẫu cá thu : 10 con/mẫu
L1 : Chiều dài của cá lúc thả
t1, t2 : Thời gian lúc thả và lúc thu
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Tấc cả các số liệu thí nghiệm thu được, được xử lý theo chươngtrình Excel
Trang 34CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả thí nghiệm 1 Ảnh hưởng của tăng dần độ mặn đến sự phát
triển phôi của cá rô đồng
Hình 4.1: Hệ thống thí nghiệm 1 và 2Bảng 4.1: Các chỉ tiêu môi trường nước ấp trong thí nghiệm 1 và 2
Trang 35Bảng 4.2 Ảnh hưởng của tăng dần độ mặn đến sự phát triển phôi của cá rô
Từ kết quả bảng 4.2 có thể nhận định như sau: độ mặn của môi
trường ảnh hưởng không rõ ràng tới sự phát triển phôi cá rô đồng vì tỷ lệ
thụ tinh của trứng cá rô đồng không có sự khác biệt (p>=0.05) khi độ mặn
tăng dần đến 19‰; tỷ lệ nở giảm, thời gian nở tăng dần theo độ mặn, tỷ lệ
dị hình tăng khi độ mặn tăng dần nhưng khi độ mặn cao hơn 13‰ thì cábột rô đồng không thể tồn tại sau 48h
Trang 364.1.1 Nhận xét
Tỷ lệ thụ tinh của trứng giữa các độ mặn không có sự khác biệt
(p>=0.05) Như vậy có thể cho rằng độ mặn của môi trường ảnh hưởng
không rõ ràng tới giai đoạn đầu của quá trình phát triển phôi cá rô đồng
4.1.2 Tỷ lệ thụ tinh của phôi
Trong thí nghiệm này kết quả được ghi nhận tại bảng 4.2 thấy rằng
tỷ lệ thụ tinh của trứng cá rô đồng ở các nghiệm thức độ mặn khá cao(92.1-94.4%) Tuy nhiên tỷ lệ thụ tinh giảm dần khi độ mặn tăng Từ bảng4.2 trên cho thấy sự khác nhau về tỷ lệ thụ tinh giữa các độ mặn là không
có ý nghĩa thống kê (p>=0.05) với đối chứng 94.4%
Theo Dương Nhựt Long (2004) cho biết ở nhiệt độ 26°C thì tỷ lệthụ tinh của trứng cá rô đồng dao động 92.9% - 96.6% Từ những kết quảnghiên cứu thu được có thể cho rằng nếu độ mặn tăng dần cho tới khi đạt
9‰ thì vẫn chưa có ảnh hưởng đến sự phát triển của trứng cá rô đồng, ở độ
mặn 9‰ tỷ lệ thụ tinh đạt tới 92.1%
4.1.3 Tỷ lệ nở của phôi.
Từ kết quả ghi nhận được tại bảng 4.1 cho các tỷ lệ nở khác nhau
khi tăng các giá trị độ mặn khác nhau Ở độ mặn 3‰ cho tỷ lệ nở cao nhất
(98.9%) và thấp nhất là (90.4%) tại độ mặn 19‰ Các độ mặn 5‰, 7‰,
9‰, 11‰, 13‰, 15‰, 17‰ cho kết quả tỷ lệ nở của phôi lần lượt là:98.8%, 97.7%, 96.4%, 95.3%, 94.0%, 94.0%, 92.8% và 90.4% Như chúng
ta đã biết đa số các loài cá nước ngọt rất nhảy cảm với môi trường nước lợ
mặn, mà giai đoạn phôi là giai đoạn nhảy cảm nhất với các điều kiện của
môi trường Nhưng rô đồng là loài cá có thể sinh trưởng và phát triển trongmôi trường nước có pH thấp, Oxy hòa tan thấp,…Những ưu điểm này rất
có thể được duy truyền tới thế hệ sau, thông qua quá trình phát triển phôi
Do đó khi ấp trong môi trường nước tăng dần độ mặn thì khi độ mặn đạt
tới 19‰ mà tỷ lệ nở vẫn đạt 90.4%, còn ở 11‰ thì đạt 95.3% trong khi đó
đối chứng cho tỷ lệ nở là 98.8% (sai khác không có ý nghĩa về mặt thống
kê p>=0.05)
Trong khi đó phôi của cá ngựa vằn chỉ có khoảng 86% tế bào trứng
phát triển đến giai đoạn phân chia tế bào và 82% phát triển đến lúc nở ở độmặn 2‰ còn ở 14‰ thì cá bột không thể sống được trong 2 giờ thínghiệm (Theo M S Sawant and et (2001) dẫn bởi Lê Phú Khởi, 2009)
Trang 37Từ kết quả thí nghiệm, đối chiếu với một số tác giảc như vừa trìnhbày có thể kết luận như sau: với phương pháp tăng dần độ mặn như trongthí nghiệm, phôi cá rô đồng vẫn phát triển được vẫn cho tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ
nở khá cao 93.1% và 95.7% khi độ mặn đat tới 19‰
86 88 90 92 94 96 98 100
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ thụ tinh 94.4 94.4 93.3 92.2
Hình 4.2: So sánh tương quan giữa tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở
Tại hình 4.2 khi so sánh giữa tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở thì ta thấy có
sự tương quan tỷ lệ thuận Hầu như các nghiệm thức có tỷ lệ thụ tinh caothì tỷ lệ nở cao và ngược lại tỷ lệ thụ tinh thấp thì tỷ lệ nở thấp Nếu tăngdần độ mặn lên thì tỷ lệ thụ tinh giảm dần nhưng không đáng kể khi đến
19‰, nhưng tỷ lệ nở thì giảm rõ rệt từ 98.9% ở 3‰ thì còn 90.4% ở 19‰
4.1.4 Thời gian nở của phôi
Khi quan sát bảng 4.2 ta thấy có sự chênh lệch về thời gian nở trongdãy độ mặn là rất rõ Nghiệm thức có thời gian nở của phôi cá ngắn nhất là
3‰ (với thời gian là 18h50’) và thời gian nở của phôi cá dài nhất ở nghiệm
thức 17‰; 19‰ (với thời gian là 19h20’ còn các nghiệm thức còn lại 5 và
7‰ là 18h55’; 9 và 11‰ là 19h; 13 và 15‰ là 19h10’) Theo Hồ Phương
Ngân (2006) ở nhiệt độ 27°C thì sau 17h50’ phôi cá rô đồng sẽ nở; ở nhiệt
độ 26.5-28°C thì sau 17h30’ phôi cá rô đồng sẽ nở theo Nguyễn Thành
Trung (1998) dẫn bởi Dương Vũ Phong (2003) Từ đó cho thấy ngoài cácyếu tố nhiệt độ, pH,…thì độ mặn cũng có sự ảnh hưởng rất lớn đến thờigian nở của trứng cá Tuy chưa có nghiên cứu nào báo cáo về vấn đề này
nhưng trong thí nghiệm này đã cho thấy có sự tương quan giữa thời gian
nở và tỷ lệ nở Các nghiệm thức có tỷ lệ nở cao thì thời gian nở ngắn hình4.3; Khoảng cách từ 2 đơn vị trở lên thì sai khác rõ rệt
Trang 380 20 40 60 80 100
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ dị hình (%) 1.23 3.66 4.99 8.94 17.6
Thời gian nở (h) 18.8 18.9 19 19.2 19.3
Hình 4.4: So sánh tương quan giữa tỷ lệ dị hình và thời gian nở
Qua bảng 4.2 và hình 4.4 ta thấy rằng tỷ lệ dị hình của phôi tăng
theo độ mặn Cá bột bị dị hình xuất hiện nhiều nhất ở độ mặn cao nhất19‰ là 17,6% và ít nhất ở 3‰ là 1.23% (đối chứng là 1.15%) Theo Lê
Hoàng Bảo (1999) thì tỷ lệ dị hình của cá sặc rằn là 14.6% khi ấp ở nhiệt
độ 30°C và 25°C là 20.2%; còn Nguyễn Văn Lựa (2008) cho biết tỷ lệ dị
hình của trứng cá Basa là 13.1% khi ấp trứng ở nước có nồng độ EDTA15mg/L Từ những kết quả trên cho thấy nhiệt độ,… độ mặn cũng ảnh