Phần B : NỘI DUNG THỰC TẬPo Giới thiệu chung -Tên chủ đề thực tập:Tìm hiểu và cấu hình giao thức định tuyến EIGRP -Mục tiêu :Nắm được +Đặc điểm và hoạt động của giao thức định tuyến D
Trang 1HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Nội dung:
Tìm hiểu và cấu hình giao thức định tuyến EIGRP
Trang 2I Giao thức định tuyến Distance Vector (4)
II Thuật toán tìm đường đi tốt nhất Bellman-Ford (8)III Các vấn đề về Loop trong định tuyến của giao thức Distance Vector
IV Các kỹ thuật cơ bản của EIGRP (20)
V Các bảng dữ liệu của EIGRP (23)
VI Các gói dữ liệu của EIGRP (25)VII Cấu hình cho router EIGRP (26)
Phần sinh viên tự ghi.
Trang 3 Phần B : NỘI DUNG THỰC TẬP
o Giới thiệu chung
-Tên chủ đề thực tập:Tìm hiểu và cấu hình giao thức định tuyến EIGRP
-Mục tiêu :Nắm được
+Đặc điểm và hoạt động của giao thức định tuyến Distance Vector
+Thuật toán tìm đường đi tốt nhất Bellman-Ford
+Đặc điểm và nguyên tắc hoạt động của giao thức EIGRP
+Các bước cấu hình vs troubleshoot giao thức EIGRP
-Kết quả cần đạt:
+Hiểu rõ đặc điểm và hoạt động của gioa thức định tuyến Distance Vector
+Hiểu rõ thuật toán tìm đường đi tốt nhất Bellman-Ford
+Hiểu rõ các vấn đề về Loop định tuyến của giao thức Distance Vector và các cơ chế chống Loop +Hiểu rõ đặc điểm và nguyên tắc hoạt động của giao thức EIGRP
+Hiểu rõ các tham số của giao thức EIGRP
+Cấu hình mô phỏng hoàn chỉnh 1 mạng chạy giao thức EIGRP
+Kiểm tra được các thông tin của giao thức EIGRP
+Các router học được đầy đủ thông tin định tuyến trên toàn mạng qua giao thức EIGRP
+Tất cả các dải mạng kết nối được với nhau
+Các gói tin đi đúng đường từ nguồn tới đích dựa vào thông tin trong bảng định tuyến của router
Trang 4o Phần trình bày :
Phần I:
Tổng quan I.Giao thức định tuyến Distance Vector
Định tuyến(Routing) là một chủ đề lớn trong chương trình CCNA,chiếm một tỉ lệ quan trọngtrong chương trình.Routing là tiến trình hướng các gói (Packet) từ mạng này đến mạng khác thôngqua Router.Routing hoạt động ở lớp thứ ba của mô hình OSI(lớp Network) và là một chức năng quan trọng của Router trong lớp Network.Router là thiết bị mạng hoạt động ở lớp Network và sử dụng chức năng Routing để truyền thông với Router của những mạng khác.Địa chỉ vật lý được Router sử dụng để xác định các hệ thống mạng cũng như từng thiết bị trong hệ thống mạng này Một giao thức là tập hợp các qui tắc trong đó xác định một đối tượng nào đó sẽ hoạt động như thế nào.Một giao thức định tuyến là một tập hợp các qui tắc mô tả một giao thức lớp 3
(Network) sẽ gửi cập nhật cho nhau về mạng hiện có.Nếu có nhiều đường đi đến một mạng cùng tồn tại,giao thức định tuyến cũng sẽ xác định đường đi tốt nhất.Các thiết bị có chung một hiểu biết
về mạng đó,các thiết bị sẽ bắt đầu Router trên đường đi tốt nhất
Có ba bước cơ bản liên quan trong quá trình xây dựng, duy trì và sử dụng bảng định tuyến:
- Các giao thức định tuyến gửi các thông tin cập nhật về routes hoặc về network bên trong AS, chẳng hạn như RIPv1, IGRP và EIGRP và giữa các AS như BGP4 [border gateway protocol]
- Bảng định tuyến nhận các cập nhật từ các giao thức định tuyến và cung cấp các thông tin theo yêu cầu
- Quá trình chuyển gói xác định đường đi nào cần chọn lựa từ bảng định tuyến để chuyển một gói tin đi
Giao thức định tuyến Distance Vector là một giao thức định tuyến trong_Interior Gateway Protocol (IGP) của giao thức định tuyến động (dynamic route).Định tiến Distance Vector dựa vào các giải thuật định tuyến có cơ sở hoạt động là khoảng cách véc tơ,theo định kỳ chúng chuyển cácbản copy của bảng định tuyến từ router này đến router kia.Các cập nhật thường xuyên giữa các router này sẽ thông báo về các thay đổi của topo mạng.Mỗi router nhận một bảng định tuyến từ các router kế cận được nối trực tiếp với nó
Trang 5Mô hình định tuyến Distance Vector
Các giao thức distance vector gửi định kỳ các cập nhật về các mạng mà quá trình định tuyến
đã tìm thấy và đưa vào bảng định tuyến Các cập nhật được gửi trực tiếp vào các router láng giềngkết nối trực tiếp Địa chỉ đích của các routing update là 255.255.255.255 (địa chỉ broadcast), có nghĩa là tất cả các router trên phân đoạn mạng đó sẽ nghe được các update
Giao thức Distance Vector có liên quan tới “distance-khoảng cách” và “vector-đoạn thẳng có hướng”,hay trực tiếp tới mạng đích.Trước khi gửi một cập nhật,mỗi router sẽ có thêm các thông
số distance và route metric Các cập nhật sẽ gửi ra định kỳ sau khi một khoảng thời gian bị hết Khoảng thời gian timer này sẽ được reset ngay lập tức sau khi router gửi một cập nhật Như vậy giao thức định tuyến distance vector sẽ gửi ra toàn bộ bảng định tuyến đến các láng giềng của nó, thiết lập một đồng hồ thời gian và sau một khoảng thời gian xác định trước (30 giây đối với RIP v.1) sẽ gửi ra toàn bộ bảng định tuyến một lần nữa Sau khi nhận được bảng định tuyến của router láng giềng, router sẽ cập nhật bảng định tuyến của nó và thay đổi bảng định tuyến theo các cập nhật mà nó nhận được Do router sẽ tiếp tục truyền những thông tin mà nó nghe được từ router láng giềng, các giao thức định tuyến nhóm distance vector được gọi là “định tuyến theo tin đồn”
Trang 6Vấn đề chính của Distance Vector là thuật toán, thuật toán được sử dụng để tính toán các đường đi tốt nhất sau đó gửi các thông tin đó cho các neighbor.
Thuật toán trong các giao thức định tuyến xử lý:
-Gửi và nhận update
-Tính toán đường đi tốt nhất và đưa route đó vào bảng định tuyến
-Xác định và xử lý sự thay đổi của topology
Tính đơn giản trong các giao thức định tuyến dạng distance vector là điểm nổi bật chính so với các giao thức ở dạng link-state.Việc cấu hình các giao thức định tuyến dạng distance vector là đơngiản và chsung sẽ sử dụng ít bộ nhớ và tiến trình xử lý.RIPv1 hỗ trợ hầu hết các nhà sản xuất khácnhau hay trong các môi trường sử dụng nhiều công nghệ từ nhiều nhà sản xuất
Tính đơn giản của giao thức distance vector đã không hỗ trợ khả năng mở rộng của
mạng.RIPv1 và IGRP là các dạng classful routing protocol,điều này có nghĩa là chúng sẽ không gửi các thông tin về subnet trong quá trình cập nhật thông tin định tuyến.Chúng không hỗ trợ tính năng mở rộng khi sử dụng Variable Length Subnet Masking(VLSM) hay superneting.Thông thường ,các distance vector routing protocol có tốc độ hội tụ mạng chậm hơn các link-state
protocol.Hầu hết sự phức tạp và các mạng yêu cầu tính mở rộng cao cần thiết sử dụng các routing protocol với độ hội tụ thông tin nhanh giữa các router và trạng thái của mạng cần phải nhanh chóng ổn định
Trang 7*Giải thuật tìm đường dạng Distance vector:
Trang 8II Thuật toán tìm đường đi tốt nhất Bellman-Ford
Thuật toán Bellman-Ford là một thuật toán tính các đường đi ngắn nhất nguồn đơn trong một
đồ thị có hướng có trọng số (trong đó một số cung có thể có trọng số âm)
Thuật toán Bellman Ford chạy trong thời gian O(V·E), trong đó V là số đỉnh và E là số cung của
đồ thị
Tư tưởng của thuật toán :
- Bước 1: Khởi tạo ∏(0,x)=0; ∏(0,i)=+∞, ∀i≠x và k=1
- Bước 2: Với mỗi i∈X ta đặt:
∏(k,i)=min({∏(k-1,i)}∪{∏(k-1,j)+L[j][i]})
- Bước 3: Nếu ∏(k,i)=∏(k-1,i) với i∈X thì ∏(k,i) chính là độ dài đường đi ngắn nhất từ x đến i Ngược lại nếu k<n thì tăng k=k+1 và trở lại bước 2; nếu k=n thì dừng vì từ x đi tới được 1 mạch âm
Nội dung thuật toán:
function BellmanFord(danh_sách_đỉnh, danh_sách_cung, nguồn)
// hàm yêu cầu đồ thị đưa vào dưới dạng một danh sách đỉnh, một danh sách cung
// hàm tính các giá trị khoảng_cách và đỉnh_liền_trước của các đỉnh,
// sao cho các giá trị đỉnh_liền_trước sẽ lưu lại các đường đi ngắn nhất
// bước 1: khởi tạo đồ thị
for each v in danh_sách_đỉnh:
if v is nguồn then khoảng_cách(v):= 0
else khoảng_cách(v):= vô cùng
đỉnh_liền_trước(v):= null
// bước 2: kết nạp cạnh
for i from 1 to size(danh_sách_đỉnh):
for each (u,v) in danh_sách_cung:
if khoảng_cách(v) > khoảng_cách(u) + trọng_số(u,v):
khoảng_cách(v):= khoảng_cách(u) + trọng_số(u,v)
đỉnh_liền_trước(v):= u
// bước 3: kiểm tra chu trình âm
for each (u,v) in danh_sách_cung:
if khoảng_cách(v) > khoảng_cách(u) + trọng_số(u,v): error "Đồ thị chứa chu trình âm"
Trang 9Ứng dụng trong định tuyến:
Một biến thể phân tán của thuật toán Bellman-Ford được dùng trong các giao thức định tuyến vector khoảng cách, chẳng hạn giao thức RIP (Routing Information Protocol) Đây là biến thể phân tán vì nó liên quan đến các nút mạng (các thiết bị định tuyến) trong một hệ thống tự chủ (autonomous system), ví dụ một tập các mạng IP thuộc sở hữu của một nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP)
Thuật toán gồm các bước sau:
1 Mỗi nút tính khoảng cách giữa nó và tất cả các nút khác trong hệ thống tự chủ và lưu trữ thông tin này trong một bảng
2 Mỗi nút gửi bảng thông tin của mình cho tất cả các nút lân cận
3 Khi một nút nhận được các bảng thông tin từ các nút lân cận, nó tính các tuyến đường ngắn nhất tới tất cả các nút khác và cập nhật bảng thông tin của chính mình
Nhược điểm chính của thuật toán Bellman-Ford trong cấu hình này là:
Trang 10III.Các vấn đề về Loop trong định tuyến của giao thức Distance Vector
và các cơ chế chống Loop.
1.Routing loop là gì?
Giao thức DV khi cập nhật sẽ gửi toàn bộ thông tin về routing table và gói tin cập nhật này được gửi theo kiểu broadcast, thời gian định kỳ là 30s Cần lưu ý rằng, việc update này là định kỳ sau mỗi 30s Điều này dẫn đến việc các routers không được cập nhật đầy đủ thông tin hiện tại cùng nhau Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc bị loop(vòng lặp vô hạn) Routing loop có thể gây sụp đổ toàn bộ hệ thống, làm cho router ko có cái nhìn chính xác về toàn mạng, làm sai quá trình routing
2.Các cách phòng chống routing loop.
2.1.Route Poisoning
Thuật ngữ "route poisoning" ám chỉ việc vẫn tiếp tục quảng bá route bị down nhưng với một thông tin "giả mạo" về metric Thông tin này được gọi là "infinity"(nôm na là vô tận).Khi nhận được một route với giá trị metric là infinity thì router sẽ tự biết đc rằng, route đó đã down Với mỗi giao thức DV khác nhau thì có cách xác định giá trị infinity khác nhau Riêng đối với RIP thì giá trị đó là 16
Xét một ví dụ về việc route poisoning:
Hình trên mô tả việc route poisoning Ta xem xét trường hợp 2 router sử dụng giao thức RIP TrênR2, port fa0/1 đã down và không thể route các packets đến 172.30.22.0/24(Lưu ý rằng, khi nhận infinity là 16, khi ta show ip route thì giao thức RIP sẽ ko hiển thị giá trị metric mà hiển thị
"possibly down") Lúc này, việc xử lý sẽ tuần tự như sau:
1 Port fa0/1 của R2 down
2 R2 sẽ loại bỏ thông tin của connected route 172.30.22.0/24 ra khỏi routing table của nó
Trang 113 R3 sẽ quảng bá cho R1(router láng giềng) thông tin cập nhật mới là route đến 172.30.22.0/24
có metric là 16-ngang mức với infinity
4 R1 cập nhật thông tin mới với infinity metric về route đến 172.16.22.0 và vẫn giữ trong routingtable cho đến khi route đó được xóa khỏi routing table
2.2.Split Horizon:
Thuật ngữ này nói về một quy tắc trong DV Quy tắc đó là:"KHÔNG được phép gửi lại thông tin routing theo hướng mà nó đã đc nhận" Nói cách khác, routing protocol phân biệt xem interface A nào đó đã nhận thông tin về route B nào đó Khi đã xác định được, nó sẽ không quảng
bá lại thông tin về route B đó thông qua interface A đã đc xác định
Hình trên mô tả các bước về việc Split horizon
1 R1 gửi thông tin update cho R2
2 R2 gửi lại thông tin cho R1
3 Port fa0/1 của R2 down
4 R2 sẽ loại bỏ thông tin về 172.30.22.0/24 trong routing table
5 R2 gửi thông tin cập nhật về 172.30.22.0/24 với infinity metric
6 R1 cập nhật thông tin về route 172.30.22.0/24, tạm thời vẫn lưu lại trong routing table, đợi xử
lý sau
7 R1 tiếp tục gửi thông tin cập nhật về cho R2 nhưng vì splite horizon nên không kèm theo thôngtin về route 172.30.22.0/24
2.3.Poison Reverse và Triggered Update :
Đây là 2 cách khác để chống loop trong DV.2 cách này sẽ tìm mọi cách để thông báo về việc route nào đó bị down, trong thời gian sớm nhất có thể
Trang 12+Triggered Update:Khi một route down, ko cần phải đợi đến lần cập nhật định kỳ tiếp theo mà gửi ngay lập tức một thông tin cập nhật liệt kê các route bị poisoned.
+Poison reverse:Khi nhận được thông tin về một route bị down, sẽ gửi lại một route đã bị
poisoned
Hình trên cho ta một cái nhìn hình dung về 2 phương pháp chống loop này
1 Port fa0/1 của R2 down
2 R2 ngay lập tức gửi thông tin về thành phần đã thay đổi là thông tin về route đến
172.30.22.0/24, tất nhiên route này đã bị poisoned
3 R1 cũng ngay lập tức gửi lại cho R2 biết thông tin về route trên, cũng với thông tin đã bị poisoned Đây chính là reverse poison
4 Trong lần cập nhật định kỳ, R2 sẽ quảng bá toàn bộ thông tin về routing table, nhưng thông tin trong đó đã bị poisoned với đúng hiện trạng
5 Tương tự với R1, trong lần cập nhật tiếp theo, cũng sẽ gửi một thông tin đúng về hiện trạng của toàn bộ mạng
2.4.Holddowns
Thuật ngữ này ám chỉ việc:Khi một route bị coi là đã down, thì sẽ giữ nó trong một thời gian
để router chắc chắn rằng, route này thực sự down
Quá trình holddown nói cho 1 router biết để loại bỏ toàn bộ thông tin về route đang bị coi là down trong một khoảng thời gian gọi là holddown timer Có thể được tóm tắt:
Trang 13Sau khi nhận thông tin về một route bị down, bắt đầu quá trình đếm holddown timer cho route
đó Cho đến khi khoảng thời gian đó hết, sẽ không chấp nhận bất cứ thông tin nào về route đó Các thông tin từ router đã quảng bá về route này có thể đc chấp nhận sau khi hết khoảng thời gian holddown
Hình dưới cho ta một ví dụ về Holddown
1 Port fa0/1 của R2 down
2 Ngay lập tức, R2 quảng bá thông tin mới này cho các routers láng giềng về route bị down, đồng thời cũng poison route này
3 R3 nhận đc thông tin poisoned từ R2, R3 sẽ đưa route đó với metric là 16 Đồng thời, R3 sẽ bắtđầu đếm một khoảng thời gian-holddow timer dành cho route đó(mặc định với RIP là 180s)
4 Giả sử trước khi bước 2 xảy ra, R1 đã gửi một thông tin về route 172.30.22.0/24 đó về R3 với metric là 2 như bình thường
5 R1 nhận được thông tin update của R2 sẽ đặt route kia vào routing table với metric là 16
6 R3 nhận đc thông tin update từ R1(step4) rằng vẫn có thể đến 172.30.22.0/24 với metric = 2.Nhưng bởi vì thông tin này ko phải từ R2- nơi đầu tiên quảng bá thông tin về route bị down choR3 biết, nên thông tin mới này sẽ bị R3 loại bỏ
Kết thúc quá trình, mỗi router đều có trong bảng route các thông tin đúng, tránh bị loop
Trang 14Juniper…), các bạn cần phải chọn và sử dụng một giao thức định tuyến khác (RIP, OSPF…) Giao thức EIGRP còn được gọi là giao thức ghép lai (hybrids) vì nó kết hợp các ưu điểm của
cả giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách và giao thức định tuyến theo trạng thái đường liênkết.EIGRP có hỗ trợ định tuyến liên miền không theo lớp địa chỉ (CIDR) và cho phép người thiết
kế mạng tối ưu không gian sử dụng địa chỉ bằng kỹ thuật VLSM So với IGRP, EIGRP có thời gian hội tụ nhanh hơn, khả năng mở rộng tốt hơn và khả năng chống vòng lặp cao hơn
EIGRP còn thay thế được cho giao thức Novell Routing Information Protocol (Novell RIP)
và Apple Talk Routing Table Maintenace Protocol (RTM) để phục vụ hiệu quả cho cả hai mạng IPX và Aplle Talk
EIGRP là một giao thức định tuyến nâng cao dựa trên các đặc điểm của giao thức định tuyếntheo trạng thái đường liên kết Những ưu điểm tốt nhất của OSPF như thông tin cập nhật một phần, phát hiện router láng giềng đều được đưa vào EIGRP Tuy nhiên, cấu hình EIGRP dễ hơn cấu hình OSPF
Trang 15II.Các đặc tính của EIGRP :
EIGRP là giao thức độc quyền của Cisco, nó kết hợp các ưu điểm của họ giao thức trạng thái đường liên kết và vectơ khoảng cách EIGRP hoạt động khác với IGRP Về bản chất EIGRP là một giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách nâng cao nhưng khi cập nhật và bảo trì thông tinláng giềng và thông tin định tuyến thì nó làm việc giống như một giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết Sau đây là các ưu điểm của EIGRP so với giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách thông thường:
1 Hội tụ nhanh (Fast convergence):
Vì là các router EIGRP sử dụng thuật toán DUAL, thuật toán này bảo đảm hoạt động không
bị lặp vòng khi tính toán đường đi, cho phép mọi router trong hệ thống mạng thực hiện đồng bộ cùng lúc khi xảy ra sự cố Các router EIGRP lưu trữ tất cả các láng giềng của nó trong một bảng cho nên nó có thể “thích ứng” rất nhanh với các router khác Nếu tồn tại một tuyến không phù hợp, EIGRP sẽ yêu cầu các láng giềng để học một tuyến mới Các yêu cầu này được truyền rộng khắp cho đến khi một tuyến khác được tìm ra
2 Hỗ trợ giao thức VLSM và CIDR:
EIGRP là một giao thức không phân lớp (classless protocol) nên nó quảng bá cả
subnetmask cho từng mạng đích, cấu trúc này cho phép EIGRP hỗ trợ các mạng con không liên tục và VLSM
Ngoài ra các router sử dụng giao thức EIGRP còn được giảm gánh nặng nhờ sử dụng phương pháp CIDR, CIDR cho phép một địa chỉ IP có thể đại diện cho hàng ngàn địa chỉ khác có nhu cầu được phục vụ bởi các nhà cung cấp đường trục Internet (Internet backbone provider) Tất
cả các gói tin gửi cho các địa chỉ đó sẽ được chuyển đến cho nhà cung cấp dịch vụ ISP (Internet Service Provider)
3 Hỗ trợ thay đổi một phần (Partial update):
EIGRP không gửi các bản cập nhật một cách định kỳ, thay vào đó nó gửi cập nhật một phần ngay khi trong mạng có sự thay đổi, các gói cập nhật chỉ chứa thông tin về sự thay đổi Việc truyền các cập nhật cũng được giới hạn một cách tự động, chỉ có các router cần thông tin (các router bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi) mới được cập nhật Cách hoạt động này khác với các giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết, trong đó cập nhật được truyền tới tất cả các router trong một vùng Và điều này cũng khiến cho EIGRP sử dụng băng thông một cách hiệu quả Thay
vì gửi toàn bộ bảng định tuyến thì nó chỉ gửi thông tin cập nhật một phần Nhờ vậy nó chỉ tốn một
Trang 16lượng băng thông tối thiểu khi hệ thống mạng đã ổn định Chính vì vậy mà hoạt động cập nhật củaEIGRP gọi là cập nhật giới hạn Thay vì hoạt động cập nhật theo chu kỳ, các router EIGRP giữ liên lạc với nhau bằng các gói hello rất nhỏ Việc trao đổi các gói hello theo định kỳ không chiếm nhiều băng thông đường truyền.
4 Hỗ trợ nhiều giao thức lớp mạng:
( Multiple network layer protocol support) : EIGRP hỗ trợ các giao thức IP, IPX, AppleTalk
thông qua việc sử dụng các module phụ thuộc giao thức (protocol-dependent module) Mỗi một module đáp ứng các yêu cầu riêng cho từng giao thức lớp mạng
Việc sử dụng các modules khác nhau cho từng giao thức lớp mạng nâng cao hiệu quả làm việc độc lập cho từng giao thức lớp mạng, không những thế ta còn có thể can thiệp vào các modules này mà không làm ảnh hưởng tới các modules khác
5 Các đặc tính khác:
Seamless connectivity across all datalink layer protocols and topologies (Kết nối liền mạch
qua tất cả các topo và giao thức lớp 2): Nếu giao thức OSPF dùng các cấu hình khác cho lớp 2
như Ethernet và FrameRelay thì EIGRP không yêu cầu bất cứ một cấu hình đặc biệt nào, nó hoạt động hiệu quả trong cả hai môi trường WAN và LAN
Sophisticated metric (metric phức tạp): EIGRP sử dụng cùng một thuật toán với IGRP
trong việc tín toán metric, tuy nhiên metric EIGRP ở dạng 32 bit (metric IGRP là 24 bit) EIGRP
hỗ trợ cân bằng tải (load-balancing) trong cả hai trường hợp metric bằng nhau và không bằng
nhau, cho phép người quản trị phân bố các gói tốt nhất trong mạng
Multicast and unicast: EIGRP sử dụng multicast và unicast để truyền các gói, nó không sử
dụng broadcast, địa chỉ multicast được sử dụng cho EIGRP là 224.0.0.10
Trang 17III Đặc điểm của giao thức định tuyến EIGRP:
Tuy nhiên, router EIGRP có thể hỗ trợ nhiều loại giao thức khác nhau còn IGRP thì không
do vậy khi thiết kế các mạng với các giao thức khác nhau cần chú ý tới vấn đề router IGRP có hỗ trợ giao thức đó không khi dùng cả hai router này trong cùng một mạng
2.Cách tính thông số định tuyến:
EIGRP và IGRP có cách tính thông số định tuyến khác nhau EIGRP tăng thông số định tuyến của IGRP lên 256 lần vì EIGRP sử dụng thông số 32bit, còn IGRP sử dụng thông số 24 bit Bằng cách nhân lên hoặc chia đi 256 lần, EIGRP có thể dễ dàng chuyển đổi thông số định tuyến của IGRP
EIGRP và IGRP đều sử dụng công thức tính thông số định tuyến như sau:
Thông số định tuyến = [K1 * băng thông + (K2 * băng thông/ (256- độ tải) + (K3 * độ trễ))] * [K5/(độ tin cậy + K4)]
Mặc định : K1=1, K2=0, K3=1, K4=0, K5=0
Khi K4=K5=0 thì phần [K5/ (độ tin cậy +K4)] trong công thức không còn là một nhân tố khi tính thông số định tuyến nữa Do đó, công thức tính còn lại như sau :
Thông số định tuyến = băng thông + độ trễ
IGRP và EIGRP sử dụng các biến đổi sau để tính toán thông số định tuyến :
Băng thông trong công thức trên áp dụng cho IGRP = 10 000 000/băng thông thực sự
Băng thông trong công thức áp dụng cho EIGRP = (10 000 000 /băng thông thực sự) * 256
Độ trễ trong công thức trên áp dụng cho IGRP = độ trễ thực sự /10
Độ trễ trong công thức trên áp dụng cho EIGRP = (độ trễ thực sự /10) *256